Các tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa sự nghiệp giáo dục dưới các hình thức rất phong phú, đa dạng và với mức độ từ thấp đến cao thông qua sự chia sẻ thông t
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HẰNG
QUẢN LÝ HOAT ĐÔNG XÃ HÔI HÓA GIÁO DUC TAI• • • • • TRƯỜNG MẦM NON ĐỒNG XUÂN, THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH
VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOAN HIÊN NAY• •
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 0114
L U Â N V Ă N TH AC SỸ K H O A H O C G IÁO DUC• • • •
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Loan
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Ban Giám hiệu và tập thể cán bộ, giảng viên Trường Đại học sư phạm Hà Nội
2 đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Trong thòi gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Trần Thị Hồng Loan Xin trân trọng gửi tới cô lời biết ơn chân thành và sâu sắc của tác giả
Tác giả cũng xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc, Phòng GD&ĐT Phúc Yên và Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc
đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Lòi cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho người thân, gia đình và bạn bè, đặc biệt là lớp Cao học quản lý K17 - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 vì trong suốt thời gian qua đã cổ vũ động viên, tiếp thêm sức mạnh cho tác giả hoàn thành nhiệm vụ của mình
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sửa chữa Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, thảng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4STT VIET TAT VIET ĐAY ĐU
8 DS - GĐ - TE Dân sô - Gia đình - Trẻ em
10 G D & Đ T Giáo dục và Đào tạo
12 GĐ - NT - XH Gia đình - Nhà trường - Xã hội
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa h ọ c 4
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GDMN 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giảo dục 5
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lỷ hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm n o n 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Khái niệm xã hội hóa 10
1.2.2 Khái niệm giáo dục và giáo dục mầm non 11
1.2.3 Khái niệm xã hội hoá giáo dục 14
1.2.4 Khải niệm xã hội hóa giáo dục mầm non 15
1.2.5 Quản lý xã hội hóa giảo dục mầm non 16
1.3 Nội dung XHH GDMN 17
1.3.1 Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho XHH giáo dục mầm non 17
1.3.2 Tổ chức các lực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung XHH giáo dục mầm non 19
1.3.3 Huy động các lực lượng tham gia vào xây dựng, phát triển các loại hình giảo dục mầm n on 19
1.3.4 Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giảo dục mầm non 21
Trang 61.4.2 Tổ chức thực hiện XHH GDMN 23 1.4.3 Chỉ đạo thực hiện XHH GDMN 25 1.4.4 Kiểm tra, đảnh giảXHH GDMN 25
1.5 Vai trò của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tronggiai đoạn hiện nay 27
1.5.1 Quản ỉỷ hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì khai thác được tối ưu tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát Men giáo dục mầm non 27 1.5.2 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì góp phần nâng cao chât lượng giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách của trẻ khi vào tiểu học 29 1.5.3 Quản lý hoạt động xã hội hỏa giáo dục mầm non tốt sẽ tạo ra
sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non 30 1.5.4 Quản lý hoạt động xã hội hỏa giảo dục mầm non hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lỷ Nhà nước, phát huy truyền thống giáo dục của dân tộ c 31
1.6 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới công tác quản lý xã hội hóagiáo dục mầm non 32
1.6.1 Sự nhận thức về câng tác quản lỷ XHH GDMN của mọi lực lượng cỏ trách nhiệm trong và ngoài trường 32 1.6.2 Sự hợp tác giữa nhà trường với các ban ngành đoàn thể, cộng đồng dân cư và phụ huynh trong công tác XHH GDMN 33 1.6.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ cản bộ quản lỷ, giáo viên nhà trường và trình độ quản lỷ hoạt động XHH GDMN 35 1.6.4 Các lực lượng xã hội tăng cường nguồn lực cho trường 36
Tiểu kết chương 1 37
Trang 7YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 39
2.1 Giới thiệu về Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 39
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn Phường Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tình Vĩnh Phúc 39
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển trường Mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh P húc 41
2.2 Thực trạng của công tác xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 43
2.2.1 Thực trạng việc huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho XHH giáo dục mầm non 43
2.2.2 Thực trạng việc tổ chức các ỉực lượng xã hội cùng tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung XHH giáo dục mầm no n 44
2.2.3 Thực trạng việc huy động các lực lượng tham gia vào xây dựng, phát triển các loại hình giảo dục mầm non 48
2.2.4 Thực trạng việc huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục mầm non 49
2.3 Thực trạng của công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay 53
2.3.1 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch thực hiện xã hội hỏa giảo dục mầm n on 54
2.3.2 Thực ừạng việc tổ chức thực hiện XHH GDMN 56
2.3.3 Thực ừạng việc chỉ đạo thực hiện XHH GDMN 59
2.3.4 Thực trạng việc kiểm tra, đảnh giá XHH GDMN 62
Tiểu kết chương 2 66 Chương 3 JMỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
Trang 83.1 Nguyên tắc lựa chọn biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục tại trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 68
3.1.1 Nguyên tắc về lợi ích 68
3.1.2 Nguyên tắc về chức năng, nhiệm vụ 69
3.1.3 Nguyên tắc Dân chủ - Tự nguyên - Đồng thuận 70
3.1.4 Nguyên tắc tuân thủ pháp lỷ 70
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất Ngành - Lãnh thổ 71
3.1.6 Nguyên tắc kế hoạch hóa mọi hoạt động 72
3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 73
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục Mầm non cho mọi lực lượng có trách nhiệm trong và ngoài trường 73
3.2.2 Phát huy tác động của nhà trường tới các ban ngành đoàn thể, cộng đồng dân cư và phụ huynh học sinh về việc thực hiện việc xã hội hóa giảo dục mầm non để nuôi dạy trẻ đủng phương pháp khoa h ọ c 76
3.2.3 Nâng cao trình độ nghiệp vụ và chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lỷ, giáo viên, phát huy vai trò của giảo viên chủ nhiệm lớp 79
3.2.4 Huy động các lực lượng xã hội tăng cường nguồn lực cho nhà trường 81
3.3 Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 85
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 2.1: Thống kê số lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 42
Bảng 2.2: Thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 42
Bảng 2.3: Thống kê trình độ đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường 42
Bảng 2.4: Thực trạng việc xây dựng môi trường thuận lợi cho XHH GDMN 44
Bảng 2.5: Thực trạng việc huy động các lực lượng tham gia vào xây dựng, phát triển các loại hình giáo dục mầm n o n 49
Bảng 2.6: Nhận thức về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch công tác quản lý XHH GDMN 56
Bảng 2.7: Nhận thức của đối tượng khảo sát về việc tổ chức thực hiện công tác XHH GDMN chỉ là huy động tiền của và cơ sở vật chất cho GDMN 58
Bảng 2.8: Mức độ đánh giá của các đối tượng về các hình thức xã hội hóa giáo dục mầm non nhà trường đã chỉ đạo thực hiện 61
Bảng 2.9: Mức độ kiểm tra, đánh giá XHH GDMN 62
