1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay

121 469 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt thành phố Điện Biên Phủ là thành phố thuộc tỉnh Điện Biên, đây là một trong những tỉnh miền núi phía bắc với nguồn ngân sách đầu tư cho Giáo dục còn hạn chế, mà trong mỗi nhà tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THÚY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ THÚY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số : 60.14.01.14

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ NGỌC HÙNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Hà Nội đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy giáo hướng dẫn – GS.TS Lê Ngọc Hùng trong quá trình hướng dẫn tác giả viết luận văn

Ngoài ra tác giả cũng nhận được sự hỗ trợ, động viên, kích lệ và tạo điều kiện thuận lợi về nhiều mặt của:

Lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể thành phố, xã, phường; lãnh đạo, chuyên viên phòng Giáo dục và đào tạo, Ban giám hiệu các trường tiểu học ở Thành phố Điện Biên Phủ; Ban đại diện cha mẹ học sinh

Đồng nghiệp, gia đình và bạn hữu

Dù đã cố gắng, song chắc chắn luận văn này còn nhiều thiếu sót mong sự giúp đỡ góp ý của quí Thầy, cô và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn !

Điện Biên, tháng 11 năm 2015

Tác giả

Bùi Thị Thúy

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Trang 6

LỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii

Mục lục iv

Danh mục các bảng ix

MỞ ĐẦU 1

1 lý do chọn đề tài 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Giả thuyết nghiên cứu 3

4 Mục đích nghiên cứu 3

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Những đóng góp của đề tài 5

10 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý xã hội hoá Giáo dục 7

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa Giáo dục nói chung và Giáo dục tiểu học nói riêng 7

1.1.1 Khái quát nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục 7

1.1.2 Khái quát nghiên cứu về xã hội hóa Giáo dục tiểu học 10

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Khái niệm xã hội 12

1.2.2 Xã hội hoá 13

1.2.3 Khái niệm xã hội hoá giáo dục 16

1.2.4 Khái niệm về giáo dục 18

1.2.5 Khái niệm về Giáo dục tiểu học 18

1.2.6 Quản lý 19

1.2.7 Quản lý giáo dục 21

1.2.8 Quản lý xã hội hóa giáo dục 21

1.3 Bản chất của XHHGD và các quan điểm chính sách về XHHGD 22

Trang 7

1.3.1 Bản chất của Giáo dục mang tính xã hội hóa sâu sắc 22

1.3.2 Hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về XHHGD 23

1.4 Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục 25

1.5 Nội dung xã hội hoá Giáo dục tiểu học 26

1.5.1 Nhà trường phục vụ xã hội, làm cho xã hội, cộng đồng hưởng lợi cao nhất về giáo dục 26

1.5.2 Các lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung Giáo dục tiểu học 27

1.5.3 Toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho Giáo dục tiểu học 28

1.5.4 Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho Giáo dục tiểu học 29

1.5.5 Xây dựng phát triển hệ thống trường, lớp và các loại hình giáo dục tiểu học 29

1.6 Con đường thực hiện xã hội hóa Giáo dục 30

1.6.1 Dân chủ hoá quá trình tổ chức và quản lý 30

1.6.2 Đa dạng hoá Giáo dục - Đào tạo 31

1.6.3 Xây dựng và phát triển các tổ chức khuyến học 31

1.6.4 Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của ba môi trường giáo dục 32

1.6.5 Tổ chức Đại hội Giáo dục các cấp 33

1.6.6 Củng cố hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường học 33

Kết luận chương 1 34

Chương 2 Thực trạng việc thực hiện xã hội hoá Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ trong thời gian qua 35

2.1 Vài nét về tỉnh Điện Biên 35

2.2 Đặc điểm tình hình thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 36

2.2.1 Đặc điểm địa lý, hành chính, điều kiện tự nhiên 36

2.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội 37

2.2.3 Tình hình phát triển Giáo dục - Đào tạo TP Điện Biên Phủ 39

2.3 Thực trạng Giáo dục tiểu học và xã hội hoá Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ 43

2.3.1 Thực trạng Giáo dục tiểu học thành phố Điện Biên Phủ 43

Trang 8

2.3.2 Thực trạng xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố ĐBP 52

2.4 Thực trạng các biện pháp quản lý XHHGD ở thành phố ĐBP 57

2.4.1 Thực trạng chỉ đạo thực hiện xã hội hoá Giáo dục tiểu học 57

2.4.2 Thực trạng thực hiện xã hội hóa Giáo dục tiểu học 59

2.4.3 Các biện pháp đã tiến hành 63

2.5 Đánh giá thực trạng 64

2.5.1 Những thành tựu 64

2.5.2 Tồn tại và nguyên nhân 66

Kết luận chương 2 .68

Chương 3 Các biện pháp quản lý xã hội hoá Giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay 69

3.1 Định hướng phát triển Giáo dục 69

3.1.1 Định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo trong giai đoạn mới 69

3.1.2 Định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo tỉnh Điện Biên 70

3.1.3 Định hướng phát triển Giáo dục - Đào tạo thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2020 72

3.2 Các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa Giáo dục tiểu học thành phố Điện Biên Phủ 74

3.2.1 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của xã hội hoá Giáo dục tiểu học 74

3.2.2 Phát huy vai trò tích cực nòng cốt của phòng Giáo dục, các loại hình trường tiểu học trong xã hội hoá giáo dục 77

3.2.3 Đổi mới công tác quản lý xã hội hoá Giáo dục tiểu học 80

3.2.4 Đa dạng hoá các loại hình Giáo dục tiểu học 82

3.2.5 Nâng cao hiệu quả hoạt động của ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội 84

3.2.6 Xây dựng cơ chế phối hợp nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham gia xã hội hoá Giáo dục tiểu học 88

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91

3.4 Kết quả thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi các biện pháp 92

Kết luận chương 3 94

Trang 9

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Cơ cấu và chất lượng đội ngũ GD - ĐT thành phố Điện

Biên Phủ

15 Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện

pháp

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, vấn đề này đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm Để đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo nhân lực có chất lượng cao luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu Do đó, Giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác Giáo dục thì mới đảm bảo cho Giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả cao

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải đào tạo một nguồn nhân lực rất lớn có chất lượng cao Vì vậy, mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài phải phát triển mạnh mẽ quy mô Giáo dục đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Trong điều kiện đó, Nhà nước chưa đủ sức và không thể bao cấp toàn bộ sự nghiệp phát triển Giáo dục thì xã hội hóa Giáo dục là một trong những phương thức cơ bản để phát triển Giáo dục

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa Giáo dục, trong những năm qua, Giáo dục - Đào tạo đã được các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo;

sự hưởng ứng tích cực của các lực lượng xã hội và nhân dân nên đã đạt được nhiều thành tựu nhất định Tuy nhiên, thực tế hiện nay, nhiều người nhận thức chưa đúng, thậm chí còn hiểu sai về khái niệm và bản chất của xã hội hoá Giáo dục, họ cho rằng

xã hội hoá Giáo dục chỉ là đóng góp các loại tiền cho Giáo dục, chỉ là sự huy động vật lực mà thôi Ở một số địa phương, cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chưa hiểu được ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của công tác xã hội hoá Giáo dục, còn coi đó là trách nhiệm của nhà trường Chính vì vậy nên trong thời gian qua, chúng ta chưa thu hút được nhiều sự đầu tư của các nguồn lực xã hội cho Giáo dục mà chủ yếu trông chờ vào ngân sách, sự chỉ đạo của Nhà nước Đây là một lý do

cơ bản làm cho cơ sở vật chất của Giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy

và người học giảm sút, sự phát triển của Giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 12

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIII đã khẳng định “Phát triển Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước, của cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân ” và “Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp Giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu Giáo dục, xây dựng môi trường Giáo dục lành mạnh và an toàn” Để đạt được kết quả như vậy ta cần có những biện pháp quản lý công tác xã hội hoá Giáo dục

để Giáo dục trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mỗi gia đình và của toàn xã hội

