1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Thông báo Khoa học và công nghệ số 2 năm 2015

132 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới thiệu vị trí của các trường Đại học Việ[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

SỐ 2 – NĂM 2015

LƯU HÀNH NỘI BỘ

Trang 2

Võ Thanh Huy Trường Đại học Xây dựng Miền Trung: Chuẩn bị hành trang bước vào hội

Lê Đức Gia Đại học Xây dựng Miền Trung thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”

Lê Đức Tâm Văn hoá chất lượng – Yếu tố tiên quyết để xây dựng thành công hệ thống

Nguyễn Văn Tân Sử dụng máy móc thiết bị trong công tác đào tạo ở trường Đại học Xây

Nguyễn Thành Đạo Một số mâu thuẫn đặt ra về việc vận dụng phép biện chứng duy vật

Lê Thị Mến Một số tư tưởng kinh tế Việt Nam hiện đại (Kỳ 1) 37

Võ Xuân Hội Vận dụng quy luật giá trị vào phát triển nền kinh tế thị trưởng định hướng xã

Nguyễn Thị Hoa Kiều Về khái niệm quyền bào chữa và người bào chữa trong tố tụng

Nguyễn Thị Tiến Tác động của kinh tế thị trường đến công tác giáo dục lý luận chính trị

Phạm Ngọc Tân, Nguyễn Huỳnh Minh Trang Một số vấn đề cần quan tâm khi xác định

Chu Thị Hải Vinh Khảo sát ứng xử và phân tích mô men – độ cong của dầm bê tông cốt

Đào Xuân Trà Chọn sơ đồ hệ thống cấp nước hợp lý cho nhà cao tầng 81

Nguyễn Thị Khánh Trang Kiến trúc sư Frank Lloyd Wright và lý thuyết kiến trúc hữu cơ 86

Lê Tiến Vinh Hình thức kiến trúc công sở tỉnh Phú Yên giai đoạn 1989 đến nay 93

Nguyễn Quốc Huy, Trần Thế Truyền, Bùi Thanh Tùng Công nghệ cào bóc tái chế nguội mặt

Đoàn Hữu Sâm Tổng quan các nghiên cứu về tương tác đất nền và đất nền kết cấu cầu khi

Trần Thị Quỳnh Như Đề xuất một số giải pháp thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư

Lại Văn Học Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập giáo dục thể chất trong nhà trường 123

Trần Thị Thanh Huyền, Phan Trọng Thuỷ, Trần Văn Hân – Sinh viên D12X4 Nghiên

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG:

CHUẨN BỊ HÀNH TRANG BƯỚC VÀO HỘI NHẬP GIÁO DỤC,

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

TS Võ Thanh Huy

Phó Trưởng phòng KH&HTQT, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Để định hướng và xác định con đường đúng trong quá trình phát

triển của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung với hội nhập giáo dục, khoa

học và công nghệ trong khu vực ASEAN và thế giới, bài báo này nhằm giới

thiệu vị trí của các trường Đại học Việt Nam trên thế giới thông qua những

tiêu chí đánh giá xếp hạng của các tổ chức uy tín, đặc biệt là mô hình đánh

giá của Webometrics Từ đó tác giả muốn tập trung nhìn nhận thực trạng,

tồn tại về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của trường Đại học

Xây dựng Miền Trung, cuối cùng là những giải pháp, đề xuất mà tác giả

muốn gửi đến tập thể cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên và Ban giám hiệu

Nhà trường tham khảo để có một cách lựa chọn đúng đắn trong vai trò của

mình đối với Nhà trường theo xu thế hội nhập hiện tại và tương lai

Từ khoá: Hội nhập quốc tế, xếp hạng Đại học, nghiên cứu khoa học,

Webometrics

1 Vị trí KH&CN Việt Nam trong khu

vực và trên thế giới

Trong năm 2015 đánh dấu sự tiến

bộ của thành tựu Khoa học và Công

nghệ (KH&CN) Việt Nam trong khu

vực và trên thế giới Theo Tổ chức Sở

hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) kết hợp với

Đại học (ĐH) Cornell (Hoa Kỳ) và Học

viện Kinh doanh INSEAD (Pháp) vừa

đưa ra chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

GII (Global Innovation Index) năm

2015, Việt Nam tăng 19 bậc, xếp thứ 52

trên 141 quốc gia có nền kinh tế được

xếp hạng (trước đó, năm 2014 là 71/141

và năm 2013 là 76/141) Tại khu vực

Đông Nam Á, Việt Nam vươn lên vị trí

thứ 3 về chỉ số đổi mới sáng tạo, vượt

qua Thái Lan (đứng thứ 55/141), chỉ

thua Singapore (7/141) và Malaysia

(32/141) Trong sự tiến bộ đó có đóng

góp của nguồn nhân lực và nghiên cứu, sản phẩm chất xám và công nghệ và đặc biệt là thành tựu công bố khoa học quốc

tế Trong 5 năm qua (2011-2015), công

bố khoa học Việt Nam tăng xấp xỉ 2,2 lần giai đoạn trước đó (2006-2010), cụ thể tổng công bố khoa học năm 2015

hơn 11738 bài (Bảng 1) Với thành tích

này, trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam vươn lên đứng thứ 59 trên thế giới

về công bố quốc tế (trước đó, 2006-2010

là đứng thứ 66, 2001-2005 là vị trí 73)

Ở Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 4

về công bố khoa học trong năm 2015, đứng sau Singapore (32), Malaysia (38)

và Thái Lan (43) [1] Những dấu hiệu trên cho thấy Nhà nước và Chính Phủ Việt Nam có sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động KH&CN rõ rệt, các trường ĐH/Viện ở Việt Nam có sự nhìn nhận và

Trang 4

đánh giá được tầm quan trọng trong

công bố khoa học Bằng chứng là đầu tư

vào KH&CN của Việt Nam hằng năm

gần 2% (tương đương 0,5% GDP)so với

tổng chi ngân sách quốc gia, con số này bằng đầu tư chung của các nước trên thế giới, chỉ khác là GDP của mỗi quốc gia

có giá trị khác nhau

Bảng 1: Số lượng công bố khoa học các quốc gia ASEAN từ 2011-2015

Nguồn: Web of Science

Trước bức tranh chuyển màu có vẻ

khả quan về lĩnh vực KH&CN của Việt

Nam, nhưng nhìn chungthành quả đóng

góp mang lại và thực tế vẫn là màu xám

so với các nước trong Khu vực và thế

giới "Thời đại ngày nay cạnh tranh về

khoa học công nghệ Nước nào có trình

độ khoa học công nghệ cao hơn thì có

sức cạnh tranh cao hơn và sẽ chiến

thắng trong cuộc đua về kinh tế, xã hội,

an ninh, quốc phòng" (trích câu nói của

TT Nguyễn Tấn Dũng) Như vậy, trình

độ KH&CN của Việt Nam trong khu

vực không thua kém nhiều so với các

nước, tri thức người Việt Nam đạt được

nhiều thành tựu và vang danh khắp nơi,

thế nhưng kinh tế - xã hội Việt Nam

vẫn tăng trưởng chậm, ứng dụng tiến bộ

KHCN vẫn còn lạc hậu Nhìn sâu vào

bức tranh đó, trong lĩnh vực công bố

khoa học, hơn 40% số lượng công bố

của Việt Nam lại thuộc về các lĩnh vực

cơ bản Toán, Lí, Hóa Trong khi đó,

những công bố khác phần lớn tác giả

người Việt Nam đứngchungcác tác giả

người nước ngoài của các Viện, trường

Đại học trên thế giới Các công bố trong

lĩnh vực khoa học ứng dụng và kỹ thuật, vốn dĩ liên quan đến nhiều thành tựu phát triển của đất nước, không những chiếm tỷ trọng rất ít mà hệ số ảnh hưởng (IF, impact factor) và tỷ lệ tham chiếu (citations) chỉ đạt mức trung bình.Hiện nay Chính phủ Việt Nam chỉ

có mỗi Quỹ NAFOSTED là hoạt động hiệu quả, nhưng chỉ tập trung các ngành khoa học cơ bản, thiếu các nguồn quĩ tài trợ cho nghiên cứu ứng dụng và khoa học kỹ thuật

Năm 2015, Việt Nam có 122 trường Đại học trong số hơn 412 cơ sở Đại học trong toàn quốc được hệ thống xếp hạng Webometrics xếp hạng Trong

số đó, ĐH QGHN đứng thứ 1 Việt Nam vàđứng 1133 thế giới, tiếp theo là ĐH Bách khoa HN đứng thứ 2 và 2181 thế giới Với đánh giá và xếp hạng như vậy, Việt Nam chưa có trường nào lọt vào TOP 1000 trong số hơn 25000 trường

ĐH tham gia xếp hạng trên thế giới Tại Châu Á, Việt Nam chí có 1 trường (ĐHQGHN) lọt vào TOP 200 trong số

6000 trường hiện có[6], [7], [8] Xếp hạng các trường ĐH tại Việt Nam vẫn

Trang 5

còn là vấn đề xa lạ, các trường Top của

Việt Nam trên sân chơi và xếp hạng của

thế giới còn khoảng cách rất lớn.Thế

nhưng, trong số các trường ĐH Việt

Nam, có sự phân hóa rõ rệt Ngoài các

trường ĐH truyền thống (ĐHQGHN,

ĐHQGTP HCM, ĐHBKHN, Đại học

Y…) và một số trường ĐH mới thành

lập (ĐH Hoa Sen, Duy Tân, Quảng

Bình, Tôn Đức Thắng…) có cách tiếp

cận quản trị đại học tốt nên có thứ hạng

được đánh giá trong hệ thống

Webometrics, số còn lại chiếm rất lớn

vẫn còn đang mơ hồ và bỡ ngỡ trước sân

chơi hội nhập Giáo dục, KHCN trong

khu vực và trên thế giới, trong đó có

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung

Trong khuôn khổ của bài viết này,

tác giả muốn cung cấp một bức tranh

toàn cảnh về hội nhập Giáo dục và

KHCN, mà chủ yếu là công bố khoa học

quốc tế, qua đó cho thấy vị trí của

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung so

với các trường ĐH cả nước nói riêng và

trên thế giới nói chung Từ đó tìm hiểu

và tiếp cận mô hình các hệ thống đánh

giá và xếp hạng ĐH có uy tín trên thế

giới để có những giải pháp và định

hướng trong chiến lược phát triển chung

của Nhà trường trong hội nhập GD và

KHCN trong thời đại của cộng đồng

ASEAN và hội nhấp thế giới

2 Mô hình đánh giá Trường Đại học

và tiêu chí xếp hạng của Webometrics

Các trường ĐH ở Việt Nam bước

vào sân chơi khu vực Trong 5 năm

gần đây, thứ hạng các trường ĐH Việt

Nam có cải thiện trên hệ thống xếp

hạng ĐH quốc tế, nhưng con số còn rất

ít và thua xa các nước trong khu vực.Bộ

GD&ĐT Việt Nam đang nổ lực, cải

thiện để hướng các trường ĐH trong nước hội nhập Giáo dục và KH-CN

Mới đây, năm 2015 Bộ KH&CN có đánh giá và công bố 20 tổ chức có năng lực công bố KH tốt nhất ở Việt Nam

Theo sự đánh giá này, số cơ sở nghiên cứu và đào tạo có trên 100 bài báo xuất bản trong năm trước đó chiếm tỉ lệ rất ít.Trong những năm tới, một số trường

ĐH được Chính phủ quyết định thí điểm tự chủ dần, tiế tới tất cả các trường ĐH công lập trên cả nước sẽ phải tự chủ hoàn toàn vào năm 2018.Đây là một xu thế tất yếu, đã quy định và các trường ĐH sẽ phải thực hiện Do vậy, các trường đang và sẽ chuẩn bị hành trang để bước vào cuộc đua, cạnh tranh để nâng cao chất lượng đào tạo, dịch vụ và công bố khoa học

Hơn nữa, kể từ ngày 25/10/2015, Nghị định 73 về Quy định tiêu chuẩn phân tầng, xếp hạng ĐH đã có hiệu lực Theo

đó, hệ thống ĐH được chia thành 3 tầng: định hướng nghiên cứu, ứng dụng, thực hành Các cơ sở giáo dục ĐH trong mỗi tầng được sắp xếp vào 3 hạng của khung xếp hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: Hạng 1, hạng 2, hạng 3