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về tính khả thi 85
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát về tính cấp thiết 87
Trang 10Biểu đồ 2.1 : Các chức năng quản lý và thông tin trong quản lý 53Biểu đồ 2.2: Xác định vai trò chủ thể trong việc chỉ đạo thực hiện công
tác XHH giáo dục mầm non 60Biểu đồ 2.3: Đánh giá việc thực hiện các chức năng quản lý công tác
XHH Giáo dục ở Trường mầm non Đồng Xuân 64Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ biểu diễn kết quả khảo sát về tính khả th i 86Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu diễn kết quả khảo sát về tính cấp thiết 87
Trang 11MỞ ĐÀU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội hóa giáo dục là một quá trình dân chủ hóa theo phương châm
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Xã hội hóa cũng phát triển từ tự phát đến tự giác, từ đơn giản đến phức tạp Các tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa sự nghiệp giáo dục dưới các hình thức rất phong phú, đa dạng và với mức độ từ thấp đến cao thông qua sự chia sẻ thông tin công khai và minh bạch, qua sự bàn bạc, thảo luận và đóng góp ý kiến, qua việc thực hiện lập kế hoạch, qua kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, sửa đổi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong sự nghiệp giáo dục [9, tr.310-311]
Điều 12, Luật Giáo dục năm 2005 xác định: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện
để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp vói nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
và an toàn” [14, tr 68-69]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“Chăm lo phát triển mầm non”, thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục” Xã hội hóa giáo dục mầm non là một qui luật và là khâu then chốt để thực hiện “chuẩn hóa”, “hiện đại hóa” giáo dục, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 là: “Xây dụng hoàn chỉnh là phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Với định hướng Nhà nước sẽ ưu tiên và tập trung phát triển các nhà trẻ, mẫu giáo ở những vùng khó khăn, vùng cao, còn
ở các thành phố, thị xã sẽ chuyển dần các trường công lập ra bán công Đứng
Trang 12trước những đòi hỏi sống còn như hiện nay, nếu giáo dục mầm non Vĩnh Phúc
chậm đổi mói, không thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục thì sẽ khó có thể duy
trì và phát triển, đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc đổi mói giáo dục nói
riêng và đổi mới đất nước nói chung
Trên địa bàn thị xã Phúc Yên nói chung, phường Đồng Xuân nói
riêng, chủ trương thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục trong những năm
gần đây đã được Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm, hưởng ứng tích
cực và thực sự đã đi vào cuộc sống Quy mô phát triển giáo dục ngày càng
được mở rộng, ngân sách đầu tư cho giáo dục không ngừng phát triển Tuy
nhiên, việc đầu tư các nguồn lực để hồ trợ cho công tác xã hội hóa giáo dục
còn nhiều hạn chế đặc biệt là ở cấp học mầm non Mặt khác, quản lý hoạt
động xã hội hóa giáo dục mầm non còn ít được đề cập và chưa có một công
trình nào nghiên cứu toàn diện về quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục
mầm non trên địa bàn Thị xã Phúc Yên nói chung và tại Trường mầm non
Đồng Xuân nói riêng
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động xã hội hóa
giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Tổng quan cơ sở lý luận cơ bản về quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục; trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo
dục mầm non tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc, đưa ra một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
này ở địa phương
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non
Trang 13- Nghiên cứu thực trạng của công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp thực hiện quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vỉ và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu
- Chủ thể quản lý: Hiệu trưởng
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại Trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi khảo sát:
+ Đối tượng: Cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh
+ Địa điểm: Trường mầm non Đồng Xuân, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
+ Thòi gian: Trong giai đoạn từ 2010 đến nay
4.3 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập thông tin khoa học qua đọc sách, báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu
Trang 145.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh ở trường mầm non Đồng Xuân, Phúc Yên, Vĩnh Phúc bằng các phiếu hỏi
- Trực tiếp tác động vào đối tượng trong thực tiễn để nghiên cứu, thu thập thông tin, làm nảy sinh những ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo
5.3 Thống kê toán học
- Thu thập và phân tích số liệu
- Đối chiếu và so sánh
6 Giả thuyết khoa học
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở thị xã Phúc Yên trong thòi gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt
là ở các trường mầm non Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp gắn
bó chặt chẽ với nhà trường và cộng đồng thì sẽ đẩy mạnh và phát huy tốt hơn tác động của công tác xã hội hóa giáo dục cho các trường mầm non trên địa bàn thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số nguyên tắc và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường mầm non Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
Trang 15Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GDMN• • • •
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục
Dân tộc ta vốn sẵn có truyền thống tốt đẹp như “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, “Tôn Sư trọng Đạo” từ lâu đời Đó là một di sản quý báu Còn gì tốt đẹp hơn tình thầy trò và gửi gắm trong đó là niềm tin yêu của nhân dân với những người làm nghề dạy học Ngay từ thời phong kiến hay dưới chế độ Pháp thuộc, trường học chỉ được thành lập dành riêng cho con nhà giàu và quan lại nhưng với truyền thống hiếu học, nhân dân ta đã gửi gắm con em mình cho các thầy đồ hay tự tập trung mời thầy tới dạy và bày tỏ lòng biết ơn bằng những việc làm giản dị như người góp của, người góp công, hay những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ ca ngợi công lao của người thầy đáng kính Điều đó nói lên sự quan tâm của xã hội với giáo dục có tò thuở sơ khai, tinh thần xã hội hóa giáo dục là tư tưởng vốn có trong con người Việt Nam
Xã hội hóa giáo dục không phải là vấn đề hoàn toàn mới Đó là bước phát triển mói của một chủ trương giáo dục được thực thi từ nhiều năm qua: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Lật lại những trang sử dụng nước và giữ nước của dân tộc, chân lý về vai trò của quần chúng nhân dân đã được khẳng định Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng tổng kết rằng:
“Dâng thuyền lên cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển lịch sử dân tộc và trở thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Đảng ta đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nêu cao khẩu hiệu “Cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng” Từ xưa, lúc sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng
Trang 16ta luôn coi trọng việc giáo dục trẻ và yêu quý các cháu thiếu nhi Người đã khẳng định giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn dân: thiếu niên nhiđồng là người chủ tương lai của nước nhà, vì vậy chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân” Những tư tưởng đó đã được vận dụng có hiệu quả trong công tác giáo dục và trở thành sức sống tiềm tàng trong truyền thống giáo dục Việt Nam.
