1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đường dẫn truyền vận động

89 215 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 654,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhánh lên chạy vào vận động cho cơ thái dương. Nhánh xuống vận động cho cơ cắn. auriculotemporslis): tỉa ra đôi thành một lỗ khuyên để động mạch màng não giữa chạy qua, rồi qua khuy sa[r]

Trang 1

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN VẬN ĐỘNG

Trong sự tiến hoá của động vật, động vật cấp càng cao thì vận động càng phức tạp, càng tinh vi Ở loài người, trán rộng và thẳng, không vạt chếch như ở động vật, cũng là do khu vận động ở hồi trán lên lớn nhiều thêm lên

Hồi trán lên và các mép lân cận ở khe trung tâm (khe Rolando) là khu vận động ở vỏ não Theo I P Pavlov, khu này được coi như là một cơ quan phân tích, vừa tiếp thu vừa phân tích các khích thích do đường dẫn truyền cảm giác bản thể chuyển tới, vừa truyền ra các phản ứng vận động thích hợp Về phương diện giải phẫu, là đường truyền ra từ vỏ não xuống tới cơ quan đáp ứng là các cơ (thường người ta gọi là đường dẫn truyền vận động)

Đường dẫn truyền vận động đi xuống gồm:

- Đường vận động chính: đường đại não tuỷ sống (tủy gai), thuộc hệ tháp

- Đường vận động phụ: đường đại não - tiểu não - tủy gai, thuộc hệ ngoại tháp

- Ngoài các đường chính và phụ đi từ vỏ đại não tới tủy gai (đường vỏ gai) còn có đường dưới vỏ, cũng thuộc hệ ngoại tháp

1 Hệ tháp

Hệ tháp có những tế bào tháp, là vì các sợi của các tế bào đó sẽ tạo thành tháp trước của hành não Gồm có bó vỏ gai và bó vỏ nhân Phần lớn các tế bào tháp tập trung ở hồi trước trung tâm và phần sau của hồi trán 1 và 2 Phần dưới của hồi trán lên phân tích và vận động các cơ đầu cổ, phần giữa ở chi trên, phần trên

ở thân và chi dưới

1.1 Bó vỏ gai hay bó tháp:

Bó vỏ gai (tractus corticospinalis) hay bó tháp (tractus pyramidalis) là

đường vận động ở cổ, thân và tứ chi Được tạo nên bởi các sợi đi từ vỏ não để tới dừng ở sừng trước của tuỷ gai

- Ở đoan não, bó vỏ gai qua gối và trụ sau của bao trong (crus posterius

capsulae internae) Ở bao trong, các sợi vận động xen lẫn với các sợi cảm giác

và các sợi liên hợp

- Ở trung não, bó vỏ gai ở phía trước liềm đen, và chiếm 3/5 giữa của chân

cuống đại não Bó vỏ cầu ở 1/5 ngoài và bó gối ở 1/5 trong

- Ở cầu não, bó vỏ gai bị các cơ sợi ngang của cầu não tách thành các bó nhỏ

Trang 2

- Ở hành não, bó vỏ gai tạo thành tháp trước và khi tới giới hạn dưới của

hành não thì phân làm 2 bó:

+ Bó to, gồm 9/10 các sợi , bắt chéo đường giữa gọi là bắt chéo tháp

(decussatio pyramidum) và tạo nên bó vỏ gai bên (tractus cortico - spinalis

lateralis) hay bó tháp chéo

Sau khi bắt chéo, bó vỏ gai bên tới cột trắng bên của tủy gai, nằm ở phía trong các bó tiểu não, ở phía ngoài bó căn bản và ở sau bó cung Càng đi xuống dưới, bó vỏ gai bên càng bé dần, vì tách dần các sợi vào các tế bào vận động ở sừng trước cùng bên của tủy gai, đến đốt sống cùng IV, thì tận hết

+ Bó nhỏ, gồm 1/10 sợi, chạy thẳng xuống tủy gai và tạo nên bó vỏ gai trước

(ractus corticospinalis anterior) hay bó tháp thẳng chiếm 2 bên rìa của khe giữa

trước Ở tủy gai, bó vỏ gai bên sẽ tách dần các sợi, bắt chéo đường giữa và chạy vào các nhân của sừng trước ở bên đối diện Bó vỏ gai trước tận hết ở dây cùng của tủy gai

Ở sừng trước, các sợi sẽ tiếp xúc với các neuron vận động và nhánh trục của

nó thì tách khỏi tủy gai và tạo nên các rễ trước của dây thần kinh gai, để đến các

cơ vân ở cổ, thân và tứ chi

1.2 Bó vỏ nhân hay bó gối:

Bó vỏ nhân (tractus corticonuclearis) hay bó gối là đường vận động của các

cơ đầu và cổ Được tạo nên bởi các sợi đi từ vỏ não, để tới dừng ở các nhân vận động bên đối diện của dây thần kinh sọ

Bó vỏ nhân xen lẫn với sợi của bó vỏ gai Ở bao trong của đoan não, chiếm 1/5 trong của chân cuống đại não, khi đi xuống tách dần các sợi để bắt chéo đường giữa và chạy vào các nhân vận động bên đối diện của dây thần kinh sọ III

và IV ở trung não, của các dây sọ V,VI,VII, IX, X, XI, XII ở cầu hành não

Bó vỏ nhân tận hết ở hành não và là đường vận động các cơ vân của đầu mặt

và cổ

Tóm lại, đường dẫn truyền vận động đi xuống thuộc hệ tháp, là một bộ phận của cơ quan phân tích vận động, gồm 2 chặng:

- Chặng 1: là chặng đi từ tế bào tháp ở vỏ não, sau khi bắt chéo đường giữa,

đến dừng ở các nhân vận động của dây thần kinh sọ hoặc dừng lại ở các nhân của sừng trước tủy đối với các dây thần kinh gai

- Chặng 2: là chặng đi từ các nhân này, các nhánh trục thoát ra khỏi tủy gai, chạy vào rễ trước của các dây thần kinh sọ hay dây thần kinh gai, để đến cơ vân

ở đầu mặt cổ (đối với bó vỏ nhân) ở cổ, thân và tứ chi (đối với bó vỏ gai)

Hệ tháp vận động các cơ theo ý muốn, chỉ hình thành khi não trước và nhất là

vỏ đại não phát triển Về tiến hoá, hệ tháp trẻ hơn hệ ngoại tháp Tổn thương của

hệ tháp ở chặng một gây liệt trung ương Tùy theo vị trí của tổn thương ở trên

Trang 3

202

hay ở dưới chỗ bắt chéo, mà liệt trung ương ở cùng bên hay ở bên đối diện (với nơi tổn thương) Tổn thương ở chặng hai sẽ gây liệt ngoại vi ở cùng bên Do đó trên lâm sàng, nếu căn cứ vào nơi liệt, thì có thể xác định được vị trí tổn thương ở não hay ở tủy gai

4 Rễ trước dây TK gai 10 Dây thần kinh III

5 Bắt chéo tháp 11 Bao trong

6 Dây thần kinh X 12 Bó vỏ nhân và bó vỏ cầu

Trang 4

Hệ ngoại tháp tạo nên đường vận động ngoài ý muốn, dẫn truyền các cử động đơn giản tự động hoặc nửa tự động, điều hòa trương lực ở cơ và điều hòa các cử động Hệ ngoại tháp xuất hiện sớm hơn ở động vật cấp thấp (ếch, cá )

Hệ ngoại tháp gồm 2 đường: đường vỏ đại não - tiểu não - tủy gai (hay đường vận động phụ) và đường dưới vỏ

- Đường vận động phụ có nhiệm vụ kiểm tra sự phối hợp các cử động

Đường vận động phụ xuất phát từ vỏ đại não, gồm các sợi trước bắt nguồn từ

vỏ não hồi trán 2 và cùng với bó vỏ gai đi xuống và các sợi sau bắt nguồn ở vỏ hồi não thái dương 2, 3 và đi xuống chiếm 1/5 ngoài của chân cuống đại não và

tạo nên bó thái dương cầu (tractus temporopontinus)

Các sợi trước và sau, khi đi tới cầu não, tiếp xúc với các nhân cầu (sợi vỏ cầu) Từ nhân cầu, các sợi qua cuống tiểu não giữa để tới vỏ tiểu não, phần lớn

ở bên đối diện và phần nhỏ ở cùng bên (sợi cầu - tiểu não) Rồi từ vỏ tiểu não, các sợi tới trám tiểu não cùng bên (sợi tiểu não - trám); và từ trám tiểu não, các sợi đi lên, qua cuống tiểu não trên và bắt chéo đường giữa (mép Wernekink) để tới nhân đỏ của trung não (nhân vận động cầu não, nhân tiền đình hay chất lưới xám) Đó là sợi trám đỏ (tạo nên bó đỏ gai) hoặc sợi trám tiền đình, trám mái, trám lưới (tạo nên bó mái gai, bó tiền đình gai, bó lưới gai) Các bó sợi trên lần lượt dừng ở hành não hoặc ở các đoạn tủy sống cao thấp khác nhau Bó mái gai, trám gai, đỏ gai, lưới gai dừng lại ở đoạn tủy cổ, còn bó tiền đình gai dừng ở đoạn tủy thắt lưng

- Đường vận động dưới vỏ đi từ thể vân, đặc biệt từ bèo nhạt (globus

pallidus) qua đồi thị và các nhân dưới đồi (nhân đỏ, thể Luys và liềm đen )

xuống các nhân vận động ở hành não và tủy gai

Các bó ngoại tháp xuất phát từ các nhân dưới vỏ, có liên hệ mật thiết với tiểu não, nhưng chịu sự kiểm soát của vỏ đại não bằng các sợi liên hợp (bó vỏ não - thể vân, bó vỏ não - đồi thị )

- Thuộc hệ ngoại tháp ở tủy sống có các bó sau đây:

+ Bó đỏ gai (tractus rubrospinalis) hay bó hồng gai Được tạo nên bởi các

sợi đi từ nhân đỏ ở trung não Các sợi bắt chéo đường giữa trong trung não, qua cầu hành não, tới cột trắng bên của tủy gai, ở đầu trước của bó vỏ gai bên và dừng ở sừng trước Bó đỏ gai dẫn truyền các xung động về trương lực cơ và vận động trong các phản xạ thăng bằng

+ Bó mái gai (tractus tectospinalis) Tiếp những sợi từ lồi não (củ não sinh

tư) đi lại, qua cầu hành não, tới cột trắng trước của tủy gai và dừng ở tủy trước

Bó mái gai dẫn truyền các xung động về phản xạ nhìn và nghe

Trang 5

+ Bó tiền đình tai (tractus vesibulospinalis) Tiếp những sợi ở nhân tiền đình

của của dây thần kinh VIII và tạo nên hai bó: bó thẳng và bó chéo Bó tiền đình gai ở phía trước của rễ trước tủy gai và dừng ở sừng trước Dẫn truyền các xung động về thăng bằng

+ Bó trám gai (tractus olivospinalis) Tiếp những sợi ở trám hành, đi xuống

tuỷ gai và dừng ở sừng trước Bó này liên hệ với thể vân, liềm đen, thể Luys Bó trám gai là một bộ phận của đường kiểm soát tiểu não và tủy gai

+ Bó lưới gai (tractus reticulospinalis) Gồm các sợi đi từ các nhân lưới tới

sừng trước tủy gai Có hai bó:

Bó lưới gai ngoài đi từ các nhân lưới trên, dẫn truyền các xung động làm dễ dàng các cử động của sừng trước bên đối diên

Bó lưới gai trong đi từ các nhân lưới dưới, dẫn truyền các xung động làm ức chế các hoạt động của sừng trước cùng bên

+ Bó cạnh tháp (tractus parapyramidalis) Ngoài các bó ngoại tháp nói trên,

còn có bó cạnh tháp Bó này gồm các sợi phát sinh từ vỏ đại não, đi theo bó vỏ gai trước (bó tháp thẳng), xuống tủy gai dừng ở sừng trước Đảm bảo sự phối hợp các cử động nửa tự động và nửa theo ý muốn

Trang 6

Hình 21.2: Đường dẫn truyền vận động phụ

(hệ ngoại tháp)

trám

cầu - vỏ tiểu não

4 Neuron nhân đỏ - hành não 10 Neuron trám - nhân đỏ

5 Rễ trước dây TK gai 11 Nhân đỏ

6 Bó đỏ gai

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN CẢM GIÁC

Đường dẫn truyền cảm giác gồm các đường cảm giác chung (đường ở cổ, thân, tứ chi và đường cảm giác ở mặt) và các đường cảm giác giác quan (đường khứu giác, thị giác, thính giác, tiền đình và vị giác)

Cảm giác chung có nhiều loại:

- Cảm giác ngoài da (cảm giác nông (cảm giác thống nhiệt), cảm giác sờ mó (xúc giác thô sơ và xúc giác tinh tế)

- Cảm giác bản thể (cảm giác sâu), như ở cơ gân, ở xương, ở khớp, gồm cảm giác sâu có ý thức và cảm giác sâu không có ý thức

1 Các thụ cảm thể

Cơ thể đáp ứng với những thay đổi của môi trường xung quanh nhờ các thụ

cảm thể (receptor) Thụ cảm thể nằm ở ngoại vi của các neuron chặng 1 Chúng

được biệt hóa tương ứng với các loại cảm giác khác nhau Thụ cảm thể được phân loại theo nhiều cách: theo chức năng, theo vị trí, theo cấu trúc

1.1 Phân loại thụ cảm thể theo chức năng:

Có thể phân chia thành các loại sau:

- Thụ cảm thể cơ học (mechanoreceptor) đáp ứng với các kích thích cơ học

như: xúc giác, đè ép, sóng âm thanh

- Thụ cảm thể hóa học (chemoreceptor) đáp ứng với sự biến đổi về hóa học

- Thụ cảm thể ánh sáng (photoreceptor) nhận cảm với các sóng điện từ ở

trong dải tần ánh sáng

- Thụ cảm thể nhiệt (thermoreceptor) nhận cảm với sự thay đổi nhiệt độ

Trang 7

- Thụ cảm thể thẩm thấu đáp ứng với sự thay đổi áp lực thẩm thấu, khác với thụ cảm thể hóa học là sự hoạt động của chúng dựa trên các nhóm nguyên tố hóa học đặc biệt trong môi trường

- Một số thụ cảm thể có thể nhận cảm được nhiều hơn một loại kích thích gọi

là thụ cảm thể đa năng (polymodal receptor) Chúng có thể nhận cảm ở ngưỡng

kích thích cao để đáp ứng với các kích thích độc hại, nguy hiểm và có thể liên

quan đến các kích động và đau, là các thụ cảm thể đau (nocireceptor)

1.2 Phân loại thụ cảm thể theo vị trí phân bố:

Đây là cách phân loại được sử dụng rộng rãi Có thể chia thành 3 nhóm: các ngoại cảm thể, thụ cảm thể bản thể và nội cảm thể

Các ngoại cảm thể và thụ cảm thể bản thể là một bộ phận của đường dẫn truyền hướng tâm của hệ thần kinh động vật Nội cảm thể là bộ phận của hệ thống thần kinh tự động (cảm giác nội tạng và mạch máu)

1.2.1 Ngoại cảm thể (exteroreceptor):

Nhận các kích thích từ môi trường bên ngoài và nằm ở gần bề mặt cơ thể

(Sinclair, 1967) Các ngoại cảm thể xếp thành lớp nằm trong chiều dày của da (hình 22.1 )

Hình 22.1: Sơ đồ một số tận cùng

thần kinh cảm giác ở các vùng da không có lông

Trang 8

1 Tiểu thể Meissner; 2 Đĩa Merkel; 3

Tận cùng thượng bì tự do; 4 Tận cùng biểu bì tự do; 5 Tiểu thể Pacini;

mmmm 6 Tiểu thể Ruffini

- Trong lớp thượng bì, có các thụ cảm thể về xúc giác, gồm các loại:

+ Các tận cùng thần kinh tự do, đã phân nhánh, có ít hoặc không có myelin, dẫn truyền cảm giác đau

+ Các đĩa Meckel tụ họp trên cùng một sợi, nhậy cảm với cảm giác xúc giác (sờ nhẹ)

+ Các tiểu thể Meissner, nằm trong bao, phân nhánh thành hình xoắn ốc, nhậy cảm với cảm giác sờ, ấn mạnh Tiểu thể thần kinh này có nhiều ở lòng bàn tay, gan bàn chân, ở các cơ quan sinh dục và vú

- Trong lớp trung bì, có các thụ cảm thể về các kích thích nhiệt

+ Các tiểu thể Ruffini dẫn truyền cảm giác nóng, lạnh

+ Các tận cùng cảm giác ở các nang lông, nhận cảm giác xúc giác

Nằm ở trong thành các mạch máu, các tạng, các tuyến và các màng Tại đây

có các loại sợi tận cùng khác nhau: các tận cùng thần kinh trần, tận cùng hình quai và các tận cùng hình cuộn Tận cùng thần kinh có thể thấy ở tất cả các lớp của các thành cơ quan nội tạng, kể cả ở lớp biểu mô, đa số chúng nằm ở lớp ngoại mạc của các mạch máu Tiểu thể Pacini nhận thấy ở tim, lớp ngoại mạc của mạch máu, tuyến tụy và các mạc treo Các nhánh tận cùng tự do cũng nhận thấy

ở nhiều vị trí như: nội tâm mạc, tổ chức liên kết lỏng lẻo, mô bọc của tất cả các loại cơ và tổ chức liên kết nói chung

Nhìn chung, các tận cùng thần kinh ở các cơ quan nội tạng không đáp ứng với cùng các kích thích như thụ cảm thể ngoaị vi trên bề mặt cơ thể ngoại trừ các kích thích cơ học và nhiệt độ Tuy nhiên, nội cảm thể có thể nhận biết được sự căng của các cơ đối kháng, có cảm giác đau với mức độ khác nhau tùy theo tình trạng bệnh lý cụ thể

Trong các nội cảm thể: thụ cảm thể hóa học và thụ cảm thể áp lực đóng vai trò quan trọng để duy trì tốc độ và áp lực dòng máu đối với toàn bộ hệ thống tim mạch, điều chính hô hấp và duy trì cân bằng nội môi

Trang 9

Các loại thụ cảm thể đa năng đáp ứng với các loại kích thích nguy hiểm về cơ học và hóa học cũng phân bố rải rác ở các lớp biểu mô của cơ quan tiêu hóa và

hô hấp tại những nơi cần thiết để thực hiện phản xạ bảo vệ (hình 22.2)

- Trong các mạch máu, có nội cảm thể có hình các vòng, các xoắn ốc, ở trong lớp bao mạch và cảm giác đau của mạch máu

- Trong thành các tạng, nội cảm thể là các đám rối và các đầu tự do, nhận các kích thích và sự căng của các tạng Chúng là một bộ phận của các phản xạ tại chỗ

về vận mạch, sự tiết mồ hôi, về sự vận động của lông và cả các cảm giác có ý thức như: đói, khát, đau ở tạng

Trang 10

Hình 22.2: Sơ đồ các loại lớn tận cùng thần kinh cảm giác và

các sợi hướng tâm của chúng

cùng

3 Thụ cảm thể cơ học nhận cảm nhanh 7 Vùng da không có lông

4 Thụ cảm thể cơ học nhận cảm chậm 8 Vùng da có lông

1.2.3 Thụ cảm thể bản thể (proprioreceptor):

Đáp ứng với các kích thích ở trong các tổ chức của hệ thống vận động

- Trong màng xương, bao khớp và các dây chằng; các thụ cảm thể này có hình dáng giống như các ngoại cảm thể, đó là: các tận cùng tự do, các tiểu thể Ruffini và P acini Chúng nhậy cảm với cảm giác đau và sức ép

- Trong các cơ, các tận cùng thần kinh có hình xoắn ốc nằm ở vùng xích đạo của thoi thần kinh cơ Chúng nhậy cảm với sự kéo dài của cơ

- Trong các gân, cơ quan Golgi bao quanh đầu gân của một nhóm sợi cơ, nhậy cảm với sự căng của cơ (kéo dài thụ động hay co lại chủ động)

Thụ cảm thể bản thể được kích thích bởi hoạt động của các cơ, vận động của khớp và sự thay đổi vị trí của cơ thể toàn bộ hay từng phần Chúng đặc biệt cần thiết đối với các cơ phối hợp, các cơ đối kháng và duy trì sự thăng bằng của cơ thể

2 Đường cảm giác ở cổ, thân, và tứ chi

Đường này gồm 3 chặng, có 3 loại neuron (hạch gai, nhân ở tủy sống hay hành não, nhân đồi thị) tiếp xúc với nhau từ hạch gai tới dừng ở tủy sống hay hành não

Sợi ở rễ sau của các dây thần kinh sống, khi vào tủy sống, chia ra làm 2 nhánh: + Nhánh xuống, tương đối ít, chạy xuống liên lạc với các đám tế bào tủy sống

ở tầng dưới

+ Nhánh lên, quan trọng hơn, gồm có 3 loại sợi:

Sợi ngắn dừng ngay ở nơi mà các sợi chạy vào tủy sống ở vùng Rolando của sừng sau (tạo nên bó cung sau)

Sợi nhỡ chạy qua vùng quanh sừng sau tủy sống, rồi đi lên, dừng ở vùng Rolando ở tầng cao hơn (tạo nên bó cung trước và các bó tiểu não)

Sợi dài không dừng ở tuỷ sống, chỉ qua vùng quanh sừng sau để vào bó thon (bó Goll) và bó chêm (bó Burdach) và hai bó này chạy lên, dừng ở hành não Các sợi của các đoạn dưới của tủy sống, nằm ở phía ngoài, cách xa vách giữa (septum median); nhưng càng đi lên trên, thì càng bị các sợi mới tới, đẩy vào phía trong, càng gần vách giữa

Trang 11

- Chặng hai: từ tủy sống hay hành não, chạy thẳng hay qua tiểu não, tới đồi

thị (thalamus):

+ Chạy thẳng lên đồi thị, có hai đường: đường tủy đồi gồm có bó cung sau (bó gai đồi sau) và bó cung trước (bó gai đồi trước); đường hành đồi gồm có bó thon và bó chêm (bó Goll và bó Burdach)

+ Chạy qua tiểu não lên đồi thị cũng có hai đường gai tiểu đồi và đường trám hành đồi Đường trám hành đồi không rõ rệt lắm Đường gai tiểu đồi gồm hai bó tiểu não: bó tiểu não bắt chéo (bó Gowers) và bó tiểu não thẳng (bó Flechsig) + Chặng ba: từ đồi thị tới vỏ đại não ở vùng hồi đỉnh lên và một phần nhỏ vào hai hồi đỉnh khác