Hạng 1 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm cao nhất; hạng 3 bao gồm 30% các cơ sở giáo dục ĐH có điểm thấp nhất và hạng 2 bao gồm 40%

các cơ sở giáo dục ĐH không thuộc hạng 1 và 3 Phân tầng cơ sở giáo dục

ĐH được thực hiện theo chu kỳ 10 năm

và xếp hạng cơ sở giáo dục được thực hiện theo chu kỳ 2 năm Đây là bước đi khởi đầu cho các trường ĐH Việt Nam xác định được thứ hạng và phân tầng của mình trên con đường hội nhập GD

và KH-CN trong khu vực và thế giới

Trang 6

Môhình và tiêu chí đánh giá của

Webometrics Hiện nay, có 4 hệ thống

xếp hạng thế giới được các trường ĐH

Việt Nam biết và quan tâm nhiều: (1)

bảng xếp hạng đại học thế giới QS

(Quacquarelli Symonds), Anh quốc; (2)

xếp hạng năng lực công bố quốc tế của

Scimago Lab; (3) xếp hạng cả về mức

độ số hóa các thư tịch khoa học trên

website năng lực công bố quốc tế của

Webometrics Lab; (4) và xếp hạng về

chất lượng học thuật URAP (University

Ranking by Acdemic Performance) của

Thổ Nhĩ Kỳ Trong đó, xếp hạng theo độ

đo Webometrics đã thể hiện được nhiều

ưu điểm, vượt trội hơn các phương pháp

khác và ngày càng được thừa nhận rộng

rãi[2], [3], [4]

Về cơ bản, cơ sở của xếp hạng

Webometrics dựa trên 4 chỉ số đo: S – V

– R – Sc Trong đó, S (Size, kích cỡ của

website) là chỉ số thể hiện số lượng trang

Web xuất hiện dưới cùng 1 tên miền trên

4 công cụ tìm kiếm: Google, Yahoo,

Live search và Exalead; V (Visibility,

khả năng nhận diện) là chỉ số thể hiện

các đường dẫn từ bên ngoài liên kết đến

các kết nối bên trong trên một tên miền

được xác định dựa trên 3 công cụ tìm

kiếm: Yahoo, Live search và Exalead; R

(Rich file, độ phong phú các tập tin) là

chỉ số thể hiện số lượng các loại file

dạng doc, pdf, ppt, ps…được xác định

trên công cụ tìm kiếm Google; Sc

(Scholar, công bố nghiên cứu trên mạng)

là chỉ số các bài báo khoa học, cùng các

trích dẫn trên một tên miền trường qua

công cụ Google Scholar Tỷ trong đánh

giá của các chỉ số đo cũng khác nhau,

nếu như trước đây phân bổ đánh giá của

Webometrics là: S (25%), V (50%), R

(12,5%) và Sc (12,5%) thì kể từ 31/7/2015 tỷ trong đánh giá đã thay đổi dựa trên yêu cầu thực tế, với S (10%), V (50%), R (10%) và Sc (30%) Theo thay đổi này, mức độ đánh giá độ số hóa của Website Nhà trường và công bố khoa học được đánh giá rất cao Độ số hóa là

1 tiêu chí quan trong chiếm 50% điểm đánh giá của hệ thống Webometrics, xu hướng đánh giá công bố khoa học là yếu

tố thứ 2 trong hệ thống này, điểm số thay đổi sau khi đổi mới để thích nghi với xu hướng phát triển hiện tại từ 12,5% lến đến 30%

3 Thách thức và giải pháp áp dụng tại Trường ĐHXD Miền Trung

3.1 Thực trạng hiện tại

Kể từ khi thành lập Trường Đại học Xây dựng Miền Trung theo Quyết định số 1276/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Xây dựng số 3, tiền thân là Trường Trung học Xây dựng số 6, được thành lập vào ngày 14/02/1976, Nhà trường đã xác định trách nhiệm to lớn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và cán bộ quản lý Nhà trường hướng mục tiêu xây dựng hình ảnh Nhà trường và nâng số lượng công bố khoa học, bước đầu hội nhập giáo dục và khoa học công nghệ trong khu vực và thế giới Trong trách nhiệm đó, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển toàn diện của Nhà trường Thế nhưng, trong 5 năm từ 2011-2015, thành tựu nghiên cứu khoa học vẫn dừng lại ở các nghiên cứu khoa học cấp trường dưới dạng biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham

Trang 7

khảo…(Hình 1), các đề tài, dự án khoa

học cấp Bộ, cấp tỉnh vẫn còn ít và hiệu

quả ứng dụng vào giảng dạy, chuyển giao

công nghệ chưa cao (Hình 2), các công bố

khoa học trong nước và quốc tế đứng tên

Trường ĐH Xây dựng Miền Trung còn ít,

chủ yếu là giảng viên của Trường đạt

được trong quá trình đào tạo sau đại học

và liên kết cộng tác với các nhà khoa học

Trường/Viện khác trong nước và quốc tế

(Hình 3)

Hình 1: Số lượng Giáo trình, tài liệu

giảng day và bài thông báo KH&CN

giai đoạn 2011-2015 Nguồn: Phòng

KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

Hình 2: Đề tài NCKH cấp trường, cấp

bộ giai đoạn 2011-2015

Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

Hình 3: Xuất bản và công bố quốc tế của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, tính

đến thời điểm hiện tại Nguồn: Phòng KH&HTQT (ĐHXD Miền Trung)

3.2 Thách thức& giải pháp

Để thực hiện được nhiệm vụ trọng

tâm trong chiến lược phát triểncủa Nhà

trường, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động khoa học và công nghệ Nhà trường, nâng cao

Trang 8

số lượng công bố khoa học và cải thiện

hình ảnh trong nước và quốc tế, cụ thể

như sau:

Một là, Đội ngũ cán bộ giảng dạy,

nghiên cứu viên không ngừng phát triển

chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ, mở

rộng hợp tác trong lĩnh vực chuyên môn

và phải xác định nhiệm vụ trọng tâm là

hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn liền

và không tách rời giữa nghiên cứu khoa

học và giảng dạy, lấy kết quả NCKH

phục vụ cho công tác đào tạo và phục vụ

thực tiễn Điều này, từ trước đến nay,

Nhà trường chưa thực hiện được;

Hai là, Hội đồng khoa học Nhà

trường phải xây dựng chiến lược, định

hướng nghiên cứu khoa học cho từng

năm và phương hướng hoạt động cho

từng giai đoạn Các đề tài NCKH của

cán bộ, giảng viên phải đảm bảo về số

lượng và chất lượng, tách rời nhiệm vụ

KH&CN biên soạn tài liệu giảng dạy,

giáo trình… với nhiệm vụ NCKH thực

nghiệm, ứng dụng sản xuất Sự phát

triển NCKH thực nghiệm và sản xuất sẽ

đảm bảo kết quả nghiên cứu, phục vụ

viết báo khoa học xuất bản các tạp chí

chuyên ngành trong nước và quốc tế,

ứng dụng chuyển giao công nghệ ra

thực tế;

Ba là, Để nâng cao trình độ chuyên

môn và hướng đến các đề tài NCKH

thực tế có chất lượng như hai giải pháp

trên đây, cán bộ, giảng viên phải chủ

động mở rộng phát triển nhóm nghiên

cứu hoặc trong trường hoặc liên kết

ngoài trường nhằm nâng cao năng lực

NCKH, từ đó có cơ sở tiếp cận, thực

hiện các dự án đề tài cấp tỉnh, cấp bộ và

Nhà nước Bởi hiện tại, các cá nhân

nghiên cứu tại trường mang tính độc lập,

chưa kết nối các nhà khoa học với nhau,

do vậy, những dự án khoa học với nguồn kinh phí lớn từ Tỉnh và Trung ương chưa thể tiếp cận được Đa số các dự án khoa học với nguồn kính phí lớn mới đảm bảo cho quá trình công bố khoa học quốc tế

Bên cạnh đó, dựa vào hoạt động của dự

án, cán bộ, giảng viên có cơ hội tham gia các diễn đàn khoa học, hội thảo quốc tế

về lĩnh vực chuyên môn phụ trách, tiếp cận các nhà khoa học thế giới và nhận thức được xu hướng phát triển lĩnh vực nghiên cứu, hạn chế các nghiên cứu ngõ cụt, khó ứng dụng và khó xuất bản;

Bốn là, Đảng ủy, Ban Giám hiệu

Nhà trường quan tâm nhiều vào các hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sản phẩm công bố khoa học

Nhà trường tạo cầu nối cho Giảng viên tiếp cận với các Giáo sư, các nhà khoa học quốc tế từ đó mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học, dự án liên kết quốc tế Nhà trường có thể lập Quỹ ủng

hộ cho các dự án liên kết quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công bố khoa học Nhà trường nâng cao số hóa các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ… đưa lên website Nhà trường, đây

là giải pháp giúp mang hình ảnh Nhà trường ra thế giới, giúp các hệ thống đánh giá, phân hạng các trường Đại học của các tổ chức uy tín có cơ sở đánh giá

và đưa vào tiêu chí xếp loại;

Năm là, Giảng viên phải tự nâng

cao ngoại ngữ.Ngoại ngữ là một công cụ quan trọng trong thời kỳ thế giới đang xích lại gần nhau và hội nhập toàn cầu.Ngoại ngữ giúp giảng viên tiếp xúc được nền khoa học mới đang cập nhật trên phương tiện đại chúng hàng giờ, hàng ngày.Ngoại ngữ giúp kết quả

Trang 9

nghiên cứu của giảng viên và kết quả

nghiên cứu của nhà khoa học thế giới

được liên thông, kết nối nhau Đơn giản

hơn, ngoại ngữ giúp mang hình ảnh Nhà

trường ra thế giới qua công bố khoa học

và các hội thảo quốc tế Do vậy, hội

nhập giáo dục, khoa học và công nghệ

trong khu vực và thế giới không thể

không phủ nhận vài trò của ngoại ngữ

4 Kết luận

Trên cơ sở cung cấp những thông

tin thành tựu khoa học và công nghệ,

giáo dục của các trường Đại học của

Việt Nam so với khu vực và thế giới,

một hệ thống đánh giá trường Đại học

theo tiêu chí của Webometrics đã được

tìm nghiên cứu, tìm hiểu và giới thiệu

Bài báo cũng đưa ra nhìn nhận thẳng thắn vị trí của Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, những tồn tại, hạn chế và thách thức hiện nay Từ đó, tác giả đã nêu ra các giải pháp mà tập thể Nhà trường và cán bộ, giảng viên cần phải thực hiện để cùng nhau xây dựng năng lực nghiên cứu cá nhân, đưa sự phát triển của Nhà trường theo đúng hướng với các trường Đại học trong nước và quốc tế Tuy các giải pháp đưa ra còn mang tính tổng quát, thực hiện và triển khai sẽ còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng cán bộ, giảng viên, cơ sơ vật chất, điều kiện địa lý…hiện tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Reuters.www.webofknowledge.com

[2] Đinh Ái Linh, Trần Trí Trinh 2015 Bảng xếp hạng QS châu Á và khả năng hiện

diện của các trường Đại học Việt Nam Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu

Giáo dục, Tập 31, Số 3 (2015), 50-57

[3] Nguyễn Văn Tuấn Chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn

[4] Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đánh giá và xếp hạng các trường Đại học và Cao đẳng

Việt Nam Ban liên lạc cá trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam 2010