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) Đất nước chuyển sang thời kỳ đổi mới, trong đó có giáo dục cũng đã bước vào một giai đoạn phát triển thuận lợi Đến Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mói sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng ta thường gặp thuật ngữ “Xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chăm sóc và bảo vệ sức khỏa nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo vv Có thể dẫn ra một số sự kiện và nghị quyết quan trọng sau đề cập đến
xã hội hóa giáo dục:
- Tháng 6/1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Xã hội hóa” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội
- Tháng 4/2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: giáo dục và đào tạo phải thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”
- Ngày 18/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP
về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao
Trang 17Cũng trong thòi kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã bàn luận nhiều về xã hội hóa giáo dục Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu về xã hội hóa giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào xã hội hóa giáo dục Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định
“Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân”
Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện khoa học giáo dục - đào tạo năm
2001, từ góc độ giáo dục học, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngận đã khẳng định:
Xã hội hóa công tác giáo dục - một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vẩn đề quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non
Trước năm 1945, dưới thời Pháp thuộc ở Việt Nam không có nền giáo dục trước tuổi đi học Trong cả nước chỉ có vài trại tế bần nuôi trẻ mồ côi Sau cách mạng tháng Tám, cùng với việc hình thành chế độ mới, lần đầu tiên
ở Việt Nam có bậc giáo dục trước tuổi đi học chính thức ra đời Nghị định số
05 ngày 10/9/1945 của Bộ Cứu tế xã hội đã ghi “Khuyến khích các nhà bảo anh, dục anh, ấu trĩ viên ”, sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 điều 3 đã khẳng định “Bậc học ấu trĩ nhận giáo dục trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục ấn định sau”
Nhìn vào các hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định đây là bậc học được xã hội hóa cao hơn bất kỳ bậc học nào Giáo dục mầm non là sự thể hiện sinh động nguyên tắc Nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm Song việc
Trang 18nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non còn hạn chế Trong báo cáo tổng quan vể tình hình nghiên cứu xã hội hóa giáo dục cua Ban khoa giáo Trung ương đã nhận định: Có thể thấy đã có một số nghiên cứu chuyên đề về xã hội hóa sự nghiệp giáo dục Các nghiên cứu này góp phần làm rõ, bổ xung thêm những nghiên cứu chung Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu như xã hội hóa đối với giáo dục mầm non, dạy nghề Đó là những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu Năm 2001, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” của Viện khoa học giáo dục ra đời mới đề cập một cách hết sức khái quát đến một số điểm xuất phát của việc định hình xã hội hóa giáo dục mầm non và vận dụng phương thức xã hội trong hoạt động giáo dục mầm non.
Đứng trước những yêu cầu và thách thức của việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục mầm non, nhằm phát triển giáo dục mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác giáo dục mầm non Hội nghị đã đề ra những giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp xã hội hóa giáo dục mầm non, đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non Ngày 15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non đã khẳng định rõ ở điều 1 nhiệm vụ phát triển giáo dục mầm non đến năm 2010: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thòi đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư ” Quyết định 161/2002/QĐ-TTg được coi như chiếc “Chìa khóa vàng”
để mở cánh cửa cho giáo dục mầm non phát triển từ nay đến năm 2010 Để việc thực hiện quyết định 161/2002/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả liên tịch Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ tài chính ngày 24/2/2003 đã ra Thông tư liên tịch số 05/2003/TTLT/BGD&ĐT-BNV-BTC
Trang 19hướng dẫn một số chính sách phát triển giáo dục mầm non, trong đó đã chỉ rõ các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện xã hội hóa đối với giáo dục mầm non.
Trên thực tế, đã có một số đề tài nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục nói chung Đối với giáo dục mầm non mới chỉ có một vài đề tài nghiên cứu ở một
số góc độ nhất định như đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh "Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa" viết về một
số biện pháp quản lý công tác xã hội hóa nói chung
Đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Trung Kiên
“Nghiên cứu các giải pháp xã hội hóa để phát triển giáo dục mầm non ở nông thôn nước ta hiện nay” viết về các giải pháp cho công tác xã hội hóa giáo dục
ở các trường mầm non vùng nông thôn
Ngoài ra, còn nhiều bài viết về xã hội hóa giáo dục của các nước trên thế giới, trong khu vực và các địa phương trong cả nước, đã cung cấp nhiều tư liệu và bài học kinh nghiệm quý giá, làm cơ sở định hình quan điểm về xã hội hóa giáo dục và quan trọng hơn là vận dụng vào thực tiễn
Tóm lại, việc nghiên cứu xã hội hóa giáo dục mầm non đã được một số công trình đề cấp đến Tuy nhiên các nghiên cứu này phần lớn mới chỉ dừng lại ở những giải pháp mang tầm vĩ mô hoặc ghi nhận từ thực tiễn một vài mô hình đã thành công trong việc huy động cộng đồng, chưa đưa ra được cơ sở lý luận của xã hội hóa giáo dục mầm non và hệ thống các biện pháp giúp cho việc tổ chức thực hiện có hiệu quả xã hội hóa giáo dục mầm non ở Vĩnh Phúc nói riêng và toàn quốc nói chung
Luận văn này cố gắng tổng kết từ thực tiễn xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn thị xã Phúc Yên - Vĩnh Phúc, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động vấn đề này có hiệu quả hơn nữa
Trang 201.2 Các khái niêm C tf bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm xã hội hóa
Theo từ điển xã hội học: Xã hội hoá là quá trình tương tác giữa cá nhân
và xã hội, trong đó cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, kỹ năng và phương pháp cần thiết để hội nhập với xã hội
Xã hội hóa được định nghĩa như một quá trình, trong đó suốt cả đời cá nhân con người học hỏi và biến thành của mình những yếu tố xã hội - văn hóa của môi trường của mình, thu nhận chúng vào cơ cấu cá nhân của mình dưới ảnh hưởng của những kinh nghiệm và những tác nhân xã hội quan trọng
và do đó mà thích nghi với môi trường xã hội mà mình phải sống trong đó
Có thể hiểu xã hội hóa một cách đầy đủ theo nghĩa sau: “Xã hội hóa là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giao lưu mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là một thành viên của xã hội
Khái niệm xã hội hóa đã được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương cách mà con người học hỏi, tuân thủ theo các chuẩn mực, các giá trị, các vai trò xã hội đã đề ra và chính quá trình xã hội hóa này tạo cơ sở
cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người Khái niệm “xã hội hỏa ” chủ yếu được xem xét và hiểu biết ở bình diện xã hội học Đây là một lý
thuyết khoa học về sự hình thành và phát triển nhân cách con ngưòi Lý thuyết này được đề xuất từ những năm cuối thế kỷ XIX, mà ngưòi dùng thuật ngữ này đầu tiên là Emile Durkheim (1858 - 1917) - nhà xã hội học Pháp
Từ khái niệm xã hội hóa cá nhân, ngày nay chúng ta mở rộng khái niệm
