1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết về nông thôn sau 1975 (khảo sát qua tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng

104 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hàng loạt tác phẩm văn xuôi được viết từ sau đổi mới về đề tài nông thôn như Thời xa vắng, Chuyện làng cuội của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Thuỷ hoả đạo tặc của Hoàng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ CHUYÊN

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975

(KHẢO SÁT QUA TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG

VÀ ĐÀO THẮNG)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành văn học Việt Nam

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ CHUYÊN

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975

(KHẢO SÁT QUA TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2.1 Những vấn đề chung 2

2.2 Về hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 4

2.2.1 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường 4 2.2.2 Về tiểu thuyết Dòng sông mía của nhà văn Đào Thắng 8

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975 SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN KHĂC TRƯỜNG VÀ ĐÀO THẮNG 12

1.1 Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 12

1.1.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn trước đổi mới (1986) 12

1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (1986) 18

1.2 Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 24

1.2.1 Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 24

1.2.2 Tiểu thuyết Đào Thắng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 25 CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC NÔNG THÔN VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA VÀ DÒNG SÔNG MÍA 28

Trang 4

2.1 Đời sống nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông

mía 28

2.1.1 Hiện thực nông thôn thời kỳ tiền đổi mới 28

2.1.2 Vấn đề cải cách ruộng đất 35

2.1.3 Hiện thực đời sống tâm linh và đời sống tính dục trong hai tiểu thuyết 40

2.2Nhân vật trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 55

2.2.1 Nhân vật mang dấu vết tha hóa và yếu tố bi kịch 55

2.2.2 Nhân vật có số phận bi thảm 61

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG HAI TIỂU THUYẾT MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA VÀ DÒNG SÔNG MÍA 67

3.1 Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật 67

3.1.1 Xây dựng những chi tiết ngoại hình 68

3.1.2 Khắc hoạ nội tâm nhân vật 72

3.1.3 Khắc hoạ nhân vật qua những hành động 75

3.2 Đặc điểm ngôn ngữ trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía 76

3.2.1.Ngôn ngữ trần thuật (ngôn ngữ người kể chuyện) 77

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 80

3.3 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 84

3.4 Kết cấu nghệ thuật 88

3.3.1 Kết cấu lắp ghép cốt truyện 88

3.3.2 Kết cấu buông lửng, để ngỏ 89

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nông thôn luôn là đề tài xuyên suốt của văn học Việt Nam: Từ ca dao, văn học trung đại đến văn học hiện đại Mỗi thời kỳ tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội mà nông thôn được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau Trong dòng văn học Hiện thực phê phán những năm 1930 – 1945, nông thôn hiện lên với cái đói, cái nghèo, tối tăm, lạc hậu Sau cách mạng Tháng tám đến năm 1975, đề tài nông thôn được khai thác với cảm hứng

ngợi ca những mặt tích cực, tốt đẹp của cuộc sống Sau năm 1975, đặc biệt

là sau Đại hội Đảng VI (1986) với tinh thần tự do dân chủ nhìn thẳng vào sự thật, phát huy nhân tố con người đã mang đến cho văn chương một luồng sinh khí mới Các nhà văn đã mạnh dạn bày tỏ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của mình về hiện thực Hơn thế nữa, giai đoạn này trong lòng văn học

đang diễn ra một sự chuyển biến mạnh mẽ đó là: sự chuyển biến từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng thế sự đời tư Sự chuyển đổi này đã mang

đến cho văn học viết về nông thôn những thay đổi đáng ghi nhận Dưới cái nhìn thế sự, người nông dân xuất hiện trên những trang văn với tất cả những buồn vui, sướng khổ Chưa bao giờ cuộc sống riêng tư, số phận con người lại được chú ý đến như vậy

Trong hàng loạt tác phẩm văn xuôi được viết từ sau đổi mới về đề tài nông

thôn như Thời xa vắng, Chuyện làng cuội của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Thuỷ hoả đạo tặc của Hoàng Minh Tường, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Dòng sông mía của Đào Thắng …thì Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía là hai tác phẩm tiêu biểu, sắc nét nhất

Giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tiểu thuyết này được khẳng định bằng việc nhận giải thưởng thường niên do Hội nhà văn tổ chức, và quan trọng hơn là được độc giả nhiệt tình đón nhận Nhiều bài viết đã khẳng định thành công của hai tiểu thuyết này trên nhiều phương diện, và bản thân người viết cũng có niềm say mê đối

với hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía, đó là lý do để

Trang 6

chúng tôi lựa chọn : Tiểu thuyết viết về nông thôn sau năm 1975 (khảo sát qua tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng) làm đề tài nghiên cứu của mình Với

đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định vị trí và đóng góp của hai nhà văn ở mảng tiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ sau đổi mới nói riêng, và đối với nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những vấn đề chung

Sau năm 1986, bên cạnh hàng loạt tiểu thuyết viết về nông thôn gây tiếng vang

như Thời xa vắng của Lê Lựu, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường…đã xuất hiện nhiều cây bút mới

viết về nông thôn như: Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Minh Tường, Đào Thắng…tất cả đã tạo nên một không khí sôi động trên văn đàn Nhiều tác phẩm đã gặt hái được thành công, và cùng với đó cũng bắt đầu xuất hiện các bài nghiên cứu, phê bình về mảng văn học này

Hầu hết các bài viết đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của đời sống nông thôn trước và sau đổi mới, và thống nhất ghi nhận sau Đại hội Đảng VI (1986),

văn xuôi viết về nông thôn đã có sự thay đổi đáng kể Tác giả Trần Cương trong bài Văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 80 [18] đã nhận thấy có hai sự

chuyển biến của văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 80 so với những

năm trước đó, đó là: Sự chuyển biến trong chủ đề và sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực Ở bài viết này, nói về sự chuyến biến trong chủ đề Trần Cương

đã đánh giá ― dường như lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà trước kia chưa có đó là sản phẩm con người và hạnh phúc cá nhân…‖ [18;Tr.36] Ở

phạm vi bao quát hiện thực tác giả cũng nhận xét: Các nhà văn đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn một cách chân thực và sâu sắc

Tác giả Tôn Phương Lan trong cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX [ 53] có bài: ―Một số vấn đề văn xuôi thời kỳ đổi mới‖, tác giả có đề cập đến văn học

sau chiến tranh Đặt đề tài nông thôn bên cạnh các đề tài khác, bài viết đã chỉ ra những đổi mới của đề tài nông thôn trong sự đổi mới chung của tiểu thuyết sau 1986 Ngoài ra, trong bài viết này tác giả còn nói đến một vài vấn đề tồn tại của đời sống

Trang 7

nông thôn trong mối quan hệ dòng tộc

Nhà nghiên cứu Phong Lê trong công trình Nghiên cứu văn học [62] với bài:

“Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8 năm 1945” Trong bài viết này tác giả đã có một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt

Nam từ đầu thế kỷ XX đến những năm sau đổi mới, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI

Công trình tiêu biểu viết về đề tài nông thôn có lẽ phải kể đến tác giả Lã Duy

Lan với công trình khoa học Văn xuôi viết về nông thôn - tiến trình và đổi mới [52]

Trong công trình này, tác giả đã khái quát và đánh giá về nông thôn trong suốt quá trình phát triển từ trước và sau 1986 Nếu ở giai đoạn trước năm 1986, tác giả đi vào những thành tựu và hạn chế trong việc phản ánh hiện thực thì ở giai đoạn sau năm

1986, ngoài việc giới thiệu diện mạo chung, tác giả còn tập trung đánh giá những

―đặc trưng sáng tạo về nội dung‖ của văn xuôi viết về nông thôn thời kỳ đổi mới qua

sự chuyển biến về chủ đề, phạm vi bao quát hiện thực và cách thể hiện nhân vật Đồng thời tác giả cũng đánh giá những thành tựu bước đầu về phương diện nghệ

thuật: Ngôn ngữ, thể loại, phong cách chung và giọng điệu

Xác định ranh giới của tiểu thuyết nông thôn trước và sau đổi mới trong bài

Về hướng tiếp cận mới đối với hiện thực trong văn xuôi sau 1975, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan cho rằng “ Lâu nay người nông dân chưa được nhìn nhận qua vấn

đề ruộng đất, vấn đề vào ra hợp tác xã, giờ đây vấn đề đó được nhà văn nhìn vào số phận lịch sử của họ Và lịch sử đất nước được hiện ra qua lịch sử cuộc đời nhân vật trong cuộc mưu sinh, trong sự duy trì đóng góp để làm nghĩa vụ cho tổ quốc, với phần trách nhiệm của từng hoàn cảnh gia đình” [54;Tr.50], Từ góc độ đó, tác giả cho rằng “đã có một cách soi xét lại một thời đã qua, thông qua những số phận cá nhân và những vấn đề của một làng xã, một dòng họ”[54;Tr.48], trong đó “nổi bật lên là mối mâu thuẫn về quyền lợi cá nhân nấp dưới vấn đề họ tộc”[54;Tr.40]

Tác giả Phạm Ngọc Tến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn cũng

có cái nhìn lạc quan Trong bài viết tác giả đã khẳng định đề tài nông thôn không bao

giờ “bạc màu”, “không bao giờ mòn” Bởi nông thôn việt Nam đang từng bước

chuyển mình, đáng được ghi nhận Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công

Trang 8

nghiệp vào nông nghiệp, sự lai căng về văn hóa…cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để các nhà văn suy ngẫm, trăn trở [87]

Trong công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 – 2005: Diện mạo

và đặc điểm, tác giả Lê Thị Hường đã chỉ ra được những đặc điểm chính của tiểu

thuyết giai đoạn này là sự đa dạng về hệ đề tài, trong đó đề tài nông thôn là một trong những đề tài đã gây được ấn tượng Các nhà văn đã gặp gỡ nhau ở vấn đề cốt lõi của nông thôn: gia đình và dòng tộc, phong tục, nếp nghĩ, nếp sống của những con người

sống trên những mảnh đất phần lớn còn chịu sức đè của những thói tục cũ.[ 49]

Nhân dịp cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002 – 2004) kết thúc, báo Sài Gòn giải phóng đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Trong cuộc trao đổi này, nhà thơ đã khẳng định: Có mùa gặt mới của tiểu thuyết nông thôn đầu thế kỷ XXI Nét mới của cuộc thi tiểu thuyết lần 2 là các nhà văn đã

có sự mở rộng biên độ khi viết về nông thôn Họ “đặt nông thôn Việt Nam trong những biến cố của dân tộc đầy bão táp theo chiều dài lịch sử”, “với độ mở và góc khuất mà trước đó nhiều nhà văn chưa có điều kiện để truyền tải tới bạn đọc Những yếu tố đó tạo nên bộ mặt và sức bền của nông thôn Việt Nam Qua Dòng sông mía, Cánh đồng lưu lạc… đã chứng tỏ được “sức sống của dân tộc, cốt cách của người nông dân được phác họa một cách sắc sảo”[88] Như vậy, văn xuôi và tiểu thuyết

viết về nông thôn từ sau 1975 đã thực sự hồi sinh, để lại nhiều dấu ấn qua mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm Phải khẳng định rằng, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã không dẫm lên những lối mòn quen thuộc, mà đã có sự chuyển mình, hứa hẹn nhiều thành tựu ở những giai đoạn sau