2.1 Đường cảm giác nông ở ngoài da:

Đường dẫn truyền cảm giác và xúc giác thô sơ (cảm giác thô sơ tản mạn

không chuyên biệt) là do bó cung hay còn gọi là bó gai đồi (tractus

spinothalamicus) đảm nhiệm

2.1.1 Đường đau nóng lạnh:

Gồm các sợi ngắn đi từ hạch gai (neuron 1) qua rễ sau, vào tận hết ở vùng keo Rolando của sừng sau tủy sống (neuron 2) Từ vùng keo, các sợi bắt chéo

ngay đường giữa, chạy vào cột trắng bên, để tạo nên bó cung sau hay bó gai đồi

sau (tractus spinothalamicus posterior) Rồi từ đó, bó cung sau chạy qua thân não lên đồi thị (neuron 3), rồi lên vỏ não

2.1.2 Đường xúc giác thô sơ:

Gồm các sợi nhỡ đi từ hạch gai (neuron 1) tới rễ sau vào tủy sống, qua vùng

quanh sừng sau, rồi đi lên tận hết ở vùng keo Rolando ở tầng tủy sống cao hơn

(neuron 2) Từ vùng keo, các sợi bắt chéo ngang đường giữa chạy vào cột trắng

bên để tạo nên bó cung trước hay bó gai đồi trước (tractus spinothalamicus

anterior) Rồi từ đó, bó cung trước chạy qua thân não, lên đồi thị (neuron 3), rồi

lên vỏ não

Trang 12

Hình 22.3: Đường dẫn truyền cảm giác nông

(xúc giác và thống nhiệt)

1 Bao trong; 2 Nhân bèo; 3 Chặng hai; 4 Chặng một (bó gai đồi thị trước); 5 Chặng một (bó gai đồi thị sau);

mmmn 6 Chặng hai; 7 Nhân bèo; 8 Chặng ba

2.1.3 Đường xúc giác tinh tế:

Giúp ta có thể nhận biết đồ vật bằng sờ mó, khác đường xúc giác thô sơ là các sợi dài hơn, có nhiều myelin bao bọc và dẫn truyền nhanh hơn Đường dẫn truyền này theo các chặng đường dẫn truyền cảm giác sâu có ý thức: các sợi đi theo bó thon, bó chêm và bó Reil để lên đồi thị và vỏ não Do đường này không

đi theo đường thống nhiệt, nên trong hội chứng phân ly cảm giác, có biểu hiện

mất cảm giac nóng lạnh đau đớn, mà vẫn còn lại cảm giác sờ mó tinh tế (hình

22.4)

Hình 22.4: Đường dẫn truyền cảm giác

nông và sâu có ý thức

1 Bó gai đồi thị sau 2 Bó thon và bó chêm

2 Bó gai đồi thị trước 4 Bắt chéo cảm giác

Tóm lại, bó gai đồi hay bó cung có 2 phần: bó cung trước dẫn truyền xúc giác thô sơ, và bó cung sau dẫn truyền cảm giác thống nhiệt

Trang 13

Về liên quan, bó gai đồi: ở hành não, nằm ở phía sau trám hành; ở cầu não, ở ngoài bó Reil trong (hay bó Reil giữa); ở trung não, ở phần chỏm của trung não

hay mái cuống đại não (tegmentum pedunculi), sau liềm đen

Rồi từ đó, các sợi lên gian não tới dừng ở đồi thị và lên vỏ não

2.2 Đường cảm giác sâu:

Đường cảm giác sâu ở cơ, xương và khớp, gồm có: đường cảm giác sâu có ý

thức và đường cảm giác sâu không có ý thức (hình 22.5)

Hình 22.5: Đường dẫn truyền cảm giác sâu có ý thức

(bó thon và bó chêm)

3 Bắt chéo cảm giác

2.2.1 Đường cảm giác sâu có ý thức:

Gồm các sợi dài đi từ hạch gai (neuron1) qua rễ sau vào tủy sống, tụm lại ở cột trắng sau để tạo nên hai bó: bó thon (fasciculus gracilis) hay bó Goll ở trong, dẫn truyền cảm giác sâu ở chi dưới, và bó chêm (fasciculus cuneatus) hay bó

Burdach ở ngoài, dẫn truyền cảm giác sâu ở chi trên Hai bó đi lên và dừng ở

hành não, trong các nhân Goll, Burdach và Fon Monakov (neuron 2) Từ các

nhân này, các sợi bắt chéo ngang đường giữa gọi là bắt chéo cảm giác hay

bắt chéo liềm (decussatio lemniscorum), để tạo nên bó cảm giác trong hay bó liềm trong (lemniscus medialis)

Về liên quan, bó Reil trong (hay Reil giữa):

- Ở nửa trên hành não, nằm ở ngay sau tháp trước và ở giữa 2 trám hành (oliva)

- Ở cầu não, bó Reil nằm ngang, ở hai bên đường giữa, và ở phía trong bó cung, bó Reil trong và bó cung tạo nên bó của cảm giác chéo (bó Reil chính)

Trang 14

- Ở trung não, bó Reil chính nằm ở sau liềm đen và ở ngoài nhân đỏ Rồi từ

đó, bó Reil chính chạy qua vùng dưới thị, dừng lại ở đồi thị (neuron 3), rồi từ đồi thị lên vỏ não

2.2.2 Đường cảm giác sâu không ý thức:

Đường cảm giác sâu không ý thức là đường dẫn truyền cảm giác về độ căng của cơ, gân cơ, dây chằng khớp, trong việc giữ tư thế và trong các phản xạ giữ vững tư thế Theo một số tác giả, đường này từ hạch gai chỉ tới tiểu não gọi là bó

gai - tiểu não (tractus spinocerebellaris)

Đường cảm giác sâu không ý thức qua tiểu não, rồi mới tới đồi thị, nên còn gọi là đường gián tiếp Đường này dừng ở tủy sống và hành não, do đó có 2

đường (hình 22.6)

Hình 22.6: Đường dẫn truyền cảm giác sâu không ý thức

(bó gai tiểu não trước và bó gai tiểu não sau)

1 Chặng ba; 2 Màn tủy; 3 Bó gai tiểu não trước; 4 Chặng

hai (nhân sừng sau); 5 Chặng một (bó gai tiểu não trước);

6 Chặng một (bó gai tiểu não sau); 7 Chặng hai (cột nhân

sừng sau); 8 Bó gai tiểu não sau; 9 Bó gai tiểu não sau;

10 Chặng ba (neuron vỏ trám tiểu não); 11 Cuống tiểu não

Trang 15

- Đường gai - tiểu - đồi: có 2 bó:

+ Bó gai - tiểu não trước (tractus spinocerebellaris anterior) Còn gọi là bó

tiểu não trước, bó tiểu não bắt chéo hay bó Gowers dẫn truyền cảm giác sâu của

tứ chi

+ Bó gai - tiểu não sau (tractus spinocerebellaris posterior) Còn gọi là bó tiểu

não sau, bó tiểu não thẳng, bó Flechsig, dẫn truyền cảm giác sâu của thân người

Bó gai tiểu não trước, gồm các sợi từ hạch gai, qua rễ sau và dừng lại ở cột

nhân Bechterew ở sừng sau của tuỷ sống (neuron 2) Cột này chỉ có ở đoạn cổ và

đoạn cùng của tủy sống Từ các nhân của cột này, các sợi bắt chéo ngang đường giữa để chạy ra rìa cột trắng bên và tạo nên bó gai tiểu não trước

Về liên quan, bó gai tiểu não trước: ở hành não, vẫn ở rìa cột trắng bên; ở cầu não, ở trước trám cầu và ở phía ngoài bó Reil, rồi vòng quanh cuống tiểu não trên,

để chạy vào tiểu não qua van Vieussens, để tới vỏ thùy giun của tiểu não (neuron 3)

Rồi từ đó, bó gai tiểu não trước chạy vào nhân đỏ và từ nhân đỏ vào đồi thị

(tractus cerebellothalamicus) Các bó sợi từ tiểu não đi lên vào các nhân xám

dưới vỏ, được coi như các đường liên hợp của tiểu não

Bó gai tiểu não sau, gồm các sợi từ hạch gai, qua rễ sau và đứng ở cột Clarke của sừng sau của tủy sống Từ các nhân của cột này, các sợi chạy thẳng ra cột trắng bên của tủy sống (ở cùng bên), để tạo thành bó gai tiểu não sau

Ở hành não, bó này chạy chếch ra ngoài, tạo nên thể thừng và cuống tiểu não dưới, để chạy vào tiểu não, tới dừng ở thùy giun Từ vỏ tiểu não, các sợi chạy vào các nhân tiểu não (trám não và nhân mái) Rồi qua cuống tiểu não trên, bắt

chéo đường giữa, vào trung não (chỗ bắt chéo gọi là mép Wernekink) để tới

dừng ở nhân đỏ hoặc từ nhân đỏ chạy lên dừng ở đồi thị Các sợi đi từ tiểu não, não chạy lên các nhân dưới vỏ, được coi như là các đường liên hợp của tiểu não

- Đường trám hành - tiểu não - đồi thị

Đường này chưa được xác định rõ rệt Gồm có một số sợi đi từ trám hành,

qua thể thừng để vào vỏ tiểu não ở bên đối diện gọi là bó trám tiểu não (tractus

olivocerebellaris) Rồi từ đó, chạy vào đồi thị

Tóm lại, đường cảm giác ở cổ, thân và tứ chi gồm có:

- Chặng một: ngắn hay dài, tùy theo các sợi (nhánh trục của tế bào ở hạch gai), dừng ngay ở tủy sống (bó gai đồi sau hay bó cảm giác đau nóng lạnh) , ở các tầng trên của tủy sống ( bó gai đồi trước hay bó xúc giác thô sơ và bó gai tiểu não trước và sau, dẫn truyền cảm giác sâu không ý thức ở tứ chi và ở thân người) hoặc dừng ở hành não (bó thon và bó chêm hay bó cảm giác sâu có ý thức ở chi dưới và ở chi trên; ngoài ra, còn có bó xúc giác tinh tế)

Chặng này gồm các neuron của hạch gai sống (ganglion spinale)

Trang 16

- Chặng hai: từ tủy sống hay từ hành não, chạy thẳng lên đồi thị, hay qua tiểu não lên đồi thị Khi chạy thẳng, chặng gồm có các neuron tủy đồi thị hoặc hành não đồi thị: neuron 2 Các sợi, khi tới cầu não thì tụm lại, để tạo thành

bó cảm giác Reil chính

Khi chạy qua tiểu não, chặng gồm có các neuron tủy sống - tiểu não hay trám

hành - tiểu não (neuron2), các neuron tiểu não - trám tiểu não (neuron 3) và các neuron tiểu não - đồi thị (neuron 4)

- Chặng 3: từ đồi thị hay từ các nhân xám khác ở thân não (vì có sợi không dừng ở đồi thị), các sợi chạy vào gian não, qua bao trong, tỏa như các vành tia

(corona radiata), để chạy vào vỏ hồi đỉnh lên và một phần nhỏ vào hai hồi đỉnh

Các dây thần kinh này đã được trình bày trong phần Dây thần kinh sọ não

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN GIÁC QUAN

Đường dẫn truyền giác quan bao gồm: đường khứu giác, đường thị giác và đường thính giác thăng bằng và đường vị giác