xã hội hóa một loại hình hoạt động, một lĩnh vực hoạt động, ví dụ: Xã hội hóa hoạt động giáo dục - thường gọi tắt là xã hội hóa giáo dục
Trang 211.2.2 Khái niệm giáo dục và giáo dục mầm non
* Giáo dục:
Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Giáo dục vốn là một hiện tượng xã hội, một phương thức để tồn tại và phát triển của xã hội loài người với đặc trưng của nó là sự truyền thụ tri thức từ người này qua người khác để thành người
Giáo dục là tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và phẩm chất cần thiết Giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động (hay quá trình) chuyển giao hệ thống tri thức, kinh nghiệm của thế hệ này cho các thế hệ kế tiếp nhằm hình thành và phát triển nhân cách, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Theo nghĩa hẹp giáo dục gắn với quá trình hình thành và phát triển hệ thống nhà trường (Giáo dục nhà trường) là các hoạt động giáo dục có mục đích và nội dung chính xác cho từng bậc học và loại hình nhà trường và được thực hiện một cách có kế hoạch,
có hệ thống trong khuôn khổ tổ chức nhà trường
Vì vậy, khái niệm của A.Cardinet: sự giáo dục cơ bản tương tự như
“nhân cách cơ bản” đã được tổ chức Giáo dục - Khoa học -Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) chấp nhận: là toàn bộ những hoạt động để tác thành cho một nhóm người thiếu tổ chức hợp lý về những yếu tố văn hóa cần thiết cho sự phát triển
Theo Piaget: Giáo dục là sự đào tạo thích nghi cho cá nhân với môi trường xã hội của người lớn, tức là biến cải thể trạng tâm sinh lý của cá nhân cho phù họp với thực tiễn tập thể mà lương tri chung gán cho giá trị nào đó Vậy là có hai thuật ngữ trong quan hệ về giáo dục: một mặt là cá nhân đang phát triển, mặt khác là các giá trị trong xã hội, trí tuệ và đạo đức mà nhà đào tạo có nhiệm vụ truyền thụ
Trang 22Theo Hà Thế Ngữ: Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, từ các góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại có thể khẳng định: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một các có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Như vậy, giáo dục với tư cách là hoạt động của con người trong xã hội
- Quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường, nhiều phương tiện, nhiều biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy
và người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết được trong lịch sử của xã hội loài người
* Giáo dục mầm non:
Chương II, Hệ thống giáo dục Quốc dân Điều 21 Luật giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
Trang 23Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một [14, tr.72].
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế
hệ trẻ, vì giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nhân cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời
Đây là thời kỳ tăng trưởng về cơ sở và phát triển các mặt trí tuệ, tình cảm xã hội nhanh nhất, nhân cách bắt đầu hình thành, khối lượng những thu hoạch đạt được rất lớn khiến ta có thể coi sự phát triển trong những năm đó có tác dụng quyết định rất lớn đến toàn bộ tương lai sau này Ngược lại những trục trặc về tăng trưởng và phát triển trong thòi kỳ này nếu không được phát hiện và khắc phục thích đáng có thể để lại những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng không ít đến việc rèn luyện những năng lực cần thiết mai sau Nhà giáo dục
Xô Viết lỗi lạc A.S.Makarenko có nói: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã được hình thành tò trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì đã được vun trồng trong 5 năm đầu tiên
Do vậy giáo dục mầm non có một vị trí ngày càng được khẳng định trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục - đào tạo con người Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục của UNESCO bao gồm 21 điểm, ở điểm 5 nhấn mạnh “Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục”
Trang 24Chính vì lẽ đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tiếp tục khẳng định mục tiêu của giáo dục mầm non đến năm 2020 là: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình.” Và Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lầ thứ IX đã một lần nữa khẳng định: Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện.
1.2.3 Khái niệm xã hội hoá giáo dục
Xã hội hóa giáo dục là một quá tành dân chủ hóa theo phương châm
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Xã hội hóa cũng phát triển từ tự phát lên tự giác, từ đơn giản lên phức tạp Các tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa sự nghiệp giáo dục dưới các hình thức rất phong phú, đa dạng và vói mức độ từ thấp đến cao thông qua sự chia sẻ thông tin công khai và minh bạch, qua sự bàn bạc, thảo luận và đóng góp ý kiến, qua việc thực hiện lập kế hoạch, qua kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, sửa đổi và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong sự nghiệp giáo dục [9, tr.310-311]
Xã hội hóa giáo dục là quá trình xã hội hóa vĩ mô với nghĩa là đối tượng, nội dung và cơ chế vận hành của nó bao quát cả một lĩnh vực hoạt động của toàn xã hội, cả một hệ thống giáo dục quốc dân chứ không chỉ diễn
ra trên cấp độ cá nhân, nhóm nhỏ hay một cộng đồng xã hội riêng lẻ
Xã hội hóa giáo dục là quá trình tương tác giữa giáo dục và xã hội, trong đó giáo dục gia nhập và hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng, đồng thòi
xã hội tiếp nhận giáo dục như là công việc của mình, do mình và vì mình Đó
là mối quan hệ biện chứng Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hóa con người, xã hội hóa cá nhân
Trang 251.2.4 Khái niệm xã hội hỏa giáo dục mầm non• • о •
Xã hội hóa giáo dục mầm non là: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của của các trường, lớp mầm non, của cả gia đình trẻ và cộng đồng, cần huy động và tạo điều kiện để gia đình và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non Giáo dục mầm non phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội, cộng đồng, đảm bảo mọi trẻ
em đều được chăm sóc, giáo dục ở các loại hình giáo dục khác nhau, được hưởng thụ các dịch vụ giáo dục mầm non
Thực tế cho thấy, xã hội hóa sự nghiệp giáo dục được đặt ra cho mọi độ tuổi, mọi bậc học (cả trẻ em và người lớn) nhưng đối với trẻ em tuổi mầm non (dưới 6 tuổi) thì việc xã hội hóa phải được coi là triệt để nhất (cao hơn học sinh phổ thông và người lớn) vì:
Một là, trẻ thơ như cây non, tự nó khó bảo vệ được mình nếu không có
sự chăm sóc và bảo vệ của người lớn và toàn xã hội
Hai là, sự phát triển của trẻ em trong độ tuổi này rất đặc biệt, gia tốc tăng trưởng vô cùng lớn và đặt tiền đề cho sự phát triển toàn diện nhân cách sau này của mồi người Mọi sự khởi đầu lệch lạc về nhân cách trong độ tuổi này sẽ phải sửa lại vô cùng khó khăn ở lứa tuổi tiếp theo Vì thế đòi hỏi mọi người, nhất là các bậc cha mẹ, các cô giáo, các cơ sở giáo dục và nói chung là toàn xã hội không được “thả nổi trẻ em” mà phải nhận trách nhiệm giáo dục trẻ thơ từ những bước đi ban đầu trong việc giáo dục từ sức khỏe đến trí tuệ
và gây dựng nhân cách thật đúng đắn Bằng cuộc thực nghiệm công phu suốt
20 năm nhằm giáo dục lại nhân cách cho trẻ em vị thành niên mà A.X.Macarencô, nhà giáo dục Xô viết vĩ đại đã đi đến kết luận là: Những gì không có được ở trẻ em trước 5 tuổi thì sau này khó mà có được Nếu mầm mống nhân cách lệch lạc ở ở độ tuổi này hình thành thì sau này sửa lại nhân
Trang 26cách vô cùng khó khăn Trong khi chơi trẻ bộc lộ một trái tim băng giá thì sau này trẻ sẽ trở thành một con người ti tiện và trong khi chơi trẻ thể hiện tính cách thế nào thì hầu như sau này sẽ thành tính cách như thế khi trở thành người lớn.
