1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay

113 1,2K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân đất nước ngày mai ,vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệm này không chỉ thuộc về các nhà trường, mà còn là tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ ĐÔNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TẠI TRƯỜNG THỰC HÀNH HOA SEN (BA ĐÌNH - HÀ NỘI)

TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Quốc Bảo

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, hội đồng khoa học, Ban Giám hiệu và tập thể cán bộ, giảng viên Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài luận văn được

hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS Đặng Quốc Bảo

Xin trân trọng gửi tới thầy lời biết ơn chân thành và sâu sắc của tác giả

Tác giả cũng xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Trường Cao Đẳng Sư Phạm Mẫu Giáo Trung Ương, Sở Giáo dục - Đào tạo

Hà Nội, Phòng Giáo dục Quận Ba Đình- Hà Nội và Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường mầm non thực hành Hoa Sen – Ba Đình , Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài

Lời cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho người thân, gia đình và bạn bè, đặc biệt là lớp Cao học Quản Lý K11 - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Vì trong suốt thời gian qua đã cổ vũ động viên, tiếp thêm sức mạnh cho tác giả hoàn thành nhiệm vụ của mình

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Đông

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBGVNV Cán bộ nhân viên giáo viên

CĐSPTW Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương

XHHGDMN Xã hội hóa giáo dục mầm non

XHHSNGD Xã hội hóa sự nghiêp giáo dục

XHHSNGDĐT Xã hội hóa sự nghiêp giáo dục đào tạo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vii

Danh mục sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục 6

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 7

1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài 10

1.2.1 Giáo dục 10

1.2.2 Giáo dục mầm non 11

1.2.3 Quản lý 13

1.2.4 Quản lý giáo dục 13

1.2.5 Xã hội hóa 14

1.2.6 Xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non 15

1.2.7 Quản lý xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non 17

1.3 Bản chất và đặc trưng của quản lý xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non 17

1.4 Vai trò của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay 20

1.4.1 Quản lý hoạt động xã hội hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì khai thác được tối ưu tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục mầm non 20

Trang 5

1.4.2 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì góp phần nâng cao chât lượng giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát

triển nhân cách của trẻ khi vào tiểu học 22

1.4.3 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tốt sẽ tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non.23 1.4.4 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy truyền thống giáo dục của dân tộc 24

1.5 Một số nguyên tắc chủ đạo trong thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 25

1.5.1 Nguyên tắc về lợi ích 25

1.5.2 Nguyên tắc về chức năng, nhiệm vụ 26

1.5.3 Nguyên tắc Dân chủ - Tự nguyên - Đồng thuận 26

1.5.4 Nguyên tắc tuân thủ pháp lý 27

1.5.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất Ngành - Lãnh thổ 28

1.5.6 Nguyên tắc kế hoạch hóa mọi hoạt động 29

1.6 Phương thức thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 30

1.6.1 Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục mầm non 30

1.6.2 Tổ chức các lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục mầm non 31

1.6.3 Huy động các lực lượng tham gia vào xây dựng, phát triển hệ thống trường, lớp và các loại hình giáo dục mầm non 31

1.6.4 Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục mầm non 33

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TẠI TRƯỜNG THỰC HÀNH HOA SEN ( BA ĐÌNH - HÀ NỘI) 35

2.1 Giới thiệu về Trường thực hành Hoa Sen (Ba Đình – Hà Nội) 35

Trang 6

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 35

2.1.3 Đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên Nhà trường 38

2.1.4 Cơ sở vật chất của Trường 41

2.2 Thực trạng hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường Mầm non Thực Hành Hoa Sen 42

2.2.1 Hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường 42

2.2.2 Đánh giá chung về công tác xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường MNTH Hoa Sen 49

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen (Ba Đình – Hà Nội) 50

2.3.1 Nhận thức về công tác XHH giáo dục mầm non của các đối tượng điều tra 50

2.3.2 Thực trạng quản lý công tác XHH giáo dục mầm non ở Trường Mầm non Thực hành Hoa Sen 53

2.3.4 Các biện pháp quản lý XHH giáo dục mầm non ở Trường M\NTH Hoa Sen 56

2.3.4.2 Biện pháp quản lý để khuyến khích các lực lượng xã hội thực hiện XHH giáo dục mầm non 57

2.3.5 Những hạn chế về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường MNTH Hoa Sen 57

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TẠI TRƯỜNG THỰC HÀNH HOA SEN ( BA ĐÌNH – HÀ NỘI ) TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 60

3.1 Nguyên tắc lựa chọn biện pháp 60

3.2 Biện pháp quản lý 60

Trang 7

3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục Mầm non cho mọi lực lượng có trách nhiệm trong và ngoài

trường 60

3.2.2 Phát huy tác động của trường vào đời sống cộng đồng, vào việc thực hiện nuôi dạy trẻ thơ đúng phương pháp khoa học 63

3.2.3 Nâng cao trình đô ̣ chuyên môn cho đô ̣i ngũ giáo viên , phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp 67

3.2.4 Huy động các lực lượng xã hội tăng cường nguồn lực cho trường 69

3.2.5 Tăng cường hiệu quả chỉ đạo công tác XHHGD 73

3.3 Quan hệ giữa các biện pháp 75

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 76

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 87

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê số lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 38

Bảng 2.2 Thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 39

Bảng 2.3 Thống kê trình độ đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 39

Bảng 2.4 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD mầm non 51

Bảng 2.5 Nhận thức của đối tượng khảo sát về nội dung công tác XHHGD Chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho GDMN 51

Bảng 2.6 Mức độ thực hiện công tác XHHGD của Ban Giám hiệu nhà trường 55

Bảng 2.7 Biện pháp quản lý để khuyến khích các lực lượng xã hội thực hiện XHH giáo dục mầm non 57

B¶ng 3.1 KÕt qu¶ kh¶o s¸t vÒ tÝnh cÊp thiÕt 76

B¶ng 3.2 KÕt qu¶ kh¶o s¸t vÒ tÝnh kh¶ thi 77

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Xác định vai trò chủ thể thực hiện 52 Biểu đồ 2.2 Đánh giá việc thực hiện các chức năng quản lý công tác XHH Giáo dục mầm non ở Trường MNTH Hoa Sen 54 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn kết quả khảo sát về tính cấp thiết 77 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn kết quả khảo sát về tính khả thi 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại Lịch sử phát triển xã hội ngày càng khẳng định vai trò, tác dung to lớn của giáo dục đối với kinh tế - xã hội Giáo dục là điều kiện cơ bản và là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay chúng ta đang bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa tri thức, trong đó vấn đề giáo dục, văn hóa, con người nổi lên hàng đầu ở nhiều nước, vấn đề này đã trở thành trung tâm của chiến lược phát triển đất nước Chiến lược giáo dục và chiến lược con người đi trước chiến lược kinh tế - xã hội Giáo dục đang đứng trước những thời cơ phát triển cực kỳ thuận lợi, nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức to lớn Chức năng chủ yếu của giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Phát triển giáo dục không chỉ quan tâm đến qui mô, tấc độ, số lượng mà đặc trưng chủ yếu là tổ chức các quá trình giáo dục, thông qua việc tổ chức hoạt động dạy và học dưới nhiều hình thức tổ chức giảng dạy và giáo dục đạt được chất lượng tốt nhất nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội Nhất là đối với giáo dục mầm non mà đặc trưng của nó là mang tính giáo dục gia đình và tính tự nguyện cao Trẻ em hôm nay sẽ là chủ nhân đất nước ngày mai ,vì thế cần phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non và trách nhiệm này không chỉ thuộc

về các nhà trường, mà còn là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội, để thực hiện được việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ

Điều 11 luật giáo dục khẳng định “Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục”

Theo tinh thần của Luật, công tác quản lý chỉ đạo, phát triển giáo dục mầm non cần phải gắn với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao Huy động được đông đảo nhân dân, cộng đồng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ vừa

là mục tiêu, vừa là sức mạnh để phát triển giáo dục mầm non, vì vậy phải phối

Trang 11

hợp, kết hợp giữa các Bộ, ban ngành và các đoàn thể xã hội thì mới có thể phát triển được giáo dục mầm non Công tác quản lý cần quán triệt một cách sâu sắc đặc điểm này mới có thể đưa giáo dục mầm non phát triển một cách

có căn bản và có chất lượng

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:

“Chăm lo phát triển mầm non”, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Xã hội hóa giáo dục mầm non là một qui luật và là khâu then chốt để

thực hiện “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa” thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh là phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Với định hướng Nhà nước sẽ ưu tiên và tập trung phát

triển các nhà trẻ, mẫu giáo ở những vùng khó khăn, vùng cao, còn ở các thành phố, thị xã sẽ chuyển dần các trường công lập ra bán công Đứng trước những đòi hỏi sống còn như hiện nay, nếu giáo dục mầm non Hà Nội nếu chậm đổi mới, không thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục thì sẽ khó có thể duy trì và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc đổi mới giáo dục nói riêng và đổi mới đất nước nói chung

Trên thực tế, ở nhiều nơi, xã hội hóa giáo dục mầm non chưa thực sự phát huy được thế mạnh vốn có của nó, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển giáo dục mầm non ở các khu vực và tạo sự chênh lệch về hưởng thụ giáo dục mầm non của trẻ em ngày càng tăng Mặt khác, quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non còn ít được đề cập và chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội nói chung và tại Trường mầm non Thực Hành Hoa Sen nói riêng

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài cho luận văn Thạc sỹ là: “Quản

lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen (Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay ”

Trang 12

2 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ bản chất vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất được các biện pháp thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen nhằm thúc đẩy sự phát triển của giáo dục mầm non ở Thủ đô Hà Nội nói chung và của trường nói riêng trong giai đoạn hiện nay

3 Giả thuyết nghiên cứu

Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non là một vấn đề tất yếu

và đã có những thành công nhất định Tuy nhiên, quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non còn có nhiều vấn đề cần phải giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn Nếu xác định đúng bản chất và các đặc trưng cơ bản của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong bối cảnh phát triển hiện nay, trên cơ sở đó xây dựng được các biện pháp thực hiện quản lý hoạt động

xã hội hóa giáo dục mầm non quán triệt các định hướng của Nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể tại Trường Thực Hành Hoa Sen ở Hà Nội bằng một tổng thể các biện pháp: Nâng cao nhận thức, phát huy tác dụng của trường Thực hành Hoa Sen vào đời sống cộng đồng, huy động tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trình tổ chức giáo dục và các biện pháp tác động đến cơ chế quản lý thì sẽ thúc đẩy công tác này phục vụ có kết quả việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non chất lượng cao tại trường nói riêng và trên địa bàn Hà nội nói chung

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non

hiện nay

4.2 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo

dục mầm non và việc thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen ( Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

Trang 13

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu những vấn đề lý luận: Làm sáng tỏ bản chất quản lý hoạt động

xã hội hóa giáo dục mầm non theo quan điểm giáo dục học và một số khoa học hữu quan

5.2 Tìm hiểu thực trạng: Kết quả thực hiện các biện pháp tiến hành quản lý

hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen ( Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

5.3 Đề xuất một số biện pháp: Đề xuất các biện pháp thực hiện quản lý hoạt

động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thu thập thông tin khoa học qua đọc sách, báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường mầm non và các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng giáo dục và đào tạo bằng các phiếu hỏi

- Trực tiếp tác động vào đối tượng trong thực tiễn để nghiên cứu, thu thập thông tin, làm nảy sinh những ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo

- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trưng cầu ý kiến của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao trong quá trình nghiên cứu đề tài

6.3 Thống kê toán học

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Thời kỳ đổi mới giáo dục từ đầu những năm 2000 đến nay Đi sâu vào lĩnh vực quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen ( Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

Trang 14

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được trình bày trong III chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động hóa giáo dục mầm non

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen ( Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

Chương 3: Một số biện pháp nhằm quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại Trường Thực Hành Hoa Sen ( Ba Đình – Hà Nội ) trong bối cảnh hiện nay

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục

Nhìn từ bản chất vấn đề, xã hội hóa giáo dục không phải là vấn đề hoàn toàn mới Đó là bước phát triển mới của một chủ trương giáo dục được thực thi từ nhiều năm qua: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Lật lại những trang sử dụng nước và giữ nước của dân tộc, chân lý về vai trò của quần chúng nhân dân đã được khẳng định Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã

từng tổng kết rằng: “Dâng thuyền lên cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển lịch

sử dân tộc và trở thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Đảng ta đã vận dụng

sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nêu cao khẩu

hiệu “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Những tư tưởng đó đã được

vận dụng có hiệu quả trong công tác giáo dục và trở thành sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục Việt Nam

Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) Đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới, trong đó có giáo dục cũng đã bước vào một giai đoạn phát triển thuận lợi Đến Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các

tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng ta thường gặp thuật ngữ “Xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chăm sóc và bảo vệ sức khỏa

nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo vv Có thể dẫn ra một số sự kiện và nghị quyết quan trọng sau đề cập đến

xã hội hóa giáo dục:

Trang 16

- Tháng 6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản

Việt Nam đã khẳng định “Xã hội hóa” là một trong những quan điểm để

hoạch định hệ thống các chính sách xã hội

- Tháng 4/2001, Đại hội đại biểu qoàn quốc lần thữ IX của Đảng cộng

sản Việt Nam chỉ rõ: giáo dục và đào tạo phải thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”

- Ngày 18/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao

Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã bàn luận nhiều về xã hội hóa giáo dục Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu về xã hội hóa giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào xã hội hóa giáo dục Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định

“Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân”

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện khoa học giáo dục - đào tạo năm

2001, từ góc độ giáo dục học, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngận đã khẳng định:

Xã hội hóa công tác giáo dục - một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân Bàn về xã hội hóa giáo dục còn có nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả Hà Nhật Thăng, Lê Khanh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Nghĩa Dân, Mai Đắc Lương, Hồ Hương, Nguyễn Thanh Phong, Vũ Văn Tảo V.V

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non

Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc ở Việt Nam không có nền giáo dục trước tuổi đi học Trong cả nước chỉ có vài trại tế bần nuôi trẻ mồ côi

Trang 17

Sau cách mạng tháng Tám, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên

ở Việt Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời Nghị định số

05 ngày 10/9/1945 của Bộ Cứu tế xã hội đã ghi “Khuyến khích các nhà bảo anh, dục anh, ấu trĩ viên ” Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 điều 3 đã khẳng định “Bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau”

Nhìn vào các hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kỳ bậc học nào Giáo dục mầm non là sự thể hiện sinh động nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm Song việc nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non còn hạn chế Trong báo cáo tổng quan vể tình hình nghiên cứu xã hội hóa giáo dục cua Ban khoa giáo Trung