[5] Đỗ Đình Thái, Hồ Văn Bình và Lê Chi Lan 2013 Một số công tác chuẩn bị cho

một trường Đại học tham gia xếp hạng trên Webometrics Tạp chí Khoa học- ĐHSP

TPHCM, số 45, 194-200

[6] Acedemic Ranking of World Universities, http://www.arwu.org

[7] Times Higher Education Supplement, http://www.timeshighereducation.co.uk

[8] Ranking Web of Universities, http://www.webometrics.info

Trang 10

ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM

“HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO

TẠO PHÁT TRIỄN NGUỒN NHÂN LỰC HỘI NHẬP

KS Lê Đức Gia

Phó Trưởng khoa Đào tạo nghề, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Ngày 31 tháng 12 năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ chính

thức thành lập đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho các

nước thành viên, trong đó có Việt Nam Một trong những yếu tố quan trọng, quyết

định sự thành bại của quá trình hội nhập là chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực quí giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định

sự thành bại của họ trong tương lai Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm

cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình Một trong các biện

pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực

Từ khóa: Học đi đôi với hành, nâng cao chất đào tạo, nguồn nhân lực, hội nhập

1 Một số khái niệm về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hiện nay không

còn xa lạ với nền kinh tế nước ta Tuy

nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề

này hầu như chưa thống nhất Tuỳ theo

mục tiêu cụ thể mà người ta có những

nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực

Có thể nêu lên một số quan niệm như

sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả

năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân

trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì

Theo ý kiến này, nói đến nguồn nhân lực

là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần

kinh và nhìn nhận các khả năng này ở

trạng thái tĩnh Có ý kiến cho rằng,

nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân

những con người cụ thể tham gia vào

quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố

về thể chất và tinh thần được huy động

vào quá trình lao động Khác với quan

niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở

trạng thái động Lại có quan niệm, khi

đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh

đến khía cạnh trình độ chuyên môn và

kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề cập một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu: Nguồn nhân lực

là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có

tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người Là quá trình học tập để chuẩn

bị con người cho tương lai, để họ có thể

Trang 11

chuyển tới công việc mới trong thời gian

thích hợp

Nguồn nhân lực là quá trình học

tập nhằm mở ra cho cá nhân một công

việc mới dựa trên những định hướng

tương lai của tổ chức Theo quan niệm

này, khi nói đến đào tạo nguồn nhân

lực là nói đến việc trang bị cho người

lao động: kiến thức phổ thông, kiến

thức chuyên nghiệp, kiến thức quản

lý Từ đó cho thấy, Đào tạo: Là hoạt

động làm cho con người trở thành

người có năng lực theo những tiêu

chuẩn nhất định Là quá trình học tập

để làm cho người lao động có thể thực

hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả

hơn trong công tác của họ

Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết

cho sự thành công của tổ chức và sự

phát triển chức năng của con người

Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ

được thực hiện bên trong một tổ chức,

mà còn bao gồm một loạt những hoạt

động khác được thực hiện từ bên ngoài,

như: học việc, học nghề và hành nghề

Kết quả của quá trình đào tạo nguồn

nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát

triển nguồn nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực Có

người cho rằng: Phát triển nguồn nhân

lực là các hoạt động nhằm chuẩn bị cho

nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức

khi nó thay đổi và phát triển Phát triển

nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến

thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ

cho người lao động, để họ có thể đảm

nhiệm được một công việc nhất định

Phát triển nguồn nhân lực là truyền đạt

các kiến thức, thay đổi quan điểm, nâng

cao kỹ năng thực hành cho người lao

động trong tương lai

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ

ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao Là quá trình học tập, nhằm mở

ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai cho tổ chức Trong khi đó, quan niệm của Tổ chức giáo dục - khoa học và văn hoá của LHQ (UNESCO): Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn

bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước Tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO):

Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội Như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn Tổ chức Lương thực và nông nghiệp LHQ (FAO): Sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung Quan niệm này dựa trên

cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người Từ những vấn đề trên, phát triển nguồn nhân lực là

Trang 12

quá trình gia tăng, biến đổi đáng kể về

chất lượng của nguồn nhân lực và sự

biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng

cao năng lực và động cơ của người lao

động Như vậy, thực chất của việc phát

triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng

cao chất lượng của nguồn nhân lực đó

Nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực là quá trình tạo lập và phát triển năng

lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ

kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân

mỗi con người; nó là kết quả tổng hợp

của cả 03 bộ phận cấu thành gồm: Giáo

dục, Đào tạo và Phát triển Ở đây, giáo

dục được hiểu là các hoạt động học tập,

để chuẩn bị cho con người bước vào một

nghề nghiệp, hoặc chuyển sang nghề

mới, thích hợp hơn trong tương lai Cần

chú ý rằng, năng lực của người lao động

ở đây được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng

và hành vi thái độ của người lao động

đó, và ứng với mỗi mục tiêu công việc,

cần một loại năng lực nhất định Năng

lực người lao động, Năng lực là sự tổng

hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng,

hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính

hiệu quả trong công việc của mỗi người

Kiến thức là những điều hiểu biết có

được hoặc do từng trải, hoặc nhờ học

tập Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng

hợp (những hiểu biết chung về thế giới),

kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh

vực đặc trưng như kế toán, tài chính, kỹ

thuật ) và kiến thức đặc thù (những

kiến thức đặc trưng mà người lao động

trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo)

Kỹ năng của người lao động là sự

thành thạo, tinh thông về các thao tác,

động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn

thành một công việc cụ thể nào đó

Những kỹ năng sẽ giúp cho người công

nhân đó hoàn thành tốt công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ Một người

có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả 3 yếu tố:

Thái độ, kỹ năng và kiến thức Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của người lao động với công việc cũng như với tổ chức Một người có thể có kiến thức sâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vô trách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc

Động cơ thúc đẩy người lao động Con người sống và làm việc có những nhu cầu khác nhau Đó là nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu xã hội

và cũng có thể là nhu cầu hoạt động, làm việc Đây là đòi hỏi khách quan của mọi con người để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của họ trong những điều kiện nhất định Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động Đó chính là sức mạnh bên trong thúc đẩy con người hoạt động, chỉ đạo hành vi và làm gia tăng lòng quyết tâm bền bỉ giành lấy mục tiêu Như vậy, động cơ làm việc là sự sẵn sàng dồn tâm trí, sức lực theo đuổi mục tiêu của tổ chức để đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu cá nhân Những động cơ làm việc cá nhân phục vụ mục tiêu chung, có lợi cho

tổ chức, cho xã hội, đem lại những điều tốt đẹp cho mọi người được xem là

Trang 13

những động cơ trong sáng, tốt đẹp

Trong các cơ quan vốn đã có một đội

ngũ lao động thì việc thiết kế công việc,

bố trí đúng người, đúng việc là đòi hỏi

quan trọng hàng đầu đối với các nhà

quản lý

2 Nguồn lao động dồi dào

Dân số việt nam hiện nay đạt

ngưỡng dưới 93 triệu người (tính đến

tháng 12 năm 2015 Theo chương trình

mục tiêu dân số được Thủ tướng phê

duyệt, mức sinh giai đoạn 2012-2015)

Với lượng dân số này, hiện nay Việt

Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới về

dân số và thứ 3 trong khu vực Đông

Nam Á Về lực lượng lao động, cả nước

có nguồn cung Lao động 54,43 triệu

người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng

lao động, chiếm 76,11% tổng dân số

(theo bản tin cập nhật thị trường Lao

động Việt Nam số 6 Quý 2 ngày 30

tháng 10 năm 2015)

Tuy nhiên, số người trong độ tuổi

lao động đông không có nghĩa là thị

trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ

nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp

Bởi số lao động có tay nghề, có chất

lượng của nước ta đang còn rất hạn chế

Trong tổng số 54,43 triệu lao động chỉ

có gần 10,77 triệu người đã được đào

tạo, chiếm 20,77% tổng lực lượng lao

động (gồm 11,73% có tình độ giáo dục

nghề nghiệp, 8,33% có trình độ từ đại

học trở lên) Trong số 10,77 triệu lực

lượng lao động qua đào tạo có bằng

cấp/chứng chỉ từ sơ cấp và tương đương

trở lên, trình độ đại học trở lên có 4,47

triệu người (chiếm 41,51%); trình độ cao

đẳng có 1,46 triệu người (14,99%); trình

độ trung cấp có 2,92 triệu người (27,11%); trình độ sơ cấp có 1,77 triệu người (16,39%) Cơ cấu trình độ đại học

trở lên/cao đẳng/trung cấp/ sơ cấp là 1:

0,35: 0,65: 0,4 cảnh báo sự mất cân đối

về cơ cấu lao động qua đào tạo giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, nguy cơ này sẽ gia tăng khi Việt Nam hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN tháng 12 năm 2015

Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động Nguyên nhân là do lao động Việt Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất lượng Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và còn khiến cho người lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân

3 Doanh nghiệp vẫn khát nhân lực

Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển nhân lực TP HCM cho biết:

hiện nay, cung lao động tại Việt Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này

là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng, miền Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn Về mặt cầu, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, nơi kỹ năng, tay nghề

và trình độ của người lao động thường không cần ở mức độ cao Lực lượng lao

Trang 14

động đang làm việc trong khu vực công

nghiệp chỉ chiếm 20% và đối với khu

vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 26%

Theo Bộ LĐ-TB&XH thì hiện tại,

chất lượng việc làm vẫn rất thấp Cụ thể:

việc làm giản đơn, không cần kỹ năng

chiếm gần 40% tổng việc làm của cả

nước Ở khu vực thành thị tỷ lệ này là

18,1% nhưng khu vực nông thôn chiếm

gần 50% tổng việc làm Trong khi đó, so

với những năm trước đây, cùng với sự

phát triển của nền kinh tế nói chung và

các doanh nghiệp nói riêng, nhu cầu về

nguồn nhân lực có chất lượng cao của các

ngành dịch vụ và công nghiệp tăng rất

nhanh Đến các KCX-KCN, khi tuyển

công nhân cho các ngành may mặc, điện

tử cũng yêu tiên người có kinh nghiệm,

tay nghề, lao động đã qua đào tạo

Bên cạnh các Doanh nghiệp Việt

Nam, hiện nay các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài ở nước ta cũng đang

rất khát nguồn lao động có tay nghề,

chất lượng cao Trong khi đó, tỷ lệ lao

động có chất lượng của chúng ta lại quá

ít, không đủ để đáp ứng cho nhu cầu của

các doanh nghiệp Chính vì vậy, việc

quan tâm đào tạo nguồn nhân lực là vấn

đề vô cùng quan trọng hiện nay

Như vậy, có thể thấy rằng chất

lượng nguồn lao động của nước ta hiện

nay đang còn rất thấp, trong khi nhu cầu

sử dụng lao động có tay nghề, chất lượng cao của các DN lại liên tục tăng

Điều này dẫn đến nguồn lao động của chúng ta dồi dào, nhu cầu việc làm lớn, nhưng các doanh nghiệp vẫn rơi vào tình trạng thiếu lao động Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp ngày càng gia tăng của nước ta hiện nay

Để khác phục tình trạng này, Nhà nước cùng các cơ quan ban ngành đã đưa ra các giải pháp như: Tích cực tổ chức các trường đào tạo ngắn hạn cho người lao động nhằm trau dồi, nâng cao kiến thức thực tế và kỹ năng nghề nghiệp Đồng thời cần quan tâm tới việc chăm sóc cuộc sống của người lao động, tuyên truyền, khuyến khích, động viên người lao động có ý thức trong việc học tập, nâng cao kiến thức, tay nghề cho bản thân Đây là vấn đề vừa giúp người lao động tìm được nhiều cơ hội việc làm cho chính mình,

và dần khắc phục được tình trạng yếu kém trong chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay

4 Càng học cao, càng thất nghiệp: Thông tin Viện Khoa học Lao động

và Xã hội công bố Bản tin cập nhật thị

Trang 15

trường lao động quý 2/2015 ngày

30/10/2015 lại tiếp tục gây sửng sốt với

nhiều người bởi tỷ lệ thất nghiệp chung

đã giảm nhưng số lượng người có trình

độ đại học, sau đại học thất nghiệp tăng

cao là hơn 199.400 người (tăng 22.000

người so với quý 1/2015

Theo số liệu thống kê lao động đã

qua đào tạo cho thấy ngoại trừ nhóm trình

độ cao đẳng có tỷ lệ thất nghiệp giảm so

với quý 1/2015 (từ 7,13% xuống còn

6,56%), thì tỷ lệ thất nghiệp của các nhóm

trình độ chuyên môn kỹ thuật khác đều

tăng Cụ thể: Nhóm có trình độ đại học trở

lên tăng từ 3,92% lên 4,6%; trình độ trung

cấp tăng từ 3,66% lên 4,4% và trình độ sơ

cấp tăng từ 2,05% lên 2,71%

Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện

trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã

hội cho rằng, tỷ lệ lao động trình độ đại

học thất nghiệp tăng là do quy mô tuyển

sinh đại học quá cao so với nhu cầu lao

động Đây cũng là nguyên nhân chính

khiến số lao động có chuyên môn kỹ

thuật, đặc biệt là trình độ đại học gia tăng

* 3 Ba nguyên nhân dẫn đến thất

nghiệp:

Theo GS Đào Trọng Thi – Chủ

nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh

niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc

hội cho rằng có 3 lý do:

Thứ nhất, quy hoạch đào tạo nguồn

nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường;

Thứ hai, Chất lượng nguồn nhân

lực đào tạo ra chưa đáp được nhu cầu,

thực tế nhiều doanh nghiệp cần tuyển người nhưng không tuyển được

Thứ ba, quy hoạch nhân lực đào

tạo không phải chỉ là số lượng mà còn phải đảm bảo hợp lý về cơ cấu vùng miền, ngành nghề, trình độ, chất lượng

Có thể thấy, lao động tốt nghiệp đại học thất nghiệp nhiều nhưng tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, trong khi nhiều sâu vùng xa thiếu người có trình độ lại không tuyển được ―Nếu ta đào tạo theo đúng quy hoạch thì chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng đào tạo thừa nguồn nhân lực, dẫn tới tình trạng sinh viên tót nghiệp cao đẳng, đại học thất nghiệp nhiều đến vậy‖

Theo GS Đào Trọng Thi, vai trò quan trọng nhất của Nhà nước trong định hướng phát triển giáo dục nói chung, các trường đại học, cao đẳng nói riêng là quy hoạch nguồn nhân lực cho đúng, quản lý các trường thực hiện đúng theo quy hoạch Trong đó, Nhà nước phải quy hoạch nguồn nhân lực dựa trên cơ sở dự báo đúng thị trường lao động Dự báo này phải có tính dài hạn, ít nhất 5-10 năm Quản lý hoạt động của các trường theo đúng quy hoạch cũng quan trọng không kém, nghĩa là phải quản lý làm sao để các trường không thể cứ thấy ngành nghề nào đang ―hot‖ là lao vào mở ngành,

mở lớp dẫn đến đào tạo thừa, trong khi những ngành nghề khác lại thiếu

Trang 16

Sinh viên thực hành Môn trắc địa Sinh viên Cầu đường TH xây hố ga thoát nước

* Bộ GD-ĐT ngừng đào nhiều

ngành học:

Tuy nhiên, theo thống kê của Bộ

GD-ĐT, Năm học 2014-2015 quy mô

đào tạo đã giữ tương đối ổn định, cả

nước có 219 trường đại học, 217 trường

cao đẳng (không tính các trường thuộc

khối an ninh, quốc phòng, quốc tế),

trong đó có 60 trường đại học và 28

trường cao đẳng ngoài công lập;

Quy mô sinh viên (SV) đại học

1.824.328, SV cao đẳng là 539.614,

trong đó, SV chính quy đại học là

1.348.937, SV chính quy cao đẳng là

519.722; SV vừa làm vừa học đại học là

339.301, SV vừa làm vừa học cao đẳng

là 19.892; quy mô đào tạo trình độ thạc

sĩ là 92.349 học viên cao học

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn

Ga cho biết, hiện nay Bộ đang dự thảo

thông tư thay thế Thông tư 57 về xác

định chỉ tiêu theo hướng giữ ổn định quy

mô đào tạo đại học, tập trung nâng cao

chất lượng và cam kết việc làm cho sinh

viên sau khi tốt nghiệp

Cụ thể, kiên quyết không cấp phép

mở các ngành không đủ điều kiện theo

quy định, đồng thời tạm dừng mở một số

ngành đã có nguy cơ dư thừa và thực

hiện cảnh báo xã hội để giảm quy mô

đào tạo các ngành này như Nhóm ngành

kinh tế, kế toán, quản trị kinh doanh, tài

chính ngân hàng trình độ đại học ở khu vực Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

5 Làm thế nào để nâng cao chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực

Trong những năm qua lãnh đạo Nhà trường đã ý thức được rằng để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phải dựa vào ba trụ cột chính, đó là: Lực lượng giảng viên; cơ sở vật chất và người học

Cơ sở vật chất: Tập trung cải tạo,

mở rộng cơ sỏ A; nhằm tăng thêm diện tích phòng thí nghiệm; xưởng thực hành;

phòng học chuyên ngành, các phòng, khoa được kết nối internet, mạng wifi được phủ sóng toàn trường… xây dựng mới cơ B với đầy đủ chức năng từ nhà Hiệu bộ, lớp học lý thuyết, nhà thi đấu

đa năng… tiếp tục mua sắm máy móc thiết bị thí nghiệm, tài liệu, sách, giáo trình phục học tập cho học sinh – sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu khoa học của giảng viên

Lực lượng giảng viên: Tiếp tục tuyển giảng viên có trình độ cao như thạc

sĩ, tiến sĩ có kinh nghiệm Cử nhân; kỹ sư tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tại các trường tốp trên Để nâng cao trình độ giảng viên hiện có, nhiều năm qua lãnh đạo nhà trường đã cử nhiều giảng viên đi học cao học và nghiên cứu sinh trong nước cũng như nước ngoài Từ thực tế này việc đào tạo giảng viên được chọn là

Trang 17

việc khởi đầu bởi chính là ―máy cái‖ tạo

ra các sản phẩm, người thầy không

những truyền thụ kiến thức, mà phải biết

tổ chức, hướng dẫn học sinh, sinh viên tự

học, tự khai thác, tự vận dụng tích lũy

kiến thức, nghiên cứu khoa học…

Chất lượng đầu vào (người học):

Năm học 2015-2016 nhà trường tổ chức

xét tuyển điểm sàn đại học, cao đẳng,

xét điểm học bạ ba năm học trung học

phổ thông theo quy định của Bộ

GD&ĐT Ngoài ra nhà trường tổ chức

thi liên thông cho các bậc đào tạo cao

đẳng và đại học Đặc biệt năm học

2015-2016 lãnh đạo nhà trường thực hiện việc

tiếp nhận đào tạo sinh viên Quốc tế bậc

cao đẳng; đại học với Cộng hòa Dân chủ

Nhân dân Lào, cử ba sinh viên của

trường sang Cộng hòa Cu ba học tập các

ngành Xây dựng và Kiến trúc

Nhà trường đã công khai công bố

chuẩn đầu ra cho bậc học đại học, cao

đẳng và đã hoàn thành tự đánh giá

trong Trong những năm qua Lãnh đạo

nhà trường đã tạo điều kiện cho Đoàn

thanh niên tham gia các hoạt động do

Trung ương Đoàn tổ chức như Phong

trào thanh niên tình nguyện đã được

Đảng ủy nhà trường tạo điều kiện hơn

10 năm trở lại đây Mục tiêu của thanh

niên tình nguyện là phát huy vai trò

xung kích, tình nguyện của thanh niên,

tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa

đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã

hội, xây dựng nông thôn mới, văn minh

đô thị Tạo sự chuyển biến về chất

lượng của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí

Minh, mở rộng đoàn kết, tạo môi

trường để thanh niên rèn luyện phẩm

chất, thấy rỏ vinh dự và trách nhiệm của

mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Đây cũng là hoạt động để thanh niên trải nghiệm, tạo kỹ năng thực hành xã hội, kỹ năng sống cho học sinh - sinh viên…

Đặc biệt Nhà trường đào tạo các ngành học như Công nghệ kỹ thuật xây dựng, xây dựng cầu đường, kiến trúc, kinh tế xây dựng, kỹ thuật hạ tầng đô thị, ngành cấp thoát nước và Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ Mỗi bậc đào tạo đều có chương trình khung, đề cương môn học, trong thời gian học lý thuyết

ở trường người học được thực hành các môn học như: Thực hành môn trắc địa, thí nghiệm kéo; nén vật liệu; các dạng bài tập lớn; vẽ AutoCAD; tính tiên lượng dự toán công trình; hạch toán kế toán máy; thực hành nghề nghiệp;

ngoài các phần học lý thuyết và thực hành trong chương tình chính khóa, sinh viên còn học môn giáo dục thể chất nhằm rèn luyện sức khỏe, tạo tinh thần sảng khoái sau các tiết học lý thuyết căng thẳng Các ngành học sau khi kết thúc học phần tại trường; nhà trường tổ chức cho các lớp đi thực tập tốt nghiệp cuối khóa Nhằm gắn chương trình học tập gần với thực tế sản xuất thực hiện phương châm giáo dục của đảng ― học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn…‖ Chính những con người này sau khi ra trường

sẽ trở thành cán bộ quản lý, thiết kế, thi công công trình, giám sát công trình

và họ sẽ đảm nhận công việc được ngay, tránh phải đào tạo lại như các ngành nghề khác Tránh lãng phí về thời gian, tiền bạc và lòng tin của xã hội, cũng như phụ huynh người học

Trang 18

Tóm lại: Nâng cao chất lượng

đào tạo nguồn nhân lực là trách nhiệm

của tất cả cán bộ, giảng viên, nhân viên

trong toàn trường, chất lượng đào tạo

nguồn nhân lực quyết định sự tồn tại và

phát triển của một trường đại học

Làm như thế nào để tạo cho người học

có năng lực như: Kiến thức, kỹ năng,

thái độ và trình độ ngoại ngữ Sau thời

gian học tập tại trường người học nhận

Bằng tốt nghiệp tự tin bước ra ngoài xã

hội tham gia vào nền kinh tế thị trường

đầy năng động và sẳn sàng dịch chuyển lao động sang các nước thành viên khi Việt Nam tham gia vào Cộng đồng

Kinh tế ASEAN (AEC) Mỗi thầy, cô

giáo phải thực hiện cuộc vận động của công đoàn Giáo dục Việt Nam phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức phong trào thi đua yêu nước dạy

tốt - học tốt và cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” Vì Sự phát

triển của nhà trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số

29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

[2] Cổng thông tin điện tử của Viện nghiên cứu phát triển nhân lực TP Hồ Chí Minh

[3] Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

[4] Thông tư quy định chuẩn Quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học; Số tư liệu:

24/2015/TT/BGDĐT ban hành ngày 23/9/2015

Trang 19

VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG – YẾU TỐ TIÊN QUYẾT

ĐỂ XÂY DỰNG THÀNH CÔNG HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

ThS Lê Đức Tâm

Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Văn hóa chất lượng là yếu tố không thể thiếu trong xây dựng và

phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong trường đại học trong bối

cảnh toàn cầu hóa giáo dục Bài viết này nêu lên những khái niệm tổng quan

về chất lượng và văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học, đồng thời đưa ra

quy trình triển khai xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng cho nhà trường

trong thời gian tới

Từ khoá: Văn hoá, chất lượng

1 Đặt vấn đề

Cùng với xu thế phát triển chung của

xã hội, số lượng trường đại học, cao đẳng

cũng phát triển nhanh chóng về số lượng

Tuy phát triển về mặt số lượng nhưng chất

lượng đào tạo hiện nay không đáp ứng

nhu cầu xã hội Cụ thể chương trình đào

tạo lỗi thời; phương pháp dạy và học thụ

động; hoạt động nghiên cứu khoa học

chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức;

vẫn có khoảng cách giữa lý thuyết và thực

hành khiến cho nhiều sinh viên ra trường

không đủ khả năng để tìm được một công

việc phù hợp hay các doanh nghiệp khi

tuyển nhân viên phải tiến hành đào tạo

lại Những tồn tại và bất cập trên đặt ra

một vấn đề lớn về chất lượng đào tạo tại

các trường đại học

Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh

gây gắt giữa các trường đại học đã gây áp

lực buộc các trường Đại học phải thay đổi,

cải tiến liên tục chất lượng đào tạo Như

vậy, làm thế nào để tìm ra những giải

pháp giúp các trường có thể đứng vững

trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập

như hiện nay, đó là bài toán mà các nhà

quản lý giáo dục phải đi tìm lời giải đáp

Một trong những yếu tố quyết định để xây dựng thành công hệ thống đảm bảo chất lượng trong các trường đại học là văn hóa chất lượng Xây dựng văn hóa chất lượng trong trường đại học nhằm mục đích để mọi người hiểu được tầm quan trọng của chất lượng trong giáo dục đại học, cụ thể là

tổ chức và triển khai công tác đảm bảo chất lượng, để từ đó mỗi người ý thức

về trách nhiệm của mình trong công việc hàng ngày để có thể phát huy khả năng tốt nhất, phù hợp với mục tiêu phát triển của nhà trường

