- Sợi cảm giác bắt nguồn ở hạch trên (ganglion superius) hay hạch Andersch và hạch dưới (ganglion inferius) hay hạch Ehrenritter. Hai hạch này ở gần lỗ rách sau v[r]
Trang 1ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN CẢM GIÁC GIÁC QUAN
Đường dẫn truyền cảm giác giác quan bao gồm: đường dẫn truyền khứu giác, đường dẫn truyền thị giác và đường dẫn truyền thính giác-thăng bằng
ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN KHỨU GIÁC
Đường dẫn truyền khứu giác là các bó sợi thần kinh dẫn truyền những kích thích nhận được ở mũi về thần kinh trung ương, giúp ta nhận biết được các mùi
Đường dẫn truyền khứu giác gồm có hai phần:
- Phần ngoại vi: dây thần kinh khứu giác hay dây I
- Phần trung ương: các trung khu khứu giác ở não
Đường dẫn truyền khứu giác gồm có các chặng neuron sau đây:
Hình 151: Đường dẫn truyền khứu giác
1 Hồi hải mã 5 Mảnh sàng
Trang 22 Chặng 2
Neuron chặng 2 của đường dẫn truyền khứu giác là tế bào mũ ni nằm trong
hành khứu (bulbus olfactorius) Nhánh cành của neuron mũ ni phân nhánh và
bện lại với các sợi khứu (các axon tế bào khứu ngoại vi) tạo nên cuống khứu, các
sợi trục (axon) tế bào mũ ni tập trung lại thành dải khứu Các sợi này đi tới dừng
lại ở các trung khu thuộc khứu não Như vậy các sợi khứu giác không đến dừng lại ở đồi thị như các sợi cảm giác khác Các sợi trong dải khứu giác đi tới phần trước khoang thủng trước thì tách ra làm 3 bó (vân) Bó ngoài (vân khứu ngoài) gồm phần lớn các sợi của dải khứu đi tới dùng lại ở hồi hải mã , mỏm móc Bó trong (vân khứu trong) chứa các sợi đến dừng lại ở vách trong suốt, hồi dưới trai
Bó giữa (vân khứu giữa) không thường xuyên có Bó ngoài và bó trong giới hạn một vùng ở trước khoang thủng trước gọi là tam giác khứu
đó xảy ra quá trình nhận thức cảm giác khứu giác Tuy nhiên, các sợi khứu từ sừng Ammon còn đi theo chiều ngược lại tới các trung khu khứu giác dưới vỏ như củ xám, củ núm vú ở vùng dưới đồi thị
ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THỊ GIÁC
Đường dẫn truyền thị giác là các bó sợi thần kinh dẫn truyền những kích thích nhận được ở mắt, giúp ta nhận biết ánh sáng và hình ảnh
Đường dẫn truyền thị giác gồm hai phần:
- Phần ngoại vi: võng mạc, dây thần kinh thị giác (dây II), giao thoa thị giác
và dải thị giác,
- Phần trung ương: tia thị giác và các trung khu thị giác ở vỏ não
1 Phần ngoại vi
1.1.Võng mạc:
Võng mạc (retina) có cấu tạo rất phức tạp Tuy nhiên, tham gia tạo nên đường
dẫn truyền thị giác chỉ gồm có 3 lớp tế bào của võng mạc Từ trong ra ngoài (từ buồng nhãn cầu ra ngoài), các lớp tế bào này là:
- Lớp tế bào nón và tế bào gậy (Các nhánh cành của tế bào này có hình nón
hoặc hình gậy) Các tế bào này tương tự như các thụ cảm thể của tế bào hạch gai
và chúng nhận các kích thích về thị giác Tế bào gậy nhận biết đồ vật ở trạng thái tĩnh hoặc động và cường độ của ánh sáng Càng xa điểm vàng thì số lượng tế bào
Trang 3này càng tăng Tế bào nón chủ yếu tập trung ở điểm vàng của võng mạc và tiếp nhận các kích thích về hình dạng và màu sắc của vật
- Lớp tế bào hai cực: Là lớp tế bào nằm giữa lớp tế bào gậy, tế bào nón ở
trong và lớp tế bào đa cực ở ngoài Tế bào lớp này tương ứng với tế bào hạch gai
và như vậy là lớp tế bào đầu tiên cuả đường dẫn truyền thị giác
- Lớp tế bào đa cực: Tế bào lớp này tương tự như tế bào sừng sau của tủy gai,
các axon lớp tế bào này tập trung ở điểm mù (hay đĩa thị giác) tạo nên dây thần kinh thị giác (dây II) Ở điểm mù không có tế bào nón và tế bào gậy
Trang 41 Tia thị giác 4 Các sợi nửa trong võng mạc
2 Dải thị giác 5 Các sợi nửa ngoài võng mạc
5 Dây thị giác
1.2 Dây thần kinh thị giác:
Dây thần kinh thị giác (nervus opticus) là tập hợp các axon tế bào đa cực ở