Trong hoàn cảnh nước ta chưa phải mọi trẻ em trong lứa tuổi mầm non đều được ra lớp thì giáo dục mầm non phải phấn đấu giúp các bậc cha mẹ có kiến thức và thái độ đúng đắn trong việc nuôi dưỡng các em theo mục tiêu mà luật giáo dục đề ra
1.2.5 Quản lý xã hội hóa giáo dục mầm non
Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó "xưa cũ như chính con người vậy" Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến "chất khoa học" của quá trình quản lý và dần dần hình thành các "lý thuyết quản lý" Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:
Mary Parker Follett (1868 - 1933) đã có những đóng góp lớn lao trong thuyết hành vi trong quản lý khẳng định: "Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại"
Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước"
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: hoạt động quản lý là "tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"
Từ những quan niệm trên, ta thấy bản chất chung của khái niệm quản lý
là một quá trình tác động có ý thức, có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu
Trang 27quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý tồn tại trong mọi quá trình hoạt động xã hội và là điều kiện quan trọng để tổ chức vận hành và phát triển.
Như trên chúng ta đã nói xã hội hóa giáo dục mầm non phải được triệt
để nhất vì ở lứa tuổi này đang tập những bước đi ban đầu vô cùng quan trọng, nếu được gia đình và xã hội dìu dắt đi đúng hướng thì sẽ trở thành người có ích cho xã hội còn không thì ngược lại
Chính vì vậy muốn quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non tốt thì trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hoá, tạo hành lang để hoạt động xã hội hoá đi đúng quỹ đạo theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra Trong quản lý hoạt động xã hội hoá giáo dục mầm non luận văn sẽ nhấn mạnh tới mục tiêu, nội dung và các con đường để thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non Xã hội hoá giáo dục mầm non với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển đất nước đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Muốn thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá giáo dục thì ta phải tăng cường các biện pháp quản lý, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia làm giáo dục, đồng thời mang lại những lợi ích từ giáo dục đến với mọi người dân Xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng sự phát triển của xã hội và nhu cầu của nhân dân
1.3 Nội dung XHH GDMN
1.3.1 Huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho XHH giáo dục mầm non
Môi trường đầu tiên mà chúng ta đề cập tới là môi trường Nhà trường
Vì vậy, xã hội hóa giáo dục mầm non trước hết là huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng môi trường Nhà trường, từ khung cảnh sư phạm, cơ sở vật chất của Nhà trường, đến nền nếp kỷ cương, không khí học tập, quan hệ trong sáng, tình cảm giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, thầy trò với
Trang 28nhân dân địa phương để tạo ra môi trường thuận lợi cho việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người.
“Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” Nhưng trong nhân dân nhiều nơi còn tập quán ông, bà giữ cháu, trẻ lớn giữ trẻ nhỏ tồn tại lâu đời, còn một bộ phận cha mẹ trẻ thiếu kiến thức nuôi dạy con theo khoa học, nên đòi hỏi không chỉ có gia đình mà cả các lực lượng xã hội cùng chăm lo xây dựng môi trường gia đình của học sinh Môi trường xã hội đang biến động nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác động rất lớn đến việc giáo dục thế hệ trẻ Môi trường xã hội có nhiều yếu tố tích cực như kinh tế phát triển, giao lưu quốc tế được mở rộng, dân chủ hóa được đề cao , cần khai thác mặt thuận lợi đó với việc hình thành nhân cách trẻ em Nhưng các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, như làm mất dần các bữa ăn truyền thống trong gia đình, chỉ mải làm ăn kinh tế không chú trọng hướng dẫn giáo dục con cách chế biến các món ăn, quen
ăn các món ăn làm sẵn, món ăn nhanh đang ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục trẻ Vì thế cần phải huy động lực lượng của toàn xã hội vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, có ý nghĩa giáo dục tích cực, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, đề cao các giá trị xã hội chân chính, xây dựng nếp sống văn minh, tạo ra dư luận xã hội đúng đắn
Các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội đồng thòi tác động vào thế
hệ trẻ sẽ làm cho thế hệ trẻ được giáo dục ở mọi nơi mọi lúc, chất lượng cuộc sống của trẻ được nâng cao hơn, chủ nhân của thế kỷ XXI của chúng ta sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn, đầy đủ hơn cả về thể lực, sức khỏe, trí tuệ Ngược lại, chính lớp trẻ được giáo dục chu đáo này sẽ là người làm trong sạch và lành mạnh hơn các môi trường trên
Trang 291.3.2 Tổ chức các lưc lương xã hôi cùng tham gia thưc hiên muc tiêu, nôi• • o • o o • t ĩ ' •
dung XHH giáo dục mầm non
Xã hội hóa giáo dục mầm non là một phương thức để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để làm được điều này, xã hội hóa giáo dục mầm non phải huy động được toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục
Như chúng ta đã biết, trẻ mầm non là đối tượng của nhiều ngành, nhiều lực lượng, nhiều công trình Vì vậy, việc huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho việc thực hiện được mục tiêu giáo dục mầm non Song tham gia như thế nào để tạo ra sự đồng bộ và hiệu quả là mức độ cao và là nội dung khó nhất của cuộc vận động này Đó là hình thức cả cộng động cùng tham gia giáo dục thế hệ trẻ, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục và các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội Trong giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe ở Nhà trường mầm non, việc huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục cùng với Nhà trường còn là việc huy động các bậc cha mẹ trực tiếp tham gia hướng dẫn, rèn luyện những kỹ năng sống tích cực cho trẻ