Điều 12 của Luật Giáo dục năm 2005 có quy định: “Phát triển Giáo dục, xây

dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển sự nghiệp Giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các

tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp Giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp Giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu Giáo dục, xây dựng môi trường Giáo dục lành mạnh, an toàn” [20, điều

12]

Xác định Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, Giáo dục dành cho mọi người, Giáo dục phải vì dân và luôn dặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững Từ đó huy động mọi gia đình, mọi người dân, các đoàn thể trong xã hội cùng tham gia công tác xã hội hóa Giáo dục Trong đó, nhà trường là trung tâm, hiệu trưởng là người đứng đầu và có vai trò rất quan trọng

Như chúng ta đã thấy Giáo dục nước ta hiện nay phần nào chưa đáp ứng được sự phát triển của đất nước vì vậy đòi hỏi phải đổi mới Giáo dục Muốn làm cho Giáo dục trở lại với bản chất xã hội đích thực của nó và phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước ta phải làm tốt công tác xã hội hóa Giáo dục (XHHGD), cần huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của nhân dân vì Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mọi nhà, mọi người Làm sao cho mỗi con người đều được thụ hưởng thành quả từ Giáo dục và ngược lại mọi người cũng phải có trách nhiệm chăm lo cho Giáo dục, đóng góp sức lực, trí tuệ, tiền của cho Giáo dục Phải khẳng định xã hội hóa Giáo dục là một trong những nội dung quan trọng của cải cách Giáo dục, nhiều người có

Trang 13

tâm huyết đã dày công nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cho chương trình xã hội hóa Giáo dục nhưng thực tế chưa thành công

Đặc biệt thành phố Điện Biên Phủ là thành phố thuộc tỉnh Điện Biên, đây là một trong những tỉnh miền núi phía bắc với nguồn ngân sách đầu tư cho Giáo dục còn hạn chế, mà trong mỗi nhà trường còn gặp khó khăn về cơ sở vật chất trường lớp, phương tiện học tập và trình độ dân trí thấp vì vậy chúng ta phải tìm con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất đó là tìm các biện pháp tăng cường công tác xã hội hóa Giáo dục từ đó góp phần tích cực giải quyết những khó khăn trước mắt của địa phương, bậc học làm cho Giáo dục phát triển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Đề tài này mong muốn làm rõ về chủ trương Xã hội hóa Giáo dục (XHHGD) cả

về lý luận và thực tiễn; đặc biệt tập trung vào nội dung: Quản lý hoạt động xã hội hóa

Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ trong giai đoạn hiện nay

2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là:

thực hiện như thế nào và hiệu quả ra sao?

học của thành phố Điện Biên Phủ?

3 Giả thuyết nghiên cứu

Xã hội hóa Giáo dục là một vấn đề tất yếu khách quan trong sự nghiệp phát triển Giáo dục của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc thực hiện xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song còn nhiều khó khăn, bất cập Nếu xây dựng được hệ thống biện pháp quản lý phù hợp, đồng bộ thì công tác xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ sẽ đạt được kết quả tốt hơn

Trang 14

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ,

tỉnh Điện Biên

6 Phạm vi nghiên cứu

đó trong khuôn khổ luận văn của mình, tôi chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về công tác xã hội hoá Giáo dục gồm: Khái niệm, bản chất, nội dung, nội dung thực trạng và các biện pháp quản lý công tác xã hội hoá Giáo dục cho các trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu về xã hội hoá Giáo dục về lý luận và thực tiễn

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác xã hội hoá Giáo dục, biện pháp xã hội

hoá Giáo dục tại các trường tiểu học thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

- Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp quản lý xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ trong giai đoạn hiện nay

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lý xã hội hóa Giáo dục ở tiểu học; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài

8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực tế, điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng hệ thống các câu hỏi và phiếu điều tra theo mẫu nhằm thu thập số liệu về thực trạng công tác quản lý xã hội hóa Giáo dục tiểu học thành phố Điện Biên Phủ Từ đó, tìm ra những mặt mạnh và những hạn chế làm căn cứ để đề ra các biện pháp quản lý xã hội hóa Giáo dục tiểu

Trang 15

học thành phố Điện Biên Phủ

- Phương pháp phân tích thực trạng: Tập trung nghiên cứu khảo sát điều tra về thực trạng công tác xã hội hoá Giáo dục và khảo nghiệm các biện pháp quản lý xã hội hoá Giáo dục tiểu học thuộc địa bàn tiểu học thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, thu thập số liệu, phát hiện vấn đề mới Cụ thể như sau:

+ Các trường tiểu học thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

+ Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và một số tổ chức của phường, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của trường, của thành phố

8.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng

Dựa trên các số liệu thống kê được về thực trạng quản lý xã hội hóa Giáo dục qua các nguồn số liệu, nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp quản lý XHHGD tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ

xã hội hóa Giáo dục tiểu học ở thành phố Điện Biên Phủ trong giai đoạn hiện nay

10 Cấu trúc của đề tài

hoá Giáo dục và các khái niệm có liên quan đến xã hội hoá Giáo dục, bản chất của xã hội hoá Giáo dục; khái niệm về quản lý công tác xã hội hoá Giáo dục

Biên Phủ, tỉnh Điện Biên: Đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu kém của các biện pháp quản lý xã hội hoá Giáo dục đã và đang thực hiện trên thực tế

Trang 16

Chương 3: Các biện pháp quản lý xã hội hoá Giáo dục ở các trường tiểu học thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Đề xuất giải pháp và khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm các biện pháp đã đề xuất; phân tích mối quan hệ của các biện pháp

Trang 17

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI HÓA

GIÁO DỤC 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa Giáo dục nói chung và

xã hội hóa Giáo dục tiểu học nói riêng

1.1.1 Khái quát nghiên cứu về xã hội hóa Giáo dục

Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định có một nền Giáo dục tương ứng với trình độ, tốc độ phát triển của xã hội trong giai đoạn lịch sử đó Giáo dục là sự phản ánh sinh động nhất về trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội (KT- XH), chịu sự ảnh hưởng chi phối của truyền thống văn hoá, những điều kiện bối cảnh phát triển của một địa phương, một dân tộc, một đất nước, khái quát hơn là một thời đại, vì thế, cũng có thể xem đó chính là bản chất xã hội của Giáo dục

Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Các nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục, xã hội, văn hoá và các nền văn minh trước đây đều khẳng định:

con người luôn sống trong trình độ xã hội nhất định Với ý nghĩa trên, “giáo dục là

một hiện tượng xã hội có ảnh hưởng rất to lớn và rất quan trọng đối với sự phát triển con người và sự phát triển xã hội” [15, tr.97], là hoạt động đặc trưng của xã hội loài

người Chừng nào xã hội loài người còn tồn tại, chừng đó Giáo dục tiếp tục tồn tại và phát triển, Giáo dục chỉ mất đi khi xã hội loài người không còn tồn tại Điều này có nghĩa là không thể tách rời Giáo dục ra khỏi đời sống xã hội, nói cách khác, không có Giáo dục đứng ngoài xã hội, cũng có nghĩa là không có xã hội nào có thể phát triển mà không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền Giáo dục

Ở nước ta, tư tưởng xã hội hóa công tác xã hội đã được hình thành và nuôi dưỡng từ rất sớm trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, qua mỗi giai đoạn nó càng được phát triển lên với một trình độ mới, cao hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn Từ xa xưa, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng đúc kết sức mạnh

đoàn kết của dân tộc bằng nhận định rất nổi tiếng: “Dâng thuyền lên cũng là dân, làm

lật thuyền cũng là dân” Sau này Bác Hồ càng thấy rõ sức mạnh của tinh thần đoàn kết

dân tộc, Người nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng

xong” Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng

đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã chủ trương “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” Ngay sau ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt

Trang 18

Nam dân chủ cộng hoà một ngày (ngày 03/9/1945) trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ đầu tiên

cần làm gấp của Giáo dục là chống giặc dốt, Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Giáo dục là

quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Đây cũng là trọng

trách, đồng thời cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và Nhà nước giao phó cho ngành Giáo dục - đào tạo Vì vậy, hơn bao giờ hết, lúc này ngành Giáo dục - đào tạo cần có các biện pháp hữu hiệu khắc phục những khó khăn bất cập trong thời gian qua, trong