võng mạc Dây thần kinh này thoát ra ở cực sau nhãn cầu và từ đó dây đi trong ổ mắt, hướng tới ống thị giác để chui qua ống đó vào hộp sọ
1.3 Giao thoa thị giác:
Giao thoa thị giác (chiasma opticum) là sự bắt chéo các sợi thị giác của nửa
trong võng mạc (nửa võng mạc phía mũi) Sau khi chui qua ống thị giác các dây thần kinh thị giác chia thành hai bó Bó sợi từ nửa võng mạc phía mũi hai bên bắt chéo nhau tạo nên giao thoa thị giác ở rãnh giao thoa nằm ngang phía trước hố yên Các sợi võng mạc nửa thái dương không bắt chéo, đi thẳng tới dải thị giác Các sợi bắt chéo chỉ chiếm có 25% số sợi của dây thần kinh thị giác
1.4 Dải thị giác:
Dải thị giác (tractus opticus) là tập hợp các sợi thị giác ở phía sau giao thoa
thị giác Tập hợp này gồm các sợi thị giác không bắt chéo từ nửa võng mạc phía thái dương và các sợi thị giác từ nửa võng mạc phía mũi bên đối diện Các sợi thị giác của dải thị giác đi tới các trung khu thị giác dưới vỏ (các trung khu thị giác
sơ đẳng) như thể gối ngoài, đồi chẩm, lồi não trên Dừng ở thể gối ngoài có tới 80% số sợi của dải thị giác Các sợi thị giác đến đồi chẩm có lẽ là khâu hướng tâm của cung phản xạ động, thực vật, chứ không có liên quan tới chức năng cảm giác thị giác Từ đồi chẩm có các sợi đi tới đồi thị, thể vân, các nhân của não giữa
để đóng vòng cung phản xạ Lồi não trên là trung khu thị giác dưới vỏ não thứ 3 Trước khi đến dừng ở đây, các sợi thị giác của dải thị giác đi trong cánh tay lồi não trên Các sợi này cũng không liên quan tới khâu cảm giác thị giác mà là khâu hướng tâm của cung phản xạ vận động dưới vỏ mà hướng ly tâm của cung phản
xạ này là đường mái gai
Ngoài các sợi thị giác vừa kể trên, các sợi thị giác của dải thị giác còn đến nhân dây III để tham gia vào cung phản xạ đồng tử Cung phản xạ đồng tử gồm các neuron sau đây:
- Qua neuron hai cực, các xung động thần kinh được truyền vào tế bào đa cực của võng mạc
- Axon tế bào đa cực qua dây thị giác, giao thoa thị giác, dải thị giác đến dừng
ở nhân lồi não
Trang 5- Các sợi từ chất xám trước lồi não đến dừng ở nhân phó giao cảm dây III
(nhân Edinger Westphal) Các axon tế bào nhân này đi theo dây III đến dừng ở
hạch mi
- Các sợi phó giao cảm sau hạch từ mi đến tới chi phối cho cơ mi và cơ co
đồng tử Vì các sợi đến từ vùng chất xám trứơc lồi não đi tới nhân phó giao cảm
của dây III ở hai bên nên khi ánh sáng chiếu vào mắt thì có phản xạ co đồng tử ở
cả hai mắt
2 Phần trung ương
2.1 Tia thị:
Còn được gọi là bó Gratiolet (fasciculus gratiolet) , là tập hợp các axon tế bào
thể gối ngoài Các axon này đi lên trung khu thị giác ở vỏ não
2.2 Trung khu thị giác ở vỏ não:
Ở vỏ não, trung khu thị giác nằm trong bờ trên và bờ dưới của khe cựa
(sulcus calcarinus) ở mặt trong thùy chẩm Bờ trên khe cựa thuộc về hồi chêm
(gyrus cuneus), bờ dưới khe cựa thuộc về hồi lưỡi (gyrus lingualis) Các sợi dẫn
truyền thị giác phần trên võng mạc xuất chiếu lên bờ trên khe cựa Các sợi dẫn
truyền thị giác từ nửa dưới võng mạc xuất chiếu lên bờ dưới khe cựa
3 Hình ảnh lâm sàng khi tổn thương đường dẫn truyền thị giác
Khi nghiên cứu thị giác (sự nhìn), người ta nghiên cứu thị lực (nhìn rõ, không rõ,
mù) và thị trường (khoảng rộng nhìn thấy được khi mắt không di động) Nguyên
nhân gây rối lọan thị lực và thị trường có rất nhiều Ở trong bài này, chỉ nghiên cứu
một số hình ảnh bệnh lý có liên quan tới giải phẫu đường dẫn truyền thị giác
- Tổn thương dây thị giác gây giảm thị lực hoặc mù hoàn toàn một mắt
- Tổn thương giao thoa thị giác (do u tuyến yên chèn ép) gây không nhìn thấy
nửa thị trường phía thái dương cả hai mắt (thu hẹp thị trường)
- Tổn thương dải thị giác và thể gối ngoài gây mất thị trường mũi và thị