2 Quan niệm về chất lượng và văn hóa chất lượng

2.1 Quan niệm về chất lượng trong giáo dục đại học

Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và không thể chỉ có một định nghĩa duy nhất bởi việc cảm nhận nó phụ thuộc vào mỗi chủ thể và mỗi tình huống cụ thể Harvey và Green [1] đã tổng kết những quan niệm khác nhau về chất lượng thông qua các định nghĩa cô đọng vừa mang nghĩa rộng, vừa có thể

áp dụng trong lĩnh vực giáo dục như sau:

Trang 20

- Chất lượng là sự xuất sắc (quality

as excellence): chất lượng được xem là

việc đạt đến các chuẩn mực cao nhất có

thể có

- Chất lượng là sự hoàn hảo

(quality as perfection): chất lượng được

xem là trạng thái không có bất kỳ khiếm

khuyết nào

- Chất lượng là sự phù hợp với mục

tiêu (quality as fitness for purpose): chất

lượng được khẳng định một khi tất cả

các yêu cầu (hoặc nhu cầu) đặt ra được

đáp ứng

- Chất lượng là sự đáng giá với

đồng tiền (quality as value for

money): chất lượng được khẳng định một khi người thụ hưởng cho rằng sản phẩm tương xứng với giá trị đồng tiền

bỏ ra

- Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation): chất lượng được thừa nhận một khi hiện trạng được nâng lên về chất

Mỗi quan niệm về chất lượng như trên đã dẫn đến cách tiếp cận tương ứng khi đánh giá chất lượng

Trong giáo dục đại học, các cách tiếp cận đánh giá này có thể được đối chiếu với các quan niệm về chất lượng như trên bảng 1

Bảng 1 Các cách tiếp cận đánh giá chất lượng trong giáo dục đại học

- Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”: Một trường đại

học tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy trình độ cao, có các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết

bị hiện đại… được xem là trường có chất lượng cao

- Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”:

Trường đại học nào có uy tín khoa học cao (thông qua các công trình/ sản phẩm nghiên cứu, các công bố/ giải thưởng trong nước, quốc tế…) thì được xem là trường có chất lượng cao

Chất lượng là sự hoàn

hảo

Chất lượng được đánh giá thông qua tính hoàn hảo (zero defects) của sản phẩm lẫn tính tin cậy (reliability) của quá trình tạo ra sản phẩm: Chất lượng được khẳng định bằng việc nhà trường cung cấp cho xã hội những sản phẩm có chất lượng như đã cam kết và tính ổn định của quá trình tạo

Trang 21

lượng của trường đại học, chất lượng chương trình đào tạo…

Chất lượng là sự đáng

giá với đồng tiền

Chất lượng được đánh giá bằng sự hài lòng: Chất lượng

được đo lường thông qua mức độ hài lòng của các ―khách hàng‖ đối với các sản phẩm của nhà trường

Chất lượng là sự

chuyển đổi về chất

Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”: ―Giá trị

gia tăng‖ được xác định bằng giá trị của ―đầu ra‖ trừ đi giá trị của ―đầu vào‖, là giá trị mà trường đại học mang lại cho người học

Tóm lại, Chất lượng giáo dục là sự

đáp ứng các chuẩn quy định (đảm bảo

chất lượng bên ngoài), đáp ứng mục tiêu

đề ra (đảm bảo chất lượng bên trong) và

phù hợp với yêu cầu phát triển của xã

hội (mức độ hài lòng của nhà tuyển

dụng và xã hội)

2.2 Quan niệm về văn hóa và văn hóa

chất lượng

Văn hóa nói chung và văn hóa chất

lượng nói riêng cũng là những thuật ngữ

mang tính trừu tượng và chúng ta có thể

tìm thấy rất nhiều định nghĩa khác nhau

về hai thuật ngữ này Những định nghĩa

sau được giới thiệu mang tính chọn lọc

trên cơ sở phù hợp với mục tiêu của bài

viết:

―Văn hóa là tổng thể các khuôn

mẫu về hành vi, nghệ thuật, niềm tin, quy

tắc, cũng như tất cả các sản phẩm tư duy

và lao động khác của con người‖ [2]

―Văn hóa là tập hợp những niềm

tin, giá trị, thái độ, định chế, quy tắc về

hành vi giúp mô tả các thành viên của

một cộng đồng hoặc tổ chức‖ [3]

―Văn hóa chất lượng là hệ thống

giá trị của một tổ chức thể hiện thông

qua môi trường khuyến khích sự hình

thành và không ngừng phát triển của

chất lượng‖ [4]

―Văn hóa chất lượng là hệ thống các giá trị, chuẩn mực và thói quen làm việc có chất lượng đã định hình của mọi thành viên trong một tổ chức nhằm thực hiện công việc được giao một cách tốt nhất‖ [5]

―Văn hóa chất lượng của một cơ sở đào tạo được hiểu là: mọi thành viên (từ người học đến cán bộ quản lí), mọi tổ chức (từ các phòng, ban đến các tổ chức đoàn thể) đều biết công việc của mình thế nào là có chất lượng và đều làm theo yêu cầu chất lượng đó‖ [6]

Những định nghĩa trên đây cho thấy văn hóa chất lượng của một tổ chức

có các đặc trưng quan trọng sau:

- Có hệ thống các giá trị được chính tổ chức xây dựng nên

- Có môi trường phù hợp để phát triển

- Được nuôi dưỡng bởi ý thức tự giác của các tập thể, cá nhân trong tổ chức

Kế thừa các quan niệm trên, tác giả

đã xây dựng quan điểm về văn hóa chất lượng và làm thế nào để có văn hóa chất lượng như sau:

- Văn hóa chất lượng là: hệ thống các giá trị, chuẩn mực, niềm tin và cách thức làm việc có chất lượng và hiệu quả

Trang 22

được định hình trong từng thành viên và

ở mỗi tổ chức, đơn vị của nhà trường

 Để có văn hóa chất lượng: Nhà

trường cần xác lập môi trường khuyến

khích sự hình thành và không ngừng

phát triển của chất lượng; mỗi thành

viên, đơn vị, tổ chức biết công việc của

mình được làm như thế nào là có chất

lượng và tự giác làm theo yêu cầu chất lượng đó

3 Các thành phần của văn hóa chất lƣợng

Xây dựng văn hóa chất lượng thực chất là thiết lập một hệ thống môi trường cho các hoạt động có chất lượng và không ngừng cải tiến chất lượng của tổ chức

Môi trường của văn hóa chất lượng gồm 5 thành phần sau:

Hình 1: Mô hình văn hóa chất lượng trong cơ sở giáo dục đại học [7]

3.1 Môi trường học thuật

Môi trường học thuật là môi trường

trong đó diễn ra hoạt động học thuật,

bao gồm: các hoạt động nghiên cứu, trao

đổi học thuật Để có được những giá trị

này, cơ sở giáo dục đại học phải có

quyền tự chủ cao, tự quyết định các hoạt

động học thuật

Nội dung chính của môi trường

học thuật gồm:

 Xây dựng chiến lược, kế hoạch

và đầu tư thích đáng cho các hoạt động

học thuật phù hợp với sứ mạng, nguồn

lực và định hướng phát triển của cơ sở

giáo dục đại học;

 Thực hiện quyền tự chủ và trách

nhiệm xã hội với hoạt động học thuật;

 Khuyến khích hoạt động hợp tác,

chia sẻ học thuật giữa các thành viên

trong và ngoài cơ sở giáo dục đại học;

 Thực hiện liên tục bồi dưỡng, phát triển học thuật cho các thành viên của cơ sở giáo dục đại học;

 Thực hiện hoạt động truyền bá học thuật theo những quan điểm giáo dục tiên tiến và phù hợp với thời đại một cách chất lượng và hiệu quả cao

3.2 Môi trường xã hội

Môi trường xã hội là môi trường trong đó xác lập các mối quan hệ xã hội, bao gồm: tổ chức và những luật lệ, thể chế, quy định, cam kết, định hướng cho các hoạt động và hành vi của cơ sở giáo dục đại học và các thành viên của nó theo quy định, tạo nên sức mạnh tập thể

và bổ sung nguồn lực cho sự phát triển

để không ngừng nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục đại học đó

Nội dung chính của môi trường xã hội gồm:

Trang 23

- Xây dựng tầm nhìn, sứ mạng và

mục tiêu phù hợp với nguồn lực và vị

thế của cơ sở giáo dục đại học;

- Thiết lập cơ cấu tổ chức và phân

định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, trách

nhiệm và quyền hạn của các đơn vị chức

năng trong cơ sở giáo dục đại học;

- Xác lập cơ chế điều hành, phối

hợp hoạt động và đánh giá hiệu quả của

các đơn vị chức năng trong cơ sở giáo

dục đại học

3.3 Môi trường nhân văn

Môi trường nhân văn là môi trường

trong đó quyền và nghĩa vụ của các

thành viên và các bên liên quan của cơ

sở giáo dục đại học được xác lập tường

minh và tuân thủ thực hiện đem lại

nguồn lực để không ngừng nâng cao

chất lượng hoạt động của cơ sở giáo dục

đại học đó

Nội dung chính của môi trường

nhân văn gồm:

- Thực hiện các quyền dân chủ

toàn diện đối với đội ngũ cán bộ, giảng

viên, nhân viên và người học;

- Thực hiện đầy đủ các quyền lợi

cơ bản theo chế độ chính sách của nhà

nước cho đội ngũ cán bộ, giảng viên,

nhân viên và người học;

- Xây dựng cơ chế, chính sách và

biện pháp để cán bộ, giảng viên, nhân

viên và người học thực hiện đầy đủ,

chất lượng và hiệu quả trách nhiệm của

mình đối với cơ sở giáo dục đại học và

xã hội

3.4 Môi trường văn hóa

Môi trường văn hóa là môi trường

trong đó xác lập hệ thống các chuẩn mực,

giá trị văn hóa, niềm tin, quy tắc ứng xử

được xem là tốt đẹp và được các thành

viên trong cơ sở giáo dục đại học đồng

thuận và thực hiện tạo nên sức mạnh cho các hoạt động có chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục đại học đó

Nội dung chính của môi trường văn hóa gồm:

- Xây dựng các quy tắc ứng xử tôn trọng, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên vì sự nghiệp và danh tiếng của cơ sở giáo dục đại học;

- Thực hiện đạo đức, lối sống lành mạnh, lưu giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của cơ sở giáo dục đại học kết hợp với bản sắc văn hóa dân tộc;

- Thực hiện các hoạt động giao lưu, hợp tác, hội nhập với cộng đồng trong

và ngoài nước

3.5 Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên là môi trường cảnh quan, cơ sở vật chất góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học đó

Nội dung chính của môi trường tự nhiên gồm:

- Kiến trúc, cảnh quan cơ sở giáo dục đại học xanh, sạch, đẹp, hài hòa, hợp lý;

- Cơ sở vật chất và tài chính đảm bảo: giảng đường, lớp học, trang thiết

bị dạy, học, thực hành, thực tập và nghiên cứu khoa học đầy đủ về số lượng và chất lượng;

-Thư viện đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động dạy, học và nghiên cứu khoa học;

- Ký túc xá và các điều kiện sinh hoạt tốt đảm bảo cho học viên nội trú;

- Đảm bảo an ninh trật tự, đời sống văn hóa, nghệ thuật và điều kiện hoạt động thể dục thể thao cho các thành viên của cơ sở giáo dục đại học

Trang 24

4 Các bước triển khai xây dựng và

phát triển văn hóa chất lượng

Vai trò của văn hóa chất lượng là rất

quan trọng đối với sự phát triển bền vững

của các cơ sở giáo dục đại học Vậy làm

thế nào để xây dựng và phát triển văn hóa

chất lượng trong các trường đại học? Đây làm vấn đề mà nhiều nhà quản lý giáo dục quan tâm Trong bài viết này tác giả sẽ đề cập đến 6 bước cơ bản để xây dựng văn hóa chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học như sau:

Hình 2: Quy trình triển khai xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng

4.1 Xác lập chuẩn chất lượng

Căn cứ vào sứ mạng, mục tiêu và

trên cơ sở tham khảo yêu cầu của các

bên liên quan, nhà trường xây dựng các

chuẩn chất lượng (chuẩn đầu ra, chuẩn

giảng viên), bộ công cụ đánh giá (đánh

giá giảng viên, đánh giá môn học, đánh

giá dịch vụ), nội quy, quy chế

Lưu ý: Những chuẩn mực chất

lượng, công cụ đánh giá, nội quy phải

được sự đồng thuận của những bên liên

quan và được cụ thể hóa thành nhiệm vụ

của mỗi thành viên, tổ chức

4.2 Phổ biến, tuyên truyền

Những chủ trương, chính sách về

đảm bảo chất lượng của nhà trường

(sau khi đã thống nhất) cần được phổ

biến và tuyên truyền một cách sâu

rộng, cụ thể đến mọi thành viên và tổ chức của nhà trường, bằng nhiều hình thức (website, bảng tin, thư điện tử, họp báo…)

Lưu ý: Nhiều trường chỉ dừng mức

độ phổ biến, tuyên truyền ở cấp độ cán

bộ quản lý (Cấp trưởng phó phòng, khoa, trung tâm trở lên) Điều này sẽ làm cho việc triển khai các chủ trương, chính sách về đảm bảo chất lượng đã đề

ra ở bước 1 không được triển khai một cách hiệu quả

4.3 Triển khai thực hiện

Triển khai thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng đến toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên, và người học; cần triển khai đồng bộ giữa các đơn vị, tổ chức, đoàn thể, cá nhân

Trang 25

Lưu ý: Để triển khai thực hiện văn

hóa chất lượng trong nhà trường có hiệu

quả, cán bộ cốt cán phải làm gương và

công việc phải được duy trì thường

xuyên, liên tục; tránh làm một cách hình

thức

4.4 Kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá cần tuân thủ

nguyên tắc là giúp cá nhân, tổ chức nhận

ra ưu điểm, tồn tại, từ đó có biện pháp

kịp thời và phù hợp để phát huy ưu

điểm, khắc phục tồn tại, tiếp tục hành

động để đạt kết quả cao hơn

Lưu ý: Việc kiểm tra, đánh giá chỉ

có hiệu quả khi giúp người thực hiện

biết những tồn tại của bản thân; cần

động viên, khuyến khích mọi người có ý

thức trách nhiệm để làm tốt hơn chứ

không phải là xử lý kỷ luật, trừng phạt

để tránh gây ảnh hưởng tiêu cực và dễ

dẫn đến các phản ứng đối phó của của

cán bộ, giảng viên

4.5 Công khai thông tin

Một trong những yêu cầu của đảm

bảo chất lượng là công khai thông tin

Nhà trường cần quy định rõ phạm vi,

mức độ và cá nhân/tổ chức chịu trách

nhiệm về những thông tin công khai

Lưu ý: Thông tin công khai cần

được cập nhật định kỳ; cần cân nhắc đối

tượng được công khai thông tin

4.6 Điều chỉnh, bổ sung

Các tiêu chuẩn chất lượng, bộ công

cụ đánh giá, quy định chỉ có giá trị trong

khoảng thời gian nhất định Trong quá

trình triển khai thực hiện cần định kỳ rà

soát để có cơ sở điều chỉnh, bổ sung để

hoàn thiện

Lưu ý: Việc điều chỉnh, bổ sung

cần phải có ý kiến của các cá nhân, tổ

chức liên quan và được thống nhất trong toàn trường

5 Trách nhiệm của các thành viên để xây dựng văn hóa chất lƣợng

Để xây dựng và áp dụng thành công hệ thống văn hóa chất lượng trong

tổ chức, đòi hỏi cần phải có sự chung tay góp sức của tất cả các thành viên trong

tổ chức đó Tuy nhiên, trách nhiệm của từng người sẽ khác nhau tùy thuộc vào

vị trị công tác đảm nhận Cụ thể trách nhiệm của từng vị trí như sau:

5.1 Lãnh đạo

Lãnh đạo đóng vai trò trọng yếu trong việc thúc đẩy và đầu tư cho lộ trình triển khai văn hóa chất lượng

Đồng thời, cũng là đầu mối để cung cấp các thông tin và khai thác các nguồn tài trợ, ủng hộ của các đối tác bên ngoài để xây dựng văn hóa chất lượng cho tổ chức mình

Trách nhiệm cụ thể của lãnh đạo là:

- Đưa ra kế hoạch chiến lược xây dựng văn hóa chất lượng;

- Thiết lập mạng lưới đảm bảo chất lượng trong;

- Phân cấp trách nhiệm cho các đơn vị, bộ phận;

- Đầu tư và điều phối các nguồn lực phù hợp để triển khai lộ trình văn hóa chất lượng;

- Thiết lập hệ thống thông tin để trao đổi với cán bộ quản lý các cấp và giám sát lộ trình triển khai văn hóa chất lượng; sử dụng các kết quả giám sát và đánh giá lộ trình văn hóa chất lượng vào quá trình ra các quyết định liên quan;

5.2 Cán bộ quản lý

Trang 26

Nhiệm vụ của cán bộ quản lý các

cấp là triển khai các hoạt động theo đúng

lộ trình, đảm bảo các bộ máy và nguồn

nhân lực của mình cùng tham gia thực

hiện các hoạt động theo chuẩn mực để

đạt chất lượng cam kết Cụ thể:

- Tuyên truyền trong mạng lưới,

tới tất cả cán bộ nhân viên, người học để

hiểu và nắm chắc được chiến lược của

đơn vị và chiến lược của trường, thấm

nhuần về vai trò của từng bộ phận và

từng cá nhân trong lộ trình xây dựng và

phát triển văn hóa chất lượng;

- Điều phối và giám sát để mọi

hoạt động hướng tới đạt được chất lượng

cam kết, đảm bảo tất cả các nguồn nhân

lực trong đơn vị mình quản lý phát huy

hết năng lực và được cung cấp đủ các điều

kiện để có thể phát huy năng lực tối đa;

- Huy động mọi nguồn lực vào

quá trình tham gia ra các quyết định

liên quan

5.3 Cán bộ, giảng viên và nhân viên

Cán bộ, giảng viên và nhân viên là

những người ―đóng vai diễn chính‖

trong lộ trình xây dựng và phát triển văn

hóa chất lượng Từng thành viên được

phân cấp trách nhiệm rõ ràng:

- Xây dựng được nhận thức về

trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm

chung trong toàn trường;

- Được đào tạo, bồi dưỡng để

phát triển năng lực chuyên môn và động

cơ làm việc đúng đắn;

- Chế độ thưởng phạt về tài chính

và tinh thần được thực hiện minh bạch

5.4 Người học

Người học có trách nhiệm và quyền

được tham gia vào lộ trình xây dựng và

phát triển văn hóa chất lượng của trường

Hình thức và mức độ tham gia của người học phụ thuộc vào đặc thù của từng trường/ khoa/ chương trình đào tạo Ở mức độ tối thiểu là đóng góp ý kiến và trả lời phiếu khảo sát đánh giá việc giảng dạy

và đào tạo trong trường, tham gia vào quá trình ra các quyết định liên quan

5.5 Các đối tác bên ngoài

Các đối tác bên ngoài bao gồm:

các nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, cộng đồng xã hội và đặc biệt là cựu sinh viên Sự tham gia của các nguồn lực này tạo thêm sức mạnh và cũng để xã hội biết đến nền tảng văn hóa chất lượng và thương hiệu của trường

Khi văn hóa chất lượng được đặt đúng vị trí, mọi hoạt động của các thành viên, tổ chức đều hướng đến chất lượng thì chắc chắn uy tín và thương hiệu của cơ sở giáo dục đại học sẽ được khẳng định

Phát triển văn hóa chất lượng là một quá trình dài lâu Do đó, cần phải duy trì việc triển khai thực hiện để đạt các chuẩn mực chất lượng trong suốt quá trình đào tạo

Trang 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Harvey, L & Green, D., Defining quality 9, 1993 Assessment and Evaluation in

Higher Education 18 (1)

[2] Tharp, B M 2009 Defining ―Culture‖ and ―Organizational culture‖: From

anthropology to the office, Haworth

[3].Woods, J A., The six values of a quality culture, 1999

(http://my.execpc.com/~jwoods/6values.htm)

[4] Ahmed, S M., Quality Culture, College of Engineering & Computing, Florida

International University, Miami, Florida, 2004

[5] Phạm Trọng Quát, Đẩy mạnh xây dựng văn hóa chất lượng, 2011

(http://www.vnu.edu.vn/btdhqghn/?C2149/N108

34/day-manh-xay-dung-van-hoa-chatluong.htm)

[6] Lê Đức Ngọc & cộng sự, Xây dựng Văn hoá chất lượng tạo nội lực cho cơ sở đào

tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại chất lượng, Tạp chí Thông tin Giáo dục, 36/4, 4,

2008

[7] Lê Đức Ngọc, Trịnh Thị Vũ Lê, Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2012) ―Bàn về mô hình

văn hóa chất lượng cơ sở giáo dục đại học‖ Tạp chí Quản lý giáo dục số (34) 3-2012

Trang 28

SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG

KS Nguyễn Văn Tân

Trưởng phòng Quản trị thiết bị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Vị trí, vai trò của máy móc thiết bị trong công tác đào tạo các chuyên

ngành tại Trường Đại học Xây dựng Miền Trung hiện nay được Đảng Ủy , Ban

Giám hiệu Nhà trường quan tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả

năng thực hành và sử dụng các trang thiết bị máy móc hiện đại cho sinh viên

Nhà trường trong quá trình học tập

Từ khóa: Thiết bị máy móc, đào tạo chuyên ngành, Trường Đại học Xây dựng

Miền Trung

1 Đặt vấn đề

Máy móc thiết bị phục vụ cho dạy

và học là một trong các yếu tố quan

trọng của quá trình ―Học đi đôi với

hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn‖,

nó không thể thiếu đối với hoạt động

dạy học, góp phần quan trọng trong việc

truyền tải kiến thức từ người dạy đến

người học một cách nhanh nhất và hiệu

quả nhất, giúp người học nắm chắc nội

dung của bài học được gắn với thực tiễn

thông qua các nội dung được thực hành,

thí nghiệm, góp phần nâng cao nhận

thức của người học và lòng say mê

ngành nghề mà mình đang theo học

Hình 1 Giới thiệu máy móc

trước khi thực hành

Nói về phương pháp dạy học thì có

rất nhiều ý kiến khác nhau Mỗi ý kiến

đều đưa ra những kinh nghiệm quý báu, song việc ―Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn‖ là một trong những phương châm cơ bản trong dạy và học ở các trường đại học hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội

Học là hoạt động tiếp thu những kiến thức thông qua sự truyền thụ của giảng viên trên giảng đường; ngoài ra người học được thực hành, thí nghiệm,

nó không những giúp cho sinh viên nắm chắc bài học mà còn thấy được giữa lý thuyết và thực tế được gắn liền với nhau

Thực hành, thí nghiệm là quá trình vận dụng những kiến thức đã tiếp thu được trong quá trình học ở trên lớp vào thực tế Do đó việc đưa phương tiện máy móc thiết bị vào thực hành, thí nghiệm là việc làm cần thiết

2 Thiết bị máy móc thực sự cần thiết trong đào tạo các chuyên ngành

Để đào tạo các chuyên ngành thuộc nhóm ngành kỹ thuật, hỗ trợ công tác giảng dạy và học tập, đảm bảo người học có kỹ năng thực hành, Trường đã đầu tư các phòng thí nghiệm có trang thiết bị đáp ứng nhu cầu đào tạo như thiết bị thí nghiệm Vật liệu xây dựng và Kết cấu công trình, thiết bị thí nghiệm