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN KHỨU GIÁC

Đường dẫn truyền khứu giác gồm phần ngoại vi và phần trung ương Phần

ngoại vi là dây thần kinh khứu giác (nervus olfactorius) Sự nối tiếp giữa hai phần này được thực hiện ở hành khứu (bulbus olfactorius)

Cấu tạo đường dẫn truyền khứu giác gồm các chặng neuron sau đây:

1 Chặng neuron 1

Neuron chặng này là các tế bào thần kinh cảm giác hai cực nằm trong lớp biểu mô niêm mạc mũi vùng khứu thuộc ngách mũi, xương xoăn trên và phần

Trang 17

trên vách mũi Các tế bào này tương tự như các neuron của hạch gai Tế bào khứu giác có hình gậy với nhân nằm trong bào tương thuộc phần rộng giữa tế bào Các nhánh ngoại vi hay nhánh cành của chúng chen vào giữa những tế bào

đỡ để hướng lên bề mặt biểu mô niêm mạc mũi Từ mặt này thoát ra những lông nhỏ có vai trò tiếp nhận kích thích Nhánh trục của những tế bào này hợp lại

thành các thân thần kinh mảnh gọi là các tia khứu (fila olfactoria) Có 20 - 40 tia

khứu, gồm những sợi thần kinh cảm giác dẫn truyền xung động thần kinh chậm

và chui qua mảnh ngang xương sàng tới hành khứu Tập hợp toàn bộ các tia khứu tạo nên dây thần kinh khứu giác (dây I) Tế bào chặng 1 (neuron khứu giác ngoại vi) tiếp khớp xinap với tế bào chặng 2 (neuron khứu giác trung ương) dưới dạng

các cuộn khứu (glomeruli olfactorii ) ở hành khứu

2 Chặng neuron 2

Neuron chặng 2 là các tế bào thần kinh mũ ni (neurocytus mitralis ) và một

số tế bào thần kinh khác ở hành khứu Nhánh cành các tế bào này phân nhánh và

cùng các nhánh trục (axon) chặng 1 tạo nên cuộn khứu (glomerulus olfactorius)

Tuy nhiên, ở cuộn khứu có sự quy tụ các nhánh của rất nhiều sợi thần kinh cảm giác khứu giác Các axon của neuron chặng 2 tập trung lại tạo nên dải khứu

(tractus olfactorius) nằm trong rãnh khứu (sulcus olfactorius) ở mặt dưới thùy

trán bán cầu đại não

Hướng ra sau, các sợi dải khứu đến kết thúc ở những phần khác nhau của khứu

não: chất xám dải khứu, tam giác khứu (trigonum olfactorium), khoang thủng trước (substantia perforata anterior), vách trong suốt (septum pellucidum) Tam giác khứu

là phần sau dải khứu phình ra ở trước khoang thủng trước (hình 23.2 và 23.3)

Hình 23.1: Sơ đồ vùng nối hành khứu và

nhân khứu trước

Trang 18

Ở các phần não kể trên có chứa neuron chặng 3 của đường dẫn truyền khứu giác Đây cũng là các trung khu vỏ não khứu giác cấp I gồm các neuron trung ương chặng 2

Đi tới các neuron chặng 3 của đường dẫn truyền khứu giác, dải khứu chia thành ba dải nhỏ (vân khứu) ở vùng tam giác khứu

Vân khứu ngoài (stria olfactoria lateralis) gồm phần lớn các sợi dải khứu, các sợi thuộc neuron tam giác khứu Vân khứu ngoài tới dừng ở mỏm móc (ncus)

và hồi cạnh hải mã (gyrus parahippocampalis)

Hình 23.2: Thùy khứu (nhìn từ mặt trong)

3 Vùng dưới trai 12 Mép trước

4 Hồi cạnh tận cùng 13 Tam giác khứu

5 Vân khứu trong 14 Rãnh cạnh khứu sau

6 Vân khứu ngoài 15 Rãnh cạnh khứu sau

Các sợi dải khứu đến kết thúc ở khoang thủng trước tạo nên dải khứu giữa

(stria olfactoria intermedia)

Như vậy, khác với những đường dẫn truyền cảm giác khác, đường dẫn truyền

khứu giác không lên tới đồ thị

1 Hành khứu 4 Nhánh quặt ngược bên

2 Nhân khứu trước 5 Tế bào mũ ni

3 Dải khứu ngoài 6 Tế bào hạt trong

Trang 19

3 Chặng neuron 3

Chặng Neuron 3 của đường dẫn truyền khứu giác nằm ở các trung khu khứu giác cấp I (hồi dưới trai, vách trong suốt, mỏm móc, khoang thủng trước) thuộc khứu não

Từ những trung khu này, các nhánh trục của neuron chặng 3 tạo nên các đường xuất chiếu tới các nhân gian não, trung não và các vùng vỏ não khác Các đường xuất chiếu khứu giác phản xạ đi tới các nhân dưới vỏ ở trung não và gian não, thực hiện mối liên hệ cảm giác khứu giác với các dạng cảm giác khác

Đường khứu giác vỏ não lên tới sừng Ammon ở hồi hải mã (hippocampus), hồi cạnh hải mã (gyrus parahippocampalis) và từ đây lại có các sợi liên hệ với các

vùng vỏ não khác

Ngoài ra, giữa các trung khu khứu giác của hai bán cầu đại não được liên hệ với nhau bởi những đường liên hợp

Hệ thống các đường này gồm các bó sau đây:

Hình 23.3: Sơ đồ cấu trúc hành khứu và dải khứu

1 Dải khứu và tam giác khứu 5 Tiểu cầu khứu

cực

- Bó khứu - vú hay bó khứu chính (radiatio olfactoria basalis) đi từ hành

khứu, dải khứu, hồi dưới trai và vách trong suốt đến thể núm vú

- Bó khứu- trung não (tractus olfactomesencephalicus) do một số sợi của bó

trên xuống tận hết ở chất lưới trung não

Trang 20

- Bó khứu - nhân cuống tuyến tùng (fibrae olfactohabenulares) đến kết thúc

ở nhân cuống tuyến tùng (nucleus habenulae)

- Bó đai (cingulum) chạy trong chất trắng hồi vòm (gyrus fornicatus) từ thùy

khứu tới sừng ammon

- Vân tận (stria terminalis) hay dải bán khuyên (teania semicircularis) nằm

giữa nhân đuôi và đồi thị, gồm có các sợi từ hồi cạnh hải mã và nhân hạnh nhân

(nucleus amygdalae) tới khoang thủng trước

- Các sợi dọc của dải xám (striae longitudinales indusei grisei) hay dải Lancisi thoát ra từ diện cạnh khứu (area paraolfactoria), hay vùng Broca, một

phần các sợi này tách ra từ tế bào dải xám và hồi trước trai Các sợi này chạy ra

sau vào lá tro (fasciola cinerea) và cuối cùng vào hồi răng (gyrus dentatus) và

sừng Ammon Lá tro và hồi răng là những phần tiếp với dải xám ở phía sau Bó này chạy ngay trên mặt thể trai

- Bó khứu - sừng Ammon (tractus olfacto ammonicus) từ khoang thủng trước,

hồi cạnh hải mã, và vách trong suốt đi ngược chiều trong thể chai tới sừng Ammon

- Thể vòm (fornix) hay thể tam giác cũng tham gia vào hệ thống các sợi xuất chiếu của các trung khu khứu não Thể vòm có loại sợi dọc và sợi ngang (hình 23.4)

Hình 23.4: Sơ đồ hệ viền (theo Szentagothai)

Trang 21

2 Thể chai 12 Thể vú

5 Nhân cuống tuyến tùng 15 Hồi khứu ngoài

8 Nhân gian cuống 18 V ân t ận

10 Hồi răng Các sợi dọc do các nhánh trục (axon) của tế bào tháp sừng Ammon tạo nên Lúc đầu chúng tạo nên lớp chất trắng phủ mặt trước của sừng Sau đó các sợi này

tiếp tục tạo nên thể bờ (fimbria) và thể vòm (fornix) Các sợi dọc thể vòm đi ra trước, xuống dưới đến kết thúc ở thể vú (corpus mamillare) hay củ núm vú và

hồi cạnh hải mã Các sợi đến kết thúc ở hồi cạnh hải mã đi trong dây chằng chéo góc Ở phía sau, các sợi ngang thể vòm nối hai sừng Ammon lại với nhau

- Mép trắng trước (commissura alba anterior) gồm các sợi liên bán cầu nối

các trung khu khứu hai bên lại với nhau như: hành khứu, dải khứu, khoang thủng trước, vùng khứu hồi cạnh hải mã

- Mối liên hệ của thể vú (trung khu khứu dưới vỏ thuộc gian não) với các trung khu khứu khác của gian não và trung não

+ Qua bó vú chính (fasciculus mamillaris principalis) Các sợi của bó này đi tới nhân trước của đồi thị được gọi là bó vú đồi (tractus mamillothalamicus) hay

bó Vicqd'Azyr Các sợi khác của bó đi tới mái trung não gọi là bó vú mái (tractus

mamillo tegmentalis)

+ Từ đồi thị, các sợi đi lên vỏ não hồi sau trung tâm, từ các nhân của trung

não có các sợi đi vào bó dọc sau (tractus longitudinalis posterior) tới nhân các

dây thần kinh sọ não

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THỊ GIÁC

1 Khái quát

Đường dẫn truyền cơ quan phân tích thị giác gồm 2 phần:

+ Phần ngoại vi: bao gồm phần võng mạc, dây thần kinh thị giác, giao thoa thị giác và dải thị giác

+ Phần trung ương: bao gồm các trung khu thị giác sơ đẳng dưới vỏ như thể gối ngoài, đồi chẩm (đồi thị) và củ não sinh tư trên, tia thị và trung khu phân tích thị giác vỏ não Trung khu thị giác sơ đẳng dưới vỏ là nơi kết thúc phân ngoài và nơi bắt đầu phần trung ương của đường dẫn truyền

Trang 22

2 Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền thị giác

Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền là các tế bào cảm thụ của võng mạc (tế bào nón và tế bào gậy)

2.1 Các phần của màng võng mạc:

Võng mạc (retina) là màng trong suốt đàn hồi, lót mặt trong nhãn cầu, từ chỗ

thoát ra dây thần kinh thị giác tới lỗ đồng tử, ở trung tâm võng mạc dày 0,5 mm,

ở phần ngoại vi dày 0,1 mm

Võng mạc được chia thành 2 phần có cấu tạo và chức năng khác nhau

2.1.1 Võng mạc chính hay phần thị giác (pars optica retinae):

Chiếm 2/3 sau mặt trong nhãn cầu, có cấu tạo phức tạp, làm nhiệm vụ nhận

cảm ánh sáng (để nhìn) khi ta soi đáy mắt thấy có hai điểm: điểm vàng (macula)

và điểm mù hay đĩa thị giác (discus nervi optici)

- Điểm vàng hay hoàng điểm là điểm nằm ngang không có bờ rõ ràng, ở đúng cực sau nhãn cầu Tại đây hình ảnh in rõ nhất vào võng mạc (điểm nhìn rõ vật

nhất) Chính giữa điểm vàng hơi lõm xuống thành hố trung tâm (fovea

centralis) Hố này có kích thước dài 3 mm, cao 1,5 mm

- Điểm mù hay đĩa dây II, là nơi thoát ra của các axon tế bào đa cực võng mạc, không chứa các tế bào nhận cảm ánh sáng Vị trí nằm cách phía trong 3 mm

và dưới 1 mm so với điểm vàng, ở giữa điểm mù lõm gọi là gai thị (gai mắt) có động mạch và tĩnh mạch trung tâm võng mạc đi vào và đi ra