trường thái dương ở một bên đối diện (mù nửa mắt hay bán manh)
- Tổn thương tia thị, hình ảnh tổn thương giống khi tổn thương dải thị, nhưng
không có rối loạn phản xạ đồng tử
- Tổn thương phần sau thùy đỉnh, hồi chêm hoặc hồi lưỡi thùy chẩm cũng gây
bán manh
ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THÍNH GIÁC -THĂNG BẰNG
Đường dẫn truyền thính giác-thăng bằng gồm có hai đường riêng biệt:
đường dẫn truyền thính giác và đường dẫn truyền thăng bằng
Trang 61 Đường dẫn truyền thính giác
Đường dẫn truyền thính giác có các chặng neuron sau đây
1.1 Chặng 1:
Là các tế bào thần kinh hai cực của hạch ốc tai (hạch Corti) nằm trong ốc tai xương Nhánh cành (nhánh ngoại vi) của các tế bào này liên hệ với các tế bào biểu mô có lông chuyển thuộc cơ quan Corti Các tế bào biểu mô vừa nói ở trên
là các cơ quan nhận cảm vì những nhung mao của chúng tiếp nhận sự rung động của các nội dịch tai trong do sóng âm tác động vào màng nhĩ gây nên Ở trong ốc tai trong, sợi trục (nhánh trung ương) của các tế bào hạch ốc tai tập hợp lại
thành bó gọi là dây thần kinh thính giác hay dây ốc tai (n cochlearis) Dây ốc tai
cùng với dây tiền đình tạo nên dây tiền đình ốc tai hay dây thính giác thăng
bằng (dây VIII) Đi trong dây VIII, các sợi trục (axon) từ hạch ốc tai chui qua lỗ
ống tai trong tới rãnh hành cầu để vào chất não Ở trong chất não các sợi này đến dừng ở hai nhân thính giác : nhân (ốc) lưng và nhân (ốc) bụng ở hành não
Trang 7Hình 153: Đường dẫn truyền thính giác-thăng bằng
1 Hạch tiền đình (Scarpa) 6 Vân thính giác
2 Nhân tiền đình trên (Bechterew) 7 Nhân lưng
3 Nhân tiền đình ngoài (Deiters) 8 Nhân bụng
4 Nhân tiền đình trong (Roller) 9 Đường tới nhân các dây
5 Đường tới nhân các dây thần kinh vận nhãn
thần kinh làm quay đầu cổ 10 Lồi não dưới
1.2 Chặng 2:
Là các tế bào thần kinh ở trong nhân lưng và nhân bụng Các sợi trục từ nhân
bụng chạy ngang trong cầu não tạo nên thể thang (corpus trapezoidum) Trong
thể thang có các nhân thể thang
Các sợi dẫn truyền của thể thang đi rất nông ở nền não thất IV chạy từ ngoài vào rãnh dọc giữa rồi chui vào trong cầu não
Từ nhân lưng và nhân bụng, các sợi chạy đến dừng ở chặng 3 là:
- Nhân thính giác (nhân thể thang, nhân trám cầu)
- Nhân dải Reil bên
- Lồi não dưới (Củ não sinh tư dưới)
- Thể gối trong
1.3 Chặng 3:
Là các neuron có sự tiếp xúc xinap với neuron chặng 2 và nằm ở nhân thể thang, nhân trám cầu, nhân dải Reil bên, lồi não dưới và thể gối trong Phần lớn các sợi của neuron chặng 2 đi sang dừng lại ở nhân thể thang và nhân trám cầu bên đối diện Một số ít sợi đến dừng lại ở nhân thể thang và nhân trám cầu cùng bên Từ các nhân này cho ra các sợi đi vào trong thể thang Vậy thể thang gồm tập hợp các sợi bắt chéo và một ít các sợi không bắt chéo thoát ra từ nhân bụng, nhân thể thang và nhân trám cầu, do đó trung khu thính giác ở vỏ não có liên hệ với các cơ quan thính giác ngoại vi ở cả hai bên
Từ nhân lưng, các sợi đi vào trong tạo nên vân thính giác ở nền não thất IV Vân thính giác hai bên bắt chéo nhau ở phía sau bó dọc sau, rồi tiếp tục chui vào trong chất não để sang bên đối diện Các sợi vân thính giác cùng với các sợi thể thang tạo nên dải Reil bên đi lên suốt chiều dài của cầu não đến lồi não dưới và thể gối trong Trong dải Reil bên cũng có một ít sợi đi thẳng không bắt chéo, thoát ra từ nhân lưng
Trang 8Từ các nhân ở chặng 3 này có rất nhiều mối liên hệ với những tổ chức thuộc phần não khác nhau:
- Các sợi từ thể thang và nhân thể thang đi tới nhân dây VII, chất lưới cầu não - Từ nhân trám cầu cho ra các sợi tới nhân dây VI và qua bó dọc sau cho ra các sợi tới nhân dây III