ương đã nhận định: Có thể thấy đẫ có một số nghiên cứu chuyên đề về xã hội hóa sự nghiệp giáo dục Các nghiên cứu này góp phần làm rõ, bổ xung thêm những nghiên cứu chung Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu như xã hội hóa đối với giáo dục mầm non, dạy nghề… Đó là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu Năm 2001, cuốn sách “Xã hội hóa giáo

dục” của Viện khoa học giáo dục ra đời mới đề cập một cách hết sức khái quát đến một số điểm xuất phát của việc định hình xã hội hóa giáo dục mầm non và vận dụng phương thức xã hội trong hoạt động giáo dục mầm non

Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ bản,

trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầm non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non Ngày 15/11/2002 Thủ

tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non đã khẳng định rõ ở điều 1 nhiệm vụ phát triển

giáo dục mầm non đến năm 2010: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển

Trang 18

giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non,

mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư…”

Quyết định 161/2002/QĐ-TTg được coi như chiếc “Chìa khóa vàng” để mở cánh cửa cho giáo dục mầm non phát triển từ nay đến năm 2010 Để việc thực hiện quyết định 161/2002/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả liên tịch

Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ tài chính ngày 24/2/2003 đã ra Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC hướng dẫn một số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó đã chỉ rõ các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hóa đối với giáo dục mầm non

Trên thực tế, đã có một số đề tài nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục nói chung Đối với giáo dục mầm non mới chỉ có một vài đề tài nghiên cứu ở một số góc độ nhất định như đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn

Thị Bích Hạnh "Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa" Đề tài luận văn thạc sĩ

quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Trung Kiên “Nghiên cứu các giải pháp xã hội hóa để phát triển giáo dục mầm non ở nông thôn nước ta hiện nay” Ngoài

ra, còn nhiều bài viết về xã hội hóa giáo dục của các nước trên thế giới, trong khu vực và các địa phương trong cả nước, đã cung cấp nhiều tư liệu và bài học kinh nghiệm quý giá, làm cơ sở định hình quan điểm về xã hội hóa giáo dục và quan trọng hơn là vận dụng vào thực tiễn

Tóm lại, việc nghiên cứu xã hội hóa giáo dục mầm non đã được một số công trình đề cấp đến Tuy nhiên các nghiên cứu này phần lớn mới chỉ dừng lại

ở những giải pháp mang tầm vĩ mô hoặc ghi nhận từ thực tiễn một vài mô hình

đã thành công trong việc huy động cộng đồng, chưa đưa ra được cơ sở lý luận của xã hội hóa giáo dục mầm non và hệ thống các biện pháp giúp cho việc tổ chức thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục mầm non ở Hà Nội nói riêng và toàn quốc nói chung

Luận văn này cố gắng tổng kết từ thực tiễn xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn quận Ba đình - Hà Nội, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng

cao công tác quản lý hoạt động vấn đề này có hiệu quả hơn nữa

Trang 19

1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Giáo dục vốn là một hiện tượng xã hội, một phương thức để tồn tại và phát triển của xã hội loài người với đặc trưng của nó là sự truyền thụ tri thức từ người này qua người khác để thành người

Giáo dục là tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm chất cần thiết Giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động (hay quá trình)

chuyển giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm của thế hệ này cho các thế hệ kế tiếp nhằm hình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Theo nghĩa hẹp giáo dục gắn với quá trình hình thành và phát triển hệ thống nhà trường (Giáo dục nhà trường) là các hoạt động giáo dục có mục đích và nội dung chính xác cho từng bậc học và loại hình nhà trường và được thực hiện một cách có kế hoạch,

có hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường

Vì vậy, khái niệm của A.Cardinet: sự giáo dục cơ bản tương tự như

“nhân cách cơ bản” đã được tổ chức Giáo dục-Khoa học-Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) chấp nhận: là toàn bộ những hoạt động để tác thành cho một nhóm người thiếu tổ chức hợp lý về những yếu tố văn hóa cần thiết cho sự phát triển

Theo Piaget: Giáo dục là “sự đào tạo thích nghi cho cá nhân với môi trường xã hội của người lớn, tức là biến cải thể trạng tâm sinh lý của cá nhân cho phù hợp với thực tiễn tập thể mà lương tri chung gán cho giá trị nào đó Vậy là có hai thuật ngữ trong quan hệ về giáo dục: một mặt là cá nhân đang phát triển, mặt khác là các giá trị trong xã hội, trí tuệ và đạo đức mà nhà đào tạo có nhiệm vụ truyền thụ”

Theo Hà Thế Ngữ: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách

có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao

Trang 20

động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người”

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, từ các góc độ khác nhau, nhưng

chung quy lại có thể khẳng định: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một các có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người

Như vậy, giáo dục với tư cách là hoạt động của con người trong xã hội

- Quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện, nhiều biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy

và người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết được trong lịch sử của xã hội loài người

1.2.2 Giáo dục mầm non

Chương II, Hệ thống giáo dục Quốc dân Điều 18,19 Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng đến 6 tuổi

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một

Trang 21

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế

hệ trẻ, vì giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nhân cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời

Đây là thời kỳ tăng trưởng về cơ sở và phát triển các mặt trí tuệ, tình cảm xã hội nhanh nhất, nhân cách bắt đầu hình thành, khối lượng những thu hoạch đạt được rất lớn khiến ta có thể coi sự phát triển trong những năm đó có tác dụng quyết định rất lớn đến toàn bộ tương lai sau này Ngược lại những trục trặc về tăng trưởng và phát triển trong thời kỳ này nếu không được phát hiện và khắc phục thích đáng có thể để lại những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng không ít đến việc rèn luyện những năng lực cần thiết mai sau Nhà giáo dục

Xô Viết lỗi lạc A.S.Makarenko có nói: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì đã được vun trồng trong 5 năm đầu tiên

Do vậy giáo dục mầm non có một vị trí ngày càng được khẳng định trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục-đào tạo con người Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục của UNESCO bao gồm 21

điểm, ở điểm 5 nhấn mạnh “Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục”

Chính vì lẽ đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tiếp tục khẳng định mục tiêu

của giáo dục mầm non đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình.” Và Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lầ thứ IX đã

Trang 22

một lần nữa khẳng định: Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện

1.2.3 Quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu

đời của con người Nó "xưa cũ như chính con người vậy" Tuy nhiên, chỉ mới

gần đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành các "lý thuyết quản lý" Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:

Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao

trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: "Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại"

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục đích tới

tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước"

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt

động quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"

Từ những quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản lý

là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý tồn tại trong mọi

quá trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và phát triển

1.2.4 Quản lý giáo dục

Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành, Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo

Trang 23

dục và bản thân con người phát triển không ngừng Để đạt được mục đích

đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên

Đối với cấp vĩ mô (quản lý một nền/ hệ thống giáo dục)

Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,

có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra ngành giáo dục

Nói một cách tổng quát: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội

- Bản chất của quản lý giáo dục là vì lợi ích phát triển của giáo dục, nhằm mục tiêu đối tượng là hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục, đối tượng và chủ thể giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

- xã hội

- Đối tượng của quản lý giáo dục là: hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống quản lý giáo dục, các quan hệ quản lý, các chủ thể quản lý cấp dưới, tập thể và cá nhân giáo viên và học sinh