2.2 Về hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

2.2.1 Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc

Trường

Nguyễn Khắc Trường là một cây bút trẻ của nền văn xuôi hiện đại Việt

Nam Khởi đầu với các tập truyện Cửa khẩu, Thác rừng , Miền đất mặt trời

nhưng thể loại truyện ngắn này đã không đem lại thành công cho ông Đánh dấu

sự thành công trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Trường phải kể đến

cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, với cuốn tiểu thuyết này

Trang 9

Nguyễn Khắc Trường đã mang đến cho văn đàn một tiếng nói mới, trực diện và sắc sảo Khảo sát các tư liệu đã thu thập được chúng tôi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu về Nguyễn Khắc Trường hầu như mới là các ý kiến thảo luận, các bài viết đăng rải rác trên các báo, tạp chí, và các bài phỏng vấn trực tuyến, online, nó không mang tính hệ thống, toàn diện Ngoài ra cũng còn phải kể đến

một số bài được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, kịch bản phim Mảnh đất lắm người nhiều ma đã được công chiếu dưới cái tên ―Đất và người‖ của hãng phim

Truyền hình Việt Nam vào tháng 1 năm 2003 Tuy các ý kiến đánh giá, phê bình đôi khi khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng nhìn chung cũng khá thống nhất khi đánh giá về giá trị của cuốn tiểu thuyết này Đáng chú ý là các ý kiến

thảo luận về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma do báo Văn nghệ tổ chức

ngày 25 tháng 01 năm 1991 Trong cuộc thảo luận này các nhà nghiên cứu đã xem xét tác phẩm dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Có ý kiến đưa ra

sự đánh giá tổng quát về tác phẩm và khẳng định tài năng của Nguyễn Khắc Trường (Hà Minh Đức), đánh giá tác phẩm ở chiều sâu văn hoá của nó (Bùi Bình Thi), cũng có ý kiến xem xét tác phẩm ở khía cạnh đóng góp của nó với đề tài nông thôn (Phong Lê), ở nghệ thuật trần thuật và cách thức tổ chức cốt truyện

(Trần Đình Sử, Trung Trung Đỉnh)…Khái quát về giá trị của Mảnh đất lắm người nhiều ma, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận thấy nhà văn Nguyễn Khắc Trường đã ―Viết về nông thôn dưới cái nhìn chân thực, chủ động, làm bộc lộ được qua những trang viết là một nông thôn với nhiều chuyển động, xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực Nông thôn trong tiểu thuyết không cuộn lên trong các phong trào đấu tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên những nguyên nhân bên trong, những chuyện làng xóm.Tác giả đã chụp được khuôn mặt đích thực với những nét miêu tả sắc sảo, chân thực”[71] Nhà văn Trung Trung Đỉnh lại cho rằng: “ Nguyễn Khắc Trường có tài lập truyện tỉnh táo và kín kẽ Tôi nghĩ đây là thế mạnh và cũng là điểm yếu của tác giả Vì tỉnh táo quá, kĩ quá mà ông lo được hết mọi điều khiến người đọc đỡ phải lo Nếu anh là người say, không tỉnh táo chắc anh chẳng viết đoạn cuối làm gì Phần cuối được cái lí mà mất cái lập lờ vô lí khiến người ta

Trang 10

phải thèm khát, thao thức Tôi nghĩ nghệ thuật lấp lánh ở cái sự say đến ngả nghiêng, đến mập mờ và nó hấp dẫn chính ở cái sự mập mờ ấy‖ [71] Theo Trần Đình Sử, nhà văn Nguyễn Khắc Trường ―rất giàu vốn sống, đặc biệt ngôn ngữ rất phong phú, sinh động, các thành ngữ, tục ngữ, các ngôn ngữ “bộ đội” được

sử dụng linh hoạt làm cho lời trần thuật tươi tắn và có duyên” [71] và chính điều này mà Trần Đình Sử nhận thấy tác phẩm đã “góp phần đổi mới mảng tiểu thuyết về nông thôn của chúng ta”.Với Phong Lê, thì ―Cuốn sách đặt ra và gây được ấn tượng ở các vấn đề chìm và nổi, ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen

đó Không chỉ là chất thơ mà còn là bi kịch, và là những bi kịch gọi nhau Không chỉ những con người nhân danh đủ dạng trong thế bài trừ tiêu diệt lẫn nhau mà còn là đủ những người “dị dạng”, bị đẩy ra hoặc bị hút vào những giao tranh quyết liệt đó.” Và “sức hấp dẫn của cuốn sách là ở một số vỉa mới

mà nó khai thác, gắn bó với những vấn đề chung, vừa thực sự, vừa lưu cữu của nông thôn chúng ta” [71] Bùi Bình Thi khẳng định : Điều mà cuốn tiểu thuyết

đã đặt ra rất có ý nghĩa đó là nông thôn bấy lâu nay không hẳn chỉ là vấn đề ruộng đất mà trên hết là một đời sống văn hoá Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh lại nhận thấy: nhà văn đã ―tạo được một không khí riêng cho tác phẩm‖

đó là “một không khí âm dương lẫn lộn, quỷ ở với người, có những nhân vật khó tách bạch đâu là phần quỷ, đâu là phần người” [71] Nguyễn Phan Hách khẳng định: ― Tác phẩm có tinh thần lạc quan‖ Với Thiếu Mai thì: ― Cuốn sách của Nguyễn Khắc Trường hấp dẫn chúng ta bởi nhiều tình tiết, nhiều thông tin mới mẻ, sinh động‖ [71] Bên cạnh những ý kiến bình luận trên, trong cuộc thảo

luận còn có các ý kiến đóng góp của Ngô Thảo, Hoàng Ngọc Hiến, Hồ Phương… Nhìn chung những bài viết này đều có nhận định chung là ý thức dòng họ là vấn đề nổi bật trong các vấn đề về hiện thực nông thôn được phản ánh trong tác phẩm Ngoài ra còn có những bài viết trên các báo, tạp chí … đánh giá về tiểu thuyết này, hầu hết các ý kiến đều thể hiện những ấn tượng

chung nhất, khái quát nhất về tác phẩm Tiêu biểu là các bài: Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma của Hồng Diệu trên Tạp chí VNQĐ số 8/1991, tác giả nhận thấy ―âm hưởng chủ yếu trong tác phẩm là lòng nhân hậu, là tình người‖

Trang 11

Lê Thành Nghị có bài“Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma” trên Tạp chí tác

phẩm mới 8- 1991, trong đó khẳng định vấn đề bao quát trong tác phẩm là

“vấn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn‖, và cũng theo tác giả sự chi phối ―khá triệt để về ý thức dòng họ‖ đã làm nên bộ mặt nông thôn từ xưa đến nay Tác giả Lê Nguyên Cẩn trong bài “Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường với cái nhìn văn hoá” (Tạp chí khoa

học số 5 – 2005 Trường ĐHSP Hà nội), đã cho rằng: cái làm nên thành công cho tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với thời kỳ khó khăn của đất nước,

còn là ―thế giới kỳ ảo mà tác giả đã dụng công xây dựng với các yếu tố kỳ ảo rất đặc trưng, đó là mô típ cái chết đi liền với mô típ ma hiện hồn” Trong bài

viết này tác giả còn nhận thấy có các biểu hiện khác nhau của văn hoá đó là ―

Văn hoá lịch sử‖, ―Văn hoá ẩm thực‖, ―Văn hoá cưới xin tang lễ‖ Bài viết của tác giả Ngọc Anh (Báo Giáo dục và thời đại, 27- 5- 1991) khẳng định “sự thành công về mặt nghệ thuật là tính chỉnh thể và kết cấu tác phẩm: sự việc này nối tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi kịch khác”

Tuy nhiên, bên cạnh những ― cái được‖, các nhà nghiên cứu, phê bình còn chỉ ra cái ― chưa được‖ của cuốn tiểu thuyết này Có ý kiến cho rằng cuốn sách vẫn đọc ― chụp trang‖ nhờ có một cốt truyện được ― dàn dựng cẩn thận‖, rằng ― cuốn sách chưa có gì nổi bật sâu sắc, không thấy có tầng sâu ý nghĩa bên trong

- không có gì lấp lánh‖ (Nguyễn Phan Hách) Có lẽ ý kiến này tỏ ra ―hơi khắt

khe‖ đối với Nguyễn Khắc Trường Theo chúng tôi, khi xem xét tác phẩm cần đặt tác phẩm trong bối cảnh của thập niên 80 chúng ta mới thấy hết được những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường Giữa biển sách xô bồ chạy theo thị hiếu

tầm thường thì Mảnh đất lắm người nhiều ma cùng với Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh đã thực sự là món ăn tinh

thần bổ ích, thể hiện những đổi mới, cách tân, và có giá trị đích thực

đối với tiểu thuyết đương đại Việt Nam, khẳng định được chỗ đứng của mình trên văn đàn

Điểm lại những ý kiến đánh giá về Mảnh đất lắm người nhiều ma chúng

tôi nh ận thấy tuy có sự khác nhau về cách nhìn nhận và mức độ đánh giá nhưng

Trang 12

nhìn chung các ý kiến đều đánh giá rất thấu đáo và sâu sắc Trên cơ sở tiếp thu

và kế thừa những ý kiến đóng góp đúng đắn của các nhà nghiên cứu, ở đề tài của mình chúng tôi muốn thử đi tìm một cách đánh giá khách quan hơn, thoả đáng hơn để góp thêm một tiếng nói khẳng định giá trị của cuốn tiểu thuyết này cũng như tìm hiểu và lý giải những khía cạnh chưa được của tác phẩm này

2.2.2 Về tiểu thuyết Dòng sông mía của nhà văn Đào Thắng

Dòng sông mía của Đào Thắng là tác phẩm ra đời muộn hơn so với

những tiểu thuyết cùng đề tài, song thực sự đã mang lại cho người đọc một cái nhìn mới mẻ và toàn diện về bộ mặt nông thôn Việt Nam Xoay quanh tiểu

thuyết này đã có những ý kiến đánh giá, phê bình của một số nhà nghiên cứu, bạn đọc…Ở chuyên mục Văn nghệ thứ bảy ( 27/08/2005), Việt Chiến trên

trang điện tử Thanh niên đã đánh giá: Tác giả Đào Thắng khá sung sức và

thành công trong việc miêu tả đời sống nông thôn trong nhiều thập kỷ qua của

đất nước Nông thôn trong tác phẩm vừa “ vạm vỡ, đằm thắm, vừa đầy ắp thế

sự với biết bao xung đột xung quanh một gia đình, một dòng tộc” Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy: “ chỗ chênh vênh lại chính là sự thành công của Đào Thắng khi tác giả này không rơi vào chủ nghĩa lạc quan, chủ nghĩa khách quan lạnh lùng ngay cả khi miêu tả những tình huống tồi tệ, bi đát nhất của cuộc

sống”[17] Ngô Thị Kim Cúc trên trang Việt báo trong bài “Đắng như sông mía” có viết: “ Quyển sách cuốn hút người đọc từ những trang đầu tiên, không phải vì hành văn hay cấu trúc mà ở sức sống ngồn ngộn toả ra từ trang sách, tràn đầy sức mạnh tâm linh của một vùng đất, được thức dậy bằng tất cả niềm yêu thương, đau đớn” [15] Bên cạnh đó, bài viết còn xem “ Dòng sông mía” như một cuốn “ gia phả của một dòng họ ưu tú ở nông thôn, lịch sử của một ngôi làng bên bờ sông Châu đậm chất văn hoá dân gian, bi kịch của những thế

hệ đàn bà nông thôn, số phận mỏng manh, trải qua bao trầm luân, mất mát” [15] Lý Hoài Thu trong bài “ Dòng sông mía là một không gian vừa quen

thuộc vừa mới mẻ” đã nhận thấy những nét quen thuộc ― quen thuộc từ hình ảnh dòng sông, cùng bức tranh thu nhỏ của một vùng dân cư có nghề chính là nghề trồng mía, làm đường‖, và để khẳng định những nét mới mẻ của Dòng

Trang 13

sông mía, tác giả đã chỉ ra sự sáng tạo của Đào Thắng về giá trị nội dung và

những phương thức biểu hiện của tác phẩm như nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật để từ đó khẳng định