- Từ lồi não dưới có các sợi đi tới chất lưới cầu não, lồi não trên, các nhân dây thần kinh sọ não Chất luới của lồi não trên có các sợi đi tới các cơ quan vận động để thực hiện vận động không ý thức khi có tiếng động to và bất ngờ
Lồi não dưới là trung khu phản xạ nghe Thể gối trong là trung khu thính giác
dưới vỏ có liên quan tới cảm giác thính giác có ý thức, vì sợi trục (axon) của tế
bào thể gối trong đi lên tận hết ở trung khu thính giác vỏ não Trung khu thính giác vỏ não nằm ở phần sau hồi thái dương trên (hồi thái dương 1) khi tổn thương trung khu thính giác vỏ não thường gây nên hiện tượng ảo thính, khi tổn thương đường dẫn truyền thính giác thường gây nên giảm thính lực
Tóm lại đường dẫn truyền thính giác truyền xung động âm thanh lên vỏ bán cầu đại não gồm 3 chặng neuron: chặng 1 là tế bào hạch ốc tai, chặng 2 là các nhân thính giác (nhân lưng và nhân bụng), chặng 3 là các tế bào thể gối trong Các nhân thính giác của đường dẫn truyền (nhân thể thang, nhân trám cầu, lồi não dưới) chỉ là nơi mà đường dẫn tuyền thính giác truyền xung động sang các nhân vận động thực hiện vận động phản xạ đối với kích thích âm thanh Đi tới thể gối trong có các sợi từ nhân lưng và nhân bụng (chủ yếu là các sợi từ nhân bụng)
Từ các nhân khác của đường dẫn truyền thính giác có các sợi lên thể gối trong hay không thì vẫn chưa được xác định
2 Đường dẫn truyền thăng bằng
Đường dẫn truyền thăng bằng gồm có các chặng sau đây:
2.1 Chặng 1:
Là các neuron hai cực của hạch tiền đình (hạch Scarpa) nằm ở đáy ống tai trong, tận cùng các nhánh cành (nhánh ngoại vi) của các neuron này nằm ở lớp tế bào biểu mô có lông chuyển phủ mặt trong bóng ống bán khuyên và soan nang, cầu nang thuộc tiền đình tai trong Các tận cùng thần kinh này liên hệ với các tế bào biểu mô để truyền các kích thích của dòng nội dịch khi thay đổi vị trí của đầu (biểu mô soan nang và cầu nang nhận kích thích tư thế đầu trong trạng thái tĩnh ; biểu mô ống bán khuyên nhận kích thích tư thế đầu trong trạng thái động)
Tế bào hạch tiền đình nhận kích thích thăng bằng tập hợp lại tạo thành bó gọi
là dây thần kinh tiền đình (nervus vestibularis) hay dây thần kinh thăng bằng
Một số ít sợi truyền kích thích thính giác từ soan nang, cầu nang đi vào dây thần kinh thính giác Dây thần kinh tiền đình và dây thần kinh thính giác chập lại với nhau tạo nên dây thần kinh VIII cùng với dây thần kinh VII chui qua lỗ ống tai
Trang 9trong hướng tới rãnh hành cầu để chui vào não Ở trong chất não, các sợi tiền đình chia thành hai bó (lên và xuống) tới dừng ở các nhân tiền đình
2.2 Chặng 2:
Các neuron chặng này nằm trong 4 nhân tiền đình: nhân tiền đình trên (nhân Bechterew), nhân tiền đình dưới (nhân Roller), nhân tiền đình trong (nhân Schwalbe) và nhân tiền đình ngoài (nhân Deiters) Phần lớn các sợi tiền đình bó trên dừng lại ở nhân tiền đình trên Một số ít sợi đến dừng ở nhân tiền đình ngoài
và nhân tiền đình dưới Ngoài ra, có ít sợi tiền đình đi tới dừng ở nhân mắt, thùy giun, nhung não, lưỡi não của tiểu não Vì vậy một số tác giả đã gọi các tổ chức này của tiểu não là các nhân tiền đình
Các sợi tiền đình bó xuống dừng lại ở 3 nhân tiền đình còn lại (nhân ngoài, nhân trong và nhân dưới)
Neuron chặng 2 của đường dẫn truyền thăng bằng có mối liên hệ phức tạp:
- Từ nhân tiền đình, các sợi xuống dừng lại ở sừng bên tủy gai cùng bên đóng vòng cung phản xạ quay đầu, cổ và chi, thực hiện phối hợp vận động quay đầu cổ và chi khi có kích thích tiền đình