đó đẩy mạnh xã hội hóa Giáo dục được coi là một chủ trương vô cùng quan trọng

Đại hội VIII của Đảng nêu rõ về chủ trương xã hội hoá: “…Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân

và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” [12, tr.32] Một lần nữa xã hội hóa Giáo dục lại được đặt lên một tầm cao mới, sâu rộng hơn Thể chế hoá các chủ trương trên, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 90/CP và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, ngày 19/8/1999 về “phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá” Tại phiên họp thường kỳ tháng 9/2004, Chính phủ đã đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 90 và Nghị định số 73 và tiếp tục ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XI đã thông qua

Trang 19

Luật Giáo dục (2005), trong chương 1, điều 12: Xã hội hoá sự nghiệp Giáo dục, ghi rõ

vai trò của các đối tượng tham gia xã hội hóa công tác Giáo dục: “Nhà nước giữ vai

trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục ” [30, tr.10] Quyết định số 20/2005/QĐ -

BGD&ĐT, ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc phê duyệt

Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá Giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” Ngày

16/6/2014 Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2014 Ngày 23/10/2014 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 156/2014/TT-BTC

về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng trong xã hội để phát triển Giáo dục Xã hội hóa Giáo dục có thể coi đây là một chiến lược của Đảng và nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển Giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu Giáo dục

Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm xã hội hóa Giáo dục: Đó là việc lôi cuốn, thu hút khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng làm Giáo dục Việc huy động và động viên đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm Giáo dục

Cùng với chủ trương, đường lối; các văn kiện, nghị định, nghị quyết của Đảng

và Nhà nước, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý Giáo dục, cơ quan quản lý Giáo dục đã

bàn luận về công tác XHHGD: “Xã hội hoá công tác giáo dục” do Ban khoa giáo

Trung ương, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học

Giáo dục phối hợp xuất bản năm 1997 “Xã hội hoá công tác giáo dục: Nhận thức và

hành động” do tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình biên soạn

Khái niệm xã hội hoá cũng được tác giả Nguyễn Quí Thanh đề cập trong cuốn “Xã hội

học” do GS Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng đồng chủ biên và cuốn “Xã hội học giáo

Trang 20

dục” của GS.TS Lê Ngọc Hùng xuất bản năm 2013 Xã hội hoá được các tác giả dùng với

hai nội dung, trong nội dung thứ nhất: khái niệm này chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện nào đó của xã hội mà trước đấy chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm…; Nội dung thứ hai: thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người Đây chính là quá trình xã hội hoá cá nhân

Ngoài ra còn rất nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về đề tài xã hội hóa

Giáo dục “Các biện pháp thực hiện xã hội hoá công tác Giáo dục ở các trường Mầm

non Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Bảy; “Các biện pháp quản

lý công tác xã hội hoá Giáo dục Tiểu học quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng” của

Phạm Kim Thúy; “Biện pháp thực hiện xã hội hóa Giáo dục THCS trên địa bàn

huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Như Hải…

Có thể nói, toàn bộ những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung giải quyết các khái niệm, phạm trù, liên quan đến xã hội hoá Giáo dục, tổng kết thực tiễn

công tác xã hội hoá Giáo dục Tư tưởng “xã hội hoá Giáo dục” chính thức có mặt như

một thành tố mới góp phần tích cực tạo nên sự phát triển Giáo dục hiện nay của đất nước

1.1.2 Khái quát nghiên cứu về xã hội hóa Giáo dục tiểu học

Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng với

vô vàn những khó khăn trong bước khởi nguồn, tạo dựng Theo tinh thần của Luật Giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển công tác Giáo dục tiểu học cần phải gắn

bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao Tính phong trào vừa là đặc điểm riêng vừa là quy luật phát triển của Giáo dục tiểu học, vì vậy phải phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển được bậc học này

bước chuyển biến đáng kể Có được kết quả đó là nhờ thực hiện đổi mới toàn diện Giáo dục tiểu học trong đó phải kể đến một phần quan trọng trong vận dụng đúng đắn chủ trương xã hội hóa Giáo dục tiểu học

Từ thực tiễn Giáo dục tiểu học có thể nói đây là bậc học được xã hội hoá cao hơn bất kỳ bậc học nào Giáo dục tiểu học là sự thể hiện sinh động sự phối hợp hài hoà nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm

Trang 21

Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển Giáo dục Việt Nam 2011-2020, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục - Đào tạo được Ban hành kèm theo Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT ngày 04/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 (2013-2015): Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW ngày

05/12/2011 của Bộ Chính trị về phổ cập Giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập Giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; đa dạng hóa phương thức học tập

đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân

Thực hiện có hiệu quả Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng xã hội học tập đến năm 2020

Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 09/8/2012 của Chính phủ

về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”

Giai đoạn 2 (2016-2020): Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục - Đào

tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo bình đẳng về cơ hội học tập; tiếp tục xây dựng xã hội học tập; hỗ trợ và ưu tiên phát triển giáo dục - Đào tạo nhân lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách

xã hội, người nghèo

Ngày 13/6/2012, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 711/QĐ-TTg phê

duyệt “Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020 “ xác định tiếp tục đổi mới cơ chế

tài chính Giáo dục nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục; nâng cao tính tự chủ của các cơ sở Giáo dục, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội; đảm bảo nguồn lực tài chính cho một số cơ sở Giáo dục Việt Nam đủ sức hội nhập và cạnh tranh quốc tế Từ đó quan điểm chỉ đạo về công tác XHH Giáo dục tiểu học được nhấn mạnh:

Trang 22

- Việc chăm lo phát triển Giáo dục tiểu học là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

và sự quản lý của Nhà nước

- Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển Giáo dục tiểu học; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác xã hội hoá

- Việc chăm sóc, Giáo dục tiểu học phải được thực hiện với sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Những văn bản pháp qui trên đảm bảo cho một hành lang pháp lý cơ bản cho công tác xã hội hóa Giáo dục tiểu học hoạt động đồng thời định hướng, chỉ đạo, tạo điều kiện cho các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội có trách nhiệm quan tâm chăm lo phát triển Giáo dục tiểu học Đồng thời Giáo dục tiểu học cần phải tạo ra một môi trường Giáo dục lành mạnh, có sự tham gia đóng góp của các cấp các ngành, cha mẹ học sinh, và toàn xã hội vào sự phát triển Giáo dục tiểu học Mục tiêu của XHHGD tiểu học là sự tham gia dưới nhiều hình thức đóng góp vào sự phát triển của Giáo dục, đó là các phương thức thực hiện XHHGD tiểu học, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, tham gia đóng góp về tài chính, công sức cho Giáo dục, cùng với nhà trường tham gia trực tiếp vào việc xây dựng kế hoạch Giáo dục trẻ em và giải quyết các vấn đề phát triển Giáo dục, và các lực lượng xã hội tham gia vào quản lý Giáo dục Đặc biệt trong đó nhấn mạnh đến việc lôi cuốn thu hút khích lệ mọi người dân và toàn xã hội tham gia cùng làm Giáo dục, xác định được vai trò của xã hội, nhân dân, Nhà nước trong từng trách nhiệm Việc huy động đó mang tính chất là của toàn xã hội cho Giáo dục tiểu học

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm xã hội

Xã hội là một khái niệm đa nghĩa, phân tán theo bề rộng lẫn bề sâu

Xã hội (hiểu theo nghĩa tổng quát): Là sự gắn bó (theo nghĩa chung cả về

không gian và thời gian) của một tập hợp các thực thể sống cùng loại và chia sẻ cùng một quan hệ sống (thực vật, động vật, con người)

Xã hội (hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ nói tới con người): Một tập hợp được

giới hạn và không gian, thời gian hoặc xã hội và đồng thời có sắp xếp của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, những người gắn bó với nhau trong các quan hệ tương tác trực tiếp và gián tiếp [16; tr562]

Trang 23

* Theo xã hội học thì:

Xã hội (hiểu theo cách đơn giản) là cộng đồng những người cùng chung sống

trên một lãnh thổ nhất định Cộng đồng xã hội là tập hợp những người có chung một nền văn hóa, một phương thức sản xuất và sinh hoạt với những dấu hiệu nhận biết là ngôn ngữ (gồm tiếng nói và chữ viết), cách ăn mặc, cách ứng xử giao tiếp và các phương tiện sản xuất

Giữa Giáo dục và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau Giáo dục bắt nguồn từ đời sống xã hội, có bản chất xã hội Xuất phát từ cuộc sống lao động sản xuất, con người có nhu cầu truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài người Giáo dục phục vụ cho xã hội Mỗi triều đại có một nền Giáo dục đặc thù, phản ánh thực tiễn xã hội, đồng thời phục vụ quyền lợi cho chính xã hội đó, giai cấp đó Giáo dục được coi là công cụ, là phương tiện để cải biến xã hội Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Khi

xã hội phát triển sẽ lại tác động trở lại Giáo dục, thúc đẩy Giáo dục phát triển và đòi hỏi Giáo dục phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của xã hội, của đất nước

Xã hội muốn duy trì, phát triển phải thực hiện chức năng Giáo dục Đó là chức năng không thể thiếu và không bao giờ mất của Giáo dục Nhờ có Giáo dục các thế hệ sau tiếp tục duy trì, đẩy mạnh lao động sản xuất và các hoạt động khác Giáo dục sáng tạo ra khoa học công nghệ, đồng thời Giáo dục lại luôn được hưởng thành tựu của khoa học công nghệ Người ta ví Giáo dục là vầng trán của cộng đồng, sự tiến bộ văn minh của cộng đồng chính do Giáo dục mang lại Cộng đồng là trái tim của Giáo dục, dòng máu từ trái tim nuôi dưỡng Giáo dục Giáo dục xa rời xã hội, tách khỏi cộng

đồng thì Giáo dục trở nên vô nghĩa [24]

1.2.2 Xã hội hóa

Thuật ngữ xã hội hóa (XHH) (socialization) đã được các nhà xã hội học sử dụng để

mô tả những phương cách mà con người học hỏi các giá trị, các vai trò mà xã hội đề ra, tạo

cơ sở cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Năm 1968 trong cuốn

“Giáo dục học” Bôlôlivew đã từng cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình cá nhân hoà nhập vào xã hội hay vào một trong các nhóm của họ thông qua quá trình học tập các chuẩn mực và giá trị của từng nhóm và xã hội”

Trang 24

Năm 1989, G.Enđrwit quan niệm “Xã hội hóa được hiểu chung như là một quá trình

biện chứng, trong đó mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó, mặt khác thông qua quá trình này, duy trì và tái sản xuất xã hội”

XHH được định như một quá trình, trong đó suốt cả đời cá nhân con người học

hỏi và biến thành của mình những yếu tố văn hóa - xã hội của môi trường sống, thu nhận chúng vào cơ cấu nhân cách của mình dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm

và những tác nhân xã hội quan trọng, và do đó mà thích nghi vào môi trường xã hội mà mình sống

Khái niệm xã hội hoá đã đựơc các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách giá trị mà vai trò xã hội đã đề ra tạo cơ sở cho việc hình thành và phát

triển nhân cách con người: “Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội,

trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kĩ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội” [31, tr.331]

Thuật ngữ XHH hiện nay được dùng với hai nội dung

Nội dung thứ nhất: thuật ngữ “Xã hội hoá” để chỉ quá trình biến những hành vi,

hoạt động có tính đơn lẻ, khu biệt của cá thể, tư nhân hay nhóm, tổ chức xã hội thành những hành vi, hoạt động có tính chất xã hội với sự tham gia rộng rãi của các thành phần xã hội khác nhau [26, Tr.296] Khái niệm này chỉ tăng cường sự chú ý quan tâm của xã hội đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó mà trước đây chỉ một bộ phận xã hội quan tâm Hay nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề,

sự kiện cụ thể nào đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng, một bộ phận của xã hội quan tâm, nay được đông đảo quần chúng quan tâm, đó là quá trình xã hội hoá các

vấn đề, các sự kiện như: XHHGD, XHH y tế…

Nội dung thứ hai: Thuật ngữ “xã hội hoá” được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình biến cá thể người thành cá nhân và thành nhân cách Đây chính là quá trình

xã hội hoá cá nhân

Về mặt thuật ngữ, phạm trù “Xã hội hoá” trở thành một trong những quan điểm

hoạch định hệ thống các chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá

“Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm

của toàn xã hội… chăm lo cho con người và xã hội” [12, tr32 ]

Trang 25

Ở Việt Nam, từ sau khi đổi mới năm 1986 đến nay, thuật ngữ “xã hội hoá”

được dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng: “Đảng đã đề xuất và khẳng

định nhiệm vụ xã hội hoá Xã hội hoá các hoạt động trên là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân tinh thần, trí tuệ, đạo đức của nhân dân” [25, Tr.164-165]

Điều nói trên khẳng định “Xã hội hoá” chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới Xã hội hoá trở thành một phương châm lãnh đạo quản lý Trong nhiều văn bản gần đây

“Xã hội hoá” là thuật ngữ được quy ước để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường giác ngộ, tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân, làm cho hoạt động này không chỉ được thực hiện ở một ngành, một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó, mà được tất cả các ngành, các giới, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính họ là người được hưởng thụ mọi thành quả do hoạt động đó đem lại

Mục tiêu chủ yếu của xã hội hoá là: Huy động tổng lực sức mạnh của toàn xã hội,

tạo ra nhiều nguồn lực to lớn thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực văn hoá - xã hội, làm cho lĩnh vực công tác này thực sự gắn bó với dân, của dân, do dân và vì dân Từ

đó nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Trong Nghị định của Chính phủ số 73/1999 NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999

về chính sách khuyến khích xã hội hoá, đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,

y tế, văn hoá, thể thao - Điều 1 chỉ rõ: “Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn

hoá, thể thao là vận động sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển vật chất và tinh thần của nhân dân”

Để thực hiện có hiệu quả xã hội hoá, ngày 21/8/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 90 Trong đó khẳng định 4 nội dung xã hội hoá như sau:

- Vận động, tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội

- Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp

Trang 26

- Đa dạng hoá các hình thức hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá xã hội, mở rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân được tham gia một cách chủ động và bình đẳng vào các hoạt động xã hội

- Đa dạng hoá các nguồn đầu tư, khai thác các nhân lực và vật lực đang tiềm ẩn trong xã hội

Như vậy, xã hội hoá là một chủ trương có nội dung phong phú Đó là quá trình

vận động quần chúng, nâng cao tính tích cực, ý thức tự giác và sức mạnh của quần chúng; là sự đổi mới về cơ chế quản lý và xây dựng hành lang pháp lý để đa dạng hoá các hình thức hoạt động, là sự đổi mới lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước

1.2.3 Khái niệm xã hội hoá Giáo dục

và đang phát triển Bản chất của xã hội hoá Giáo dục là sự tham gia trực tiếp của xã hội vào Giáo dục trên cả hai mặt tiếp nhận Giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của Giáo dục Quan niệm xã hội hoá Giáo dục được hiểu rất đa dạng ở nhiều quốc gia khác nhau Giáo dục là bộ phận không thể tách rời hệ thống xã hội, Giáo dục có tính chất xã hội vì Giáo dục bắt nguồn từ xã hội và phục vụ xã hội Trong thực tế còn nhiều người nhầm lẫn giữa tính chất xã hội của Giáo dục và xã hội hoá Giáo dục Hai khái niệm này không phải là một và không đồng nhất Xã hội hoá Giáo dục nói ở đây thuộc về phương thức, phương châm, là huy động toàn xã hội làm Giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền Giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước

để xây dựng một xã hội học tập [12] Thực hiện xã hội hoá Giáo dục tức là thực hiện mối quan hệ giữa Giáo dục và cộng đồng Thiết lập mối quan hệ này làm cho Giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội Bản thân ngành Giáo dục phải đáp ứng nhu cầu, quyền lợi học tập của nhân dân, không ngừng nâng cao chất lượng Giáo dục và luôn tự đổi mới theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ

Từ những quan điểm trên và từ hai khái niệm xã hội hoá (theo quan điểm xã hội học), khái niệm Giáo dục (theo quan điểm Giáo dục học) nêu ở trên ta có thể hiểu xã hội hóa trên lĩnh vực Giáo dục (xã hội hoá Giáo dục) là quá trình tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung hình mẫu, các hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm cá thể trên lĩnh vực Giáo dục Làm cho mọi người hiểu về Giáo dục, Giáo dục đến với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người được thụ hưởng thành quả của Giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu

Trang 27

cầu phát triển của xã hội, của đất nước, đồng thời mọi người có trách nhiệm tham gia Giáo dục và làm cho Giáo dục phát triển

lâu dài Nó huy động sức mạnh của toàn xã hội nhưng đòi hỏi Giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả và chúng ta xác định xã hội hoá Giáo dục một mặt là để huy động nhân lực, tài lực, vật lực của toàn xã hội để giải quyết mọi vấn đề, mọi tồn tại của Giáo dục, không phó mặc cho ngành Giáo dục, đồng thời cũng làm cho người dân thấy được những lợi ích từ Giáo dục mang lại cho người dân và cho xã hội để họ tự nguyện đến với Giáo dục Đây thực sự là cuộc vận động lớn trong xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và ngành Giáo dục

Như vậy xã hội hoá Giáo dục là quá trình tương tác hòa nhập giữa Giáo dục và

xã hội Giáo dục hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng Xã hội tiếp nhận Giáo dục như công việc của mình, vì mình, do mình đồng thời xã hội tác động trở lại Giáo dục, thúc đẩy Giáo dục phát triển Đây là mối quan hệ biện chứng với sự tác động tương hỗ và

hữu ích Theo nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh thì “Xã hội hoá Giáo dục là sự huy động

toàn xã hội làm Giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựng nền Giáo dục dưới sự lãnh đạo quản lý của Nhà nước” [29]

dục trên cả hai mặt tiếp nhận Giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của Giáo dục Như vậy chúng ta cần hiểu rõ hai vấn đề: mỗi người phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với Giáo dục (xã hội hoá trách nhiệm, nghĩa vụ với Giáo dục) đồng thời mỗi người đều được hưởng lợi từ Giáo dục (xã hội hoá quyền lợi về Giáo dục) học thường xuyên, học suốt đời [14]

Như vậy, XHHGD trước hết phải được hiểu là một sự nghiệp rộng lớn, đầy trách nhiệm và sự quan tâm của Đảng, nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân chăm lo phát triển Giáo dục - Đào tạo không những chỉ đối với thế hệ trẻ mà đối với tất cả mọi công dân Việt Nam không phân biệt già, trẻ, nam,

nữ, giàu, nghèo, dân tộc, vị trí xã hội và dù ở đâu (thành thị, nông thôn, vùng núi, hải đảo, các vùng khó khăn xa xôi hẻo lánh ) ai ai muốn học, muốn học gì, muốn học bằng cách nào, học như thế nào phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của mình nhất, cũng được tạo điều kiện tốt nhất có được để học XHHGD nhằm xây dựng một xã hội mà

Trang 28

trong đó mọi người dân đều được hưởng sự công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ thực sự trong học tập, thông qua XHHGD để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Mục tiêu quan trọng và cuối cùng của XHHGD chính là xây dựng một nền giáo dục - đào

tạo thực sự của dân, do dân và vì dân [17;343]

1.2.4 Khái niệm về Giáo dục

Thuật ngữ Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, Giáo dục bao gồm cả việc dạy và học, cả các tác động Giáo dục khác diễn ra trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội và là: “Sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, phẩm chất đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người Với nghĩa rộng nhất, khái niệm Giáo dục bao gồm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả các yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các nhu cầu của KT-XH” Như vậy, Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa con người Giáo dục và người được Giáo dục nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do người có kinh nghiệm, có chuyên môn được xã hội phân công chuyên trách gọi là những nhà Giáo dục Nơi tổ chức quá trình đó có hệ thống, có kế hoạch là “Nhà trường”

Ở đây Giáo dục tuy thực chất cũng là một quá trình xã hội hoá con người nhưng

có tính độc lập, riêng biệt tương đối của nó Cùng với sự phát triển và biến đổi của xã hội loài người, khái niệm Giáo dục được mở rộng hơn Ngày nay người ta coi Giáo

dục là “Cho mọi người”, “Học thường xuyên”, “Học suốt đời” Tức là, Giáo dục hướng

tới tất cả những ai có nhu cầu và có điều kiện học tập, được thực hiện ở bất cứ không gian, thời gian nào thích hợp, bằng các phương tiện dạy học khác nhau Theo nghĩa hẹp, Giáo dục là quá trình hình thành cho con người cơ sở khoa học của thế giới quan,

lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, phát triển và nâng cao thể lực con người Quá trình này được coi là bộ phận của quá trình Giáo dục tổng thể Giáo dục hiểu theo nghĩa này không bó hẹp trong môn đạo đức mà phải được hiểu là thực hiện trong tất cả các mặt trong cuộc sống, trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội

1.2.5 Khái niệm về Giáo dục tiểu học

Điều 2 của Luật phổ cập Giáo dục tiểu học qui định: “Giáo dục tiểu học là bậc

Trang 29

học nền tảng của hệ thống Giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của các em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [22]

Điều 2 của Điều lệ trường tiểu học (Ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo) đã xác

định vị trí của trường tiểu học là: “Trường tiểu học là cơ sở Giáo dục phổ thông của

hệ thống Giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”

[10]

Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục

- Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng CSVC, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;

- Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng CSVC và bảo đảm kinh phí hoạt

động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước [21]

Điểm 2, điều 27 của Luật Giáo dục (2005) quy định: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp

tục học trung học cơ sở” [21]

1.2.6 Quản lý

Có thể xem xét một số quan niệm về quản lý của các nhà khoa học như sau:

- W.Taylor thì cho rằng quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

- GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí viết: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt

được mục đích của tổ chức” [20]

- GS.TS Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách

thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27]

- PGS.TS Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng

của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [9]

Qua các quan niệm trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có

Trang 30

tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức

Như vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể

quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu đề ra

Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể hiểu quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản

lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động

Như vậy, khái niệm quản lý bao hàm các khía cạnh:

Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản lý và ngược lại

Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lý nẩy sinh các động lực quản lý, còn khách thể quản lý thì làm nẩy sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý

Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Phương pháp quản lý rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính - tổ chức, phương pháp tâm lý - giáo dục ; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau

Mục tiêu của quản lý là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người

Như vậy, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

Trang 31

1.2.7 Quản lý Giáo dục

Quản lý Giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức

và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình

Giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý Giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý Giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - Giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ Giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý Giáo dục là những tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở của quá trình Giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực cho trẻ” [19]

Quản lý Giáo dục là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động của Giáo dục nhằm thúc đẩy Giáo dục phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã xác định và được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng Giáo dục - đào tạo…

Vì bản chất của Giáo dục mang tính xã hội hoá cao nên quản lý Giáo dục cũng mang tính xã hội Thực tế cho thấy không có ngành nào chịu mối quan hệ tác động qua lại hai chiều Giáo dục - Xã hội nhạy cảm và sâu sắc như Giáo dục - Đào tạo Vì thế, quản lý Giáo dục chịu sự chi phối của xã hội rất lớn

1.2.8 Quản lý xã hội hoá giáo dục

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý Giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo nhu cầu phát triển xã hội” [9]

Trang 32

Xét từ phương diện quản lý Giáo dục theo hướng xã hội hoá thì có thể hiểu đây chính là quản lý xã hội hoá giáo dục

Cơ chế của xã hội hoá Giáo dục là cơ chế “mềm” theo xu hướng “mở” Quản lý

xã hội hoá Giáo dục cũng là một dạng quản lý linh hoạt, tuy nhiên vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định theo hướng tôn trọng sự vận động của xã hội hướng vào Giáo dục - Đào tạo nhưng vẫn đảm bảo đúng luật pháp của Nhà nước và trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hoá, tạo hành lang để hoạt động xã hội hoá đi đúng quỹ đạo theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra

Quản lý xã hội hoá Giáo dục có những cách làm khác nhau, cũng giúp cho công tác quản lý có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể Nếu quản lý theo phương pháp máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hoá, làm thui chột tính năng động của hoạt động xã hội hoá Nếu quản lý nghiêng về phương pháp dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy xã hội hoá vào những sai lầm, nhất là trong việc huy động các nguồn thu Vì vậy quản lý xã hội hoá Giáo dục đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho Giáo dục - Đào tạo

Quản lý xã hội hoá Giáo dục không hoàn toàn là công việc của ngành Giáo dục - Đào tạo Với chức năng Nhà nước của mình, ngành Giáo dục - Đào tạo chủ yếu làm công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về Giáo dục, chia xẻ khó khăn với Giáo dục, cộng đồng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển Giáo dục - Đào tạo Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, ngành Giáo dục - Đào tạo trực tiếp chỉ đạo và quản lý hoạt động xã hội hoá trong các nhà trường, giúp cho công tác xã hội hoá đi đúng hướng và có kết quả cao

Để hiểu toàn diện về xã hội hoá Giáo dục ta tìm hiểu thêm về bản chất của xã hội hoá Giáo dục

1.3 Bản chất của xã hội hoá Giáo dục và các quan điểm chính sách về xã hội hoá giáo dục

1.3.1 Bản chất của Giáo dục mang tính xã hội hoá sâu sắc

Triết học Mác - Lênin đã khẳng định: Trong quá trình tồn tại, con người bao giờ cũng cải tạo tự nhiên, chinh phục tự nhiên để tự nhiên phục vụ cho mình, đồng thời

Trang 33

con người cũng nhận thức chính mình, cải tạo chính mình và chinh phục chính mình

để phục vụ cho mình Con người luôn sống trong các hoàn cảnh xã hội nhất định và khi nói đến con người, tức là phải xem đó là con người - xã hội

Trong quá trình phát triển của xã hội, Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người, Giáo dục là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, là hạt nhân của mọi sự phát triển Điều này có nghĩa là không thể tách rời Giáo dục ra khỏi xã hội, hay nói cách khác, không có Giáo dục đứng ngoài xã hội, không có xã hội nào phát triển không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền Giáo dục Sự tồn tại của Giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế - xã hội và ngược lại Điều này phản ánh tính chất xã hội của Giáo dục Giáo dục mang bản chất xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò của Giáo dục càng lớn

Tuy nhiên, tính chất xã hội của Giáo dục và xã hội hoá Giáo dục không phải là một Bởi lẽ tự thân hoạt động Giáo dục luôn có tính chất xã hội nhưng nếu biết phát huy tính chất xã hội trong Giáo dục thì Giáo dục sẽ phát triển nhanh và ảnh hưởng mạnh mẽ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Theo quan niệm của Mác “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, nhân cách con người hình thành dưới tác động của các mối quan hệ xã hội và thông qua các hoạt động Giáo dục Đó là một căn cứ khoa học để chứng minh rằng xã hội hoá Giáo dục là việc làm thích hợp để trả lại cho Giáo dục bản chất xã hội sâu sắc vốn

có của nó

1.3.2 Hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xã hội hoá giáo dục

Ngày 11/11/1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14 - NQ/TW về cải

cách Giáo dục và đã xác định phương châm “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà

nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy và trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”

Hội đồng Giáo dục (HĐGD) ở các cấp và Quyết định ngày 9/12/1981 của Bộ Giáo dục ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của HĐGD các cấp chính quyền ở địa phương

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VII đó nhấn mạnh: “Nhà

nước cần đầu tư nhiều hơn cho Giáo dục, nhưng vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu

Trang 34

sắc và tiến hành tốt việc xã hội hóa những nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển Giáo dục trong nhân dân, coi Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội” [1; 11]

để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội trong xây dựng và phát triển sự nghiệp Giáo dục XHHGD đã trở thành một cuộc vận động rộng lớn toàn xã hội, toàn dân

tham gia công tác Giáo dục Giáo dục được xem là “quốc sách hàng đầu, đầu tư cho

Giáo dục là đầu tư cho phát triển” Do đó, “Giáo dục là sự nghiệp lâu dài của nhân dân,

sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của nhân dân” [2]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã

chính thức đề cập đến nội dung của công tác XHHGD Hội nghị khẳng định: “Giáo

dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” [2]

văn hóa Tiếp đến ngày 19/8/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 73/1999/NĐ-CP

về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Trong đó nói rõ một số những ưu tiên cần thiết cho XHH GD&ĐT

về cơ sở vật chất, đất đai; về thuế, phí, lệ phí; về tín dụng; về bảo hiểm, về quản lý tài chính và khen thưởng

Văn kiện Đại hội IX (2001), Đảng ta tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta dành tỷ

lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển Giáo dục - đào tạo Huy động

và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho Giáo dục - đào tạo Đẩy mạnh hợp tác quốc

tế về phát triển Giáo dục - đào tạo” yêu cầu “Tăng cường đầu tư cho Giáo dục từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa Giáo dục - đào tạo” [3; 204]

Ngày 18/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP đẩy mạnh

xã hội hóa các hoạt động giáo dục: “Thực hiện xã hội hóa Giáo dục nhằm hai mục tiêu lớn:

thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân , thứ hai là tạo điều kiện

để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo ở mức độ ngày càng cao”

Tại điều 12, chương I, Luật Giáo dục năm 2005 qui định về XHHGD: “Phát

triển Giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường xây dựng môi trường Giáo dục lành mạnh và an toàn” [23;14]

Trang 35

Tổng kết 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

X ngày 19/4/2006 khẳng định: Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH - HĐH đất nước Nâng cao

chất lượng Giáo dục toàn diện, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, chấn

hưng nền Giáo dục Việt Nam Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Phát triển Giáo dục mầm non và Giáo dục phổ thông Thực hiện XHHGD Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp Giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành Giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội

- nghề nghiệp để mở mang Giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội

Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 phê duyệt

“Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020” khẳng định đến năm 2020, nền Giáo dục

nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế;

Ngày 16/6/2014 Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường

chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển giáo dục - đào tạo Quá trình đó đã chứng minh rằng, XHHGD không phải là giải pháp tình thế khi nền kinh tế đất nước còn khó khăn, điều kiện đầu tư cho Giáo dục còn hạn hẹp, mà

là một chủ trương chiến lược lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển Giáo dục, ngay cả đến khi nước ta phát triển thành một nước công nghiệp, có thu nhập quốc dân cao gấp nhiều lần so với hiện nay

1.4 Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục

Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 - khoá VIII, ngày

14/01/1993 đã xác định mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của xã hội hoá Giáo dục: “Huy

động toàn xã hội làm Giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng

nền Giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước” Mục tiêu đó được thể hiện như sau:

Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của Giáo dục - Đào tạo trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung, cũng như trong phát

Trang 36

triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, mỗi gia đình và toàn cộng đồng Từ đó hình thành hệ tư tưởng xã hội về Giáo dục - Đào tạo theo quan điểm, đường lối của Đảng, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho phát triển”

Xã hội hoá Giáo dục là thu hút nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng và phát triển Giáo dục, trước hết là nguồn lực con người Giáo dục không còn bó hẹp trong thế đơn độc của nhà trường mà có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt trong Giáo dục đạo đức và rèn luyện ý thức công dân cho học sinh

Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện và khả năng đáp ứng của

xã hội cho Giáo dục, nhằm thực hiện phương châm Giáo dục cho mọi người từ đó vận động mọi thành viên trong cộng đồng tham gia học tập; học ở nhà trường, học ở gia đình, học ở ngoài xã hội thông qua các hình thức dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu: học

để biết, học để làm, học để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc

Xã hội hoá Giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu Giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện và đây cũng là chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hoá trong Giáo dục - Đào tạo Muốn vậy cần có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của gia đình và các lực lượng xã hội vào việc tạo ra môi trường thuận lợi cho Giáo dục, hoàn thiện nội dung và phương pháp Giáo dục, cải tiến công tác quản lý Giáo dục Đồng thời tuyên truyền, vận động làm cho mọi người dân trong cộng đồng nắm được những thông tin về Giáo dục để họ có thể đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình, có thể tham gia ý kiến, đóng góp công sức, trí tuệ, tiền của cho giáo dục và hưởng thụ một nền Giáo dục có chất lượng

Mục tiêu cao nhất của Giáo dục là xã hội hóa cá nhân Điều quan trọng chủ yếu của xã hội hoá Giáo dục là tính xã hội của sản phẩm Giáo dục Sản phẩm của Giáo dục phải đáp ứng được yêu cầu xã hội, do đó nội dung Giáo dục trong nhà trường phải theo nhu cầu của xã hội

1.5 Nội dung của xã hội hoá Giáo dục tiểu học

1.5.1 Nhà trường phục vụ xã hội, làm cho xã hội, cộng đồng hưởng lợi cao nhất về giáo dục

Trường học là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người cho xã hội Giáo dục nhà trường phải thực hiện được mục tiêu dân trí, nhân lực, nhân tài Con người từ khi sinh ra và lớn lên, được Giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, từ trong gia đình cho đến tất

Trang 37

cả các cơ sở Giáo dục, văn hóa, kinh tế, các tổ chức quần chúng, ở các khu phố, thôn xóm Nhà trường Giáo dục kiến thức phổ thông làm cơ sở cho hình thành kiến thức,

kỹ năng, dạy học sinh học cách học; đồng thời đem lại kiến thức cho mọi người, trước hết là cho thế hệ trẻ, sau nữa là cho mọi người dân, cho xã hội Nhà trường được tổ chức và hoạt động theo một mục đích xác định, với nội dung Giáo dục được chọn lọc

và xắp xếp hệ thống, với những phương pháp Giáo dục có cơ sở khoa học và đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn, với những nhà sư phạm đã được trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học và trau rồi về mặt phẩm chất đạo đức, với những phương tiện và điều kiện Giáo dục ngày một hoàn thiện, với một quá trình đào tạo được tổ chức liên tục trong một thời gian dài

Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý Giáo dục, [23; 69] đồng thời nhà trường phải coi mình như là đối tượng của XHHGD và là trung tâm của XHHGD địa phương Chính vì vậy, mỗi nhà trường phải xác định là một bộ phận của cộng đồng, phải phục vụ mục tiêu KT - XH, chính trị, văn hóa - xã hội của địa phương.và phát huy tốt chức năng của mình, từ phương hướng đến mục tiêu hành động cụ thể của nhà trường đều có sự tham gia đóng góp của địa phương, để những yêu cầu của ngành thành những nhu cầu và mục tiêu của địa phương Trong quá trình thực hiện XHHGD nhà trường, ngành Giáo dục muốn duy trì, phát triển các hoạt động từ phối hợp đến kết hợp, hợp tác, phải đảm bảo nguyên tắc

“bình đẳng”, nguyên tắc “lợi ích”

Nhà trường là một thiết chế Giáo dục trong hệ thống Giáo dục quốc dân do nhà nước quản lí, là cơ quan chuyên trách Giáo dục có tính chuyên môn cao Do vậy, trước hết nhà trường phải đem lại cho địa phương một trữ lượng văn hóa cần thiết, nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực là trung tâm văn hóa Giáo dục của địa phương, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, tham gia tích cực vào các hoạt động của các

cơ quan ban ngành đoàn thể trong địa phương

1.5.2 Các lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung Giáo dục tiểu học

XHHGD tiểu học là một phương thức để thực hiện tốt mục tiêu Giáo dục tiểu học Vì vậy việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình Giáo dục là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho việc thực hiện được mục tiêu Giáo dục tiểu học Tuy nhiên tham gia như thế nào để tạo sự đồng bộ và hiệu

Trang 38

quả cao là nội dung khó khăn nhất của cuộc vận động này Các LLXH, tổ chức đoàn thể, xã hội đều có thể tham gia vào việc Giáo dục dưới hình thức báo cáo chuyên đề, nói chuyện nhân ngày kỷ niệm, ngày lễ của dân tộc hoặc địa phương, tổ chức các hoạt động Giáo dục Các cơ quan văn hóa thông tin, nhất là các phương tiện thông tin đại chúng, truyền hình, sách báo và các phương tiện văn hóa khác, các tầng lớp nhân dân đem lại nội dung Giáo dục cho học sinh, có thể cung cấp tài liệu, bổ sung phần mềm của nội dung Giáo dục nhà trường Để tất cả các LLXH cùng tham gia Giáo dục thế hệ học sinh, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ quan quản lý Giáo dục, các

tổ chức xã hội và phụ huynh học sinh

1.5.3 Toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục tiểu học

Môi trường Giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, vì vậy XHHGD tiểu học phải hướng tới việc huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường Giáo dục Để làm được điều đó phải dựa các lực lượng xã hội

để đảm bảo cho môi trường được lành mạnh có tính tích cực và có tính thống nhất trong quá trình tác động đến việc hình thành nhân cách cho học sinh

XHHGD tiểu học trước hết là huy động các lực lượng vào việc xây dựng nhà trường từ khung cảnh sư phạm, cơ sở vật chất của nhà trường, đến nề nếp kỷ cương, không khí học tập, để tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người Đặc biệt ở đây nhà trường luôn giữ vai trò chủ động trong phối hợp với gia đình và xã hội trong việc tạo một môi trường tốt cho học sinh tiếp thu các kiến thức và rèn luyện các kỹ năng, đổi mới hình thức Giáo dục tiểu học, thực hiện Giáo dục toàn diện cho học sinh

Môi trường xã hội đang biến động nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác động rất lớn đến việc Giáo dục các thế hệ học sinh, trong đó cần khai thác các yếu tố tích cực như kinh tế phát triển, giao lưu quốc tế được mở rộng, dân chủ hóa được đề cao và hạn chế các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang ảnh hưởng không tốt đến việc Giáo dục học sinh Do vậy cần phải huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, có ý nghĩa Giáo dục tích cực

Ba môi trường nhà trường, gia đình, xã hội đồng thời tác động sẽ làm cho thế

hệ học sinh được Giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc sống của học sinh

Trang 39

được nâng lên, chủ nhân tương lai của đất nước sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn, đầy đủ hơn về các kỹ năng sống về sức khoẻ và trí tuệ

1.5.4 Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho Giáo dục tiểu học

Hiện nay nhà nước đầu tư cho GDTH không ngừng tăng, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo dục ngày càng cao: cơ sở vật chất, trang thiết bị của Giáo dục tiểu học hiện nay còn thiếu thốn về số lượng, xuống cấp về chất lượng, đặc biệt ở những vùng núi cao và vùng khó khăn đang thiếu nghiêm trọng về lớp học, cơ

sở vật chất trang thiết bị dạy học Cho nên, việc huy động các lực lượng đầu tư cho Giáo dục tiểu học là một việc làm hết sức cần thiết của XHHGD

Việc lôi cuốn các lực lượng xã hội và cá nhân trong cộng đồng mang tâm huyết

và tài năng của mình tham gia vào các hoạt động Giáo dục tiểu học là hết sức quan trọng, đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu Giáo dục tiểu học Họ có thể tham gia vào việc xây dựng môi trường Giáo dục, tạo ảnh hưởng tích cực thống nhất cho Giáo dục, đóng góp xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp, các sáng kiến kinh nghiệm, ý kiến tư vấn cho các nhà trường, cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động của ngành Giáo dục và nhà trường tiểu học, đóng góp để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục phổ thông

XHHGD tiểu học chính là nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho Giáo dục,

từ đó phải thực hiện đồng bộ các nội dung để XHHGD tiểu học thực sự trở thành

“chìa khóa”, góp phần mở rộng cánh cửa Giáo dục tiểu học trên các bình diện quy mô,

chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội

1.5.5 Xây dựng, phát triển hệ thống trường, lớp và các loại hình Giáo dục tiểu học

Đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống trường, lớp đáp ứng nhu cầu đến trường của lứa tuổi tiểu học là một vấn đề rất quan trọng Trong những năm tới khi điều kiện