―đặc tính nổi bật nhất của Dòng sông mía…là sự khác lạ độc đáo‖ Tác phẩm

thực sự đã mở ra những hướng tiếp cận mang ý nghĩa cách tân về mặt thể loại

Tác giả Trần Mạnh Hảo trong bài: “ Dòng sông mía” của Đào Thắng hay là tiếng nấc của sông Châu Giang? đã khẳng định “ Dòng sông mía” là tác

phẩm “ phải nói là hấp dẫn từ đầu đến cuối ( chỉ đoạn kết hơi bị khiên cưỡng) Tác giả còn nhận định: Dòng sông mía ―là chính cái làng quê trồng mía để bán và để nấu đường của tác giả hiện lên sinh động từ thời Tây thực dân, qua cách mạng, kháng chiến, hoà bình, cải cách ruộng đất, chống Mỹ, hoà bình, và cuối cùng đến chiến tranh biên giới với Trung Quốc…”[91] Ngoài ra, còn phải

kể đến một số bài viết khác như bài “ Trên đất nước có bao nhiêu làng mía?”

của Hoàng Ngọc Hiến (đăng trên Tạp chí Sông Hương) hay bài “ Cha, con và dòng sông mía” của tác giả Văn Chinh (đăng trên trang Phongdiep.net)…

Đề tài nông thôn là một đề tài lớn, thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình Qua các bài viết nghiên cứu, phê bình trên chúng tôi nhận thấy hầu hết các ý kiến đều đưa ra những đánh giá thẩm bình hai tiểu thuyết ở nhiều khía cạnh từ nội dung đến nghệ thuật Đồng thời các bài viết cũng bày tỏ sự đồng tình, hoan nghênh nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng đã có cách nhìn, cách tiếp cận mới đối với cuộc sống và con người nông thôn Các bài viết trên đã chỉ ra sự chuyển biến trong phương thức tiếp cận hiện thực, đánh giá những thành tựu về mặt nội dung cũng như nghệ thuật của hai tiểu thuyết Đó là nguồn tư liệu quý báu tạo nền cho người viết đi

tìm hiểu đặc điểm nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Khẳng định Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng là hai tác giả tiêu biểu cho mảng đề tài viết về nông thôn sau đổi mới

Qua sáng tác của hai tác giả, làm rõ hiện thực đời sống nông thôn sau đổi

Trang 14

mới, thế giới nhân vật và một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu góp phần đem

lại thành công trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài

nông thôn qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng Đây là hai tiểu thuyết được Hội nhà văn trao giải

thưởng thường niên Tuy thời điểm ra đời của mỗi tác phẩm là khác nhau, nhưng

ý tưởng của hai nhà văn lại gặp nhau ở việc: tái hiện lại bộ mặt nông thôn một thời

đã qua với những cái ― có thật‖ xảy ra ở các làng quê Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Theo hướng tiếp cận của đề tài, xuất phát từ đặc điểm tiểu thuyết viết về nông thôn, chúng tôi tập trung khai thác bức tranh hiện thực và thế giới nhân vật được thể

hiện trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông

mía của Đào Thắng

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp lịch sử - xã hội

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Các phương pháp này sẽ được chúng tôi thực hiện cùng với thao tác

so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết viết về nông thôn qua sáng tác của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng nhằm:

Khẳng định cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng trong việc phản ánh hiện thực nông thôn sau đổi mới

Thông qua những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai tiểu thuyết

Trang 15

nhấn mạnh tài năng của hai nhà văn

Đánh giá những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng trong quá trình phát triển, đổi mới nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương

Chương 1: Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975 Sự xuất hiện của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng

Chương 2: Hiện thực đời sống và thế giới nhân vật trong “Mảnh đất lắm người nhiều

ma” của Nguyễn Khắc Trường v à “ Dòng sông mía” của Đào Thắng

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

Trang 16

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN SAU 1975

SỰ XUẤT HIỆN CỦA NGUYỄN KHĂC TRƯỜNG VÀ ĐÀO THẮNG 1.1 Khái quát tiểu thuyết viết về nông thôn trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn trước đổi mới (1986)

1.1.1.1 Thời kỳ 1930 – 1945

Viết về nông thôn giai đoạn này trước hết phải kể đến tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Tuy nhiên, tác phẩm của họ mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả những cảnh sống nghèo khổ, tối tăm, luộm thuộm do những thói quen, do trình độ thấp kém, hoặc do mê tín dị đoan của người nông dân, chứ không phải do bị áp bức, bóc lột Do vậy, tác phẩm của họ còn nhiều hạn chế

Để lại nhiều tác phẩm viết về nông thôn có giá trị giai đoạn này phải kể đến các nhà văn hiện thực nổi tiếng như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… Trong tác phẩm của họ, nông thôn hiện lên với sự khắc nghiệt của sưu cao thuế nặng, vô lý và bất công, của những thủ đoạn bóc lột tàn

nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng) Đó là nông thôn của những hủ

tục nhiêu khê, rườm rà; của những mâu thuẫn, chèn ép giữa các phe cánh

tranh nhau quyền lợi, địa vị (Việc làng) Đó là nông thôn của những người

cùng khổ bị dồn tới chân tường (chị Dậu, anh Pha); của những cảnh lầm than,

cơ cực (bán chó, bán con, mót khoai…), của những kiếp sống đau đớn quằn

quại (Lão Hạc), hoặc liều lĩnh biến chất (Chí Phèo)…có thể nói, các nhà văn

hiện thực đã tái hiện lại một bức tranh nông thôn tiêu biểu, sắc nét

Trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), tác giả đã thành công trong

việc vạch trần bản chất xấu xa của thực dân phong kiến, và dựng lên nhân vật Nghị Lại – một điển hình khá toàn diện của giai cấp địa chủ, phản động với tính cách xảo quyệt, đầy thủ đoạn, mưu mô Tác giả đã tập trung vạch trần âm mưu cướp ruộng đất của bọn địa chủ, chủ yếu bằng thủ đoạn cho vay cắt cổ Chính đây là nguyên nhân đã đẩy gia đình anh Pha vào cảnh nhà nát cửa tan, tới cảnh

bước đường cùng

Trang 17

Với Tắt Đèn (Ngô Tất Tố), tác giả cũng tỏ ra xuất sắc trong việc chỉ ra hệ

thống chính quyền thống trị ở nông thôn Bọn cường hào nắm quyền ở làng Đông Xá đúng là những con người xấu xa và hung ác Trong vụ sưu thuế, chúng

đã cùm trói, đánh đập anh Dậu một cách dã man vì nghèo không có tiền nộp sưu thuế, bởi phải nộp thêm thứ thuế có tên hết sức vô lí: là thuế cho người đã mất (anh Dậu phải nộp thuế thân cho người em trai đã mất) Vì lý do này mà chị Dậu

đã phải bán cả con lẫn chó Qua lời nói của hai vợ chồng nhà Nghị Quế, người

đọc đã thấy rõ nhân phẩm, phẩm giá của con người (cụ thể là cái Tý) ở đây bị

đối xử, bị coi như súc vật, thậm chí có khi còn không bằng súc vật Lời nói của

nhân vật Nghị Quế đã cho thấy rõ điều đó: “Tôi nuôi chó để nó coi nhà, nuôi chó còn hơn nuôi đứa ở” [95;Tr.54,72]; hay qua lời diếc móc của mụ vợ tên đại địa chủ: ―Mày ăn cơm chó nhà bà cũng chưa đáng đâu Con chó nhà bà còn được mấy chục, con người như mày bà chỉ mua có một đồng đấy thôi‖

[95;Tr.54,73]

Đến với truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, bộ mặt của bọn cường hào,

ác bá hiện lên trong làng quê Vũ Đại cũng thật là ghê gớm Trước hết là cảnh

“Quần ngư tranh thực” giữa hai phe cánh cha con Bá Kiến và phe cánh Đội tảo,

nhưng nổi lên rõ nét hơn vẫn là những tội ác của chúng với người nông dân Đặc

biệt, với tác phẩm Chí Phèo, tác giả đã phát hiện tội ác dã man nhất của bọn cường hào nông thôn lúc bấy giờ là đẩy người nông dân (cụ thể là Chí Phèo) từ

một cố nông với bản chất hiền lành, chân chất, chịu khó làm ăn đến chỗ bị lưu manh hoá mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, có muốn trở thành người lương thiện cũng không thể

Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần Ở những tác phẩm này, ngoài giá trị hiện thực còn chứa đựng giá trị nhân đạo hết sức sâu sắc Đó là những đòi hỏi về quyền sống, quyền làm người Đó là sự quan tâm đến số phận của những người bé nhỏ, đầy bất hạnh Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị dồn vào những bước đường không còn lối thoát

Trang 18

1.1.1.2 Thời kỳ 1945 – 1954

Sau cách mạng, ranh giới giữa văn xuôi viết về nông thôn và văn xuôi nói chung không có sự phân biệt rõ rệt, nó hòa quyện vào nhau và được gọi dưới tên chung là: văn xuôi kháng chiến Thời kỳ này, đề tài nông thôn chủ yếu được viết với cảm hứng ngợi ca, khẳng định, người nông dân không còn là nạn nhân đáng thương bị xã hội cũ chèn ép như trước mà xuất hiện với tư thế là chủ nhân chân chính của xã hội Họ không còn khốn khổ, bệ rạc như trước nữa, họ đẹp ở lý tưởng, ở các mối quan hệ cộng đồng và đẹp ở đạo đức cách mạng Những người nông dân đã đặt niềm tin vào một mô hình xã hội lý tưởng, tin vào lòng yêu nước của tập thể hoặc cá nhân Tình yêu quê hương đất nước hòa lẫn tình riêng

Đó là những ông Hai (Làng - Kim Lân), ông Hoạch, chị Tin, ông Chức (Con trâu - Nguyễn văn Bổng)…

Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Nông dân với địa chủ của Nguyễn Công Hoan, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng, Ông lão hàng xóm của Kim

Lân… Đây là những tác phẩm của các tác giả có quá trình và thành tựu sáng tác

từ trước cách mạng Nhưng đến giai đoạn này họ vẫn chưa vượt qua giới hạn nhận thức và quan niệm chung về đấu tranh giai cấp Chẳng hạn trong tác phẩm

Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan) sau khi lập ra các phép tính ―Trên giấy‖ đã đi đến kết luận: Tổng cộng trong 29 năm, nó (tức địa chủ Trừng) cướp không của nông dân mất 230 302 tạ 28 cân thóc Đây là một con số khó tin, hay trong Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng) đã để một nhân vật cốt cán Chữ trình bày mục đích của việc quy định thành phần thật đơn giản, máy móc, tiêu cực: Trước

Trang 19

nay địa chủ với nông dân như sỏi đất trộn lẫn với thóc gạo trong bồ Nay ta quy định thành phần là sàng sảy, phân biệt ra Gạo có hạt mẩy, hạt bé, hạt trắng, hạt lứt, nhưng đều là gạo thì đậu trên mặt sàn, còn sỏi đất thì đều vứt riêng ra

Ở cuối thời kỳ sửa sai đã có một số tác giả viết về cải cách ruộng đất, nhưng quan niệm và sự miêu tả đã khác trước, nghĩa là đúng với thực tế hơn Còn trong

tiểu thuyết Sắp cưới, Vũ Bão viết về những sự kiện đã xảy ra trong khi tiến hành

cải cách ruộng đất tại một đơn vị cơ sở

Viết về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, nhiều tác phẩm cũng để lại

những dấu ấn nhất định, như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm,Vũ Thị Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác, Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm, Nguyễn Địch Dũng với Trai làng quyền, Ngô Ngọc Bội với Chị cả Phây, Nguyễn Khải với Mùa lạc, Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa… Những tác phẩm kể trên đã có những ―gặt hái‖ bước đầu Trong Cái sân gạch, Đào Vũ đã

nêu được không khí nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Qua những toan tính trăn trở của lão Am xoay quanh sự kiện ―vào hợp

tác‖, tác giả đã xây dựng một gương mặt nông dân khá sắc nét Đến với Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa, Nguyễn Khải lại xoay quanh vấn đề mâu thuẫn

giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể Nhân vật trong những sáng tác này đều là những con người tiêu biểu, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân của mình để xây dựng tập thể, cống hiến cho công việc chung của toàn xã hội Chính vì vậy, qua