2.1.2 Võng mạc mi lòng đen hay võng mạc mống mắt thể mi (retinae iridica et ciliaris):

Phủ mống mắt và thể mi, có cấu tạo đơn giản chỉ gồm 1 lớp tế bào biểu mô

và lớp tế bào sắc tố

2.2 Cấu tạo các lớp tế bào của võng mạc:

Võng mạc được cấu tạo nhiều lớp tế bào thị giác nhưng có những lớp tế bào

có tham gia đường dẫn truyền thị giác Dưới dây là 3 lớp tế bào chính của võng

mạc (hình 24.1)

2.2.1 Lớp tế bào nón và tế bào gậy:

Thuộc lớp 2 của võng mạc, được coi là các thụ cảm thể của ánh sáng, các

chất sắc tố thị giác (rodopsin) trong các tế bào này bị phân hủy dưới tác động của

ánh sáng và nó được tái lập lại trong bóng tối

Tế bào gậy rất nhậy cảm với ánh sáng nên giúp ta nhìn rõ vật khi trong bóng tối và nhận biết vật trong trạng thái tĩnh và trạng thái động, ở võng mạc có khoảng 10 triệu tế bào gậy Càng xa trung tâm võng mạc thì số lượng các tế bào này càng tăng lên

Tế bào nón với số lượng ít hơn, khoảng 7 triệu tế bào, không chứa các sắc tố thị giác Các tế bào này tập trung nhiều ở trung tâm võng mạc, tế bào này tiếp nhận hình dạng, màu sắc của vật, các tế bào này còn nhận biết cường độ ánh sáng chiếu vào để cho mắt điều tiết đồng tử

Trang 23

2.2.2 Lớp tế bào hai cực:

Tiếp với lớp tế bào nón và tế bào gậy Lớp tế bào hai cực là tế bào tiếp nhận các kích thích thị giác (giống tế bào hạch gai tủy sống hay các tế bào cảm giác thuộc các dây thần kinh sọ não) Đây là các tế bào thuộc chặng I của đường dẫn

truyền thị giác Nhánh cành (dendritum) các tế bào này tiếp khớp xi - nap với các

tế bào đa cực võng mạc (tế bào hạch)

2.2.3 Lớp tế bào đa cực:

Tương tự như các tế bào cảm giác sừng sau tủy sống hay các nhân cảm giác của các dây thần kinh sọ não, axon các tế bào này tập trung tại điểm mù của võng mạc và tạo thành dây thần kinh thị giác Nó gồm khoảng 400.000 đến 800.000 sợi, dây thoát ra ở cực sau nhãn cầu là nơi bắt đầu của dây thần kinh thị giác (dây thần kinh số II) Từ cực sau nhãn cầu dây đi trong hốc mắt, vào ống thị giác và qua rãnh này tới ống giao thoa thị giác trước hố yên, các sợi thuộc đoạn nằm trong màng nhãn cầu không có myelin bọc Khi ra khỏi nhãn cầu các sợi được bọc myelin

3 Phần ngoại vi của đường dẫn truyền thị giác

3.1 Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền:

Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền thị giác là các tế bào nón và tế bào gậy (đã được mô tả ở trên), những cảm giác thị giác của các tế bào này được truyền đến

tế bào thuộc chặng I của đường dẫn truyền là tế bào hai cực của võng mạc (hình

24.1)

3.2 Chặng neuron 1:

Là lớp tế bào 2 cực võng mạc (tương tự tế bào hạch gai tủy sống) hay các tế bào của hạch cảm giác dây thần kinh sống Các nhánh cành của các tế bào này nhận kích thích thị giác truyền theo axon các tế bào này tới lớp tế bào chặng II của đường dẫn truyền

3.3 Chặng neuron 2:

Là lớp tế bào đa cực (lớp tế bào hạch đa cực) tương tự như các tế bào sừng sau tủy sống hay các tế bào thuộc các nhân cảm giác của dây thần kinh sọ, các nhánh cành của tế bào tiếp xúc xinap với sợi trục tế bào chặng I Axon các tế bào thoát ra cực sau nhãn cầu ở điểm mù, các sợi tập trung thành bó, vào dừng ở chặng III, là các trung khu thị giác dưới vỏ Bó sợi này sẽ tạo nên các phần của

chặng tế bào này là dây II, giao thoa thị giác, dải thị giác

3.3.1 Dây thần kinh thị giác (nervus opticus):

Dây thần kinh thị giác hay dây II bắt đầu từ điểm mù ở cực sau nhãn cầu, dài

35 đến 55 mm Đoạn nằm trong thành màng nhãn cầu dài 4 đến 5 mm Dây đi từ ngoài vào trong và lên trên để tới lỗ thị giác, dây có hai chỗ cong, nên có chiều dài lớn hơn chiều dài từ thành sau nhãn cầu đến đỉnh ổ mắt Do đặc điểm này nhãn cầu xoay chuyển tự do trong ổ mắt được theo mọi hướng Trong dây có các vách tổ chức, tách dây ra thành từng bó, xung quanh các bó này có tổ chức thần kinh đến quây xung quanh Đường động mạch và tĩnh mạch trung tâm võng mạc

đi vào dây II ở đoạn cách thành sau nhãn cầu 10 đến 12 mm Động mạch này

Trang 24

tách từ động mạch mắt còn tĩnh mạch đổ về xoang tĩnh mạch hang Dây thần

kinh thị giác được bao trong 3 bao: ở ngoài là bao màng cứng (dura mater nervi

optici), bao màng nhện (tunica arachnoidea nervi optici) và màng nuôi (tunica vasculosa nervi optici) Khoang dưới nhện của thần kinh thị giác thông vào

khoang dưới nhện bể giao thoa thị giác và thông vào tấm màng mạch của nhãn cầu (tăng áp lực dịch não tủy dẫn đến đầy đĩa thị giác gai mắt phù nề) Trong ổ mắt dây thị giác có các tổ chức mờ bao quanh

Dây II các sợi được chia thành 4 bó:

- Bó các sợi điểm vàng không bắt chéo

- Bó các sợi điểm vàng bắt chéo qua giao thoa

- Bó các sợi ngoại vi không bắt chéo đi thẳng thuộc nửa ngoài võng mạc

- Bó các sợi ngoại vi bắt chéo thuộc nửa trong võng mạc

Các sợi này của mỗi bó tương ứng với các tế bào ở từng vùng của võng mạc, mỗi vùng này đảm nhận một vùng của thị trường mắt tương ứng

Các sợi của dây II, khi đến đầu giao thoa thị giác có các sợi bắt chéo thì chuyển thành 2 phần tiếp theo là giao thoa thị giác và dải thị giác

3.3.2 Giao thoa thị giác (chiasma opticum):

Các sợi của dây II bắt chéo, thuộc nửa võng mạc phía mũi (nửa trong võng mạc) và các sợi bắt chéo của điểm vàng Các sợi bên phải và bên trái bắt chéo nhau tạo nên giao thoa thị giác, nằm trong rãnh giao thoa ở trước yên bướm (hố yên) ở nền não

3.3.3 Dải thị giác (tractus opticus):

Là tạo hợp các sợi sau giao thoa thị giác, chứa các sợi bắt chéo từ nửa võng mạc phía mũi bên đối diện và các sợi không bắt chéo cùng bên của nửa võng mạc phía thái dương và các sợi điểm vàng của cả hai mắt (sợi điểm vàng không bắt chéo cùng bên và sợi điểm vàng bắt chéo bên đối diện)

4 Các chặng trung ương của đường dẫn truyền

Bao gồm các tế bào thuộc các trung khu thị giác sơ đẳng, tia thị và trung khu phân tích thị giác vỏ não

4.1 Thể gối ngoài (corpus geniculatum laterale):

Là trung khu thị giác dưới vỏ, là nơi dừng của 80% số sợi của dải thị giác Thể gối thuộc neuron chặng III của đường dẫn truyền thị giác Axon các tế bào

thể gối ngoài đi lên trung khu thị giác vỏ não tạo thành tia thị giác (radiatio

optica) Các sợi này hướng ra ngoài và ra trước đi qua đoạn sau bao trong, tia thị

ôm lấy não thất bên tỏa dần thành các sợi của dải dọc trong đi tới bờ trên và bờ dưới khe cựa, tia thị liên quan với thùy chẩm, thùy thái dương và thùy đỉnh Khi tổn thương vùng này và chảy máu vào bao trong sẽ gây tổn thương tia thị

Trang 25

4.2 Đồi chẩm (pulvinar) và củ não sinh tư trên (colliculus superior):

Là những trung khu thị giác dưới vỏ, tham gia thực hiện cung phản xạ thị giác (nhìn) Axon của các tế bào đồi chẩm đi tới đồi thị, thể vân của các nhân xám não giữa để đóng vòng cung phản xạ

Các sợi của dải thị giác qua cánh tay liên hợp trên (brachium colliculi

superioris) đến dừng lại ở củ não sinh tư trên (hay lồi não trên) để đóng vòng

cung phản xạ thị giác dưới vỏ mà đường ly tâm của cung này là bó mái - gai Cung phản xạ đồng tử được thực hiện qua trung khu thị giác dưới vỏ Cung phản xạ gồm:

- Đường hướng tâm: neuron hai cực, neuron đa cực (võng mạc) Các sợi trục của neuron đa cực tạo nên dây II, giao thoa thị giác và dải thị giác Các sợi này đến dừng ở trước củ não sinh tư trên Axon các tế bào này đi tới dừng ở nhân phó

giao cảm của dây III cùng bên và bên đối diện là nhân phụ dây III (nucleus

acessorius nervi oculomotorii)

- Đường ly tâm: là axon của các tế bào nhân (các sợi phó giao cảm trước hạch theo dây III) đi tới hạch mi, nằm ở mặt ngoài dây II Các sợi phó giao cảm của hạch mi tới chi phối cho cơ đồng tử Các sợi này đi theo dây thần kinh mi ngắn

4.3 Bờ trên và bờ dưới khe cựa:

Là trung khu phân tích thị giác dưới vỏ não (diện 17 của Brogman) nhận các sợi tia thị từ thể gối ngoài, đường kinh tuyến ngang qua điểm vàng võng mạc xuất chiếu lên đáy khe cựa Các góc từ trên võng mạc hai mắt xuất chiếu lên bờ trên khe cựa, các góc từ dưới võng mạc xuất chiếu bờ dưới khe cựa Điểm vàng xuất chiếu lên cực sau thùy chẩm

Trang 26

Hình 24.2: Sơ đồ đường dẫn truyền thị giác

2 Dây TK số III 8 Khe cựa

3 Sợi bắt chéo 9 Sợi tia thị

4 Thể gối ngoài 10 Sợi dải thị

5 Nhân TK số III 11 Sợi giao thoa thị giác

6 Nhân phụ dây III 12 Sợi dây TK II

5 Các sợi thực vật chi phối mắt

5.1 Các sợi phó giao cảm:

Nhân phụ dây III (nhân Edinger Westphal) là một chất xám nằm trước cống não Axon các tế bào này đi theo dây thần kinh III đến hạch mi (là các sợi trước hạch phó giao cảm), axon các tế bào hạch mi là các sợi sau hạch phó giao cảm đi theo dây thần kinh mi ngắn đến chi phối cho cơ co đồng tử