- Từ các nhân tiền đình đi vào bó dọc sau cùng bên hoặc đối diện có các sợi đến dừng ở các nhân dây thần kinh sọ não (nhân dây III, IV, VI) Ví dụ: Từ nhân tiền đình ngoài có các sợi đến nhân dây III cùng bên và đối bên Từ nhân tiền đình dưới và trong có các sợi tới nhân dây III, VI, IV bên đối diện Từ nhân tiền đình trên có các sợi tới nhân dây III cùng bên Các mối liên hệ này đóng vòng phản xạ nhãn cầu đối với kích thích tiền đình Khi tổn thương mối liên hệ tiền đình nhãn cầu gây nên hiện tượng rung giật nhãn cầu
Trang 10- Các sợi từ nhân tiền đình còn lại
dừng ở nhân đỏ của trung não, chất lưới,
các trung khu vận mạch , hô hấp, nhân
dây X Vì vậy kích thích cơ quan tiền
đình gây phản xạ thay đổi nhịp đập của
tim, tần số hô hấp
- Mối liên hệ của các cơ quan tiền
đình với tiểu não (cơ quan phối hợp
vận động) rất quan trọng Một số ít
các sợi trục từ hạch tiền đình (Scarpa)
qua cuống tiểu não dưới đến dừng ở
nhân mái, nhân răng của tiểu não Từ
các nhân tiền đình, các sợi kết thúc ở
các nhân của tiểu não, thùy giun,
nhung não, lưỡi não thực hiện việc
phân tích sơ bộ các kích thích tiền
đình, thực hiện quá trình phản xạ thăng
bằng cơ thể Ngược lại, từ các nhân
tiểu não lại có các sợi đi tới các nhân
tiền đình trên, nhân tiền đình ngoài,
các nhân chất lưới , nhân dây VI, nhân
trám trên tham gia đóng vòng phản xạ,
thực hiện vận động định hướng và vận
động chính xác
2.3 Chặng 3 :
Là các neuron nằm trong đồi thị Các sợi trục (axon) đi đến kết thúc ở trung
khu vỏ não thăng bằng, bên cạnh trung khu vỏ não thính giác
Vì vậy đường đường dẫn truyền thăng bằng từ ngoại vi vào trung khu vỏ não gồm 3 chặng neuron: hạch tiền đình, các nhân tiền đình và đồi thị Qua đường này, xung động truyền lên vỏ não và cho ta biết tĩnh trạng thăng bằng của cơ thể Khi kích thích phần ngoại vi cơ quan tiền đình gây nên hiện tượng thường gặp
là chóng mặt, nhức đầu
Các chặng neuron của đường dẫn truyền thăng bằng có mối liên hệ rất chặt chẽ với các trung khu vận động khác của não cũng như các cơ quan khác phối hợp vận động (tiểu não), thực hiện vận động phản xạ dưới vỏ
Nhìn chung, qua các mối liên hệ này, cơ thể lấy lại thăng bằng một cách không ý thức khi cơ quan tiền đình ngoại vi bị kích thích do thay đổi tư thế
Tóm lại, đường dẫn truyền thính giác thăng bằng gồm sợi dẫn truyền kích
thích âm thành và thăng bằng về trung khu vỏ não tương ứng Hai đường này có chức năng riêng và liên hệ rất phức tạp với các tổ chức khác của não Dây thần kinh tiền đình ốc tai hay dây thính giác thăng bằng là một phần của hai đường dẫn
Hình 154: Sơ đồ đường dẫn truyền
thăng bằng
1 Nhân mái (lồi não dưới) 3,4 Bó tiền đình gai
2 Bó mái gai 5 Nền não thất IV
Trang 11truyền này Từ tai trong tới chặng 1 (các nhân tiền đình và các nhân ốc tai) ở trong ống tai trong dây thần kinh này gồm hai bó riêng biệt Khi sắp chui ra khỏi ống tai trong, hai bó này chập lại với nhau thành một gọi là dây thần kinh thính giác thăng bằng (hay dây VIII) đi vào tới rãnh hành cầu
CÁC DÂY THẦN KINH SỌ
Dây thần kinh sọ (hay dây thần kinh sọ não) được chia làm 3 loại:
- Dây vận động hay ly tâm (chuyển ra): gồm có 3 dây vận động mắt (III,IV,VI), 1 dây vận động cơ thang và cơ ức - đòn - chũm (XI) và 1 dây vận động lưỡi (XII)
- Dây cảm giác hay hướng tâm (chuyển vào): dây I, dây II và dây VIII Nguyên uỷ của dây I và dây II khác hẳn mọi dây sọ khác
- Dây vừa vận động, vừa cảm giác hay dây hỗn hợp, gồm có dây V, dây VII, dây IXvà dây X
Dây sọ và dây sống giống nhau ở điểm là: dây sống được tạo nên bởi rễ trước (vận động) và rễ sau (cảm giác) của tuỷ sống Dây sọ vừa vận động vừa cảm giác cũng bắt nguồn ở hai loại nhân: nhân vận động và loại nhân cảm giác, các nhân này chẳng qua là sự tiếp tục ở phía trên của sừng trước và sừng sau của tuỷ sống
Ở sừng trước của tuỷ sống: có 2 toán tế bào sắp xếp thành 2 cột, cột trước trong và cột trước ngoài ở não Phát sinh từ cột trong có các nhân của các dây hoàn toàn vận động (III, IV, VI và XII); các dây này được coi tương đương như