Tầm nhìn xa, Nguyễn Khải được đánh giá là người đã phát hiện và thể hiện

thành công sự biến tướng trong bản chất tư hữu ở người nông dân qua những điều kiện và hoàn cảnh mới ở nhân vật Tuy Kiền Có thể nói bản chất tư hữu của người nông dân đã ảnh hưởng khá sắc nét và cản trở lề lối làm ăn tập thể và nền sản xuất xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung, những sáng tác viết về nông thôn giai đoạn này ngoài những phát hiện mới về bản chất tư hữu ở người nông dân còn những điều kiện và hoàn cảnh mới còn xuất hiện những trang miêu tả khung cảnh lao động sản xuất, những phong tục tập quán cùng những quan hệ làng xóm khá sinh động

Trang 20

1.1.1.4 Thời kỳ 1964 – 1975

Đây là giai đoạn đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nông thôn vừa là hậu phương vững chắc, vừa sẵn sàng chiến đấu, do vậy, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã có những phát hiện mới thông qua việc xây dựng những tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và không khí

đánh giặc cứu nước của hậu phương

Văn xuôi viết về nông thôn thời kỳ này còn mang âm hưởng sử thi anh hùng Đây là thời kỳ mà văn xuôi viết về nông thôn đạt được nhiều thành tựu cả

về tác phẩm cũng như đội ngũ sáng tác, có thể kể tới các tác giả : Chu Văn với

Bão biển và Đất mặn , Nguyễn Thị Ngọc Tú với Đất làng và Buổi sáng, Nguyễn Minh Châu với Cửa sông, Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện, Nguyễn Kiên với Vùng quê yên tĩnh, Vụ mùa chưa gặt và Ngày và đêm ở hậu phương , Ngô Ngọc Bội với Ao làng , Vũ Thị Thường với Bông hoa súng và Vợ chồng ông lão chăn vịt … Nhìn chung, những tác phẩm này đã bao quát được một

khung cảnh hiện thực rộng lớn với những sự kiện và con người của một thời đáng nhớ, phản ánh được hiện thực một nông thôn sống động Thời kỳ này tác giả thành công nhất phải kể đến Chu Văn với hai bộ tiểu thuyết liên tiếp Đặc

biệt trong Bão biển lấy bối cảnh nông thôn trước thời kỳ kháng chiến chống Mỹ,

khó khăn lúc này là làm sao để động viên người nông dân đang còn bám chặt tư tưởng tư hữu đưa tài sản của mình vào hợp tác xã, làm sao để thay đổi thói quen canh tác, áp dụng kỹ thuật mới của thuỷ lợi, của khẩn hoang phải vừa làm tốt công tác tư tưởng, vừa phải hiện thực hoá những chủ trương đó Họ là những cán bộ trẻ có văn hoá, có tư tưởng tiến bộ, xông xáo, nhiệt tình như Tiệp, Thất Đặt bên cạnh những con người ấy lại có những con người tha hoá, biến chất bởi đòi hỏi của lợi ích cá nhân như Hối (chủ nhiệm hợp tác xã Sa Bình), Thản (uỷ viên quản trị hợp tác xã Giang Ninh) Chính sự tha hoá biến chất của Hối, Thản

đã gây nên dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân làm cho người dân không còn tin vào cán bộ Đảng viên

Trong truyện ngắn Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải) tác giả đã có những cái

nhìn trực diện về tầng lớp lãnh đạo Bên cạnh đó là những vấn đề quan trọng

Trang 21

không chỉ mang tính thời sự lúc ấy mà cho đến nay nó vẫn còn tác dụng đối với chúng ta Đó là vấn đề tự trau dồi, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và năng lực của người quản lí ở nông thôn Đó là vấn đề tự đấu tranh của bản thân, đấu tranh nội

bộ Đó là vấn đề xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với chính quyền, giữa cá nhân với tập thể

Qua truyện ngắn này chúng ta nhận thấy Nguyễn Khải đặt ra vấn đề về người cán bộ ở nông thôn trong việc đáp ứng yêu cầu mới của hoàn cảnh Để có thể nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người nông dân, để có tầm nhìn bao quát sâu rộng và có phản ứng nhanh chóng trước những biến chuyển không ngừng của đời sống thì người cán bộ ngoài việc giữ gìn và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cần phải năng động, nhanh nhạy và xông xáo, phải tìm hiểu cặn kẽ thực tế, tránh chủ quan duy ý chí khi nhìn nhận, đánh giá con người ở những biểu hiện bên ngoài

1.1.1.5 Thời kỳ 1975 – 1985

Ở giai đoạn đầu, văn xuôi viết về nông thôn diễn ra trong bối cảnh xã hội bộn bề, gay cấn Trong các sáng tác văn xuôi đã xuất hiện những tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực một cách thụ động, mà còn chú ý đến việc đi tìm

nguyên nhân, lý giải những yếu kém, xuống cấp như : Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải…

Giai đoạn 1980 – 1985, văn xuôi viết về nông thôn đã bắt đầu chuyển

động từ những tác phẩm mang tính chất báo hiệu như : Nhìn dưới mặt trời của Nguyễn Kiên, Bí thư cấp huyện của Đào Vũ Đây là hai tác giả viết về nông thôn

khá sớm nhưng phải đến giai đoạn này những vấn đề mà họ đưa vào tác phẩm

mới thực sự là những vấn đề xã hội gay cấn Trong tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), tác giả đã đề cập đến hiện tượng ô dù để mọi người ý thức

và tìm cách loại bỏ Còn trong Bí thư cấp huyện (Đào Vũ) đề cập đến nỗi khổ

cực của người nông dân do cung cách làm ăn ―hợp tác‖ cũ khi chưa có khoán

Khi bộ tiểu thuyết Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn) xuất hiện thì có thể

nói văn xuôi viết về nông thôn đã chuyển sang một bình diện mới Trong tiểu thuyết này tác giả đã đưa ra lời tuyên cáo đối với cung cách làm ăn và quản lý

Trang 22

nông thôn theo lề lối cũ, đồng thời tác phẩm còn đề xuất lề lối làm ăn và quản lý nông thôn theo kiểu mới Tính vào thời điểm lúc đó thì đây là vấn đề thời sự mang tính cấp thiết Tuy nhiên văn xuôi viết về nông thôn thực sự đổi mới phải đến sau Đại hội Đảng VI (1986) Giai đoạn từ 1980 đến 1985 là giai đoạn trong lòng xã hội đang có sự chuyển động lớn lao Bản thân các nhà văn lúc này đã có

sự trăn trở, suy nghĩ để cho ra được những tác phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và thời đại

1.1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (1986)

Có rất nhiều ý kiến hoài nghi, phàn nàn, báo động về sự “cũ mòn” của

tiểu thuyết nông thôn giai đoạn sau đổi mới Nhưng không thể phủ nhận những

nỗ lực bứt phá của tiểu thuyết nông thôn trong gần ba thập kỷ qua, nó đã để lại không ít tác phẩm có giá trị lớn, gây xôn xao dư luận trong giới phê bình, nghiên cứu và bạn đọc Nhìn chung, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn từ 1986 đến nay vận động và phát triển qua ba chặng đường chính

1.1.2.1 Giai đoạn 1986 – 1990

Sau 1986, đất nước đổi mới toàn diện đã từng bước đem lại những biến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của mỗi người nông dân Nhà văn từ đó cũng có điều kiện thuận lợi để thể hiện những trăn trở, suy tư về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và nông dân một cách trực diện,

thấu đáo Viết về nông thôn, các nhà văn có cơ hội thể nghiệm nghệ thuật mới Thời xa vắng của Lê Lựu ra đời rơi trúng thời điểm đổi mới Một số người cho rằng: Thời xa vắng đã xoáy sâu vào những vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm,

hàm chứa mục đích đen tối, phản đối những cũng đã chỉ ra được mặt han chếcủa chính quyền trong chiến tranh Nhưng qua sự sàng lọc của thời gian, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm được coi là bước đột phá đầy ―mới mẻ‖ trong cách nhìn về quá khứ nông thôn, về người nông dân Cuối cùng cũng trả

lại những giá trị đích thực mà tác giả Thời xa vắng đã miệt mài sáng tạo

Thời xa vắng trở thành sự kiện nổi bật trong đời sống văn học lúc bấy

giờ, nó đã tạo đà, khởi hứng và phát triển mạnh mẽ cho một khuynh hướng

nhận thực lại lịch sử nông thôn với cảm hứng phê phán Một số tác phẩm như

Trang 23

Gia phả để lại, Những thiên đường mù, Ly thân, Pháp trường trắng, Lời nguyền hai trăm năm, Lá non, Ác mộng đều ánh chiếu vào một thời đau

thương của quá khứ nhằm lật xới những mảng tối, những mặt trái, mặt tiêu cực đã bị lờ đi, bị gác lại Nếu như trước đây văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn và nông dân chỉ lo phản ánh những mặt tốt đẹp của đời sống xã hội nông thôn và nông dân, thì nay những mặt trái của quá khứ nông thôn như cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp đã được nhìn nhận lại, đánh giá lại Vấn đề dòng họ, bè phái, phe giáo trong nội bộ, sự ấu trĩ trong việc

ngăn cấm làm giàu cá nhân cũng được phanh phui, mổ xẻ

1.1.2.2.Giai đoạn 1990 – 2000

Tiểu thuyết nông thôn ở chặng này xuất hiện không ồ ạt nhưng có được

thành tựu nhất định Cùng thời điểm 1990, Mảnh đất lắm người nhiều ma (viết xong tháng 3 năm 1988) và Bến không chồng ra đời, đánh dấu bước ngoặt lớn

cho đề tài nông thôn Hai tác phẩm đều nhận giải A của Hội nhà văn Việt Nam

năm 1991 (cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) Nguyễn Khắc

Trường và Dương Hướng không luận bàn đến vấn đề áp bức, bóc lột mà chủ yếu xoáy sâu vào những vấn đề cốt lõi ở nông dân, cũng như đi vào số phận của những người phụ nữ nông thôn không may mắn, chịu nhiều bất hạnh Sau một

số tiểu thuyết như Lão Khổ, Chuyện làng ngày ấy, Thuỷ hoả đạo tặc ra đời 1.1.2.3 Giai đoạn 2000 – 2012

Những năm đầu của thế kỷ XXI, tiểu thuyết nông thôn thực sự bứt phá và đi vào hội nhập cùng với dòng chảy của văn học đương đại Ở chặng này, quy tụ nhiều thế hệ sáng tạo Những cây bút lão thành thuộc thời chống Pháp, Mỹ như

Tô Hoài, Lê Lựu, Ngô Ngọc Bội, Vũ Huy Anh, Cao Năm, Trịnh Thanh Phong, Trần Quang Vinh, Dương Hướng, Nguyễn Hữu Nhàn đã vượt qua giới hạn của tuổi tác vẫn dẻo dai, sắc bén trên từng trang văn Với một đội ngũ hùng hậu (trải qua bốn thế hệ) nhà văn, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này đã gặt hái được nhiều thành tựu Số lượng tác phẩm ra đời ào ạt Nhiều tác phẩm được nhận giải thưởng từ các cuộc thi hoặc giải thường niên của Hội nhà văn, có một

số tác phẩm không đạt giải nhưng lại được dư luận quan tâm, gây tiếng vang

Trang 24

lớn đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học, tạo nên sự sống

động, tươi mới như Cuồng phong, Thời của thánh thần, Thần thánh và bươm bướm, Ba người khác, Ma làng