1.2.5 Xã hội hóa

Theo từ điển xã hội học: “Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội”

Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội (Tập thể ), trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thưc, những kỹ năng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội

Trang 24

- Xã hội hóa được định nghĩa như một quá trình, trong đó suốt cả đời cá nhân con người học hỏi và biến thành của mình những yếu tố xã hội – văn hóa của môi trường của mình, thu nhận chúng vào cơ cấu cá nhân của mình dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm và những tác nhân xã hội quan trọng

và do đó mà thích nghi với môi trường xã hội mà mình phải sống trong đó

Có thể hiểu xã hội hóa một cách đầy đủ theo nghĩa sau: “Xã hội hóa là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giao lưu…mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là một thành viên của xã hội

Khái niệm xã hội hóa đã được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách mà con người học hỏi, tuân thủ theo các chuẩn mực, các giá trị, các vai trò xã hội đã đề ra và chính quá trình xã hội hóa này tạo cơ sở

cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Khái niệm “xã hội hóa” chủ yếu được xem xét và hiểu biết ở bình diện xã hội học Đây là một lý

thuyết khoa học về sự hình thành và phát triển nhân cách con người Lý thuyết này được đề xuất từ những năm cuối thế kỷ XIX, mà người dùng thuật ngữ này đầu tiên là Emile Durkheim (1858 - 1917) - nhà xã hội học Pháp

Từ khái niệm xã hội hóa cá nhân, ngày nay chúng ta mở rộng khái niệm

xã hội hóa một loại hình hoạt động, một lĩnh vực hoạt động, ví dụ: Xã hội hóa hoạt động giáo dục- thường gọi tắt là xã hội hóa giáo dục

1.2.6 Xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non

Khái niệm xã hội hoá giáo dục mầm non được xây dựng từ khái niệm

xã hội hoá giáo dục và vận dụng vào đặc thù của ngành học Mầm non Xã hội hóa giáo dục là quá trình tương tác giữa giáo dục và xã hội, trong đó giáo dục gia nhập và hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng, đồng thời xã hội tiếp nhận giáo dục như là công việc của mình, do mình và vì mình Đó là mối quan hệ biện chứng Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hóa con người, xã hội hóa cá nhân

Trang 25

Xã hội hóa giáo dục mầm non là: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của của các trường, lớp mầm non, của cả gia đình trẻ và cộng đồng Cần huy động và tạo điều kiện để gia đình và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non Giáo dục mầm non phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội, cộng đồng, đảm bảo mọi trẻ

em đều được chăm sóc, giáo dục ở các loại hình giáo dục khác nhau, được hưởng thụ các dịch vụ giáo dục mầm non

Thực tế cho thấy, xã hội hóa sự nghiệp giáo dục được đặt ra cho mọi độ tuổi, mọi bậc học (cả trẻ em và người lớn) nhưng đối với trẻ em tuổi mầm non (dưới 6 tuổi) thì việc xã hội hóa phải được coi là triệt để nhất (cao hơn học sinh phổ thông và người lớn) Lý do là:

1 Trẻ thơ như cây non, tự nó khó bảo vệ được mình nếu không có sự chăm sóc và bảo vệ của người lớn và toàn xã hội

2 Sự phát triển của trẻ em trong độ tuổi này rất đặc biệt, gia tốc tăng trưởng vô cùng lớn và đặt tiền đề cho sự phát triển toàn diện nhân cách sau này của mỗi người Mọi sự khởi đầu lệch lạc về nhân cách trong độ tuổi này

sẽ phải sửa lại vô cùng khó khăn ở lứa tuổi tiếp theo Vì thế đòi hỏi mọi người, nhất là các bậc cha mẹ, các cô giáo, các cơ sở giáo dục và nói chung là toàn xã hội không được “thả nổi trẻ em” mà phải nhận trách nhiệm giáo dục trẻ thơ từ những bước đi ban đầu trong việc giáo dục từ sức khỏe đến trí tuệ

và gây dựng nhân cách thật đúng đắn Bằng cuộc thực nghiệm công phu suốt

20 năm nhằm giáo dục lại nhân cách cho trẻ em vị thành niên mà

A.X.Macarencô, nhà giáo dục Xô viết vĩ đại đã đi đến kết luận là: Những gì không có được ở trẻ em trước 5 tuổi thì sau này khó mà có được Nếu mầm mống nhân cách lệch lạc ở ở độ tuổi này hình thành thì sau này sửa lại nhân cách vô cùng khó khăn Trong khi chơi trẻ bộc lộ một trái tim băng giá thì sau này trẻ sẽ trở thành một con người ti tiện và trong khi chơi trẻ thể hiện tính

Trang 26

cách thế nào thì hầu như sau này sẽ thành tính cách như thế khi trở thành người lớn

Trong hoàn cảnh nước ta chưa phải mọi trẻ em trong lứa tuổi mầm non đều được ra lớp thì giáo dục mầm non phải phấn đấu giúp các bậc cha mẹ có kiến thức và thái độ đúng đắn trong việc nuôi dưỡng các em theo mục tiêu mà luật giáo dục đề ra

1.2.7 Quản lý xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non

Như trên chúng ta đã nói xã hội hóa giáo dục mầm non phải được triệt

để nhất vì ở lứa tuổi này đang tập những bước đi ban đầu vô cùng quan trọng, nếu được gia đình và xã hội dìu dắt đi đúng hướng thì sẽ trở thành người có ích cho xã hội còn không thì ngược lại

Chính vì vậy muốn quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non tốt thì trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hoá, tạo hành lang để hoạt động xã hội hoá đi đúng quỹ đạo theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra Trong quản lý hoạt động xã hội hoá giáo dục mầm non luận văn sẽ nhấn mạnh tới mục tiêu, nội dung và các con đường để thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non Xã hội hoá giáo dục mầm non với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển đất nước đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Muốn thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá giáo dục thì ta phải tăng cường các biện pháp quản lý, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia làm giáo dục, đồng thời mang lại những lợi ích từ giáo dục đến với mọi người dân Xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng sự phát triển của xã hội và nhu cầu của nhân dân

1.3 Bản chất và đặc trưng của quản lý xã hội hóa hoạt động giáo dục mầm non

Xã hội hóa giáo dục mầm non là một bộ phận của xã hội hóa giáo dục nói chung Vì vậy, cần có sự nhìn nhận xem xét vấn đề xã hội hóa giáo dục mầm non trong mối quan hệ khăng khít, gắn bó với xã hội hóa giáo dục Xã

hội hóa giáo dục mầm non cũng phản ánh bản chất của luận đề “Giáo dục cho

tất cả mọi người; tất cả cho sự nghiệp giáo dục” (Education for, All for

Trang 27

Education EFA-AFE) Bản chất của xã hội hóa giáo dục mầm non là lôi cuốn

mọi lực lượng xã hội phát triển giáo dục mầm non để thực hiện giáo dục cho mọi trẻ em trong độ tuổi

Xã hội hóa giáo dục mầm non là: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các trường, lớp mầm non, của cả gia đình trẻ và cộng đồng Cần huy động và tạo điều kiện để gia đình

và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non Giáo dục mầm non phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội, cộng đồng, đảm bảo mọi trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục ở các loại hình giáo dục khác nhau, được hưởng thụ các dịch vụ giáo dục mầm non

Từ đặc thù của giáo dục mầm non mà xã hội hóa giáo dục mầm non có những đặc điểm sau:

- Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Niềm tin và hy vọng của từng gia đình và cả xã hội về tương lai của trẻ và của đất nước trông chờ vào sự phát triển hàng ngày ở lứa tuổi măng non này Vì vậy, phải thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trên cơ

sở một sự phát triển đa dạng và ổn định, phải đổi mới phương thức nuôi dạy bằng những cải cách cơ bản và toàn diện Đó là sự cố gắng đầu tư và tăng cường sự tham gia của toàn xã hội chăm lo cho trẻ thơ Xét về các loại hình giáo dục thì so với các bậc học, ngành học khác giáo dục mầm non mang tính

xã hội cao nhất, rộng khắp và sâu đậm nhất vì nó đòi hỏi cả về nuôi nấng và chăm lo về thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ cho trẻ của gia đình, trường lớp mầm non, mọi ngành, mọi cấp, tất cả cộng đồng Nó là điều tất yếu của giáo dục cộng đồng và xã hội, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của mọi người lớn

dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em lứa tuổi mầm non “Sữa để em thơ, lụa tặng già”, “dạy con từ thuở còn thơ”, “vì tương lai con em chúng ta”…

Trang 28

- Xét về phân đoạn của quá trình xã hội hóa thì xã hội hóa ở giai đoạn trẻ mầm non là giai đoạn xã hội hóa sớm nhất, được bắt đầu từ khi trẻ sinh ra cho đến khi đi học Xã hội hóa giáo dục mầm non thực chất là một quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ em từ 0 – 6 tuổi Nó diễn ra theo con đường xã hội hóa cá nhân, trong đó trẻ tiếp thu các chuẩn mực, giá trị xã hội

và có sự luyện tập, học hỏi dưới sự hướng dẫn của giáo viên và những người lớn khác Qua đó, trẻ tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống quan hệ xã hội với người khác Như vậy, mối quan hệ giữa xã hội hóa cá nhân, phát triển nhân cách và giáo dục trong bậc học mầm non có nhiều nét tương đồng, bản thân quá trình chăm sóc giáo dục trẻ em mầm non là một quá trình mà trong đó mục đích, nội dung, phương pháp và điều kiện là những nhân tố cấu thành mang tính tích hợp Trẻ mầm non với tư cách là đối tượng chăm sóc giáo dục được sự chăm lo của giáo dục nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo và của giáo dục gia đình XHHGDMN phụ thuộc vào việc lựa chọn phương thức hoạt động chăm sóc giáo dục đối với trẻ em sao cho vừa khai thác tối ưu các nguồn lực đảm bảo mục tiêu phát triển giáo dục mầm non về cả quy mô và chất lượng, đồng thời vừa tạo ra những cơ hội nhiều mặt để phát triển tiềm năng của trẻ

- Trẻ ở lứa tuổi mầm non là đối tượng quan tâm của nhiều ngành (Giáo dục, y tế, ủy ban DS - GD - TE, phụ nữ ), nhiều lực lượng (gia đình, nhà trường, các lực lượng xã hội), nhiều chương trình cùng đồng thời thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, nên việc tham gia vào giáo dục mầm non là một trong những nhiệm vụ của các ngành, các lực lượng xã hội Phải tiếp cận quan điểm đa ngành mới đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục mầm non

- Giáo dục mầm non có nhiều loại hình, nhiều chương trình mang tính

xã hội cao như: Các hình thức trường mầm non công lập, bán công, dân lập,

tư thục; các nhóm, lớp mầm non tư thục, dân lập, nhóm trẻ gia đình, nhóm tuổi thơ Các chương trình chính quy thực hiện tại nhà trẻ, trường mẫu giáo,

Trang 29

trường mầm non là chương tình chỉnh lý ở nhà trẻ, chương tình cải cách ở mẫu giáo; chương trình với mục tiêu ưu tiên, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở nhóm trẻ gia đình, chương trình giáo dục các bậc cha mẹ, chương trình mẫu giáo chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào tiểu học, 26 tuần, 36 buổi Nên việc huy động các lực lượng tham gia vào XHHGDMN có nhiều điều kiện thuận lợi, nhất là trong việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình, đa phương hóa các nguồn lực

- Giáo dục mầm non là bậc học không bắt buộc nên sự tồn tại, phát triển phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, vào nhận thức của nhân dân

Chính vì vậy, để thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục mầm non cần quán triệt đầy đủ bốn vấn đề sau:

- Cộng đồng hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong xã hội

hóa giáo dục mầm non

- Đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non

- Đa phương hóa thu hút các nguồn lực cho giáo dục mầm non: Nhà

nước-nhân dân, Trung ương - địa phương, ngành giáo dục-các ngành hữu quan, trong ước-ngoài nước

- Thể chế hóa thành các quy định, chế tài đối với nghĩa vụ, trách nhiệm

của các lực lượng xã hội đối với việc tham gia vào giáo dục mầm non

1.4 Vai trò của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay

1.4.1 Quản lý hoạt động xã hội hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì khai thác được tối ưu tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục mầm non

Hiện nay, giáo dục mầm non đang đứng trước những thách thức lớn

Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển giáo dục mầm non và ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Kinh phí Nhà nước mới chỉ đầu tư cho 1/3 số nhà trẻ, mẫu giáo, mà các nhà trẻ, mẫu giáo hiện có cũng chỉ thu nhận được hơn 20% số trẻ trong độ tuổi mầm non Phần kinh phí đầu tư này chủ

Trang 30

yếu là để chi lương cơ bản cho giáo viên Dù vậy, mặt bằng lương của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá thấp Nhiều nơi, nhất là ở các vùng ngoại thành, nông thôn, vùng sâu, vùng xa hầu như không có sự đầu tư của Nhà nước Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng phát triển giáo dục mầm non hết sức khó khăn

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng nói trên là do bản thân ngành giáo dục mầm non chậm đổi mới về cơ cấu hệ thống, mục tiêu, nội dung, phương pháp, chưa làm tốt chức năng tham mưu và trách nhiệm quản lý nhà nước Mặt khác, chính sách đầu tư cho giáo dục mầm non bất hợp lý cả về phương diện kế hoạch và thực tiễn, mới chỉ đầu tư cho trẻ em ở khu vực mầm non công lập, mà chưa hề đầu tư cho trẻ thuộc khu vực ngoài công lập Sự đầu tư chưa tương xứng giữa các ngành học và chưa hướng tới công bằng cho trẻ

em Chưa có cơ chế minh bạch trong đầu tư cho giáo dục mầm non

Nhìn ở tầm vĩ mô thì đây chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu của việc đào tạo con người của hế kỷ XXI với điều kiện, khả năng kinh tế có hạn của Nhà nước

Từ những vấn đề đang đặt ra cho giáo dục mầm non, phương hướng phát triển của giáo dục mầm non trong giai đoạn tới là tiếp tục củng cố duy trì, từng bước phát triển về quy mô nhà trẻ, mẫu giáo và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, kể cả số trẻ được nuôi dưỡng ở gia đình, theo phương thức phối kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân Giáo dục mầm non được thực hiện thông qua hình thức tổ chức các nhà trẻ, mẫu giáo; đồng thời qua việc tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong xã hội