5.2 Các sợi thực vật:

Đi đến nhân thực vật giữa ở trung não (nhân Perlia) Các sợi phó giao cảm này chi phối cho cơ co của thể mi để làm thay đổi độ phồng căng của nhân mắt làm thay đổi chức năng điều tiết của mắt

5.3 Các sợi giao cảm:

Các sợi từ hạch cổ trên không đi qua hạch mi, chi phối cho cơ tia mống mắt

là đồng tử và cơ thể mi để điều tiết nhân mắt

6 Tổn thương đường dẫn truyền và ứng dụng lâm sàng

6.1 Xuất chiếu thị trường từ các vùng võng mạc:

Võng mạc lấy điểm vàng làm tâm chia võng mạc ra làm các nửa bởi 2 đường đứng dọc và ngang qua điểm vàng Mỗi vùng này đảm nhận một vùng thị trường khi ta nhìn

- Nửa võng mạc phía mũi sẽ đảm nhận thị trường phía thái dương

- Nửa võng mạc phía thái dương sẽ đảm nhận thị trường phía mũi

- Nửa võng mạc phía trên đảm nhận thị trường phía dưới

Trang 27

- Nửa võng mạc phía dưới đảm nhận thị trường phía trên

6.2 Định khu vị trí tổn thương các phần đường dẫn truyền và sự mất thị trường:

- Tổn thương dây thần kinh thị: mất thị trường hoàn toàn 1 mắt do tổn thương hoàn toàn số sợi của võng mạc

- Tổn thương giao thoa thị giác: mất 1/2 thị trường phía thái dương 2 mắt do tổn thương số sợi của nửa võng mạc phía mũi

- Tổn thương mép ngoài giao thoa: mất 1/2 thị trường phía mũi do tổn thương

số sợi đi ra từ nửa võng mạc phía thái dương

- Tổn thương dải thị: mất 1/2 thị trường phía mũi cùng bên và 1/2 thị trường phía thái dương đối diện Do tổn thương số sợi từ nửa võng mạc phía thái dương cùng bên và sợi nửa võng mạc phía mũi bắt chéo các bên đối diện Mất phản xạ đồng tử ánh sáng do mất các sợi đi đến củ não sinh tư để tới hạch mi nhãn cầu, teo dây thần kinh thị do mất các sợi dây II

- Tổn thương tia thị: mất thị trường như tổn thương dải thị Nhưng phản xạ đồng tử ánh sáng còn và dây II không teo, do tia thị và sợi axon của tế bào thể gối

- Tổn thương bờ trên khe cựa: mất thị trường 1/4 dưới mũi cùng bên và 1/4 dưới phía thái dương bên đối diện

- Tổn thương bờ dưới khe cựa: mất thị trường 1/4 trên phía mũi cùng bên và 1/4 trên thị trường phía thái dương đối diện

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THÍNH GIÁC

Trang 28

1 Khái quát

Đường dẫn truyền cơ quan phân tích thính giác gồm 2 phần:

- Phần ngoại vi bao gồm: mê đạo ốc tai, hạch xoắn ốc hay hạch Corti (ganglion

spirale) và dây thần kinh thính giác hay dây thần kinh ốc tai (n.cochlaris)

- Phần trung ương bao gồm: các nhân ốc tai, nhân trám ốc, nhân trám cầu, thể gối trong, củ não sinh tư dưới và trung khu phân tích thính giác ở võ não

2 Phần ngoại vi của đường dẫn truyền thính giác

2.1 Cơ quan nhận cảm:

Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền thính giác là các tế bào thụ cảm của

mê đạo ốc tai Mê đạo ốc tai (labyrinthes cochlearis) hay ốc tai màng là một ống

dài 32mm, nằm trong ống xoắn ốc xương hay ốc tai xương dọc theo khoảng giữa thành ngoài của ống và bờ tự do của mảnh xoắn xương

Ốc tai màng (ductus cochlearis) cũng xoắn 2 vòng rưỡi như ống xoắn ốc

xương, bên trong có chứa nội dịch và cùng mảnh xoắn xương tạo nên một vách kín chia khoang ngoại dịch ở trong ống xoắn xương thành 2 phần Phần trên là

tầng tiền đình và phần dưới là tầng màng nhĩ (hình 25.1)

2.1.1 Thành ngoài của ống ốc tai (pares externus ductus cochlearis):

Được tạo nên bởi phần dầy lên của màng xương ở thành ngoài của ống xoắn

ốc gọi là mào xoắn (crista spirale) hay là dây chằng xoắn ốc (lig spirale) Phần này lồi vào bên trong ống xoắn ốc ở bờ ngoài mảnh nền gọi là mào nền (crista

basilaris) dể cho màng nền bám vào

2.1.2 Thành tiền đình của ốc tai (paries vestibularis ductus cochlearis):

Được tạo nên bởi một màng mỏng đi từ màng xương phủ mảnh xoắn xưong

tới thành ngoài của ống xoắn ốc gọi là màng tiền đình (membrana vestibularis)

2.1.3 Thành màng nhĩ của ống ốc tai (paries tympanicus ductus cochlearis):

Chủ yếu là mảnh nền (lamina basilaris) hay gọi là màng nền Cấu tạo bởi

những thớ sợi căng từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài của ống xoắn ốc Trên mảnh nền là cấu trúc thượng mô dầy lên và biệt hoá cao độ tạo nên

cơ quan xoắn ốc (organum spirale) còn được gọi là cơ quan Corti Cơ quan Corti

được cấu tạo bởi 2 thành phần:

* Thành phần tựa bao gồm:

+ Các cột Corti, một ở ngoài, một ở trong giới hạn hầm Corti Các cột này có các tế bào kéo dài, nền tế bào rộng ra là chân chứa một nhân nằm trên màng nền, phần kéo dài có hình thể một sợi tơ đi lên đến đỉnh của hầm, sợi tơ có một phình gọi là đầu, từ đây tách ra mảnh kéo dài

+ Các tế bào Deiters hay các tế bào tựa làm khung cho các tế bào thính giác Các tế bào Deiters dính lại với nhau liên tục tạo thành một mạng lưới có những

lỗ thủng tròn, tương ứng vào đó là các tế bào thính giác Phần trên thu hẹp tạo thành các sợi chất nguyên sinh

* Thành phần giác quan bao gồm:

Các tế bào thính giác hay tế bào Corti, có một hàng tế bào ở sườn trong và 3 – 4 hàng tế bào ở sườn ngoài của gờ thính Các tế bào này nằm xen giữa các tế

Trang 29

bào Deiters Phần dưới của tế bào thính giác hình thoi dài gọi là chân đi lẫn vào phần chân của tế bào tựa Deiters để đến bám vào màng nền (màng kính) Phần trên là đỉnh của tế bào phình to hình trụ chứa một nhân, nhân này nằm giữa các sợi chất nguyên sinh của tế bào Deiters, phần này trên bề mặt tận cùng bởi một đầu hình chén ở trên có một vài sợi lông cứng và bất động Các tế bào có lông chuyển của cơ quan Corti bị các đá nhĩ làm rung chuyển và bị kích thích tiếp nhận các cảm giác thính giác, các sợi trục của tế bào này chạy qua các ống nhỏ

xẻ trong mảnh xoắn ốc mang các kích thích đến các tế bào cực của hạch Corti

2.2 Hạch xoắn ốc (ganglion spirale):

Hạch xoắn ốc hay hạch Corti nằm trong đường xoắn ốc, các tế bào của hạch Corti là những tế bào 2 cực Các tế bào này nhận kích thích từ các sợi thần kinh

từ các tế bào cơ quan Corti chuyển đến Tế bào hạch Corti là nguyên ủy của dây thần kinh ốc tai (dây thính giác), là chặng tế bào 1 của đường dẫn truyền thính giác Sợi trục của các tế bào này đi qua trụ ốc tai để tới hố ốc tai đi qua các lỗ của ốc này chạy vào ống tai trong Các sợi tập hợp lại tạo thành dây thần kinh ốc tai Các sợi này dẫn truyền các kích thích tới các nhân xám ở cầu não

2.3 Dây thần kinh ốc tai (n cochlearis):

Dây thần kinh ốc tai là tập hợp sợi trục của các tế bào hạch Corti ở đáy ốc tai trong Trong ống tai trong dây thần kinh ốc tai cùng dây thần kinh tiền đình tạo nên dây thần kinh VIII Dây liên quan với dây thần kinh mặt (dây VII) và dây thần kinh phụ Wrisberg (dây VII') Ở đây, dây nằm sau dưới dây thần kinh VII và VII'

Dây thần kinh ốc tai cong thành một rãnh, trong rãnh có dây thần kinh VII hai bên có ngành của động mạch thính giác Từ ống tai trong dây thần kinh thính giác chạy ra sau, xuống và vào trong để qua mảnh nền xương chẩm, dưới tiểu não, rồi chạy vào cầu não ở góc rãnh hành cầu Ở đây nằm ngoài rễ dây thần kinh VII và VII' và ở phía trên rễ dây thần kinh IX (dây thiệt hầu) Các sợi thần kinh

ốc tai đi vào cầu não và dừng lại ở các nhân ốc thuộc phần trung ương của đường

dẫn truyền (hình 25.2)

Trang 30

Hình 25.2: Đường dẫn truyền thính giác và thăng bằng

1 Hạch tiền đình (Scarpa) 6 Vân thính giác

2 Nhân ngoài (Betchterew) 7 Nhân lưng

3 Nhân trên (Deiter) 8 Nhân bụng

4 Nhân trong (Schwalbe) 9 Đường tới nhân các

5 Đường tới nhân các dây thần kinh vận nhãn

dây thần kinh làm quay đầu cổ

sinh tư dưới

3 Phần trung ương của đường dẫn truyền thính giác

3.1 Nhân ốc bụng (nucleus cochleares ventralis) và nhân ốc bụng (nucleus

cochleares dorsalis):

Là tế bào chặng hai của đường dẫn truyền thính giác, các tế bào này tiếp nhận xung động từ tế bào hạch Corti truyền tới Axon của các tế bào này được chia thành 2 loại sợi

- Một số nhỏ các sợi axon của tế bào nhân ốc đi thẳng lên trên, không bắt chéo cầu não, đi vào dải Reil bên để đến củ não sinh tư dưới và thể gối trong

- Một số lớn các sợi axon của tế bào nhân ốc bắt chéo đường giữa sang bên đối diện tạo nên thể thang Một số sợi chạy qua nền não thất IV tạo nên các vân thính, vân thính 2 bên bắt chéo nhau ở sau bó dọc sau Các sợi này chạy đến dừng lại ở nhân cầu, nhân thang ở cầu não, một số sợi đi thẳng lên trên tới nhân của dải Reil bên, củ não sinh tư dưới và thể gối trong Các sợi này kết hợp với các sợi trục của tế bào nhân thang, nhân cầu tạo nên dải Reil bên

Trang 31

3.2 Các tế bào thuộc chặng 3 của đường dẫn truyền:

3.2.1 Nhân thang (nucleus corporis trapezoidei):

Là tế bào thuộc chặng 3 của đường dẫn truyền, các tế bào này tiếp nhận kích thích từ tế bào nhân ốc Sợi trục của tế bào này đi tới nhân của dây thần kinh VII

và chất lưới của cầu não

3.2.2 Nhãn cầu (nucleus pontis):

Là tế bào chặng 3 của đường dẫn truyền, các tế bào tiếp nhận kích thích từ tế bào nhân

ốc Sợi trục của tế bào này đi tới, đi ngược lên trên tới nhân của dây thần kinh sọ số III,