Ba cuộc thi tiểu thuyết do Hội nhà văn tổ chức bốn năm một lần (từ năm

1998 – 2010) đã ghi nhận giá trị của mảng tiểu thuyết nông thôn trước và sau thập niên đầu của thế kỷ XXI Nhiều giải thưởng đã được trao tặng cho các tác giả viết về đề tài này Qua mỗi cuộc thi, mảng tiểu thuyết nông thôn đều có tác phẩm đoạt giải cao như Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai (2002 – 2006) có 14 tác

phẩm đoạt giải, trong đó có 3 tác phẩm viết về nông thôn: Dòng sông Mía đoạt giải A, Cánh đồng lưu lạc đoạt giải B, Trăm năm thoáng chốc đoạt giải C Cuộc

thi tiểu thuyết lần 3 (2006 – 2010), trong tổng số 51 tác phẩm lọt vào vòng

chung khảo, mảng tiểu thuyết viết về nông thôn chiếm một số lượng lớn (Cách trở âm dương, Cuồng phong, Họ vẫn chưa về, Dưới chín tầng trời, Sấp ngửa bàn tay, Màu rừng ruộng ) Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn đạt

giải C, những đóng góp của một số tiểu thuyết viết về nông thôn dự giải đã góp

phần làm phong phú hơn mảng văn học này nói riêng và văn xuôi đương đại nói chung Trong buổi toạ đàm, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam – nhà thơ Hữu

Thỉnh cũng đã thừa nhận sai sót trong việc đánh giá giá trị về mặt nội dung lẫn

hình thức nghệ thật của cuốn tiểu thuyết này: ―Hôm qua xem lại Thần thánh và bươm bướm thì trong tôi xuất hiện một ý tưởng mà trước đây tôi chưa nhận thấy

để nói trong lúc chấm chung khảo Đó là tôi thấy cuộc thay đổi ở nông thôn lần này còn dữ dội hơn cả cải cách ruộng đất, hơn cả hợp tác hoá, hơn cả những việc khác Nó đảo lộn xã hội Hôm qua tôi có trộm nghĩ như vậy Vì bất cứ cái

gì có lợi là nó dựng lên thành thần thánh để kiếm lợi, sau đó nó lại phá bỏ Đó

là một phát hiện của Đỗ Minh Tuấn đấy! Chính vì thế mà, tôi xin có một điều sám hối muộn màng, nếu trước đây chúng ta hiểu sâu điều này thì có thể đưa cuốn này lên giải cao hơn‖ [88]

10 tiểu thuyết tiêu biểu được tặng thưởng gồm Lá non, Mưa mùa hạn, Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Thuỷ hoả đạo tặc, Dòng sông Mía, Chân trời mùa hạ, Ma làng, Người giữ đình làng

Trang 25

Tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỉ XXI vẫn đang chuyển mình, đang tìm tòi Thể nghiệm, đổi mới nhưng chúng ta vẫn có thể nhận diện được những thành tựu của nó trên nhiều bình diện Trong sự mở rộng về chủ đề, nhiều tác phẩm đã tái hiện bộ mặt nông thôn và nông dân ở chiều rộng lẫn bề sâu Nông thôn trong các cuộc đấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính tư lợi

cá nhân, gia đình, dòng tộc; những định kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai dẳng

trong đời sống nông thôn như một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông Mía, Ma làng) Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nước, bòn rút của nhân

dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn Nguy cơ xuống cấp về tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của bộ máy lãnh đạo ở nông thôn,

dĩ nhiên một số người nông dân cũng cùng chung guồng máy đó (Chuyện làng Cuội, Cuồng phong, Đồng sau bão) Nông thôn thời đổi mới với những khởi sắc

và cả sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biển đổi sâu sắc trong sự tiếp diễn văn hóa, trong đó khả năng và năng lực hành động của người nông dân trước sự đổi thay

của nông thôn trên con đường hiện đại hóa (Dòng chảy đất đai, Dưới chín tầng trời, Dòng sông chở kiếp) Khoảng cách giữa hai thế hệ là một vấn đề đang

ngày càng trở nên nhức nhối trong xã hội nông thôn cũng được các nhà văn

phản ánh (Lão Khổ, Dòng sông Mía, Giời cao đất dày) Chủ đề ngợi ca những

nông dân điển hình, những cán bộ xã, thôn tâm huyết, có tầm nhìn xa có ý thức

tự lực, có lòng tự trọng, khát khao dân chủ và nhân văn và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp phần mang lại cho nông thôn một bình diện mới

như Lại Tiến Thịnh, Nguyễn Mạnh Quang trong Dòng chảy đất đai, Thương Huyền trong Dưới chín tầng trời Những chủ đề đã được quan tâm trước đó như

nông thôn thời chiến tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại Nông thôn với những cảnh tượng kinh hoàng, ―long trời lở đất‖, với những năm đầu cách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm máu và cả sự hi sinh cao cả của những người nông dân chân lấm tay bùn được hiện ra chân thực Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết,

sự tương thân tương ái của người nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và trong

cuộc sống đời thường (Chuyện làng Cuội, Nước mắt một thời, Ba người khác,

Trang 26

Thời của thánh thần, Giời cao đất dày, Đồng làng đom đóm) Ngoài ra, với sự

xuất hiện hai chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là số phận của những người phụ nữ yếu duối, bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân gia đình đã đưa tiểu thuyết nông thôn ở chặng đường này lên ngôi ở chiều sâu và

chiều rộng trong phản ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội, Dòng sông Mía)

Như vậy, tiểu thuyết nông thôn những năm đầu thế kỷ XXI có sự đa dạng và phong phú về chủ đề Những vấn đề bức xúc, phức tạp trong đời sống nông thôn đương đại được các nhà văn phản ánh, ―nhận thức lại‖ một cách chân thực, đầy đủ và sâu sắc Trong những trang viết, các nhà văn không chỉ khẳng định sức mạnh to lớn của người nông dân, mà còn khai thác tận cùng những nếp sống, những nếp nghĩ, những tập quán và tâm lí truyền thống vẫn cứ tồn tại dai dẳng, chi phối mạnh mẽ đời sống văn hóa ở nông thôn cũng như số phận của nhiều lớp nhà quê Các nhà văn còn đi thẳng vào mọi ngõ ngách của làng quê

để nắm bắt được ―cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và ánh sáng ‖ (Nguyễn Khải), đồng thời lặn sâu vào tâm hồn để lắng nghe những khát vọng, ước mơ, nỗi đau và sự trắc ẩn trong tâm hồn người nông dân Mọi vấn đề có tính cội rễ của đời sống xã hội nông thôn được đặt ra một cách ráo riết, nhằm hướng tới sự quan tâm của người đọc, giúp mọi người nhận rõ được bộ mặt của nông thôn Việt Nam đương đại vừa thanh bình vừa hiện đại, vừa yên ả vừa sóng gió để bạn đọc không ngừng suy tư, trăn trở

Tiểu thuyết nông thôn những năm dầu thế kỷ XXI có nhiều tìm tòi, thể nghiệm và cách tân trong hình thức nghệ thuật Hàng loạt cách viết mới của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại được khai mở như bút pháp nhại, huyền thoại, kì

ảo, nghịch dị, vô thức, những kĩ thuật phân tâm học, kỹ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, lắp ghép điện ảnh, nghệ thuật giãn cách, đa giọng điệu, liên văn bản; hình tượng được kiến tạo theo nguyên tắc lạ hóa, sự xáo trộn giữa thực và

hư, giữa siêu nhiên, huyền bí và đời thường đã được các nhà văn thể nghiệm, vận dụng nhuần nhuyễn trong tác phẩm của mình Sự đổi mới đó, trước hết thể hiện ở ý hướng giã từ lối viết chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ

nghĩa Yếu tố kỳ ảo, huyền thoại được sử dụng dày Dòng sông Mía là huyền

Trang 27

thoại về Cá thần ở dòng sông Châu Giang vừa hiền lành vừa hung dữ trừng trị những kẻ phạm đạo Điểm nhìn trần thuật không còn đơn tuyến, (không đơn điệu, duy nhất một điểm nhìn), mà có sự luân phiên phối hợp các điểm nhìn khác nhau Điểm nhìn trần thuật được phân tán về mọi phía, mọi góc độ

Trước bước ngoặt chuyển mình của dân tộc, tiểu thuyết nông thôn đã hòa vào dòng chảy để phán ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn đương đại ở bề sâu dưới cái nhìn nhận thức lại hiện thực và nhu cầu đạo đức của con người.Dĩ nhiên, nhiều vấn đề mới, cách nhìn và cả những hệ hình tư duy mới được đặt ra khẩn thiết, sâu sắc trong mạch ngầm tiểu thuyết Nó mang đến hơi thở mới cho văn xuôi nói chung và sức sống mãnh liệt của tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng với nhiều đường nét độc đáo hơn Sự vận động hợp quy luật của văn xuôi

đã mở ra nhiều ngả đường để tiểu thuyết nông thôn đi sâu vào mọi ngõ ngách của làng quê Việt nhằm tìm kiếm, phát hiện những vẻ đẹp, những nỗi khổ, những uẩn ức trong từng thân phận người nông dân Sự đóng góp đó đã mang lại sức sống mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết Việt Nam bằng những trang văn rất riêng, Nó khẳng định tiếng nói, tâm hồn, bản lĩnh củạ dân tộc mà các nhà văn đã và đang miệt mài sáng tạo

* *

* Sau năm 1986 do có sự mở đường của Đảng văn học ta mới có sự khởi sắc Văn kiện Đại hội VI đã khẳng định : ―thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thực đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật‖ Chính vì vậy, các nhà văn của ta đã nhìn nhận lại sáng tác của mình với tinh thần tự phê cao.Chính vì vậy, văn học thời kỳ đổi mới đã đề ra yêu cầu phải nhận thức lại hiện thực Sự nhận thức lại ở đây không phải là sự phủ nhận hoàn toàn quá khứ, gạt bỏ hết những thành quả mà chúng ta đã đạt được Yêu cầu của

sự nhận thức lại là phải khám phá sâu hơn, toàn diện hơn về những mảng hiện thực mà trước đây văn học chưa đề cập đến Tuy nhiên, giai đoạn đầu mới chỉ là

sư cố gắng mở rộng dung lượng và phải đến năm 1986 hiện thực trong các tác phẩm mới thực sự đa dạng, nhiều chiều

Trang 28

Trong sự vận động chung của văn học thời kỳ đổi mới, văn xuôi viết về nông thôn cũng có những bước tiến đáng kể Ở hầu hết các tác phẩm viết về nông thôn không còn những trang miêu tả không khí làm ăn tập thể mà đã có chất bộn bề của cuộc sống Những mặt khuất lấp đã được phanh phui, phơi bầy nhìn nhận lại lịch sử thực chất là đi vào những sai lầm, những nhận thức ấu trĩ, những mất mát đau thương của một thời đã qua Các nhà văn đã không ngần ngại đánh giá những sai lầm, khuyết điểm, dũng cảm phê phán sự lệch lạc trong nhận thức của một bộ phận nhân dân, nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra nguyên

nhân Trong đó phải kể đến các tác phẩm: Thời xa vắng, chuyện làng cuội, Bến không chồng, đặc biệt là Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

Thông qua những sáng tác này người đọc có thể nhận thấy những nhận thức sai lầm, ấu trĩ của một bộn phận nhân dân một thời được tái hiện một cách nhiều chiều, chân thực, sinh động và sắc nét

1.2 Sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Đào Thắng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.2.1 Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

* Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp văn học của Nguryễn Khắc Trường

Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 06/07/1946 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên Năm 1965 Nguyễn Khắc Trường gia nhập quân đội tại Quân chủng phòng không – không quân Sau năm 1975, ông học trường viết văn Nguyễn

Du Sau khi học xong ông về công tác tại Tạp chí văn nghệ quân đội Từ năm

1983 đến nay, ông công tác tại tổ văn xuôi tuần báo văn nghệ và hiện là phó tổng biên tập Báo văn nghệ Bắt đầu viết văn vào thập niên 70, Nguyễn Khắc

Trường đã xuất bản một số tác phẩm sau: Cửa khẩu (1972), Thác rừng (1976), Miền đất mặt trời (1982), Mảnh đất lắm người nhiều ma (tiểu thuyết,1990)

* Tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Khắc Trường cho đến nay chỉ vẻn vẹn gồm ba tập truyện và một tiểu thuyết Nguyễn Khắc Trường không thành công ở mảng truyện ngắn mà thành công ở mảng tiểu thuyết Chỉ duy nhất một cuốn

Trang 29

tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma cũng đủ để khẳng định tên tuổi của

ông trong làng văn Việt Nam Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này không chỉ được tính bằng số lượng độc giả mà còn được đông đảo giới nghiên cứu, phê bình, báo chí, dư luận… quan tâm tìm hiểu Với tiểu thuyết này, Nguyễn Khắc Trường đã mang đến cho độc giả những cảm nhận mới mẻ và phong phú về nông thôn Việt Nam trước và sau đổi mới

Cũng qua tiểu thuyết này, trong dòng chảy văn học, Nguyễn Khắc Trường đã chứng tỏ một phong cách mới, với những cách tân độc đáo cả về nội dung và phương thức biểu hiện Sự trưởng thành trong ngòi bút sáng tác của Nguyễn Khắc Trường gắn với thời kỳ đổi mới đất nước, nên trong quan niệm về hiện thực, về con người (người nông dân), nhà văn luôn bày tỏ một quan niệm mang tính nhân văn nhân bản Những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường ở mảng tiểu thuyết viết về nông thôn là đáng ghi nhận về một nhà văn có những đổi mới trong quan niệm về hiện thực nhất là sau đổi mới

1.2.2 Tiểu thuyết Đào Thắng trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

* Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của nhà văn Đào Thắng

Đào Thắng tên khai sinh là Đào Đình Thắng, sinh ngày 10/08/1946 tại Bình Lục – Hà Nam Ông từng là chiến sỹ pháo cao xạ chiến đấu tại khu

IV tuyến lửa những năm kháng chiến chống Mỹ Đào Thắng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa I và công tác tại xưởng phim quân đội Ông từng là chuyên viên cục tư tưởng – văn hóa Hiện tại ông là chánh văn phòng hội nhà văn

Sự nghiệp sáng tác của Đào Thắng cho đến nay bao gồm các tác phẩm :

- Điểm cao thành phố (tiểu thuyết 1982)

- Nước Mắt (tiểu thuyết 1991)

- Dòng sông mía (tiểu thuyết 2004)

- Đất Xanh (2006)

- Ngàn Năm (2006)

* Tiểu thuyết Đào Thắng

Trang 30

Đào Thắng cho đến nay vẫn chỉ trung thành với mảng tiểu thuyết Có thể

khẳng định rằng sau Điểm cao Thành phố (tiểu thuyết,1982) và Nước mắt (tiểu

thuyết,1991) Đào Thắng có vẻ im hơi lặng tiếng, nhưng thực chất là ông đang ấp

ủ, chuẩn bị cho sự ra đời của một cuốn tiểu thuyết có sức lôi cuốn bạn đọc Và bạn đọc đã được đón nhận một cuốn tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn hấp dẫn

như một số tiểu thuyết cùng đề tài thời kỳ đầu đổi mới Dòng sông mía ra đời,

như nhà văn tâm sự, để ra mắt bạn đọc tiểu thuyết này khoảng 14 năm Theo Đào Thắng 14 năm cho sự ra đời của một cuốn tiểu thuyết không phải là dài, bởi

có những nhà văn phải mất cả một đời Và với thành tựu mà nó mang lại cũng

đủ để khẳng định tên tuổi của ông trong làng văn Việt Nam Sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này không chỉ được tính bằng số lượng độc giả mà còn được đông đảo giới nghiên cứu, phê bình, báo chí, dư luận… quan tâm tìm hiểu Với tiểu thuyết này, sau Nguyễn Khắc Trường, Đào Thắng đã mang đến cho độc giả những cảm nhận mới mẻ và phong phú về nông thôn Việt Nam trong suốt mấy chục năm từ trước hòa bình (1954) đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước Cuốn tiểu thuyết viết về nông thôn, về người nông dân trong những thăng trầm của lịch sử thời hiện đại, qua tiểu thuyết này trong dòng chảy văn học, Đào Thắng sau những cây bút ―sắc bén‖ ở mảng văn xuôi viết về đề tài nông thôn xưa và nay như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường…đã chứng tỏ một phong cách mới, với những cách tân độc đáo cả về nội dung và phương thức biểu hiện Sự trưởng thành trong ngòi bút sáng tác của Đào Thắng cũng giống như Nguyễn Khắc Trường gắn với thời kỳ đổi mới đất nước, nên trong quan niệm về hiện thực, về con người (người nông dân), nhà văn luôn bày tỏ một quan niệm mang tính nhân văn nhân bản

Những đóng góp của Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng trong mảng tiểu thuyết về đề tài nông thôn là những đóng góp đáng ghi nhận về sự nỗ lực trong sáng tạo, làm mới và hoàn thiện tiểu thuyết Việt Nam đương đại Hai nhà văn xứng đáng được nhận giải thưởng loại A về lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật do Hội nhà văn trao tặng

Trang 31

* *

*

Trong bức tranh toàn cảnh của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, nông thôn là đề tài trọng tâm và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Khi khai thác về một đối tượng không mới mẻ trong truyền thống văn học Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng vẫn khẳng định được tài năng sáng tạo của mình thông qua việc đổi mới quan niệm về hiện thực và con người Bên cạnh đó, hai nhà văn còn biết lựa chọn ―đề tài‖ để xây dựng nhân vật, kết cấu, cá thể hoá ngôn ngữ nhân vật Chính vì vậy, bức tranh nông thôn Việt Nam trong hai tiểu thuyết vừa mang những nét của truyền thống vừa hiện đại, vừa bình yên, vừa phức tạp hiện lên sinh động, hấp dẫn trong từng trang viết

Trang 32

CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC NÔNG THÔN VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT

TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA VÀ DÒNG SÔNG MÍA

2.1 Đời sống nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

Sau năm 1986 công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã mang lại không khí tự do dân chủ cho các nhà văn, dẫn tới sự thay đổi lớn lao của nền văn học nước nhà trong đó có mảng văn xuôi viết về đề tài nông thôn Ở đề tài này, các nhà văn có xu hướng khai thác bộ mặt nông thôn Việt Nam qua hai khía cạnh,

đó là: Nông thôn Việt Nam qua sự nhận thức lại hiện thực lịch sử và nông thôn qua sự tiếp cận đời sống phong tục, tâm linh Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi muốn tìm hiểu: Hiện thực nông thôn qua sự nhận thức lại và nông thôn

qua sự tiếp cận đời sống phong tục, tâm linh ở Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông mía

2.1.1 Hiện thực nông thôn thời kỳ tiền đổi mới

Hiện thực cuộc sống luôn đa dạng và phức tạp, là “vùng trời, vùng đất thênh thang” (Lý Hoài Thu), thích hợp cho sự sáng tạo của tiểu thuyết Mỗi nền

văn học, mỗi thời đại, trào lưu, trường phái lại có một quan niệm riêng về hiện thực Bởi văn học là kết tinh của sự ―tái tạo‖ những chất liệu cuộc sống qua thế giới chủ quan của nhà văn, và từ đó đã mở ra chân trời bất tận để nghệ sĩ nhập thân mà thể nghiệm Nằm trong quy luật đó, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này

đã có sự chuyển biến tích cực, năng động trong việc chiếm lĩnh hiện thực đa chiều, phức tạp của đời sống nông thôn và nông dân đương thời

Nhờ không khí dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thực được phản ánh trong tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này được nhìn từ nhiều chiều, phản ánh toàn diện, không chỉ bằng kinh nghiệm của cả cộng đồng mà còn cả kinh nghiệm của mỗi cá nhân Hiện thực trong tác phẩm đã được lựa chọn, chắt lọc, khái quát để hướng về sự ―tối ưu hoá‖ khả năng miêu tả hiện thực ở chiều sâu ý thức Nhà văn phản ánh hiện thực không phải từ một mà từ nhiều

Trang 33

điểm nhìn, nhiều cách tiếp cận khác nhau Nhà văn không chỉ miêu tả hiện thực mà con ―nghiền ngẫm‖ hiện thực, chủ động lựa chọn hiện thực, chủ động

về tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân trong ý thức sáng tạo Nhà văn không chỉ tái tạo cái cụ thể trông thấy được, mà đồng thời còn phải tìm tòi, khám phá, tái tạo, cắt nghĩa, lí giải và đánh giá cái bí ẩn, tiềm tàng của hiện thực đời sống nữa Trong khi tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà văn hiện thực, Nguyễn Thị Bình

đã khẳng định: ―không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm ―suy ngẫm‖, ―nghiền ngẫm‖ về hiện thực Hiện thực là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp cần phải khám phá, tìm tòi Nhà văn lựa chọn hình thức nào không quan trọng bằng cách đánh giá của ông ta về hiện thực ấy Ở đây kinh nghiệm riêng giữ vai trò quyết định, tạo ra sự độc đáo thẩm mĩ trong cái nhìn hiện thực của mỗi con người‖ [9;tr.22] Nhà văn Nguyễn Khải đã ghi nhận: ―Thời nay rộng cửa gợi được rất nhiều thứ để viết Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ‖ Nhờ sự tiến bộ của thời đại, nhờ sự cởi mở về tư tưởng mà không ít nhà văn đi vào khai thác những mảng hiện thực trước đây chưa hề có hoặc hiếm khi xuất hiện Họ đã tạo ra cho tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này hướng đi riêng, nhưng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Nông thôn được các nhà văn lật tìm trong bộ mặt của thời đại đã len vào trong mỗi làng quê

Hiện thực nông thôn Việt Nam trước 1986 chủ yếu ―vào ra hợp tác xã‖,

―xây dựng hợp tác xã‖ và ―lề lối làm ăn tập thể‖, vì thế nông thôn được dựng

lên với không khí chung yên ổn Nông thôn Việt Nam từ 1986 trở về sau dần thay da đổi thịt, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn cũng phải chuyển mình để ―các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 không còn bị ràng buộc bởi thực tế chiến tranh Mặt khác trong bản thân họ cũng có những tìm tòi và chứng kiến khác các nhà văn giai đoạn trước hoặc là khác với chính bản thân mình‖ [tr.35] Các nhà văn không chỉ tiếp cận, khai thác hiện thực đời sống nông thôn

và nông dân ở bề nổi, mà còn ở tầng sâu mạch ngầm của nó để mang lại luồng

Trang 34

sinh khí mới cho làng quê Việt Nam Trần Cương đánh giá đúng khi cho rằng:

“Các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kỹ càng hơn Họ nhìn thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn Không phải họ không hiểu chuyện tình nghĩa và những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống, nhưng không vì thế mà làm mờ đi những vấn