Xã hội hóa giáo dục mầm non sẽ mang lại nhiều nguồn lực phục vụ cho việc hoạt động của giáo dục mầm non Huy động các nguồn lực và đa dạng hóa các nguồn lực là tính đến một phạm vi rất rộng rãi bao gồm: Nguồn lực vật chất (nhân lực, vật lực, tài lực), nguồn lực tinh thần (sáng kiến kinh nghiệm, góp ý tư vấn ), nguồn lực vừa có ý nghĩa vật chất và tinh thần (thông tin và công nghệ thông tin) Những nguồn lực này sẽ góp phần giải

Trang 31

quyết được mâu thuẫn khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục mầm non

Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng, huy động các nguồn lực của xã hội không có nghĩa là từ đó khoán trắng cho xã hội, cũng như ngược lại xã hội không được khoán trắng cho Nhà nước Xã hội hóa giáo dục mầm non không

có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước Trái lại, Nhà nước phải tăng đầu tư ngân sách cũng như tăng cường quản lý nhà nước đối với giáo dục

1.4.2 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì góp phần nâng cao chât lượng giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho

sự phát triển nhân cách của trẻ khi vào tiểu học

Giáo dục hình thành và phát triển nhân cách góp phần tạo ra “Nguồn lực người” qua các thành tố tri thức, thái độ, hành động kỹ năng cuộc sống

Từ tổng số các nhân cách mà phát triển nguồn lực người cho cộng đồng, quốc

gia, xã hội Xã hội hóa giáo dục chính là nhằm mục tiêu: Mọi người làm giáo dục để giáo dục cho mọi người, từ đó tạo ra một xã hội học tập, mà nhờ đó

góp phần nâng cao dân trí Việc quan tâm đến nhóm trẻ 0 - 6 tuổi không thể chỉ bằng các thiết chế tác động đến môi trường giáo dục, môi trường xã hội

mà các cháu đang sống Con đường có hiệu quả là “thiết chế nhà trường” mà

ở nước ta độ tuổi này thuộc vào hệ thống giáo dục mầm non Và từ suy ngẫm

về lời cảnh báo của Gorden Dryden trong cuốn Cách mạng học tập (1996)

Trẻ em dưới 5 tuổi học nhanh nhất nhưng đã có mấy quốc gia đặt trọng điểm giáo dục vào giai đoạn này” Những nghiên cứu về não người trong 25 năm gần đây đem lại những hiểu biết lớn hơn tất cả những gì loài người đã biết về não trước đó Khoa học thì tiến mỗi ngày hàng ngàn dặm còn giáo dục thì dẫm chân tại chỗ”, chúng ta thấy rõ vị trí của giáo dục mầm non trong chiến

lược phát triển nguồn lực con người

Quan tâm làm tốt phát triển giáo dục mầm non là đảm bảo cho việc gia tăng bền vững mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) trong bối cảnh hiện nay ở nước ta Xã hội hóa giáo dục mầm non là một phương thức phát triển

Trang 32

giáo dục mầm non, làm giáo dục mầm non bằng cách huy động sức mạnh của địa phương Đây không phải là chỉ trách nhiệm của Nhà nước, xã hội mà là trách nhiệm của các doanh nghiệp, của mỗi gia đình, của từng cá nhân trong cộng đồng Với sức mạnh của cộng đồng, giáo dục mầm non sẽ phát triển đủ mạnh vì những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ quy định phương hướng và mục tiêu phát triển giáo dục ở địa phương đó Kế hoạch giáo dục, trong đó có giáo dục mầm non, phải nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đáp ứng những nhu cầu của việc hình thành lớp người có phẩm chất và năng lực phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.4.3 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tốt sẽ tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non

Công bằng xã hội trong giáo dục mầm non chính là việc hưởng thụ một cách công bằng những phúc lợi giáo dục, là cho mọi trẻ em đều được hưởng thụ các dịch vụ chăm sóc, giáo dục, có cơ hội được nuôi dưỡng, học tập bình đẳng như nhau (kể cả trẻ em ở gia đình hay ở các nhà trẻ, trường lớp mầm non công lập, bán công, tư thục, dân lập và ở nhóm trẻ gia đình) Ngoài ra nó còn thể hiện ở nghĩa vụ cống hiến cho giáo dục mầm non theo khả năng thực hiện của từng người, từng cộng đồng và địa phương Nghị quyết lần thứ tư

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ:“Thực hiện công bằng trong giáo dục, người đi học phải đóng học phí, người sử dụng qua đào tạo phải đóng góp chi phí cho đào tạo, có chính sách bảo đảm cho người nghèo

và các đối tượng chính sách đều được đi học”

Dân chủ hóa quá trình giáo dục mầm non là dân chủ hóa việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá giáo dục mầm non, thực hiện dân chủ của người dạy và người học

Nhờ thực hiện dân chủ hóa giáo dục mầm non mà các thành phần tham gia công tác giáo dục mầm non không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngành giáo

Trang 33

như vậy thì xã hội hóa giáo dục mầm non chính là con đường để thực hiện dân chủ hóa trong giáo dục mầm non Các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các nhà hảo tâm với giáo dục, các tổ chức quốc tế, các gia đình, gia tộc

và cộng đồng cùng hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục Với cách thức đó sẽ đạt được những mục tiêu dân chủ hóa trong giáo dục mầm non

1.4.4 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy truyền thống giáo dục của dân tộc

Mọi chủ trương đường lối, văn bản pháp quy chỉ trở thành hiện thực khi được quần chúng nhận thức đúng đắn và thực hiện đầy đủ Từ chủ trương

“Chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư ” đến những nhiệm vụ cụ thể được đề

ra trong Chiến lược phát triển giáo dục mầm non 2001 - 2010 về việc đa dạng các loại hình trường, lớp mầm non công lập, bán công, dân lập, tư thục theo quy mô khác nhau để khai thác nguồn lực, phát triển các hình thức tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc cha mẹ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và giáo dục trẻ thơ của nhân dân phải được nhân dân hiểu, đồng tình, ủng hộ

và tích cực tham gia thì các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mới được thực hiện và có như vậy, công tác quản lý Nhà nước mới thực sự có hiệu lực và hiệu qủa

Xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục mầm non nói riêng là chủ trương phù hợp với truyền thống dân tộc và nguyện vọng của mọi người (truyền thống hiếu học, truyền thống chăm lo giáo dục vì con cái ), vì

thế hệ “hậu sinh” phải “khả úy” luôn là mong muốn của các thế hệ đi trước

Xã hội hóa giáo dục mầm non là điều kiện phát huy truyền thống dân tộc, tạo

ra sự chỉ đạo hành động thống nhất toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Tóm lại, thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non sẽ góp phần khắc phục được những khó khăn, giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình

Trang 34

phát triển giáo dục mầm non Qua đó càng thấy rõ vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay

1.5 Một số nguyên tắc chủ đạo trong thực hiện quản lý hoạt động xã hội

hóa giáo dục mầm non

Nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo một trong loạt việc làm Vì vậy, muốn thực hiện thành công xã hội hóa giáo dục mầm non trong điều kiện hiện nay cần phải tuân theo sáu nguyên tắc chủ đạo sau:

1.5.1 Nguyên tắc về lợi ích

Mỗi người dân, mỗi gia đình với những hoàn cảnh khác nhau sẽ có nhu cầu riêng về lợi ích Xã hội hóa giáo dục mầm non phải quan tâm đến việc thỏa mãn nhu cầu có chỗ gửi con của các bậc cha mẹ Không những thế, phải

có đủ các loại hình trường lớp để đáp ứng các nhu cầu, phù hợp với khả năng của mỗi gia đình Mọi trẻ em trong độ tuổi đều được hưởng các phúc lợi của

xã hội, quyền lợi về giáo dục, được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học Đối với mỗi gia đình khi cho con đi học, người ta đều tính đến lợi ích của việc đầu

tư tiền của, công sức, lao động, thời gian Còn những gia đình khó khăn, gia đình chính sách phải được ưu đãi, được miễn giảm học phí Những lợi ích đó thúc đẩy các gia đình tham gia vào công tác giáo dục, một khi được thỏa mãn các nhu cầu họ sẵn sàng làm tất cả vì con em họ, vì Nhà trường