rễ trước của dây thần kinh sống và phát sinh từ cột ngoài, có các nhân vận động các dây hỗn hợp (V,VII) và nhân hoài nghi (của 3 dây IX, X, XI)
Sở dĩ, có ở não hai cột nhân vận động (cột trước trong và cột trước ngoài) là
vì sừng trước bị chặt làm đôi, đầu tách làm đôi và sở dĩ ở hành não, cột nhân vận động ở phía trong cột nhân cảm giác là vì hai sừng sau toạc ra hai bên để tạo nên não thất IV
Ở sừng sau, tiếp tục ở phía trên cột Clarke của tuỷ sống, có nhân đơn độc cảm giác (của 3 dây VII, IX và X) và nhân tiền đình của dây VIII, và tiếp tục ở trên chất keo Rolando của tuỷ sống, có nhân cảm giác của dây V và nhân ốc tai của dây VIII
Sừng bên (khu tạng) ở giữa hai sừng, nên ở đây (giữa cột nhân vận động và cột nhân cảm giác của mặt, cổ, chi), cũng có các nhân thực vật của các dây thần kinh sọ cho các tuyến hay các tạng (VII, IX, X, XI)
CÁC DÂY THẦN KINH GIÁC QUAN
Trang 12Có 3 đôi dây thần kinh giác quan: dây I,II và VIII Các dây này được mô tả chi tiết ở mũi, mắt, tai và các đường dẫn truyền giác quan Chỉ nhắc là dây I và dây II, sự thực không phải là một dây thần kinh, mà là một phần của não Dây VIII gồm có 2 dây khác nhau về giải phẫu, sinh lý và cả về lâm sàng (dây ốc tai làm nhiệm vụ thính giác , còn dây tiền đình làm nhiệm vụ thăng bằng)
1 Dây I hay dây khứu giác(nervus olfactorius)
Bắt nguồn từ các tế bào ở niêm mạc khứu giác, ở tầng mũi trên Các nhánh qua các lỗ của mảnh sàng, để chạy vào hành khứu, qua cuống khứu và chạy bởi 3
rễ vào các nhân xám của khứu não.Từ đó, các sợi liên hệ với thể vú, đồi thị và thuỳ khuy, tới vỏ não của hồi hải mã (trung khu khứu giác)
2 Dây II hay dây thị giác (nervus opticus)
Bắt nguồn từ các tế bào ở võng mạc Các sợi tụm lại thành dây thần kinh thị giác, chui qua lỗ thị giác để chạy vào sọ Hai dây (phải và trái) bắt chéo nhau để
tạo nên giao thoa thị giác (chiasma opticum), rồi trở nên dải thị giác Dải này
vòng quanh cuống đại não để chạy vào thể gối ngoài và củ não sinh tư trước trên
Từ đó, các sợi toả ra hình tia (tia thị Gratiolet) để tới vỏ não của hồi châm (cuneus), đồi chẩm và khe cựa (trung khu thị giác)
3 Dây VIII hay dây thính giác thăng bằng (n.stato - acusticus)
Gồm có hai dây: dây ốc tai bắt nguồn ở ốc tai (hạch Corti) và dây tiền đình ở tiền đình (hạch Scarpa) và ở các ống bán khuyên Hai dây này cùng với dây mặt
(n.facialis) qua ống tai trong, để rồi chạy vào não, ở rãnh hành cầu là nguyên uỷ
hư của dây VIII Ở não, dây VIII chạy vào các nhân xám ở hành não Từ đó, các sợi chạy thẳng hay qua tiểu não, để tới thể gối trong và củ não sinh tư sau dưới
Từ đây, các sợi tới vỏ của thuỳ thái dương 1 (trung khu thính giác)
CÁC DÂY THẦN KINH VẬN ĐỘNG MẮT
Dây thần kinh vận động mắt gồm có:
- Dây III hay dây vận nhãn chung
- Dây IV hay dây cảm động (hay dây ròng rọc)
- Dây VI hay dây vận nhãn ngoài
Các dây này đều ở tầng sau của nền sọ, rồi tụm lại ở xoang tĩnh mạch hang, để chạy qua khe bướm tới các cơ của nhãn cầu (4 cơ thẳng, 2 cơ chéo và cơ kéo mi trên)
1 Dây III hay dây vận nhãn (nervus oculomotorius)(còn gọi là dây vận
nhãn chung)
1.1 Nguyên uỷ thực:
Trang 13Ở cột nhân xám quanh cống Sylvius, ngang mức củ não sinh tư trước Các
sợi qua bó dọc sau, nhân đỏ, liềm đen thoát ra ngoài
1.2 Nguyên uỷ hư:
Tách ở cuống đại não, dọc theo hai bên khoang thủng sau, ở mặt trước trung não
1.3 Đường đi:
Chạy trước, ra sau và lên trên, vào tầng giữa nền sọ Ở đó, dây chạy dọc theo thành ngoài của xoang tĩnh mạch hang để tới khe bướm
1.4 Phân nhánh:
Ở khe bướm, phân chia ra hai nhánh, chui qua vòng Zinn để vào ổ mắt
- Nhánh trên: nhỏ, vận động cơ thẳng trên và cơ kéo mi trên