đề thuộc thực trạng của xã hội nông thôn hiện đại” [18;tr.36] Hướng ngòi bút

vào hiện thực đời sống nông thôn và nông dân, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này đã đặt ra và bóc trần, phơi bày toàn bộ những vấn đề nhức nhối đã và đang tồn tại trong xã hội nông thôn Và dĩ nhiên những mảng hiện thực ấy chờ đợi cả

sự phán quyết nơi người đọc Nằm trong quỹ đạo ấy, Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng đã dũng cảm phản ánh những góc khuất của hiện thực nông thôn trong quá khứ và hiện tại đang làm bỏng rát tâm hồn người nông dân Những vấn đề quá khứ nông thôn được soi chiếu trên tinh thần nhân văn Chiến tranh được nhìn nhận, đánh giá lại qua số phận của những người nông dân mặc áo

lính từ chiến trường trở về làng quê (Dòng sông Mía, ) Cải cách ruộng đất được nhìn từ mặt trái của nó (Mảnh đất lắm người nhiều ma, ) Những cơn xung đột

phe cánh, tranh chấp âm ỉ, quyết liệt về dòng họ, chi phối vào cả những hủ tục,

tập tục cũng được đề cập đến (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía)

Sự phân biệt giàu có, tính đẳng cấp cũng được đề cập đến ( Mảnh đất lắm người nhiều ma) Cái ác, cái xấu đã lợi dụng lòng tin, sự ấu trĩ của con người để hành

động Và một khi cái ác kết hợp cùng với sự ngu muội, dốt nát, những định kiến, hủ tục lạc hậu và ma lực của đồng tiền hoành hành trên sự nghèo đói thì

sự tàn phá của nó thật ghê gớm, không lường hết được Những cái đó trở nên

khẩn thiết trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía Bên cạnh bài

học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, còn là cái nhìn bao quát về hiện thực đời sống nông thôn và nông dân trong cơn lốc của cơ chế thị trường

Cũng hình thức hợp tác xã, nhưng so với các làng quê khác, xóm Giếng

Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) có sự đổi mới hơn trong cách quản lí, làm

ăn Hợp tác xã chỉ đóng vai trò quản lí chung, định hướng trong sản xuất nông nghiệp, trực tiếp giao ruộng đất theo hình thức khoán sản phẩm, thu thuế theo

Trang 35

mùa vụ Nông dân vì thế tích cực, chủ động hơn trong sản xuất Họ được làm, thu hoạch sản phẩm bằng chính công sức bỏ ra Đời sống Giếng Chùa được khởi sắc, trong làng có kẻ nghèo người giàu, không còn tình trạng ―nghèo đều‖như trước Từ đó, Giếng Chùa cũng phức tạp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, tiêu cực hơn Người dân lên án một số cán bộ hợp tác tham ô, ăn chặn của dân như việc ―bao nhiêu ruộng đất tốt là cán bộ với những người thân tín giấm dúi chia nhau, còn lại đầu trâu mõm bò để lại cho dân‖ [94.tr.431]; khai khống biểu thuế diện tích đất canh tác giáp ranh giữa đồng bằng và trung du nhằm tham ô số thóc dôi ra một cách hợp pháp; chỉ đạo thủ quỹ lấy tiền thuộc ngân quỹ xây dựng để chia mỗi cán bộ một sổ tiết kiệm; ―cắt đầu cắt đuôi" phần gạo hỗ trợ các gia đình liệt sĩ, không nơi nương tựa Chính vì thế, nông dân bất bình,

không chịu nộp thuế, vạch mặt những kẻ tham ô “tiền của đội 202, tức là tiền vét con sông Đào ấy, đã nộp chưa? Người ở trại lai giống, rồi mang thóc giống

đi bán lấy chênh lệch đã nộp chưa? Rồi đến gạo nếp quyên góp để ủng hộ bộ đội biên giới, ở Trường Sa cũng bị tham ô” [94.tr.233]; tố cáo một ―số cán bộ

hiện hành từ đội trưởng sản xuất, tới ban quản trị và chính quyền xã là một ê kíp chặt chẽ bao che cho nhau để làm những vụ lũng đoạn Họ thống kê một loạt: nào là phá nhà kho, giải tán trại lợn của hợp tác xã Giếng Chùa cũ, số tiền tham

ô của đội trưởng thủy lợi, số tiền chênh lệch ở trại giống, biểu thuế và sổ tiết kiệm‖ [76.tr.286] Bộ máy lãnh đạo hợp tác xóm Giếng Chùa cũng nảy sinh tư tưởng bè phái Cái xóm nhỏ gọn, từ ―đầu xã tới cuối xã không quá năm cây số‖, nhưng bộ máy lãnh đạo lại có ba phe cánh khác nhau: Phe cánh Trịnh Bá Thủ, phe cánh Vũ Đình Phúc và phe cánh trung lập như Xuân Tươi, Sửu Họ chỉ biết toan tính, hãm hại, loại trừ nhau nhằm khuếch trương thanh thế, lợi ích của phe cánh mình Từ đó, dẫn đến xáo trộn, bất ổn trong đời sống, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, khiến xóm Giếng Chùa đã nghèo lại càng nghèo hơn Đồng thời chỉ ra hiện thực nông thôn lúc bấy giờ - cái thời ―nó như một cơn lũ cuốn phăng đi mọi thứ của nhà nông đã tích cóp từ bao đời‖ [94.tr.346] Vì vậy,

―những sai lầm đang xảy ra ngày hôm nay sẽ còn dẫn đến những sai lầm lớn hơn, nếu ta không mạnh dạn thay đổi‖[94;tr.l93]

Trang 36

Người đọc chua xót trước hành động của Quàng (Mảnh đất lắm người nhiều ma) quyết định chôn cất người anh xấu số của mình bằng bó chiếu chỉ vì

sợ tốn kém Quyền lực và đồng tiền với sức mạnh của nó cũng như những vị kỷ của cá nhân đã len lỏi, che lấp các mối quan hệ thiêng liêng của gia đình, làng

xã, huỷ hoại dần những giá trị đạo đức cao quý, thiêng liêng mà cha ông dày công dựng xây Chỉ vì gia đình, dòng tộc mà chú cháu ông Hoàn đào mồ cha

Phúc (Mảnh đất lắm người nhiều ma) Do dục vọng thấp hèn, vô đạo đức mà sau những cơn bộc phát sinh lí, Lẹp (Dòng sông Mía) đã loạn luân với chị dâu và em

gái mình Guồng quay nghiệt ngã của cuộc sống nông thôn trên bước đường hiện đại hóa đã làm xói mòn giá trị đạo đức của người nông dân Qua lời phát

ngôn của Côn với mẹ chồng: “Đánh đĩ rồi đi trôi sông” [86;tr.165], “lúc nào cũng chính chuyên nằm ngửa ra mời nó, chửa hoang có con, bây giờ mới lộ cái mặt ra! Lại vẫn chứng nào tật ấy, giờ sắp xuống lỗ rồi còn tí tởn, tí táu, tí

mẻ, sờ soạng, hú hí” [86;tr.478] Sang, con của Khuê đã dành cho người cha của mình những lời tệ mạt, xất xược: “Ông cút khỏi cái nhà này đi, nếu không tôi đánh ông chết ngay bây giờ” [86;tr.507] Côn, Sang những vết thương đang lở

loét trên cơ thể xã hội nông thôn đương đại khiến lòng người nhói đau, xốn

xang! Hay chỉ cần qua chi tiết điển hình trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, sự

phi nhân tính trong bản chất của người nông dân hiển lộ khi mọi trật tự đã bị đảo

lộn và phỉ báng; con gọi bố bằng mày; “Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không? Dạ thưa ông tôi có biết ông, vì tôi đã trót đẻ ra ông?” [94;tr.27] Những

góc khuất thực hiện đầy đau lòng trong đời sống nông thôn đã được các nhà văn quan tâm cảnh báo, thể hiện tính nhân văn về phương diện đạo đức xã hội Viết

về nông thôn đương đại với một tấm lòng thiết tha, Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng đã đem đến cho bạn đọc một cái nhìn toàn diện về đời sống nông thôn Nền kinh tế thị trường với những mặt tích cực và tiêu cực đã có những ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thôn quê Hiện thực ấy được hai tác giả thể hiện

trong tác phẩm của mình Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, hiện thực cuộc

sống là cái đói Sự nghèo đói được miêu tả đến mức làm linh hiển âm khí của

xóm Giếng Chùa, cái đói giáp hạt nhảy xổ vào cái xóm vốn “đứng đầu về cái

Trang 37

sang, cái giàu toàn xã” khiến “nhiều nhà phải nấu cháo trộn thêm rau tập tàng Nhiều nhà luộc chuối xanh chấm muối” Để duy trì cuộc sống người ta sáng chế

ra bánh mạt ngô, cháo cám, bánh cám đồ cách thủy…Nhà văn thật hóm hỉnh và

hài hước khi miêu tả những con người “Những người hao gầy, nhớn nhác hớt hải cứ tưởng vội vã đi đâu, nhưng kỳ thực chẳng có việc gì hết, cứ ra vào quẩn quanh với cái bụng sôi èo èo”[94;Tr.9] Trong tác phẩm Nguyễn Khắc Trường

không đi lý giải nguyên nhân của cái đói bao trùm lên xóm làng này nhưng người đọc vẫn biết rằng xóm Giếng Chùa của nhà văn cũng như bao làng quê Việt Nam khác trong khoảnh khắc này đang phải vật lộn với cái đói Cái đói không những làm cho con người ta khổ mà đôi khi nó còn ảnh hưởng rất lớn đến

số phận và nhân cách con người Nhân vật Quềnh trong tiểu thuyết là nạn nhân của cái đói, vì miếng ăn lão làm bất cứ công việc gì người ta thuê mà không cần

tính toán công cán, chỉ cần miếng ăn “ Lão lại thửa mai thình thịch như một cái máy khoan Rồi lão gánh gấp rưỡi vợ chồng Ích, như một con lừa thồ” Chính vì

làm việc nặng quá sức trong lúc ăn no nên đã dẫn đến cái chết bất ngờ và thật

đau lòng thay cái chết ấy lại được cắt nghĩa: ―vỡ dạ dày vì ăn quá no rồi làm việc nặng ngay” Hiện thực trên còn bắt gặp ở Dòng sông mía của Đào Thắng, sức tàn phá của cái đói cơ hàn rất ghê ghớm “Bấy giờ làng xóm đang đói quay quắt Thằng Khuê cuốc thêm cụm củ đao non, bới lấy gốc sắn tầu…Cây đao còn non, chưa xuống củ nên củ bằng ngón chân, sượng sưng sỉa, chưa có một tí bột nào Gốc sắn tầu trồng ven bờ dậu còn non cây… đào lên mới chỉ có rễ to, chưa có ai dám gọi là củ, dài thõng thượt, cắn vào mồm nhai sồn sột như ăn thân chuối” [86;Tr.254] Sự đói khổ ấy giúp chúng ta nhận ra thật rõ nỗi cơ

cực của bao kiếp người Như cu Lẹp, mới sinh ra đã phải ăn sống những con trai tanh nhớt nhát để cầm chừng, khi mất đôi cánh tay bởi vòng nghiến của