Các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các đơn vị sản xuất tham gia giáo dục cũng là để thực hiện một phần chức năng mà họ đảm nhiệm Mặt khác, các doanh nghiệp cũng phải hoạch toán kinh tế, tính lỗ lãi từ những đóng góp cho giáo dục, để có thể đem lại hiệu quả kinh tế, tinh thần cho chính

sự phát triển của tổ chức đó

Các cấp lãnh đạo quản lý của địa phương cũng đòi hỏi lợi ích thiết thực

từ xã hội hóa giáo dục mầm non Giáo dục phải đào tạo ra những công dân tốt, phải phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Bản thân giáo dục mầm non cũng phải xuất phát từ nhu cầu của mình

Trang 35

mà làm xã hội hóa giáo dục, đồng thời cũng phải phục vụ cho những mục tiêu kinh tế -xã hội của địa phương

Từ nguyên tắc này, giáo dục và nhà trường mầm non phải tác động vào những mặt tích cực, khuyến khích, huy động mọi người cùng chăm lo cho giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, huy động các nguồn lực trong nhân dân, phù hợp với khả năng, tiềm lực của nhân dân

1.5.2 Nguyên tắc về chức năng, nhiệm vụ

Từng ban ngành, đoàn thể cũng như từng tổ chức xã hội, từng gia đình đều có chức năng, nhiệm vụ riêng trong sự phát triển chung của xã hội Các ngành thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non không chỉ là sự tham gia mà còn có trách nhiệm nhất định, như ngành Tổ chức cán bộ, Lao động thương binh xã hội, Kế hoạch tài chính có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách đối với nhà trường, giáo viên, học sinh, các ngành Dân số - Gia đình - Trẻ em, Y tế, Thể dục, Thể thao, Công nghệ môi trường và Các đoàn thể có trách nhiệm phối hợp với ngành giáo dục tổ chức việc giáo dục, bồi dưỡng kiến thức và bảo vệ chăm sóc trẻ em, về vệ sinh, tập luyện tăng cường sức khỏe, bảo vệ môi trường nuôi dạy cho các bậc cha mẹ, hỗ trợ nhà trường nghiêm cứu, sản xuất, ngành Văn hóa thông tin có chức năng cung cấp các phương tiện, tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, tuyên truyền

Các nhà trường cần biết khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó phù hợp với chức năng, trách nhiệm mà họ đảm nhiệm

Theo nguyên tắc này, Nhà trường mầm non có cơ sở để vận động,

thuyết phục chứ không phải theo cơ chế “xin - cho”, “làm hộ” hay “ban ơn” cho

giáo dục

1.5.3 Nguyên tắc Dân chủ - Tự nguyên - Đồng thuận

“Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”, để xã hội hóa giáo dục mầm non phát huy được hiệu quả thì một nguyên tắc cơ bản cần được đề cao là

“Dân chủ - Tự nguyện - Đồng thuận” Đó chính là việc phát huy tính dân

Trang 36

chủ, sự tự nguyện và đồng thuận của cộng đồng trong việc tham gia giáo dục mầm non

Dân chủ hóa giáo dục mầm non còn thể hiện ở yêu cầu “công khai hóa” sự đóng góp của dân, sự tham gia của dân vào giáo dục, nhằm thực hiện

tốt nhất, hiệu quả nhất những điều Luật giáo dục quy định theo phương châm

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong các hoạt động Nhà trường

Thực hiện dân chủ hóa trong Nhà trường mầm non nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong Nhà trường, góp phần xây dựng nền nếp trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của Nhà trường, ngăn chận các hiện tượng tiêu cực, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non Thực hiện tốt nguyên tắc này mới có thể huy động được mọi tiềm năng của xã hội vào phát triển giáo dục mầm non

Tuy nhiên thực hiện dân chủ hóa trong giáo dục phải bảo đảm những quy định chung của việc thực hiện quy chế dân chủ do Chính phủ quy định, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của cán bộ, giáo viên Dân chủ hóa giáo dục phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,

thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Dân chủ trong khuôn khổ hiến pháp

và pháp luật) Tránh những biểu hiện lợi dụng dân chủ làm ảnh hưởng không

tốt đến sự ổn định, phát triển của giáo dục, đưa giáo dục đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa

1.5.4 Nguyên tắc tuân thủ pháp lý

Bất kỳ hoạt động của một tổ chức, một lực lượng, một cá nhân nào trong xã hội cũng đòi hỏi phải tuân thủ theo những quy định chung về mặt luật pháp Quá trình huy động khuyến khích có thể và cần dựa trên cơ sở pháp

lý Luật giáo dục, Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, Các văn bản dưới luật như Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết của Đảng, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và kể cả các quy định, điều lệ như Điều lệ Hội

Trang 37

cha mẹ học sinh đều là cơ sở pháp lý cho sự vận động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục mầm non

Ngược lại, chính các cơ quan đoàn thể, lực lượng xã hội cũng cần có những cơ sở pháp lý mới phát huy được chức năng, nhiệm vụ tham gia cùng làm giáo dục Chẳng hạn Ủy ban hân dân các tỉnh, thành phố phải dựa vào Chỉ thị, Nghị định, Thông tư hướng dẫn thì mới phát huy được chức năng quản lý nhà nước của họ, Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học cũng phải căn cứ vào Điều lệ, quy chế hoạt động, các yêu cầu luật pháp cho phép để tổ chức vận động các thành viên và các lực lượng xã hội tham gia xã hội hóa giáo dục mầm non

1.5.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất Ngành - Lãnh thổ

Xã hội hóa giáo dục mầm non là một quá trình hợp quy luật, đúng với bản chất xã hội vốn có của giáo dục nhưng nó chỉ thực sự phát huy khi có sự thống nhất về mục tiêu, yêu cầu, điều kiện thực hiện giữa Ngành và Lãnh thổ

Để thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non cần thấy rõ mối tương quan giữa phát triển kinh tế - giáo dục đối với từng địa phương để có những ưu tiên

và tiến độ hợp lý trong việc thực hiện Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non, phát triển trường, lớp mầm non cần được xây dựng phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường học trên từng địa bàn đồng thời xây dựng một mạng lưới phổ biến kiến thức,

tư vấn nuôi dạy trẻ đến gia đình, có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu chung của giáo dục mầm non là đảm bảo chăm sóc, giáo dục trẻ 6 tuổi một cách có chất lượng và mới mang tính khả thi Nguồn lực đầu tư cho giáo dục mầm non phát triển cần huy động từ nguồn đầu tư của ngân sách nhà nước các cấp theo luật định, từ sự đóng góp của nhân dân, kể cả các bậc cha mẹ không có trẻ tới lớp, từ đóng góp của các tổ chức kinh tế xã hội, đóng góp theo nghĩa vụ và tự nguyện của các doanh nghiệp, từ nguồn viện trợ phát triển, viện trợ không hoàn lại của các nước và các tổ chức quốc tế Trong đó,