KT - XH phát triển dự báo số học sinh trong độ tuổi thu hút vào các loại hình ngoài công lập tiếp tục gia tăng và với nhu cầu Giáo dục của các tầng lớp nhân dân thì xu hướng đa dạng hóa các loại hình Giáo dục tiểu học là một tất yếu, nó chịu sự chi phối

và tác động của quá trình phát triển KT - XH Đa dạng hóa Giáo dục tiểu học dựa trên

cơ sở mục tiêu đào tạo, phương pháp, nội dung Giáo dục thống nhất dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo, góp phần quan trọng vào tiến trình đổi mới Giáo dục - Đào tạo đáp ứng nhu cầu Giáo dục của nhân dân trong nền kinh tế thị trường nhiều thành

Trang 40

phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Góp phần mở rộng cơ hội

cho số đông học sinh được hưởng các dịch vụ Giáo dục với những loại hình thức thích hợp với từng đối tượng, từng khu vực, địa phương, tăng thêm nguồn lực cho phát triển

Giáo dục - đào tạo; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả Giáo dục học sinh, tạo sự cạnh tranh giữa các loại hình trong quá trình phát triển Vì vậy, một trong những đặc điểm của Giáo dục tiểu học là có nhiều loại hình, nhiều chương trình, mang tính xã hội cao

Chính sự tham gia của các lực lượng xã hội vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình trường, lớp sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu nhân dân được hưởng một nền Giáo dục hoàn thiện, tiến bộ, toàn diện hơn và đồng thời làm cho Giáo dục tiểu học gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích cộng đồng

1.6 Con đường thực hiện xã hội hoá giáo dục

1.6.1 Dân chủ hoá quá trình tổ chức và quản lý

Đây là con đường cơ bản để thực hiện xã hội hoá nhằm biến hệ thống Giáo dục

và trường học như một thiết chế hành chính thành một thiết chế Giáo dục hoàn toàn là của dân, do dân và vì dân; là xoá bỏ tính khép kín của hệ thống Giáo dục nói chung và

hệ thống trường học nói riêng, tạo điều kiện để tất cả mọi người có cơ hội nắm bắt những thông tin trong Giáo dục, tham gia ý kiến, đóng góp công sức và tiền của vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Giáo dục

Dân chủ hoá Giáo dục phải được thể hiện trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển Giáo dục, trong quá trình công khai hoá các mục tiêu, chương trình, giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cũng như hệ thống lãnh đạo quản lý từ Trung ương đến địa phương phải thực sự phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ để xây dựng chiến lược quốc gia về Giáo dục - Đào tạo, trên cơ sở đó hình thành các bước đi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Dân chủ hoá còn thể hiện ngay trong việc thực hiện và đảm bảo quyền, nghĩa

vụ của học sinh Học sinh không chỉ là đối tượng đánh giá, xếp loại của Giáo dục mà thường xuyên cũng phải đuợc tham gia vào các hoạt động quản lý, nhất là hoạt động tự quản, được tham gia đóng góp ý kiến đối với người dạy bằng nhiều hình thức, nhằm tác động trở lại để góp phần hoàn chỉnh chu trình dạy và học Tuy nhiên, dân chủ trong lĩnh vực này vẫn phải đảm bảo nguyên tắc như Bác Hồ đã khẳng định “Dân chủ nhưng

Ngày đăng: 10/06/2016, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1993). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư khóa VII. NXB Sự thật - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư khóa VII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật - Hà Nội
Năm: 1993
2. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. “ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
15. GS.TS. Lê Ngọc Hùng (2013), Xã hội học giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Bùi Hiền (2001) , Từ điển giáo dục học, NXB bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: GS.TS. Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Bùi Hiền (2001)
Năm: 2013
17. Bùi Minh Hiền (Chủ biên) -Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo (2006) - Quản lý Giáo dục. NXB Đại học Sư phạm - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Giáo dục. NXB
Nhà XB: NXB "Đại học Sư phạm - Hà Nội
18. Hồ Chí Minh về vấn đề Giáo dục (1990), NXB Giáo dục, Hà Nội. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về vấn đề Giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh về vấn đề Giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
23. Luật Giáo dục (2006) - NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội
24. Nguyễn Thiện Nhân và Phạm Vũ Luận (19/12/2007), Sơ kết 2 năm thực hiện chủ tr- ương xã hội hóa GD-ĐT “VietnamNet” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 2 năm thực hiện chủ tr-ương xã hội hóa GD-ĐT" “VietnamNet
28. Sở Giáo dục - Đào tạo Điện Biên, Thống kê GDTH các năm học từ 2013 đến 2015 29. Bùi Gia Thịnh - Võ Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình (2007), Xã hội học tập yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục, NXB viện khoa học và giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê GDTH các năm học từ 2013 đến 2015
Tác giả: Sở Giáo dục - Đào tạo Điện Biên, Thống kê GDTH các năm học từ 2013 đến 2015 29. Bùi Gia Thịnh - Võ Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB viện khoa học và giáo dục
Năm: 2007
31. Nguyễn Khắc Viện (1994): Từ điển Xã hội học. NXB Thế giới. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: NXB Thế giới. Hà Nội
Năm: 1994
4. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII ngày 15/01/ 2015 của Tỉnh ủy tỉnh Điện Biên Khác
5. Báo cáo tổng kết năm học 2013-2014 của Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Điện Biên ngày 14/8/2014 Khác
6. Báo cáo số 1832 /BC-UBND ngày 18/12/2014 của UBND thành phố Điện Biên Phủ về tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 Khác
7. Báo cáo số 54/BC-PGDĐT ngày 28/5/2014 của Phòng Giáo dục - Đào tạo thành phố Điện Biên Phủ về tổng kết năm học 2013-2014 Khác
8. Báo cáo ngày 27/01/2015 của Hội khuyến học thành phố Điện Biên Phủ về tổng kết hoạt động công tác Khuyến học năm 2014 Khác
9. PGS.TS. Đặng Quốc Bảo - Những vấn đề cơ bản về QLGD 10. Bộ GD&ĐT (2010); Điều lệ trường tiểu học Khác
11. Chính phủ (1997), Nghị quyết số 90/NQ-CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa Khác
13. Đề án số 502/ĐA-UBND ngày 25/6/2009 của UBND tỉnh về xã hội hóa các hoạt động về Giáo dục - Đào tạo giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020 Khác
14. Phạm Minh Hạc (1997), Xã hội hoá công tác giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.5  NHẬN THỨC VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.5 NHẬN THỨC VỀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC (Trang 65)
BẢNG 2.6   NHẬN THỨC VỀ MỤC TIÊU XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.6 NHẬN THỨC VỀ MỤC TIÊU XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC (Trang 66)
BẢNG 2.8  CHA MẸ HỌC SINH THAM GIA THỰC HIỆN - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.8 CHA MẸ HỌC SINH THAM GIA THỰC HIỆN (Trang 70)
BẢNG 2.9  MỨC ĐỘ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.9 MỨC ĐỘ THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC (Trang 71)
BẢNG 2.11   HUY ĐỘNG SỰ ĐÓNG GÓP CỦA XÃ HỘI  CHO GIÁO DỤC TIỂU HỌC (2010 - 2014) - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.11 HUY ĐỘNG SỰ ĐÓNG GÓP CỦA XÃ HỘI CHO GIÁO DỤC TIỂU HỌC (2010 - 2014) (Trang 72)
BẢNG 2.13  CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.13 CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH (Trang 73)
BẢNG 2.12. KINH PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CSVC TIỂU HỌC - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.12. KINH PHÍ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CSVC TIỂU HỌC (Trang 73)
BẢNG 2.14  NGUYÊN NHÂN CỦA TỒN TẠI - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 2.14 NGUYÊN NHÂN CỦA TỒN TẠI (Trang 77)
BẢNG 3.1  KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP - Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tiểu học ở thành phố điện biên phủ trong giai đoạn hiện nay
BẢNG 3.1 KHẢO NGHIỆM TÍNH CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w