1.3.3 Huy động các lực ỉượng tham gia vào xây dựng, phát triển các loại hình giáo dục mầm non
Hiện nay, các trường công lập mới chỉ có khả năng đáp ứng V4 số trẻ trong độ tuổi mầm non, còn lại 3Á số trẻ được chăm sóc giáo dục ở các cơ sở
giáo dục ngoài công lập và ở gia đình Trong những năm tới, dự báo số cháu trong độ tuổi được thu hút vào các loại hình ngoài công lập còn tiếp tục giá tăng Vì vậy, xu hướng đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non là một tất yếu
Trang 30Đặc điểm của giáo dục mầm non là có nhiều loại hình, nhiều chương trình, mang tính xã hội cao Đa dạng hóa được thể hiện ở những nội dung chính sau:
- Đa dạng hóa về nội dung, chương trình chăm sóc giáo dục trẻ:
+ Nhà trẻ và trường mẫu giáo với mục tiêu ưu tiên: Mục tiêu này về nguyên tắc phải được thực hiện tập trung hơn, trội hơn, xong các yêu cầu khác ở mức “bình thường”, “tối thiểu”
- Đa dạng hóa các hình thức trường, lớp mầm non: Trường công lập, bán công, dân lập, tư thục Các nhóm lớp mầm non tư thực, dân lập, nhóm trẻ gia đình, nhóm tuổi thơ Các lực lượng xã hội và cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục bằng cách tổ chức các cơ sở giáo dục bán công, dân lập, tư thục
Đa dạng hóa các loại hình giáo dục mầm non còn bao gồm cả việc phát huy tối đa vai trò của gia đình, cần tổ chức giáo dục mầm non theo hướng có mạng lưới đến mọi gia đình, trong toàn xã hội, bên cạnh hệ thống trường, lớp
Chính vì vậy, định hướng phát triển các loại hình cơ sở giáo dục mầm non đến năm 2010 gồm có:
- Cơ sở giáo dục mầm non công lập: Các trường, lớp giáo dục mầm non
do ngân sách nhà nước đảm bảo cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và kinh phí hoạt động
- Cơ sở giáo dục mầm non dân lập: Các trường, lớp mầm non do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được phép thành lập đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước
- Cơ sở giáo dục mầm non tư thục: Các trường, lớp mầm non do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân được phép thành lập và đầu tư
Sự tham gia của các lực lượng xã hội vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình trường, lớp mầm non sẽ góp phần làm cho
Trang 31mọi trẻ em được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục toàn diện Chính
sự tham gia của các lực lượng vào giáo dục mầm non sẽ làm cho giáo dục mầm non gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng
1.3.4 Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục mầm non
Đó là việc huy động toàn xã hội đóng góp nguồn lực vật chất (nhân lực, vật lực, tài lực), nguồn lực tình thần (sáng kiến kinh nghiệm, góp ý tư vấn), nguồn lực vừa có ý nghĩa về vật chất và tinh thần (thông tin và công nghệ thông tin), thực hiện đa dạng hóa các nguồn đầu tư vật chất cho giáo dục mầm non để phục vụ cho việc đổi mới, hoàn thiện mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, cải thiện nâng cao đời sống cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh mầm non
Một mẫu thuẫn đặt ra cho giáo dục mầm non là, mặc dù đầu tư của Nhà nước cho giáo dục không ngừng tăng, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục với khả năng có hạn của những điều kiện vật chất, tài chính cho chính sự phát triển đó
Đặc biệt cần đến việc huy động các nguồn lực sau:
Nhân lực là nguồn lực quý giá nhất Bởi vì, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển, huy động nguồn nhân lực là việc rất quan trọng trong xã hội hóa giáo dục, nhất là đối với giáo viên mầm non
Trẻ ở lứa tuổi mầm non là đối tượng quan tâm của nhiều ngành, nhiều lực lượng, nhiều chương trình cùng đồng thời thực hiện việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, nên việc lôi cuốn các lực lượng xã hội và cá nhân trong cộng đồng mang hết tâm huyết và tài năng của mình tham gia vào các hoạt động của giáo dục mầm non là hết sức quan trọng, mới đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục mầm non
Trang 32Vật lực là nguồn lực cũng rất quan trọng và cần thiết Thiếu nguồn tài lực là thiếu tiền đề vật chất cho sự phát triển giáo dục mầm non Bởi vì, theo định hướng phát triển giáo dục mầm non từ nay đến năm 2010 và đến 2020 thì đại bộ phận giáo dục mầm non là ngoài công lập và ở nhiều, nguồn kinh phí chi trả lương cho giáo viên cũng là nguồn thu từ cha mẹ học sinh Ở đây, cần nhấn mạnh một điều rằng, xã hội hóa giáo dục mầm non không thể chỉ dừng lại ở nội dung này mà phải thực hiện đồng bộ các nội dung khác để xã hội hóa giáo dục mầm non thực sự trở thành “chìa khóa”, góp phần mở rộng cánh cửa giáo dục mầm non trên các bình diện quy mô, chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội.
1.4 Nội dung quản lý XHH GDMN
1.4.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện XHH GDMN
Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý XHH GDMN
Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ
có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp lớn nhỏ nhằm đưa hệ thống đến trạng thái mong muốn vào cuối năm học
Xã hội hóa GDMN là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng
kế hoạch Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý vì thiếu tính kế hoạch giáo dục khó đạt được kết quả cao
Muốn kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả cần phải đầu tư suy nghĩ để hoạch định từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể Từ những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề mang tính chiến thuật trong mỗi giai đoạn Khi xây dựng kế hoạch XHH GDMN , người Hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở sau:
Phân tích thực trạng XHH GDMN trong năm học thông qua thực tế công việc và tổng kết tình hình giáo dục trong năm Từ đó rút ra những ưu điểm và khuyết điểm, sắp xếp từng vấn đề để giải quyết
Trang 33Căn cứ mục tiêu giáo dục, văn bản chỉ đạo, kế hoạch chung của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT để xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng học kỳ, năm học, khóa học Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nhằm phối hợp thống nhất và hiệu quả công tác XHH GDMN của nhà trường.