Trang 38

sự phối hợp giữa Nhà nước và nhân dân cần căn cứ vào tình hình kinh tế cụ thể của từng vùng để khuyến khích đầu tư cho giáo dục mầm non

Chỉ có như vậy mục tiêu phát triển giáo dục mầm non mới mang tính khả thi và là một trong những điều kiện cần để tổ chức thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non thành công

1.5.6 Nguyên tắc kế hoạch hóa mọi hoạt động

Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng để biến những mục tiêu, yêu cầu, mong muốn của Nhà trường thành hiện thực trong việc thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non Nếu không thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ dẫn đến hiện

tượng “gặp đâu hay đó”, hiệu quả xã hội giáo dục hóa thấp, thậm chí còn làm

sai lệch bản chất của xã hội hóa giáo dục Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của xã hội hóa giáo dục mầm non cần phải có kế hoạch hóa mọi hoạt động từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, điều hành chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết, nắm vững thông tin trong từng khâu và xuyên suốt toàn bộ quá trình

Kiểm tra là một yếu tố cơ bản hết sức quan trọng của toàn bộ quá trình điều hành và tổ chức thực hiện xã hội hóa giáo dục mầm non Bốn yếu tố cơ bản này chỉ phát huy tác dụng mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao khi nào đảm bảo được ba yếu tố hỗ trợ thông tin, quyết định, điều chỉnh Trong việc thực hiện

xã hội hóa giáo dục mầm non chúng ta cần thấy rõ cái khó khăn, phức tạp của hoạt động này, cần bám sát vào các yêu cầu, mục tiêu cần đạt để thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục mầm non

Sáu nguyên tắc trên được quán triệt theo khả năng kinh tế từng vùng miền, theo phong tục, bản sắc văn hóa của địa phương, theo động thái thời gian có kế thừa truyền thống và cập nhật hiện đại Tùy từng điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng, công việc cụ thể mà vận dụng linh hoạt, sáng tạo, song cần dựa vào cơ sở quán triệt đồng thời các tư tưởng chỉ đạo về các nguyên tắc đã nêu Những nguyên tắc này chỉ là nhằm gợi ra cách suy nghĩ, tìm đối tượng

để khai thác các tiềm năng của xã hội trong việc tham gia công tác giáo dục Đảm bảo cơ chế các lực lượng xã hội có nghĩa vụ tham gia đóng góp xây

Trang 39

dựng giáo dục mầm non cũng có quyền đòi hỏi giáo dục mầm non đáp ứng các yêu cầu đổi mới kinh tế - xã hội ở địa phương

1.6 Phương thức thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non 1.6.1 Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục mầm non

Môi trường đầu tiên mà chúng ta đề cập tới là môi trường Nhà trường

Vì vậy, xã hội hóa giáo dục mầm non trước hết là huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng môi trường Nhà trường, từ khung cảnh sư phạm, cơ sở vật chất của Nhà trường, đến nền nếp kỷ cương, không khí học tập, quan hệ trong sáng, tình cảm giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, thầy trò với nhân dân địa phương để tạo ra môi trường thuận lợi cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người

“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”

Nhưng trong nhân dân nhiều nơi còn tập quán ông, bà giữ cháu, trẻ lớn giữ trẻ nhỏ tồn tại lâu đời, còn một bộ phận cha mẹ trẻ thiếu kiến thức nuôi dạy con theo khoa học, nên đòi hỏi không chỉ có gia đình mà cả các lực lượng xã hội cùng

chăm lo xây dựng môi trường gia đình của học sinh Môi trường xã hội đang

biến động nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác động rất lớn đến việc giáo dục thế hệ trẻ Môi trường xã hội có nhiều yếu tố tích cực như kinh tế phát triển, giao lưu quốc tế được mở rộng, dân chủ hóa được đề cao , cần khai thác mặt thuận lợi

đó với việc hình thành nhân cách trẻ em Nhưng các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, như làm mất dần các bữa ăn truyền thống trong gia đình, chỉ mải làm

ăn kinh tế không chú trọng hướng dẫn giáo dục con cách chế biến các món ăn, quen ăn các món ăn làm sẵn, món ăn nhanh đang ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục trẻ Vì thế cần phải huy động lực lượng của toàn xã hội vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, có ý nghĩa giáo dục tích cực, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, đề cao các giá trị xã hội chân chính, xây dựng nếp sống văn minh, tạo ra dư luận xã hội đúng đắn

Trang 40

Các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội đồng thời tác động vào thế

hệ trẻ sẽ làm cho thế hệ trẻ được giáo dục ở mọi nơi mọi lúc, chất lượng cuộc sống của trẻ được nâng cao hơn, chủ nhân của thế kỷ XXI của chúng ta sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn, đầy đủ hơn cả về thể lực, sức khỏe, trí tuệ Ngược lại, chính lớp trẻ được giáo dục chu đáo này sẽ là người làm trong sạch và lành mạnh hơn các môi trường trên

1.6.2 Tổ chức các lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục mầm non

Xã hội hóa giáo dục mầm non là một phương thức để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để làm được điều này, xã hội hóa giáo dục mầm non phải huy động được toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục

Như chúng ta đã biết, trẻ mầm non là đối tượng của nhiều ngành, nhiều lực lượng, nhiều công trình Vì vậy, việc huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho việc thực hiện được mục tiêu giáo dục mầm non Song tham gia như thế nào để tạo ra sự đồng bộ và hiệu quả là mức độ cao và là nội dung khó nhất của cuộc vận động này Đó là hình thức cả cộng động cùng tham gia giáo dục thế hệ trẻ, đòi hỏi có sự phối hợp chắt chẽ giữa Nhà trường, các cơ quan quản

lý giáo dục và các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội Trong giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe ở Nhà trường mầm non, việc huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục cùng với Nhà trường còn là việc huy động các bậc cha mẹ trực tiếp tham gia hướng dẫn, rèn luyện những kỹ năng sống tích cực cho trẻ

1.6.3 Huy động các lực lượng tham gia vào xây dựng, phát triển hệ thống trường, lớp và các loại hình giáo dục mầm non

Hiện nay, các trường công lập mới chỉ có khả năng đáp ứng ¼ số trẻ trong độ tuổi mầm non, còn lại ¾ số trẻ được chăm sóc giáo dục ở các cơ sở

Ngày đăng: 14/10/2015, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường  Nội dung  BGH  Giáo viên  Nhân viên  Tổng số - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 2.2. Thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường Nội dung BGH Giáo viên Nhân viên Tổng số (Trang 48)
Bảng 2.5.  Nhận thức của đối tượng khảo sát về nội dung công tác  XHHGD Chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho GDMN - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 2.5. Nhận thức của đối tượng khảo sát về nội dung công tác XHHGD Chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho GDMN (Trang 60)
Bảng 2.6. Mức độ thực hiện công tác XHHGD của Ban Giám hiệu nhà - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 2.6. Mức độ thực hiện công tác XHHGD của Ban Giám hiệu nhà (Trang 64)
Bảng 2.7.  Biện pháp quản lý để khuyến khích  các lực lượng xã hội  thực - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 2.7. Biện pháp quản lý để khuyến khích các lực lượng xã hội thực (Trang 66)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết (Trang 85)
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát về tính khả thi - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tại trường thực hành hoa sen ( ba đình – hà nội ) trong bối cảnh hiện nay
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát về tính khả thi (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w