Trang 29

Cơ học đất, Địa kỹ thuật, thí nghiệm

Cầu đường, thí nghiệm Nước, thí

nghiệm Hóa Hiện nay, máy móc thiết bị

để phục vụ cho việc giảng dạy, thực

hành, thí nghiệm của nhà trường rất đa

dạng; với những phương tiện hiện đại,

đảm bảo chất lượng phù hợp với nhiều

ngành nghề khác nhau

Nhà trường hiện có các phòng thí

nghiệm: Cơ học đất- Nền móng, Vật liệu

xây dựng, Cầu đường, Nước Các phòng

thí nghiệm được bố trí ở vị trí thuận lợi,

đủ diện tích, ánh sáng, điều kiện vệ sinh

môi trường các điều kiện khác để có thế

đảm bảo đáp ứng tốt cho việc học tập

của sinh viên

Sau khi kết thúc phần lý thuyết

sinh viên đều được thực hành thí nghiệm

trên những máy móc thiết bị phù hợp,

không chỉ đảm bảo về nguyên lý chung

mà còn đáp ứng được tính ứng dụng

thực tế của thiết bị

Các loại máy móc thiết bị chủ yếu

như: máy nén bê tông, máy kéo cốt thép,

máy đầm, máy nén MARSHALL, các

thiết bị xác định các chỉ tiêu cơ lý của

nhựa đường và bê tông nhựa đường,

thiết bị thí nghiệm phương trình

Bernoulli, thiết bị khảo sát tổn thất dọc

đường, các máy móc thiết bị xác định

các chỉ tiêu hóa lý khác của nước, máy

cắt đất, máy nén tam liên xác định chỉ

tiêu cơ lý của đất và nhiều thiết bị khác

đã được sử dụng thường xuyên trong các

học phần thí nghiệm Vật liệu xây dựng,

thí nghiệm Cơ học đất, thí nghiệm Địa

kỹ thuật, thí nghiệm Nước

Các máy móc thiết bị khác như

thiết bị thí nghiệm CBR hiện trường,

máy phân tích ăn mòn cốt thép, máy thử

độ biến dạng lớn cho cọc, thiết bị đo ứng

suất, biến dạng, dao động, độ võng kết cấu công trình, bộ quan trắc vị trí xe thử tải trên kết cấu cầu, thiết bị đo độ nhám khi mặt đường ẩm ướt, thiết bị xác định

độ oằn của trụ, máy khoan dò địa chất dùng thủy lực, thiết bị đo chiều dày thép bằng sóng siêu âm, máy siêu âm mối hàn, máy phân tích ăn mòn cốt thép, máy siêu âm cọc khoan nhồi, máy thử độ biến dạng cho cọc, thiết bị thí nghiệm đo ứng suất, biến dạng, dao động, độ võng kết cấu công trình và nhiều máy móc thiết bị khác được sử dụng cho các học phần Thí nghiệm và kiểm định công trình cho sinh viên các ngành kỹ thuật, đặc biệt là 2 ngành Kỹ thuật công trình xây dựng và Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông

Hình 2 Chuẩn bị mẫu để xác

định modul đàn hồi bê tông

Không những phục vụ đáp ứng nhu cầu thí nghiệm của các học phần tại phòng thí nghiệm của nhà trường, nhiều máy móc thiết bị còn được sử dụng để cán bộ, giảng viên nhà trường tham gia kiểm tra, đánh giá chất lượng các kết cấu, công trình xây dựng dân dụng công nghiệp, công trình giao thông trong thực

tế Trong thời gian gần đây phòng thí nghiệm Chuyên ngành LaS XD162 của nhà trường đã tham gia kiểm định chất

Trang 30

lượng một số công trình như: Dự án hầm

Đèo Cả, dự án cải tạo quốc Lộ 1A đoạn

đi qua tỉnh Phú Yên Ngoài ra còn có

nhiều đơn vị đã đến liên hệ với Trung

tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ và thí nghiệm

để kiểm định chất lượng công trình

Bên cạnh đó máy móc thiết bị thí

nghiệm còn được sử dụng kịp thời có

hiệu quả trong công tác nghiên cứa khoa

học của cán bộ giảng viên nhà trường

Trong quá trình thực hiện các đề tài

―Nghiên cứu chế tạo bê tông cốt sợi‖,

―Nghiên cứu chế tạo bê tông sử dụng vật

liệu nhiễm mặn‖… các cán bộ, giảng

viên nhà trường đã sử dụng nhiều máy

móc thiết bị thí nghiệm nói trên để kiểm

tra các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu, của kết

cấu nghiên cứu trong đề tài, góp phần

vào sự thành công của các đề tài nghiên

cứu khoa học

Nhờ có phần thí nghiệm thực hành

mà sinh viên hiểu rõ những phần lý

thuyết thầy cô đã truyền đạt trên lớp Do

được tiếp cận với thực tế nên các em

cũng say mê với môn học hơn, thấy

được mối liên hệ giữa lý thuyết và thực

hành cũng như tập giải quyết các tình

huống có thể xảy ra trong quá trình thiết

kế thi công sau khi tốt nghiệp ra trường

Qua trao đổi với giảng viên và sinh

viên đang tham gia thí nghiệm, chúng tôi

được biết mặc dù thực tập thí nghiệm có

vất vả, số lượng sinh viên cho một ca

của thí nghiệm đông nhưng dưới sự

hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên nên

đã tạo hứng thú học tập cho sinh viên

Em Phan Văn Triển – sinh viên lớp

D13X6 cho biết: ―Các môn học chúng

em được thí nghiệm trong học kỳ này có

Cơ học đất, Vật liệu xây dựng Đây là

những môn học cần nhiều thí nghiệm

thực hành vì nó liên quan nhiều đến công tác thiết kế thi công Do chúng em được sử dụng các máy móc thiết bị, tiếp xúc với những công việc mà sau này khi

ra trường sẽ làm nên chúng em sẽ tự tin hơn khi ra ngoài thực tế, để có cơ hội việc làm hơn khi trở thành kỹ sư trong tương lai‖

Em Lê Công Khánh sinhviên lớp D13 CĐ cũng nói ― Mặc dù ngành Kỹ thuật xây dựng công trình Giao thông là ngành còn mới trong công tác đào tạo của nhà trường nhưng hiện nay máy móc, thiết bị dùng cho thí nghiệm chuyên ngành này khá đầy đủ và hiện đại Ngoài các nội dung thí nghiệm như sinh viên ngành Kỹ thuật công trình xây dựng, chúng em còn được thí nghiệm các phần về nhựa đường và bê tông nhựa, nhờ đó dù chưa học các học phần chuyên môn sâu của ngành Giao thông, Cầu đường nhưng chúng em đã thấy hứng thú với ngành học của mình và tin tưởng quá trình học tập của chúng em sẽ đạt kết quả tốt, đáp ứng được yêu cầu thực tế khi trở thành kỹ sư và ra trường làm việc‖

Hình 3 Thí nghiệm kiểm tra dầm

bê tông trên thiết bị máy kéo đa năng

Các giảng viên đang hướng dẫn thí nghiệm tại phòng thí nghiệm còn cho

Trang 31

biết: ―Trong thời lượng bố trí cho sinh

viên thí nghiệm, ngoài những mẫu các

em tự làm để thí nghiệm, chúng tôi còn

kết hợp làm thí nghiệm đối với những

mẫu do các đơn vị mang đến kiểm tra

chất lượng vật liệu và kết cấu công trình

Qua phần kiểm tra thí nghiệm bằng mẫu

ở các công trình, sinh viên rất hứng thú

khi được so sánh giữa lý thuyết với phần

thí nghiệm và mẫu thực tế của công trình

đang thi công Những mẫu không đảm

bảo theo các chỉ tiêu của tiêu chuẩn qui

phạm thì chúng tôi đặt câu hỏi nêu vấn

đề cho các em suy nghĩ đồng thời gợi ý

cách giải quyết cho phù hợp với thực tế

của sản xuất thi công ‖

3 Kết luận

Trong thời gian vừa qua Lãnh đạo

nhà trường rất quan tâm đến việc khai

thác và sử dụng các phương tiện dạy học

vào quá trình dạy học nói chung và máy

móc thiết bị thực hành thí nghiệm nói

riêng; nhà trường đã đầu tư trên 20 tỷ

đồng mua máy móc thiết bị phục vụ cho

giảng dạy, thí nghiệm và nghiên cứu khoa

học Trong cuộc họp đầu năm triển khai

kế hoạch, Lãnh đạo nhà trường luôn đề

cập đến vấn đề sử dụng phương tiện dạy

học của giảng viên trong quá trình giảng

dạy lý thuyết và thực hành thí nghiệm

Đây là cơ sở để các cán bộ giảng dạy của nhà trường tăng cường chất lượng công tác giảng dạy nói chung và chất lượng công tác hướng dẫn thí nghiệm thực hành nói riêng

Hình 4 Sinh viên trong giờ thí

nghiệm kiểm tra chất lượng bê tông trên máy nén 1000kN

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ngày nay, công nghệ kỹ thuật của xã hội ngày càng phát triển thì hơn lúc nào hết chúng ta càng phải đầu tư hơn cho công tác thí nghiệm, thực hành, để phương châm giáo dục ―Học đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tế‖ trở thành thực tế góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và của trường Đại học Xây dựng Miền Trung nói riêng

Trang 32

MỘT SỐ MÂU THUẪN ĐẶT RA VỀ VIỆC VẬN DỤNG PHÉP BIỆN

CHỨNG DUY VẬT CỦA ĐẢNG TA TRONG XÂY DỰNG VÀ

THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

ThS Nguyễn Thành Đạo Khoa Lý Luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời gian qua

của Đảng cho phép khẳng định, việc quán triệt phép biện chứng duy vật vào

việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới là một trong những điều

kiện bảo đảm nâng cao tính hiệu quả lãnh đạo của Đảng và sự phát triển của

đất nước Muốn đạt được điều đó, Đảng ta phải không ngừng nâng cao hiệu

quả vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình lãnh đạo cách mạng

bằng cách Đảng ta không ngừng trau dồi, nâng cao năng lực nhận thức về mâu

thuẫn gắn với thực tiễn của đổi mới

Từ khóa: Nhận thức về mâu thuẫn

1 Mâu thuẫn giữa yêu cầu vận dụng

phép biện chứng duy vật với việc chưa

thực sự quán triệt yêu cầu đó trong

quá trình đổi mới

Xét về nguyên tắc, một khi chúng

ta thừa nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư

tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động

cách mạng thì việc quán triệt những yêu

cầu cơ bản của phép biện chứng duy vật

trong mọi hoạt động xây dựng và chỉ

đạo thực hiện đường lối, nghị quyết của

Đảng phải được coi là công việc thường

xuyên

Chúng ta đã từng có những bài học

lớn về những thành công lẫn những thất

bại trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã

hội theo mô hình cũ Những thành công,

những thất bại đó đều liên quan trực tiếp

đến việc Đảng ta vận dụng phép biện

chứng duy vật trong chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội như thế nào Nếu

khi nào những yêu cầu cơ bản của phép

biện chứng duy vật được quán triệt thì

trong hoạch định cũng như chỉ đạo thực

hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đạt được những thành quả

to lớn, hoạt động sáng tạo của Đảng và nhân dân ta được khẳng định Ngược lại, nếu một chủ trương, nghị quyết nào đó ra đời một cách vội vàng, với giải pháp chung chung xa rời thực tiễn thì khi đó chủ trương, nghị quyết của Đảng không thể thực hiện được, đồng thời tạo ra sự băn khoăn, nghi ngờ của dân đối với năng lực của Đảng và Nhà nước

Đành rằng, những yếu kém cũng như những sơ hở trong hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới có những nguyên nhân khách quan và chủ quan Nhưng, trong số nguyên nhân đó không thể không kể đến là sự vận dụng phép biện chứng duy vật của Đảng ta vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới có lúc, có nơi còn chưa thật khoa học Bởi lẽ, một khi xác định Đảng luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó hạt nhân là phép biện chứng duy vật làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho

Trang 33

hành động cách mạng của mình thì thực

tiễn những hạn chế về thành tựu phát

triển kinh tế - xã hội đều liên quan trực

tiếp đến trách nhiệm lãnh đạo và hoạt

động của Đảng Trong đó có việc chưa

vận dụng một cách khoa học vai trò to

lớn vốn có của phép biện chứng duy vật

với tư cách là cơ sở phương pháp luận

phổ biến cho mọi hoạt động của Đảng,

trong đó có hoạt động xây dựng và chỉ

đạo thực hiện các quyết định chính trị?