- Nhánh dưới: to hơn, vận động cơ thẳng dưới, cơ chéo bé và cơ thẳng trong Ngoài ra, còn tách ra một rễ cho hạch mắt (rễ vận động phó giao cảm) Từ hạch, các sợi chạy vào cơ mi (dây mi ngắn) làm hẹp đồng tử
Trang 14Là dây độc nhất tách ra ở mặt lưng của não, thoát ra dọc theo hai bờ của hãm van Vieussens Các sợi ở bên phải thoát ra ở bờ trái của đường hãm và các sợi trái thoát ra ở bờ phải
2.3 Đường đi:
Từ van Vieussens, dây vòng quanh cuống đại não để cùng với dây VI chạy dọc theo thành ngoài của xoang tĩnh mạch hang để tới khe bướm Ở khe, dây chạy ngoài vòng Zinn để vào ổ mắt và chạy ngay dưới trần ổ mắt, phân nhánh vào các cơ chéo to
3 Dây VI hay dây vận nhãn ngoài (nervus abducens)
3.1 Nguyên uỷ thực:
Ở một nhân của cầu não, ở nền não thất IV ( lồi tròn)
3.2 Nguyên uỷ hư:
Thoát ra ở não ở rãnh hành cầu, trong dây VII
3.3 Đường đi:
Từ rãnh hành cầu, dây VI đi ra trước, ở trong rễ lớn của dây V qua bờ trên xương đá (cách đỉnh xương đá độ 1 hay 2mm, nên dễ bị thương tổn khi xương bị vỡ) Rồi dây VI chui vào trrong xoang tĩnh mạch hang, chạy giữa thành ngoài của xoang và động macgh cảnh, và khi tới khe bướm, thời dây V chui vào vòng Zinn
để vào ổ mắt
3.4 Phân nhánh:
Vào cơ thẳng ngoài Tiếp nối với đám rối giao cảm ở quanh động mạch cảnh
DÂY V HAY DÂY SINH BA
Dây V hay dây sinh ba, dây tam thoa (n trigeminus) là một dây hỗn hợp nhận
cảm giác ỏ mặt và các phần sâu của mặt: ổ mặt, ổ mũi và ổ miệng và vận động các cơ nhai, nên có 2 rễ như các dây thần kinh sống:
- Rễ cảm giác: với hạch Gasser và 3 nhánh cùng là: dây mắt (n.ophthalmicus), dây hàm trên (n.maxillaris), dây hàm dưới (n.mandibularis)
- Rễ vận động: nhỏ hơn nhiều, chạy vào dây hàm dưới
Có đặc điểm là mang các sợi vận động thực vật của dây VII, VII' và IX tói các tuyến ở mũi, miệng và các tuyến bọt
* Nguyên uỷ thực
- Rễ vận động: Tách ở hai nhân xám:
+ Nhân chính hay nhân nhai (nucleus motorius) ở cầu não
+ Nhận phụ đi từ trung não, kéo dài xuống tận cầu não Nhân phụ phải đuợc coi như một nhân thực vật chỉ đạo sự tiết dịch của các tuyến niêm mạc
- Rễ cảm giác: tách ỏ hạch Gasser Hạch này được coi như một hạch gai gồm các
tế bào mà nhánh trục tạo nên rễ hướng về não, còn các nhánh cành chui vào ba nhánh (mắt, hàm trên và hàm dưới) Rễ cảm giác tận cùng ở một xám kéo dài từ nửa cầu não tới hết hành não, và liên tiếp ở tuỷ sống với chất keo Rolando của sừng sau
- Hạch bán nguyệt Gasser (ganglion semilunare) Là nguyên uỷ thật của các
sợi cảm giác; là một đám rối thần kinh rất xít, hình bán nguyệt, nằm trong hốc Meckel, ở mặt trước trên xương đá Hốc Meckel được tạo nên bởi sự trẽ đôi của màng não cứng
Trang 15Hạch Gasser dẹt, có 2 mặt Mặt trên đính vào màng não cứng, có rễ vận động bắt chéo ngang ở dưới Bờ sau trên lõm, tách qua đám rối tam giácthành rễ cảm giác Bờ trước dưới tách ra ba nhánh: dây mắt, dây hàm trên và dây hàm dưới Hạch cách da sọ độ 4 cm và đối chiếu trên sọ vào một khu ở phần trước ổ chảo của xương thái dương
* Nguyên uỷ hư
Hai rễ (rễ to cảm giác và dễ nhỏ vận động) đều tách ở cầu não, chỗ giáp giới giữa mặt trước và mặt bên Rồi hai rễ cùng chui vào hốc Meckel Rễ cảm giác toả hình quạt tam giác (đám rối tam giác) để sau chạy vào hạch Gasser, còn rễ vận động đi luồn dưới hạch để chạy vào dây hàm dưới
1 Dây thần kinh mắt
Dây thần kinh mắt (n.ophtalmicus) hay dây thần kinh Willis mang cảm giác
vùng trán, ổ mắt và ổ mũi và tận hết ở hạch Gasser Về phương diện giải phẫu, dây mắt đi từ hạch Gasser ra
Có ba nhánh kể từ ngoài vào trong
- Dây lệ (n lacrymalis) qua khe bướm vào ổ mắt, dọc bờ trên của cơ thẳng
ngoài, phân nhánh trong mi trên và vùng ngoài ổ mắt
- Dây trán (n.frontalis) cũng qua khe bướm vào ổ mắt, sát dưới trần ổ mắt, trên