IV, VI Các sợi này đi cùng bó dọc sau

3.2.3 Củ não sinh tư dưới hay lồi não dưới (colliculus inferior):

Tiếp nhận kích thích từ tế bào nhân ốc Sợi trục tế bào này đi tới chất lưới cầu não, đến các dây thần kinh sọ củ não sinh tư trên, đến các nhân vận động không tùy ý, để thực hiện phản xạ bảo vệ khi có các âm thanh mạnh và bất ngờ (phản xạ mắt - tai - đầu)

3.2.4 Thể gối trong (corpus latum medialis):

genicu-Là tế bào chặng thứ 3 của đường dẫn truyền, là trung khu thính giác sơ đẳng dưới

vỏ Các tế bào này tiếp nhận kích thích từ tế bào nhân ốc Axon các tế bào này đi tiếp lên trên, qua phần sau bao trong gần các sợi thị giác để tới trung khu phân tích thính giác ở phần sau thùy thái dương trên

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN THĂNG BẰNG

1 Khái quát

Đường dẫn truyền tiền đình gồm hai phần:

- Phần ngoại vi bao gồm: mê đạo tiền đình hay tiền đình màng là cơ quan thụ

cảm tiền đình Hạch tiền đình (ganglion vestibulare) hay hạch Scarpa và dây thần kinh tiền đình (n vestibularis)

- Phần trung ương bao gồm: các nhân tiền đình ở cầu não, đồi chẩm và trung khu tiền đình vỏ não

đình gai

Trang 32

2 Phần ngoại vi của đường dẫn truyền thăng bằng

2.1 Cơ quan nhận cảm :

Cơ quan nhận cảm của đường dẫn truyền thăng bằng là mê đạo tiền đình

(labyrinthus vestibularis) Mê đạo tiền đình gồm có soan nang, cầu nang và các

ống bán khuyên màng, nằm bên trong tiền đình xương và ống bán khuyên xương thuộc tai trong

2.1.1 Soan nang (utriculus):

Là một túi hình soan chiếm phần trên của tiền đình, nằm áp vào ngách bầu dục ở thành trong của tiền đình Ở thành ngoài soan nang có các vết soan nang

(macula utriculi) Nhận các sợi soan nang của thần kinh tiền đình, từ phần trước trong soan nang có một ống nhỏ gọi là ống soan cầu nang (ductus

utriculosacularis) nối giữa soan nang và cầu nang đổ vào ống nội dịch Soan

nang nhận chỗ đổ của ống bán khuyên màng bởi 5 lỗ Phần nhận cảm của soan nang là các đám thính

2.1.2 Cầu nang (sacculus):

Là một túi nhỏ hơn soan nang, hình cầu ở phía trước soan nang và nằm trong ngách cầu ở phần trong tiền đình xương Trên thành trước cầu nang có vết cầu

nang (macula saccuuli), nhận các sợi cầu nang của thần kinh tiền đình

2.1.3 Các ống bán khuyên màng (ductus semicirculares):

Là những ống màng nhỏ nằm trong ống bán khuyên xương chỉ bằng 1/4 đường kính ống xương Có 3 ống bán khuyên màng tương ứng với 3 ống xương

- Ống trước (ductus semicircularis anterior)

- Ống sau (ductus semicircularis posterior)

- Ống ngoài (ductus semicircularis lateralis)

Mỗi ống có hai đầu mở vào soan nang gọi là các trụ màng (crura

membranacea) Các trụ màng phình một đầu và đầu kia không phình Các trụ

không phình của ống ngoài đổ thẳng vào soan nang, các trụ không phình của ống trước và sau chập lại với nhau và đổ vào soan nang Các trụ phình tạo nên các

bóng gọi là trụ màng bóng (crura membranacea ampullaria) Trong lòng mỗi màng bóng có 1 lồi gọi là mào bóng (crista ampullaris) Mào bóng là cơ quan

đặc biệt cảm giác và phản xạ thăng bằng

2.1.4 Cấu trúc của soan nang, cầu nang và phình ống bán khuyên:

2.1.4.1 Các vết thính của soan nang và cầu nang:

Trong soan nang và cầu nang các vết thính hợp thành những vệt nhỏ tròn, lớp biểu mô có hình trụ, này tựa lên một lớp kính dày Có hai loại tế bào :

- Các tế bào tựa: khá rộng ở 1/2 dưới và hẹp ở 1/2 trên, nhân tế bào có thể ở cao hay thấp Trong có vỏ của lớp biểu mô tầng không rõ rệt

- Các tế bào giác quan phụ: bám vào lớp kính dưới bằng một chân hẹp, ở giữa chúng phình ra và tận cùng bằng hình chén, màng có lông không chuyển động và

Trang 33

của lớp biểu mô có một chất keo, hình thành một lớp màng liên tục, khá dày phủ lên vết thính lớp này chứa các chất đóng vôi gọi là đá nhĩ Sợi trục của các tế bào ở vết thính đi ra và tận cùng trong hạch hạch tiền đình (hạch scarpa) bằng sự tiếp xúc với tế bào hai cực của hạch

2.1.4.2 Cấu tạo gờ thính của các phình bán khuyên (trụ phình):

Trong mỗi trụ phình có một chỗ dày lên, lồi ra gọi là mào bóng Mào bóng là chỗ dày lên của tổ chức liên kết, nằm vuông góc với trục của phình ống bán khuyên, lớp biểu mô bao phủ bờ tự do của mào có hình lăng trụ đa diện Các đỉnh thính bao gồm các tế bào tựa và các tế bào giác quan phụ Các tế bào này gồm 1 roi dài do các lông ngưng tụ lại tạo thành Trên thiết đồ cắt ngang vuông góc với hướng chung của gờ, các roi này xếp theo hình nan quạt đỉnh nhọn của roi chiếm trong chất mềm của chén Chất mềm gồm một dải của các chất dạng keo có chỗ lõm lòng máng Lòng lõm này chụp nên đầu cùng các roi của gờ Chất mềm không chứa các đám đá nhĩ bập bềnh nổi trong nội dịch mà được cố định nhờ mảng dính của chất với đầu của roi

2.1.4.3 Các tận cùng thần kinh của các vết và các gờ:

Các tế bào giác quan chính danh của các vết thính ở soan nang và cầu nang

và các đỉnh của gờ ống bán khuyên đều là những tế bào hai cực của hạch Scarpa Nhữmg tế bào này có nhánh gai tận cùng kiểu chùm rễ hoặc là xen giữa các tế bào giác quan phụ và các tế bào tựa của các vết và các đỉnh hoặc là trong bào tương của chính các tế bào giác quan phụ, hoặc là đi lên tới tận các dải bịt ở bề mặt là những mạng lưới và các sợi trần tận cùng trong các mắt lưới của các dải này, hoặc bằng một cuộn nhỏ, hoặc bằng một cầu nhỏ, hoặc bằng một điểm trong các khối chất keo phủ trên bề mặt các tế bào lông chuyển có những vật nhỏ (các

đá nhĩ) Khi sóng âm thanh tác động làm di chuyển các dịch trong ống bán khuyên màng, trong soan nang và cầu nang Khối chất keo kích thích các tế bào lông chuyển, tác dụng vào các đá nhĩ đẩy chúng ngược chiều hay xuôi chiều theo lông chuyển của tế bào biểu mô Các sợi này tiếp nhận các kích thích đưa về tế bào hạch Scarpa và theo sợi trục đi tới phần trung ương Các tế bào biểu mô

trong soan nang và cầu nang cảm nhận tư thế đầu ở trạng thái tĩnh (static

recepters) Các tế bào biểu mô của gờ ống bán khuyên cảm nhận tư thế đầu ở

trạng thái động (dynamic recepters)

2.2 Hạch tiền đình còn gọi là hạch Scarpa (ganglion vestribulare):

Thuộc tế bào chặng I của đường dẫn truyền Hạch nằm sâu trong ống tai trong, chứa các tế bào hai cực, các nhánh cành tận cùng với các tế bào lông

chuyển Các nhánh trục (axon) của tế bào hạch tạo nên dây tiền đình và đi sâu

vào các nhân tiền đình ở thân não

Trang 34

2.3 Dây thần kinh tiền đình (n vestibularis):

Các sợi trục (axon) của các tế bào hạch Scarpa tập hợp lại thành dây thần

kinh tiền đình, đi qua đáy ống tai trong cùng dây thần kinh ốc tai tạo thành dây thần kinh số VIII Dây đi vào ống tai trong liên quan với dây thần kinh VII và dây thần kinh VII' (nằm phía sau dưới của hai dây này) Dây thoát ra khỏi lỗ ống tai trong, đi ra sau cùng với dây thần kinh ốc tới rãnh hành cầu và vào cầu não, ở đây dây thần kinh tiền đình chia thành hai bó, đi ở phía trước và trong thể thừng, chia thành rễ lên và xuống Các sợi rễ xuống dừng lại và tiếp xúc với các tế bào thuộc nhân tiền đình ngoài và nhân tiền đình trong Các sợi rễ lên tiếp xúc với nhân tiền đình trên, nhân mái của tiểu não, và vỏ tiểu não thuộc thể noãn, thể thừng cục nào và thể thừng nhang nào cùng bên, các sợi đi lên vào tiểu não là một thành phần của thể cạnh thừng

3 Phần trung ương của đường dẫn truyền

3.1 Các nhân tiền đình:

Là nhóm nhân nằm ở cầu não Đây là các tế bào thuộc chặng II của đường dẫn truyền thăng bằng Gồm có 4 nhân tiền đình:

- Nhân tiền đình trên (nhân Bechterew)

- Nhân tiền đình ngoài (nhân Deiters)

- Nhân tiền đình trong (nhân Schwalber)

- Nhân tiền đình dưới (nhân Roller)

Các nhân tiền đình (trong, ngoài, dưới) nhận các sợi của rễ xuống Các sợi của rễ lên dừng lại ở các nhân (trên, dưới và ngoài)

Sợi trục của các tế bào nhân tiền đình có sự liên hệ phức tạp tới nhiều phần của chất não Theo 4 đường liên hệ chính

- Từ nhân tiền đình các sợi đi xuống dừng ở sừng bên tủy sống (tạo nên bó tiền đình gai), bó sợi này tạo nên cung phản xạ phối hợp nhận biết tư thế đầu, vận động quay đầu, cổ và chỉ khi có các kích thích tiền đình

- Từ các nhân tiền đình các sợi đi vào bó dọc sau cùng bên và bên đối diện đến dừng ở nhân các dây thần kinh sọ não số III, IV, VI, tạo nên cung phản xạ vận động nhãn cầu khi có các kích thích tiền đình (khi tổn thương cung phản xạ này gây nên hiện tượng rung giật nhãn cầu: phản xạ mắt - tai - đầu)

- Từ các nhân tiền đình các sợi đi ngược lên trên đến đồi thị bắt chéo sang bên đối diện đi vào phần sau bao trong tới trung khu phân tích thăng bằng vỏ não

- Từ các nhân tiền đình, các sợi đi đến vỏ thùy giun, nhung não, lưới não của tiểu não để phân tích sơ bộ các kích thích tiền đình thực hiện phối hợp vận động