Tìm hiểu nhận thức về ý nghĩa của XHH GDMN so sánh với yêu cầu,
có kế hoạch điều chỉnh
Xác định các điều kiện về nhân lực, thời gian, tài chính, cơ sở vật chất
kỹ thuật và phương tiện phục vụ hoạt động XHH GDMN để chọn hình thức tổ chức XHH GDMN có hiệu quả
Bản kế hoạch được xây dựng trước khi khai giảng năm học, được phổ biến rộng rãi trong các cuộc họp của nhà trường như hội nghị cán bộ công chức, triển khai kế hoạch với giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, với phụ huynh học sinh và phối hợp các đoàn thể trong nhà trường như công đoàn, đoàn thanh niên để cùng thực hiện Kế hoạch còn được triển khai cụ thể để thực hiện theo hàng tháng, hàng quí và mỗi học kỳ trong năm học
- Kế hoạch XHH GDMNphải phù họp với đặc điểm của nhà trường, của địa phương
- Huy động được các nguồn lực tham gia XHH GDMN một cách tích cực
- Có sự tham gia đóng góp xây dựng của gia đình, nhân dân và mọi nguồn lực khác
1.4.2 Tồ chức thực hiện XHH GDMN
Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch đã được xây dựng Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch Nếu người quản lý biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể
Trang 34Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công vệc, quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Tổ chức thực hiện kế hoạch XHH GDMN trong nhà trường bao gồm các công việc sau:
- Phân bổ công việc cho các bộ phận chức năng để thực hiện hoạt động XHH GDMN trong nhà trường
- Phân công công việc cụ thể cho nhóm và cá nhân, có sự phối hợp ràng buộc giữa các bộ phận trong nhà trường trong việc XHH GDMN
- Phân bổ hợp lí nguồn kinh phí để tổ chức các hoạt động XHH GDMN trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch, không tập trung quá nhiều vào mục tiêu này mà bỏ rơi mục tiêu khác
Từ thực tế xã hội hoá giáo dục ở trường mầm non Đồng Xuân cho thấy,
để giáo dục và nhà trường thực sự phát huy được vai trò chủ động, trung tâm
và nòng cốt đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải thực hiện đầy đủ, bài bản các bước của quá trình tổ chức thực hiện công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục,
từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, điều hành chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết nắm vững thông tin trong từng khâu và xuyên suốt toàn bộ quá trình
Không tổ chức đúng đắn việc thực hiện chương trình hoạt động thì việc lập kế hoạch cũng mới chỉ là những mong muốn trên giấy Trong cấu trúc của
quá trình quản lý nếu kế hoạch được coi là “xương sổng”, thì tổ chức thực hiện chính là phần còn lại của “cơ thể” quản lý Tổ chức là một quá trình
phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu
đã vạch ra Công tác tổ chức thực hiện xã hội hoá giáo dục cần nắm vững các yêu cầu cơ bản như vấn đề phân công cá nhân hoặc nhóm cá nhân sao cho phù hợp với nguyện vọng, năng lực, sở trường sẽ đảm bảo thắng lợi trong việc huy động các lực lượng tham gia vào sự nghiệp giáo dục
Trang 351.4.3 Chỉ đao thưc hiên XHH GDMN• • •
Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực
Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch XHH GDMN, là phương thức tác động của chủ thể quản lý, điều hành mọi việc nhằm đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi Chỉ đạo là biến mục tiêu quản lý thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực
Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động
Để thực hiện tốt chức năng chỉ đạo cần thực hiện các nội dung:
- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ
- Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích
- Giám sát và sửa chữa
- Thúc đẩy các hoạt động phát triển
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá XHH GDMN
Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa, để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo
Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý Giai đoạn này làm
Trang 36nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa để thúc đẩy hệ đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bổ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo.
Kiểm tra là một yếu tố cơ bản hết sức quan trọng của toàn bộ quá trình điều hành và tổ chức thực hiện xã hội hoá giáo dục Một phần quan trọng của kiểm tra là đánh giá sự tiến bộ của tiến trình thực thi và điều chỉnh khi cần thiết Vì vậy, khâu kiểm tra cần làm tốt việc khảo sát, xem xét quá trình hoàn thành công việc trên cơ sở đối chiếu với kế hoạch, kiểm tra phát hiện những sai lệch để kịp thời uốn nắn sửa chữa, đánh giá kết quả đã đạt được của từng mặt và hoạt động, tổng kết để rút ra những kết luận chung, những bài học kinh nghiệm và phương hướng hoạt động tiếp theo
Hiệu trưởng là nhân vật trung tâm trong công tác quản lý Trong công tác xã hội hoá giáo dục, hiệu trưởng phải tìm thấy cái gì là mối quan tâm nhất,
ưu tiên nhất ở những vấn đề đó Người Hiệu trưởng phải có năng lực tổ chức, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh của các tổ chức, của mọi lực lượng xã hội Trong thực tế, Hiệu trưởng nào có đầu óc tổ chức, năng động, sáng tạo, biết phát hiện, huy động, sử dụng các lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của các ban ngành, khai thác được các tiềm năng trong xã hội, sử dụng đúng người, đúng việc thì ở đó nhà trường phát triển mạnh mẽ và công tác xã hội hoá giáo dục cũng thu được nhiều kết quả tốt đẹp
Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong QL Kiểm tra trong QL là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Nhờ có kiểm tra mà người Hiệu trưởng có được thông tin để đánh giá thành tựu công việc, uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đáng hướng nhằm đạt mục tiêu
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở của những thông tin thu được, đối chiếu với
Trang 37những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng hiệu quả công việc
Để đảm bảo đánh giá đúng về hiệu quả của công việc, của cá nhân phải căn cứ những tiêu chí, yêu cầu rõ ràng, cụ thể đối với công việc, đối với cá nhân Kiểm tra, giám sát việc đánh giá hàng tháng, học kỳ, năm học
Các chức năng của quá trình QL XHH GDMN gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này cần phối hợp các chức năng khác ở các mức độ khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất cho quá trình giáo dục
Để giúp giáo viên, cán bộ quản lý trường mầm non có nhận thức và kiến thức thực hiện việc XHH GDMN, nâng cao chất lượng XHH GDMN, góp phần giáo dục toàn diện, giúp trẻ em phát triển hài hòa cả về đức, trí, thể,
mĩ, thực hiện mục tiêu của giáo dục mầm non, cần phải quan tâm hơn nữa hoạt động quản lý của nhà trường và thực hiện linh hoạt các nội dung về mặt quản lý, đề ra được cách tổ chức, biện pháp quản lý công tác XHH GDMN, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội đang đổi mới hiện nay
1.5 Vai trò của quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay
1.5.1 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì khai thác được tối ưu tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục mầm non
Hiện nay, giáo dục mầm non đang đứng trước những thách thức lớn
Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển giáo dục mầm non và ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Kinh phí Nhà nước mới chỉ đầu
tư cho 1/3 số nhà trẻ, mẫu giáo, mà các nhà trẻ, mẫu giáo hiện có cũng chỉ thu nhận được hơn 20% số trẻ trong độ tuổi mầm non Phần kinh phí đầu tư này chủ yếu là để chi lương cơ bản cho giáo viên Dù vậy, mặt bằng lương
Trang 38của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá thấp Nhiều nơi, nhất là ở các vùng ngoại thành, nông thôn, vùng sâu, vùng xa hầu như không có sự đầu tư của Nhà nước Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng phát triển giáo dục mầm non hết sức khó khăn.
Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng nói trên là do bản thân ngành giáo dục mầm non chậm đổi mới về cơ cấu hệ thống, mục tiêu, nội dung, phương pháp, chưa làm tốt chức năng tham mưu và trách nhiệm quản lý nhà nước Mặt khác, chính sách đầu tư cho giáo dục mầm non bất hợp lý cả về phương diện kế hoạch và thực tiễn, mới chỉ đầu tư cho trẻ em ở khu vực mầm non công lập, mà chưa hề đầu tư cho trẻ thuộc khu vực ngoài công lập Sự đầu tư chưa tương xứng giữa các ngành học và chưa hướng tới công bằng cho trẻ
em Chưa có cơ chế minh bạch trong đầu tư cho giáo dục mầm non
Nhìn ở tầm vĩ mô thì đây chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu của việc đào tạo con người của hế kỷ XXI với điều kiện, khả năng kinh tế có hạn của Nhà nước
Từ những vấn đề đang đặt ra cho giáo dục mầm non, phương hướng phát triển của giáo dục mầm non trong giai đoạn tới là tiếp tục củng cố duy trì, từng bước phát triển về quy mô nhà trẻ, mẫu giáo và nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, kể cả số trẻ được nuôi dưỡng ở gia đình, theo phương thức phối kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân Giáo dục mầm non được thực hiện thông qua hình thức tổ chức các nhà trẻ, mẫu giáo; đồng thòi qua việc tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong xã hội
Xã hội hóa giáo dục mầm non sẽ mang lại nhiều nguồn lực phục vụ cho việc hoạt động của giáo dục mầm non Huy động các nguồn lực và đa dạng hóa các nguồn lực là tính đến một phạm vi rất rộng rãi bao gồm: Nguồn lực vật chất (nhân lực, vật lực, tài lực), nguồn lực tinh thần (sáng kiến kinh nghiệm, góp ý tư vấn ), nguồn lực vừa có ý nghĩa vật chất và tinh thần
Trang 39(thông tin và công nghệ thông tin) Những nguồn lực này sẽ góp phần giải quyết được mâu thuẫn khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển giáo dục mầm non.
Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng, huy động các nguồn lực của xã hội không có nghĩa là từ đó khoán trắng cho xã hội, cũng như ngược lại xã hội không được khoán trắng cho Nhà nước Xã hội hóa giáo dục mầm non không
có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm và vai trò của Nhà nước Trái lại, Nhà nước phải tăng đầu tư ngân sách cũng như tăng cường quản lý nhà nước đối với giáo dục
1.5.2 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non hiệu quả thì góp phần nâng cao chât lượng giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách của trẻ khỉ vào tiểu học
Giáo dục hình thành và phát triển nhân cách góp phần tạo ra “Nguồn lực người” qua các thành tố tri thức, thái độ, hành động kỹ năng cuộc sống
Từ tổng số các nhân cách mà phát triển nguồn lực người cho cộng đồng, quốc gia, xã hội Xã hội hóa giáo dục chính là nhằm mục tiêu: Mọi người làm giáo dục để giáo dục cho mọi người, từ đó tạo ra một xã hội học tập, mà nhờ đó góp phần nâng cao dân trí Việc quan tâm đến nhóm trẻ 0 - 6 tuổi không thể chỉ bằng các thiết chế tác động đến môi trường giáo dục, môi trường xã hội
mà các cháu đang sống Con đường có hiệu quả là “thiết chế nhà trường” mà
ở nước ta độ tuổi này thuộc vào hệ thống giáo dục mầm non Và từ suy ngẫm
về lời cảnh báo của Gorden Dryden trong cuốn Cách mạng học tập (1996) Trẻ em dưới 5 tuổi học nhanh nhất nhưng đã có mấy quốc gia đặt trọng điểm giáo dục vào giai đoạn này” Những nghiên cứu về não người trong 25 năm gần đây đem lại những hiểu biết lớn hơn tất cả những gì loài người đã biết về não trước đó Khoa học thì tiến mỗi ngày hàng ngàn dặm còn giáo dục thì dẫm chân tại chồ”, chúng ta thấy rõ vị trí của giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển nguồn lực con người
Trang 40Quan tâm làm tốt phát triển giáo dục mầm non là đảm bảo cho việc gia tăng bền vững mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong bối cảnh hiện nay ở nước ta Xã hội hóa giáo dục mầm non là một phương thức phát triển giáo dục mầm non, làm giáo dục mầm non bằng cách huy động sức mạnh của địa phương Đây không phải là chỉ trách nhiệm của Nhà nước, xã hội mà là trách nhiệm của các doanh nghiệp, của mỗi gia đình, của từng cá nhân trong cộng đồng Với sức mạnh của cộng đồng, giáo dục mầm non sẽ phát triển đủ mạnh
vì những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ quy định phương hướng và mục tiêu phát triển giáo dục ở địa phương đó Kế hoạch giáo dục, trong đó có giáo dục mầm non, phải nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đáp ứng những nhu cầu của việc hình thành lớp người có phẩm chất và năng lực phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.5.3 Quản lý hoạt động xã hội hóa giáo dục mầm non tốt sẽ tạo ra sự công£>< • I o • o • • ĩ o
bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục mầm non
Công bằng xã hội trong giáo dục mầm non chính là việc hưởng thụ một cách công bằng những phúc lợi giáo dục, là cho mọi trẻ em đều được hưởng thụ các dịch vụ chăm sóc, giáo dục, có cơ hội được nuôi dưỡng, học tập bình đẳng như nhau (kể cả trẻ em ở gia đình hay ở các nhà trẻ, trường lớp mầm non công lập, bán công, tư thục, dân lập và ở nhóm trẻ gia đình) Ngoài ra nó còn thể hiện ở nghĩa vụ cống hiến cho giáo dục mầm non theo khả năng thực hiện của từng người, từng cộng đồng và địa phương Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ:“Thực hiện công bằng trong giáo dục, người đi học phải đóng học phí, người sử dụng qua đào tạo phải đóng góp chi phí cho đào tạo, có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học”