“ông hàng, bà hàng”, nó mưu sinh dựa hẳn vào dòng sông Châu nên như

chính nhà văn Đào Thắng đã nói: Lẹp giống loài thủy tộc hơn giống người Cái

đói cùng với sự ám ảnh về thân phận đã biến Lẹp trở thành con người có “máu lạnh” Viết về Dòng sông mía, Đào Thắng viết qua nhiều khúc đoạn của lịch

sử Lịch sử thay đổi nhưng cái sự đói vẫn như cái bóng ma lẩn khuất vậy

Trang 38

Trước cách mạng nó đọa đày bà Mến, cu Lẹp, sau cách mạng là mẹ con chị cả

Thuần Tác giả đã miêu tả cái nghèo của bà Mến “nghèo kiết xác, nghèo rớt mùng tơi” Đây quả là một thực trạng đáng buồn đối với bất cứ ai tìm hiểu về

nó Nguyễn Khắc Trường và Đào Thắng bằng sự tinh nhạy cộng với ngòi bút sắc bén cuả mình đã không ngần ngại đào xới những mảng hiện thực đã bị

khuất lấp hàng mấy chục năm qua

Bên cạnh sự đói nghèo, nông thôn Việt Nam những năm đầu đổi mới còn diễn ra tình trạng băng hoại đạo đức một cách trầm trọng Những mâu thuẫn trong các gia đình, dòng họ, giai cấp tưởng chừng giản đơn, nhưng không, chính

nó mới là nguyên nhân, thủ phạm gây nên sự xuống cấp đạo đức ở một bộ phận

không nhỏ tầng lớp nhân dân Lẹp trong Dòng sông mía, vì quyền lợi cá nhân

nên trong cuộc đấu tố, quy kết thành phần địa chủ đã phủ nhận mình là đứa con rơi của ông Quĩ Nhất, một sự thật mà trước kia nếu hắn biết thì sẽ hạnh phúc biết nhường nào Giờ đây khi những lời lẽ mà ông Nghĩa định sẽ chôn chặt trong lòng cho đến khi chết sẽ đem theo được nói ra đã khiến Lẹp có một sự phản kháng rất ghê ghớm, hắn đã dùng hai mỏm tay cụt của mình huých vào

người ông Nghĩa và lăng mạ ông bằng những lời lẽ hết sức vô đạo Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma tư tưởng dòng họ còn chi phối cả quyền hành trong làng xã “Nhưng với việc trong chi bộ có sự mất đoàn kết âm ỉ, lâu dài, ngày càng loang rộng ra quần chúng, đến việc hiển nhiên tồn tại một điều lệ là những ai đây muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản xuất trở lên và ai muốn phấn đấu vào Đảng thì nếu không có họ hàng thân thích với những người đang nắm quyền thì cũng phải là người được thu nạp vào vây cánh mới có thể được phấn đấu còn nếu không mà muốn làm cán bộ Đảng viên thì phải đi ra ngoài

Cứ như Đảng ở đây có một thứ điều lệ riêng, một quy định riêng” [94;Tr.424]

Cung cách quản lý của cán bộ xã mà tiêu biểu là Thủ chỉ quan tâm tới lợi ích của cá nhân, dòng họ chứ không quan tâm đến lợi ích tập thể Tâm lý gia trưởng còn cố hữu, Thủ vốn là một bí thư xã nhưng vẫn phải phục tùng sự chi phối của ông trưởng họ Ngoài ý thức dòng họ, cái chi phối những con người nơi thôn

quê còn là những định kiến xã hội Trong tiểu thuyết Dòng sông mía của Đào

Trang 39

Thắng, những kiếp người như cô Bé, bà Mến, chị cả Thuần, cô Bê Lớn đã vì những định kiến xã hội ấy mà không dám tìm cho mình một lối thoát Họ sống thuần phác và khao khát hạnh phúc, nhưng định kiến về danh tiết đã ràng buộc

họ, đày ải họ, buộc họ phải chấp nhận có một đứa con, một người yêu, một người chồng như Lẹp Cô Bê Lớn không thể tố cáo tội ác của Lẹp đã giết chết

em trai mình ngay lúc hắn đang chiếm đoạt cô bởi lẽ định kiến xã hội không cho phép cô không chồng mà chửa Có nỗi khổ nào khi phải sống bên cạnh một

kẻ đã đang tâm giết hại em mình và cưỡng bức mình, để rồi cả cuộc đời cô phải sống với tâm bệnh Bà Mến đã định suốt cuộc đời mình cũng không nói ra cha

đẻ của thằng Lẹp là ông Quĩ Nhất, nhưng chính sai lầm này của bà Mến đã dẫn tới hậu quả của mối tình loạn luân giữa Lẹp và cô Bé và những chuỗi thù hận trong con người Lẹp Còn chị cả Thuần cũng không thể sống yên ổn với tội lỗi

đã hủ hóa ngay lúc để tang chồng và để rồi cả đời chị phải sống trong sự dằn vặt Những người phụ nữ trong tiểu thuyết này đã phải sống an phận với thiên chức ―trời định‖

2.1.2 Vấn đề cải cách ruộng đất

Cải cách ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi được văn xuôi và

tiểu thuyết viết về nông sau đổi mới chú ý, quan tâm Nhận thức lại lịch sử

không có nghĩa phủ nhận sạch trơn quá khứ, khơi lại thù hằn mà nhằm đánh giá, xem xét lại một cách khách quan, tránh sai lầm có thể xảy ra trong tương lai Hiện thực nào cũng có hai mật tốt xấu, đúng sai Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cải cách ruộng đất được ví như là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc (bắt đầu từ những năm 1953, kết thúc vào tháng 7 năm 1956), nó biến ước mơ ngàn đời của tầng lớp nông dân nghèo khổ, nô

lệ, tối tăm không ruộng đất trở thành người làm chủ cuộc đời mới: Người cày có ruộng

Cải cách ruộng đất không phải đề tài mới Những thắng lợi to lớn đã

được văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1975 phản ánh (Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng ) Nhưng

ở đó chỉ có mặt tích cực, thắng lợi, còn mặt trái, mặt khuất lấp và sự mất mát

Trang 40

lớn lao cả vật chất lẫn tinh thần vẫn còn đọng mãi trong chiều sâu tâm thức tình cảm, tâm lý của mỗi nguời dân Việt Nam thì chưa có dịp đề cập tới, vì một thời

là ―trái cấm bất khả xâm phạm‖, mặc dù Đảng đã nhận ra sai lầm và sửa sai (tháng 10-1956) Sau 1986, vấn đề này được tiểu thuyết viết vế nông thôn soát xét lại một cách rốt ráo, trở thành tâm điểm nóng bỏng của quá khứ mà bấy lâu nay vẫn âm thầm day dứt trong chính nội tại của đời sống văn học Trong hành trình tìm về quá khứ, hình ảnh nông thôn Việt Nam trong cơn giông bão cải cách ruộng đất hiện lên chân thực, sinh động

Nhìn lại công cuộc cải cách ruộng đất, các tác giả đã làm lộ rõ một thực trạng đáng buồn Việc đấu tố, xử lý địa chủ, kẻ phản động, bọn quốc dân đảng diễn ra trong không khí căng thẳng Thành phần bắt buộc tham gia đấu tố ―là các ông bà bần cố nông cốt cán của các thôn các xã, những rễ chuỗi tin cậy, những thẩm phán và hội thẩm, quan tòa trong các cuộc đấu tố‖, ―các đối tượng trực tiếp của cuộc cải cách, những phú nông và địa chủ, Việt gian Quốc dân đảng dự kiến của từng thôn xã theo chỉ tiêu đã được cấp trên duyệt‖ [94;tr.l53] Các cuộc đấu tố diễn ra trong không khí căng thẳng và hài hước Trong các cuộc đấu tố, nông dân không còn vai trò chủ nhân tích cực của lịch sử, trở thành đám đông thụ động, bạc nhược, mù quáng và thô bạo Một đám đông lẫn lộn trắng đen trong cách đấu tố, quy định thành phần giai cấp, xử lý cường hào phản động, tịch thu của cải địa chủ chia cho nông dân Bên cạnh đó, do trình độ non kém của đội ngũ cải cách đã gây ra biết bao oan ức, đau khổ cho những

người dân vô tội Ở Mảnh đất lắm người nhiều ma, tác giả đã đề cập đến những

cuộc đấu tố trả thù không đúng người đúng tội Ví như địa chủ Vũ Đình Đại, để mua chức Lý trưởng, được ngồi ghế trên đã phải đánh đổi biết bao ruộng vườn, tiền bạc và gây ra mối thù lớn đối với dòng họ Trịnh Bá Khánh kiệt gia sản vì mua chức tước, Vũ Đình Đại cũng ngày hai bữa cơm đèn, làm quần quật như

trâu Nhưng trong cải cách ruộng đất ông cũng phải chịu nỗi nhục của “những tên cường hào như những cái vòi bạch tuộc bóc lột đến tận xương tủy”[94;

Tr.22] Cuộc đấu tranh giai cấp phát động đã làm dấy lên trong lòng dân chúng niềm căm phẫn tuyệt đối với giai cấp địa chủ phong kiến Chính vì vậy, trong

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Việt Anh (2010), Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới(qua Mảnh đất lắm người nhều ma`và Dòng sông mía), Luận văn thạc sĩ Ngữ văn- ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới(qua Mảnh đất lắm người nhều ma`và Dòng sông mía)
Tác giả: Nguyễn Việt Anh
Năm: 2010
2. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại. Tạp chí Văn học,(9), Tr28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại: Nhận thức và thẩm định, Nxb. Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại: Nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2001
4. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb.ĐHQG Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb.ĐHQG Hà nội
Năm: 2004
5. Lại Nguyên Ân (1987), “Nội dung thể tài và sự phát triển thể loại trong nền văn học Việt Nam” in trong sách Một thời đại Văn học mới, Nxb.Văn học, Hà nội, Tr.97- 171 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nội dung thể tài và sự phát triển thể loại trong nền văn học Việt Nam” "in trong sách "Một thời đại Văn học mới
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb.Văn học
Năm: 1987
6. Lê Huy Bắc (1996), Đồng hiện trong văn xuôi, Tạp chí Văn học,(6),Tr.45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng hiện trong văn xuôi
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1996
7. Nguyễn Thị Bình (1999), Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới, Tạp chí Văn học,(6), Tr.67-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của tiểu thuyết mới
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1999
8. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 75-95: Những đổi mới cơ bản, Nxb.Giáo dục. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 75-95: Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb.Giáo dục. Hà nội
Năm: 2007
9. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 75, Tạp chí Văn học,(8), Tr.24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 75
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
10. Nguyễn Văn Bổng (1955), Bếp đỏ lửa (2 tập), Nxb Văn nghệ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bếp đỏ lửa
Tác giả: Nguyễn Văn Bổng
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1955
11. Ngô Ngọc Bội (1975), Ao làng, Nxb Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ao làng
Tác giả: Ngô Ngọc Bội
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1975
12. Nam Cao (1977), Tác phẩm (2 tập), Nxb Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
13. Nguyễn Minh Châu (1994), Phiên chợ Giát và Khách ở quê ra, Nxb Văn học. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên chợ Giát và Khách ở quê ra
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà nội
Năm: 1994
14. Lê Nguyên Cẩn (2006), Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ điểm nhìn văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu văn học,(8), Tr.24-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ điểm nhìn văn hóa
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2006
15. Ngô Thị Kim Cúc (2004), Đắng như dòng sông mía/ http://Vietbao.vn.pots lại trên http://Thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đắng như dòng sông mía
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 2004
16. Văn Chinh, Cha,con và dòng sông mía, http://Phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha,con và dòng sông mía
17.Việt Chiến (2005), Cuộc thi tiểu thuyết 2002 – 2004: Nhìn sâu hơn về lịch sử đất nước và dân tộc, http://Vietbao.vn pots lại trên http://Thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc thi tiểu thuyết 2002 – 2004: Nhìn sâu hơn về lịch sử đất nước và dân tộc
Tác giả: Việt Chiến
Năm: 2005
18. Trần Cương (1995), Nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn từ sau những năm 80, Tạp chí Văn học,(4), Tr.34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn xuôi viết về nông thôn từ sau những năm 80
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1995
19. Trần Cương (1995), Văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới(1986), Tạp chí Văn học,(12), Tr.37-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới(1986)
Tác giả: Trần Cương (1995), Văn xuôi viết về nông thôn trước thời kỳ đổi mới
Năm: 1986
20.Hồng Diệu (1991), Về Mảnh đất lắm người nhiều ma, Văn nghệ quân đội,(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Mảnh đất lắm người nhiều ma
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w