Trang 35

Khi cơ quan tiền đình ngoại vi bị kích thích, sẽ gây nên rối loạn thăng bằng (chóng mặt và đau đầu), có thể kèm theo các triệu chứng của rối loạn vận động,

vì các sợi từ nhân tiền đình có mối liên hệ với các trung khu vận động của vỏ não

và nhân các dây thần kinh vận động

ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN VỊ GIÁC

Gồm hai chặng neuron: ngoại vi và trung ương

mượn đường đi của dây VII để tới hạch gối (ganglion geniculi); từ hạch gối, qua

dây thần kinh trung gian (dây VII’) và sau khi qua xương đá tới ống tai trong để

vào sọ (hình 26.1)

Hình 26.1: Các sợi vị giác và các sợi thực vật dây VII, VII'´

1 Nhân vị giác dây VII'´ 7 Tuyến dưới lưỡi

2 Nhân bọt trên dây VII'´ 8 Tuyến dưới hàm

Trang 36

6 Dây thần kinh lưỡi 12 Nhân lệ tỵ dây VII

- Đường thứ hai: từ đáy lưỡi và 1/3 sau của lưỡi, được dẫn truyền do dây thần

kinh thiệt hầu (dây IX), qua hạch trên (ganglion superius) hay hạch Andersch và hạch dưới (ganglion inferius) hay hạch Ehrenritter rồi qua lỗ rách sau để vào sọ (hình 26.2)

Hình 26.2: Dây thần kinh thiệt hầu

khẩu cái

các nhánh

3 Hạch bướm khẩu cái 15 Xương chẩm

giao cảm

với dây X

7 Động mạch cảnh trong 19 Nhân bó đơn độc

Trang 37

8 Hòm nhĩ 20 Nhân lưng (thần kinh XII)

9 Dây thần kinh Jacobson 21 Cánh xám

10 Nhánh lưỡi của dây mặy 22 Nền não thất IV

(Ehrenritter)

12 Xương hàm dưới 24 Hạch dưới (Andersch)

2 Chặng trung ương

Các sợi vị giác dây IX vào não ở rãnh bên sau của hành não (rãnh sau trám

hành) và tiếp xúc với tế bào ở 1/3 giữa của nhân đơn độc (nucleus solitarius)

Các sợi vị giác của dây VII’ vào não ở rãnh hành cầu và tiếp xúc với các tế bào ở 1/3 trên của nhân đơn độc

Từ nhân đơn độc, các sợi vị giác sẽ theo đường dẫn truyền cảm giác trung để tới đồi thị (neuron 3) và từ đó đi lên vỏ đại não ở tiểu thùy lưỡi hay thùy nắp

(operculum) là trung khu phân tích vị giác

DÂY THẦN KINH SỌ NÃO

Dây thần kinh (TK) sọ (hay dây thần kinh sọ não) được chia làm 3 loại:

- Dây vận động hay ly tâm (chuyển ra): gồm có 3 dây vận động mắt (III,IV,VI ), 1 dây vận động cơ thang và cơ ức đòn chũm (XI) và 1 dây vận động lưỡi (XII)

- Dây cảm giác hay hướng tâm (chuyển vào): dây I, dây II và dây VIII Nguyên ủy của dây I và dây II khác hẳn mọi dây sọ khác

- Dây vừa vận động, vừa cảm giác hay dây hỗn hợp, gồm có dây V, dây VII, dây IX và dây X

Dây TK sọ và dây TK sống (TK gai) giống nhau ở điểm là: dây sống được tạo nên bởi rễ trước (vận động) và rễ sau (cảm giác) của tủy sống Dây sọ vừa vận động vừa cảm giác cũng bắt nguồn ở hai loại nhân: nhân vận động và loại nhân cảm giác, các nhân này chẳng qua là sự tiếp tục ở phía trên của sừng trước

và sừng sau của tủy sống

Ở sừng trước của tủy sống: có 2 toán tế bào sắp xếp thành 2 cột, cột trước trong và cột trước ngoài ở não Phát sinh từ cột trong có các nhân của các dây hoàn toàn vận động (III, IV, VI và XII); các dây này được coi tương đương như

Trang 38

rễ trước của dây thần kinh sống và phát sinh từ cột ngoài, có các nhân vận động các dây hỗn hợp (V, VII) và nhân hoài nghi (của 3 dây IX, X, XI)

Sở dĩ, có ở não hai cột nhân vận động (cột trước trong và cột trước ngoài) là

vì sừng trước bị chặt làm đôi (đầu tách làm đôi) Và sở dĩ ở hành não, cột nhân vận động ở phía trong cột nhân cảm giác là vì hai sừng sau toạc ra hai bên để tạo nên não thất IV

Ở sừng sau, tiếp tục ở phía trên cột Clarke của tủy sống (tủy gai), có nhân đơn độc cảm giác (của 3 dây VII', IX và X) và nhân tiền đình của dây VIII, và tiếp tục ở trên chất keo Rolando của tủy sống, có nhân cảm giác của dây V và nhân ốc tai của dây VIII

Sừng bên (khu tạng) ở giữa hai sừng, nên ở đây (giữa cột nhân vận động và cột nhân cảm giác của mặt, cổ, chi), cũng có các nhân thực vật của các dây thần kinh sọ cho các tuyến hay các tạng (VII, IX, X, XI)

CÁC DÂY THẦN KINH GIÁC QUAN

Có 3 đôi dây thần kinh giác quan: dây I, II và VIII Các dây này được mô tả chi tiết ở mũi, mắt, tai và các đường dẫn truyền giác quan Chỉ lưu ý là dây I và dây II, sự thực không phải là một dây thần kinh, mà là một phần của não Dây VIII gồm có 2 dây khác nhau về giải phẫu, sinh lý và cả về lâm sàng (dây ốc tai làm nhiệm vụ thính giác, còn dây tiền đình làm nhiệm vụ thăng bằng)

1 Dây I hay dây khứu giác (nervus olfactorius).

Bắt nguồn từ các tế bào ở niêm mạc khứu giác, ở tầng mũi trên Các nhánh qua các lỗ của mảnh sàng, để chạy vào hành khứu, qua cuống khứu và chạy bởi 3

rễ vào các nhân xám của khứu não (hình 27.1) Từ đó, các sợi liên hệ với thể vú,

đồi thị và thùy khuy, tới trung khu khứu giác ở vỏ não của hồi hải mã (xem bài

Đường dẫn truyền cảm giác giác quan )

Cảm giác khứu giác tùy thuộc vào cấu tạo phân tử của chất gây kích thích Số lượng và cách sắp xếp các phân tử sẽ quyết định mùi khác nhau Những chất nào càng tan nhiều trong nước và mỡ càng gây mùi mạnh

Trang 39

- Kích thích tại móc hải mã, phần đáy thùy thái dương có thể gây mùi khó

chịu (parosmis)

- U vỏ não vùng khứu giác hay kích thích tại vùng này có thể gây ảo khứu

- Khám dây TK khứu giác được thực hiện bằng cách cho bệnh nhân ngửi những mùi quen thuộc: bạc hà, cafe, vani Các chất thử để cách bệnh nhân 1 mét

và đưa lại gần trong khi bệnh nhân nhắm chặt mắt

Trang 40

Hình 27.2: Các rễ thần kinh sọ não

2 Khoang thủng sau 8 Dây thần kinh IX

3 Dây thần kinh III 9 Dây thần kinh X

6 Dây TK VII, VII’ 12 Dây thần kinh XII

Hình 27.3: Dây thần kinh khứu giác

Hành khứu

1 Dây II hay dây thần kinh thị giác (nervus opticus)

Bắt nguồn từ các tế bào ở võng mạc Các sợi tụm lại thành dây thần kinh thị giác, chui qua lỗ thị giác để chạy vào sọ Hai dây (phải và trái) bắt chéo nhau để

tạo nên giao thoa thị giác (chiasma opticum), rồi trở nên dải thị giác Dải này

vòng quanh cuống đại não để chạy vào thể gối ngoài và củ não sinh tư trước trên

Từ đó, các sợi tỏa ra hình tia (tia thị Gratiolet) để tới trung khu thị giác của vỏ

não ở hồi chêm (gyrus cuneus), đồi chẩm (pulvinar) và khe cựa hay rãnh cựa (sulcus calcarinus) (xem bài Đường dẫn truyền giác quan)

Ngày đăng: 10/01/2021, 04:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Gross C.M.: Gray's Anatomy of the Human Body. Philadelphia, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gray's Anatomy of the Human Body
Tác giả: C.M. Gross
Nhà XB: Philadelphia
Năm: 1976
3. Đỗ Xuân Hợp: Giải phẫu đại cương. Giải phẫu thần kinh, đầu mặt cổ. Nhà xuất bản Y học, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu đại cương. Giải phẫu thần kinh, đầu mặt cổ
Tác giả: Đỗ Xuân Hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1972
4. McMinn R.H.M.,Pegington J.,Hutchings R.T., Abrahams P.H.: Colour Atlas of Human Anatomy. Mosby- Year Book Europe Limited, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Colour Atlas of Human Anatomy
Tác giả: McMinn R.H.M., Pegington J., Hutchings R.T., Abrahams P.H
Nhà XB: Mosby- Year Book Europe Limited
Năm: 1995
7. Netter F.H.:Atlas of Human Anatomy. Ciba. Geiry Corporation. Summit, New Jercy,1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas of Human Anatomy
Tác giả: Netter F.H
Nhà XB: Ciba
Năm: 1993
8. Pansky B., House E.l: Review of Gross Anatomy. Macmillan Company, London, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Gross Anatomy
Tác giả: Pansky B., House E.l
Nhà XB: Macmillan Company
Năm: 1971
9. Prives M.G., Lusenkov N.K., Buchkovich V.I.: Giải phẫu người. Nhà xuất bản Y học Matxcơva, 1985 (tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu người
Tác giả: Prives M.G., Lusenkov N.K., Buchkovich V.I
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Matxcơva
Năm: 1985
11. Nguyễn Quang Quyền: Bài giảng giải phẫu, tập I và II. Nhà xuất bản Y học, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu, tập I và II
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1993
12. Nguyễn Quang Quyền: Từ diển giải phẫu học. Đối chiếu 4 thứ tiếng Latin – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ diển giải phẫu học. Đối chiếu 4 thứ tiếng Latin
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
13. Raymond C.T., Malcolm B.C.: Human Anatomy. Waverly Press, Maryland, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Anatomy
Tác giả: Raymond C.T., Malcolm B.C
Nhà XB: Waverly Press
Năm: 1969
18. Woodburne R.T.: Essentials of Anatomy. Oxford University Press. New York, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Essentials of Anatomy
Tác giả: Woodburne R.T
Nhà XB: Oxford University Press
Năm: 1957
1. Delmas J.,Laux G.;Précis d' Anatomie. G.Doin et Cie, Paris 1951 Khác
5. Trịnh Văn Minh: Giải phẫu hoc người.Tập 1. Nhà xuất bản Y học, 1998 Khác
6. Trịnh Văn Minh: Từ điển Danh từ Giải phẫu quốc tế Việt hoá. Nhà xuất bản Y học, 1999 Khác
10. Peter L.W., Roger W.: Gray's Anatomy. NewYork, 1980 Khác
14. Rohen J.W., Yokochi C.: Color Atlas of Anatomy. Igaku – Shoin, New York Tokio, 1987 Khác
15. Rouvière H.: Anatomie humaine. Tome I et II. Masson et Ciet ed. Paris, 1949 Khác
16. Testut L., Latarjet A.: Traité d' Anatomie G.Doin et Cie ed. Paris, 1949 Khác
17. Tonkov V.N.: Bài giảng Giải phẫu hoc. Nhà xuất bản Y học, Leningrad, 1962 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w