cơ kéo mi mắt, chia thành hai nhánh: dây trên ổ mắt (n.supraorbitalis) và dây trên ròng rọc (n.supratrochlearis) Hai dây này nhận cảm giác ở trán, mũi và mi trên
- Dây mũi (n nasociliaris) qua vòng Zinn ở khe bướm vào ổ mắt, cùng động
mạch mắt chạy phía trên dây III, rồi chếch vào trong, tách các nhánh bên và tận hết bằng hai nhánh ở hốc mũi
+ Nhánh bên: Rễ dài cảm giác của hạch mắt, dây mi dài và dây sàng sau Các nhánh này cảm giác cho nhãn cầu, xoang bướm và xoang sàng sau
+ Nhánh tận: nhánh sàng trước và nhánh dưới ổ mắt Các nhánh này nhận cảm giác ở vách lá mía, da đầu mũi, da sống mũi và đường lệ
Tóm lại, dây mắt là dây cảm giác ở da của trán trên, sống mũi, niêm mạc mũi trên, nhãn cầu (phản xạ giác mạc) và ở màng não vùng trán, vùng chẩm Dây mắt còn mang các sợi thực vật của dây VII (tiết nước mắt) và dây III (phản xạ giãn đồng tử và vận mạch nhãn cầu)
Trang 162 Dây thần kinh hàm trên
Dây thần kinh hàm trên (n.maxillaris) là dây hoàn toàn cảm giác, tận hết ở
phần giữa hạch Gasser
2.1 Đường đi:
Từ hạch Gasser chạy thẳng ra trước qua lỗ tròn to để tới mặt trên của hố chân hàm, rồi tạt ngang ra ngoài tới đầu rãnh dưới ổ mắt lại bẻ gập lần nữa để chui vào rãnh và khi qua lỗ dưới ổ mắt thì tỏa thành một cụm nhánh tận Nói chung, dây hàm trên bẻ gập hai lần, đường đi hình lưỡi lê
2.2 Liên quan:
Ở tầng giữa nền sọ, dây hàm trên chạy sát trên xương, ở chỗ mà thành ngoài
của xoang tĩnh mạch bằng dính vào cánh to xương bướm Như vậy, dây hàm trên
ở dưới tất cả các dây chạy trong thành của xoang
- Trong ống tròn to, cùng đi với dây hàm trên, có nhiều tĩnh mạch liên lạc đi
từ xoang tới đám rối chân bướm
- Ở đáy hố chân hàm, dây hàm trên chạy ở phía trên dây hàm dưới, và ở phía ngoài hạch bướm khẩu cái
- Ở ống dưới ổ mắt, dây hàm trên cùng đi với động mạch dưới ổ mắt, liên quan ở trên với các thành phần của ổ mắt; chỉ có cốt mạc phân cách Ở dưới, liên quan với xoang hàm trên, có khi chỉ có niêm mạc che phủ, nên viêm xoang có thể gây đau ở dây thần kinh
Hình 156: Dây thần kinh hàm trên
1 Tuyến lệ 5 Dây thần kinh răng trước
2 Nhánh lệ của dây mắt 6 Dây thần kinh răng giữa
3 Nhánh thái dương gò má 7 Dây thần kinh răng sau
4 Nhánh gò má (nhánh ổ mắt)
Trang 172.3 Phân nhánh:
- Nhánh màng não (ramus meningeus) cho màng não ở vùng thái dương và đỉnh
- Nhánh ổ mắt hay nhánh tiếp (ramus zygomaticus), ngoài các sợi cảm
giác còn mang các sợi tiết dịch của dây VII, tiếp nối với dây lệ để tạo nên một quai, và từ quai này tách ra các nhánh lệ cho tuyến lệ và dây thái dương gò má
(n zygomaticotemporalis)
- Dây bướm khẩu cái (n.sphesnopalatinum) tách dây ở hàm trên, lúc dây này
đang đi thẳng tạt ngang chạy ra ngoài Dây chạy ở phía ngoài, phía trước hạch bướm khẩu cái Dính vào hạch và tách ra 4 toán nhánh, phân phối trong mũi (nhánh ổ mắt, và các nhánh mũi) vòm miệng (nhánh khẩu cái) và tỵ hầu (nhánh chân bướm khẩu cái)
+ Nhánh ổ mắt (n.infraorbitalis) chạy vào trong các xoang sàng
+ Nhánh mũi (rami nasales) qua lỗ bướm khẩu cái, chạy vào hố mũi, có
nhánh mũi trên phân phối vào nghách mũi trên và giữa và nhánh mũi khẩu cái phân phối vào vách lá mía và vòm miệng
+ Các nhánh khẩu cái (n.n.palatini) gồm các nhánh trước chui qua ống khẩu
cái sau, các nhánh giữa và sau chui qua các ống khẩu cái phụ, để phân phối vào các ngách mũi dưới, vào màn hầu và phần sau vòm miệng
+ Các nhánh chân bướm khẩu cái (n.n.pterygopalatini) qua ống cùng tên, để
phân phối vào niêm mạc tỵ hầu
- Các dây răng sau, răng giữa và răng trước (n.n.alveolares post., medius, ant.) tách ở dây hàm trên, trước khi dây này vào rãnh giữa ổ mắt (chạy ở giữa
5 Động mạch chân bướm khẩu cái
6 Dây thần kinh hàm trên