Một trong những sai lầm trong lĩnh

vực tư tưởng, lý luận của Đảng ta thời

kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô

hình cũ mà Đại hội lần thứ VI của Đảng

đã chỉ ra là: sự lạc hậu về nhận thức lý

luận và các quy luật đang vận động

trong thời kỳ quá độ; đã mắc bệnh chủ

quan duy ý chí, giản đơn hóa, nóng vội

chạy theo nguyện vọng chủ quan Có thể

nói, những căn bệnh này của Đảng ta

chưa được khắc phục triệt để trong thời

gian đổi mới vừa qua Những căn bệnh

đó thực chất, xét về mặt tư tưởng là sự

xa rời phép biện chứng duy vật, hoặc

chưa thực sự quán triệt phép biện chứng

duy vật trong quá trình đổi mới đất

nước Nếu phép biện chứng duy vật

được Đảng ta chú trọng phát huy sức

mạnh của nó thì chắc chắn rằng chúng ta

sẽ hạn chế những sai lầm chủ quan trong

hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường

lối đổi mới

2 Mâu thuẫn giữa việc đòi hỏi phải

vận dụng sáng tạo phép biện chứng

duy vật với sự thiếu hụt của Đảng ta

trong việc nhận thức đúng đắn sâu sắc

nội dung, thực chất phép biện chứng

duy vật

Xét về nguyên tắc, việc vận dụng

lý luận vào thực tiễn chỉ đạt hiệu quả khi

lý luận đó được nhận thức sâu sắc, thấm sâu vào trong đầu óc của con người

Ngược lại, một khi lý luận chưa được nhận thức sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn thì con người không thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn vào thực tiễn

Trong thực tiễn cải tạo xã hội, con đường gần nhất dẫn người ta đến chỗ vấp ngã là do thiếu sự chỉ dẫn của lý luận, phương pháp luận khoa học Lý luận là "kim chỉ nam" cho hoạt động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lênin khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng Lý luận khoa học làm cho con người trong hoạt động của mình trở nên chủ động, hạn chế tình trạng mò mẫm Vì vậy, Hồ Chí Minh ví "không có

lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" [7, tr 234] Cũng do thiếu lý luận và phương pháp luận khoa học mà trong hoạt động thực tiễn, con người dễ sa ngã vào bệnh chủ quan, bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm và sự tự ti, v.v và v.v

Theo nhận xét của nhiều nhà khoa học thì, nếu không dừng lại ở từng cá nhân, nhìn chung tư duy lý luận của cán

bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay còn những hạn chế đáng kể

Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên trong suốt thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc cho đến trước đổi mới, hoạt động nghiên cứu lý luận của cán bộ, đảng viên còn rất hạn chế Bước vào đổi mới, hoạt động nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh hơn, nhưng nhìn chung hiệu quả thu được còn ở mức khiêm tốn Hoạt động nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có phép biện chứng duy vật cũng trong tình hình chung đó Hơn nữa, khoa học Mác - Lênin nói chung, phép biện

Trang 34

chứng duy vật nói riêng với tính đặc thù

về nội dung và hình thức vốn đã rất khó

thấu hiểu ngay cả đối với những chuyên

gia chuyên ngành thì lại càng khó khăn

đối với những cán bộ, đảng viên trong

những lĩnh vực chuyên biệt khác Đảng

ta xác nhận "Trình độ kiến thức, năng

lực lãnh đạo của Đảng có mặt còn chưa

theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới"

[1, tr 44] Do đó Đảng ta chỉ ra biện

pháp khắc phục là "mỗi cán bộ, đảng

viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, chủ

chốt, phải gương mẫu học tập, rèn luyện,

phấn đấu nâng cao trình độ về mọi

mặt " [2, tr 50]

Nhìn chung, cùng với đổi mới và vì

đổi mới, Đảng ta nói chung và cán bộ,

đảng viên của Đảng nói riêng đã cố gắng

nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin,

trong đó có phép biện chứng duy vật,

nhằm tăng cường sự linh hoạt trong xử

lý những vấn đề mà cuộc sống đặt ra

Tuy nhiên, mặc dù có sự cố gắng đó,

nhưng nhìn chung mức độ nắm bắt khoa

học Mác - Lênin nói chung, phép biện

chứng duy vật nói riêng của Đảng ta còn

chưa đáp ứng được sự nghiệp đổi mới,

đòi hỏi phải cố gắng nhiều hơn nữa

Thực tiễn lãnh đạo đổi mới đất

nước cũng đã làm cho Đảng ta nhận thức

rõ hơn về vai trò của phép biện chứng

duy vật cũng như nhận thấy những thiếu

hụt của mình trong quá trình vận dụng

phép biện chứng duy vật và Đảng có trách

nhiệm sửa chữa những yếu kém của mình

"Chúng ta không sợ sai lầm và khuyết

điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa

chữa sai lầm và khuyết điểm" [3, tr 38]

Một trong những giải pháp nhằm khắc

phục những hạn chế trên đây được Đại

hội lần thứ IX của Đảng chỉ ra: "Từ nay

đến năm 2005, phần lớn cán bộ, lãnh đạo chủ chốt từ cấp huyện trở lên học xong chương trình cao cấp về lý luận chính trị và có trình độ đại học về một chuyên ngành nhất định" [4, tr 142]

Mặc dù nếu chỉ với một giải pháp này thì chưa đủ để Đảng ta nâng cao trình độ

lý luận cũng như khả năng vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật của mình Nhưng, chúng ta mong rằng giải pháp khả thi trên đây của Đảng ta sẽ được triển khai nghiêm túc trên thực tế, góp phần nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả việc vận dụng phép biện chứng duy vật trong sự nghiệp đổi mới ở nước

ta hiện nay nói riêng

3 Mâu thuẫn giữa việc vận dụng phép biện chứng duy vật với những huynh hướng tư tưởng sai lầm trong Đảng

Trên thực tế, như đã đề cập, trong hoạch định và chỉ đạo đường lối, nghị quyết, chính sách đổi mới còn nhiều sai sót mang nặng thói quen trì trệ trong tư duy Đảng ta chủ trương thiết lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Cơ chế mới này với tư cách là cái khẳng định, nó phủ định cơ chế cũ - cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, đồng thời là sự phủ định đối với thói quen tư duy kiểu cũ

- sản phẩm của chính cơ chế cũ Nhưng trên thực tế, không những cơ chế cũ đã được hoàn toàn xóa bỏ mà ngược lại, như

đã đề cập, xu hướng quay trở lại cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp ở một mức

độ nào đó vẫn đang tồn tại ở nước ta hiện nay Chừng nào chưa loại bỏ hoàn toàn cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

ra khỏi đời sống kinh tế - xã hội thì chừng ấy những sản phẩm của nó, trong

đó có thói quen tư duy "kiểu cũ" còn

Trang 35

chưa được khắc phục hoàn toàn Thực

tiễn đã chứng tỏ, chủ nghĩa chủ quan

duy ý chí không những đã dẫn đến nhiều

sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng trong

xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn là trở

ngại cho việc nâng cao năng lực tư duy

biện chứng khoa học, khả năng vận dụng

linh hoạt phép biện chứng duy vật vào

việc phát triển đất nước Những hạn chế,

những khuyết tật của chủ nghĩa xã hội

hiện thực, do điều kiện lịch sử cũng như

sai lầm chủ quan gây nên cũng được

phản ánh vào tư duy lý luận, chi phối

quá trình phát triển đất nước Thực tế

cũng đã chứng tỏ, cơ chế quản lý kinh tế

và quản lý xã hội mang tính chất tập

trung quan liêu là trở lực to lớn đối với

sự phát triển năng lực sáng tạo của con

người, của tư duy lý luận Cơ chế đó

cũng kéo theo thói quen "lười suy nghĩ"

hành động theo lối cảm tính, thụ động,

khi xuất hiện tình huống, những người

làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo khó có

thể nhanh nhạy trong phân tích thấu đáo

vấn đề, và do đó không thể có giải pháp

tích cực làm thay đổi tình hình theo

chiều hướng phù hợp với yêu cầu của

thực tiễn Hơn nữa, như V.I Lênin đã

viết:

Những quan hệ kinh tế lạc hậu hay

chậm phát triển thường xuyên dẫn tới

chỗ là, trong phong trào công nhân, xuất

hiện những phần tử chỉ lĩnh hội được

một số khía cạnh của chủ nghĩa Mác,

một số bộ phận riêng biệt của thế giới

quan mới, hoặc một số khẩu hiệu và yêu

sách riêng biệt, mà lại không thể đoạn

tuyệt dứt khoát với tất cả những truyền

thống của thế giới quan tư sản nói chung

và thế giới quan dân chủ - tư sản nói

riêng [5, tr 77]

Chúng ta cũng biết rằng, chủ nghĩa chủ quan trong tư duy chính trị và bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm trong hoạt động chính trị thực tiễn là cản trở trực tiếp và chủ yếu đối với hoạt động chính trị thực tiễn Đến lượt mình, hoạt động chính trị thực tiễn đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội ở nước ta thời

kỳ trước đổi mới Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, chủ nghĩa chủ quan, bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm vẫn chưa hoàn toàn được khắc phục

Có thể nói, chừng nào chủ nghĩa chủ quan, bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm chưa được khắc phục hoàn toàn thì chừng đó còn cản trở việc vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của đổi mới

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, sự nghiệp đổi mới của chúng ta càng đi vào chiều sâu thì càng làm xuất hiện những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải được lý giải sáng tỏ về mặt lý luận làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của đổi mới Hơn nữa, đặc điểm của thời đại ngày nay là sự tương tác giữa hai quá trình cách mạng

- cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng xã hội, đang tạo nên sự biến đổi rất năng động của đời sống thế giới Đối với nước ta, cuộc cách mạng công nghệ đang mở ra một cơ hội lớn

để chúng ta "đi tắt, đón đầu" Nhưng cũng chính cuộc cách mạng đó đem lại cho chúng ta những mâu thuẫn mới trong việc lựa chọn công nghệ sao cho phù hợp, đồng thời phải tính đến những hậu quả mà có thể cách mạng khoa học công nghệ đem lại

Trang 36

Những đặc điểm trên đây là hiện

thực khách quan của đổi mới Bản thân

hiện thực đó sẽ còn tiếp tục vận động

vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của tư

duy không biện chứng Tính biện chứng

của sự tiến hóa xã hội diễn ra trong

những mâu thuẫn và thông qua các mâu

thuẫn của sự nghiệp đổi mới cũng là một

trong những nguồn gốc nảy sinh những

khuynh hướng sai lầm khác nhau, thậm

chí đi tới "xét lại" trong không ít cán bộ,

đảng viên như Đảng ta đã từng cảnh báo

Do quá quen thuộc trong môi trường tập

trung quan liêu, bao cấp, ưa hưởng thụ

hơn là lao động, cống hiến, lại trì trệ bảo

thủ trong việc rèn luyện trong thực tiễn,

lười biếng trong tư duy lý luận, đứng

trước những khó khăn tạm thời của đất

nước mà sự nghiệp đổi mới đang phải

trải qua, những người này dễ dẫn đến

chỗ sa ngã, xét lại

Theo nhận xét của Ban Tư tưởng -

Văn hóa Trung ương thì: Một bộ phận

cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng

cách mạng, mơ hồ, dao động mục tiêu

xã hội chủ nghĩa Tình trạng nhạt chính

trị, ít quan tâm đến chính trị, nặng kinh

tế, làm ăn, vun vén cá nhân diễn ra ở

không ít cán bộ, đảng viên

Một số cán bộ, đảng viên có những

biểu hiện cơ hội dưới nhiều hình thức

Trong đó có người bác bỏ toàn bộ, hoặc

từng bộ phận, hoặc bác bỏ cái họ gọi là

"vai trò độc tôn chân lý" của chủ nghĩa

Mác - Lênin, đặt ngang hàng chủ nghĩa

Mác - Lênin với các học thuyết, lý luận

chính trị, xã hội khác; quy kết sự lãnh

đạo của Đảng là "chế độ đảng trị", có

người công khai "sám hối", có kẻ "chia

tay ý thức hệ", đòi đa nguyên, tự do, dân

chủ tuyệt đối, phản đối nguyên tắc tập

trung dân chủ, chủ trương tư nhân hóa nền kinh tế Xong thực chất, quan điểm của số này là quan điểm tư sản đang được một số thế lực dùng để chống lại chúng ta

Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII

đã chỉ ra: Một số ít cán bộ, đảng viên, có

cả một số cán bộ hoạt động lâu năm, do bất mãn cá nhân, cơ hội, hoặc do thiếu thông tin, nhận thức không đầy đủ, được nước ngoài tâng bốc, tạo dựng, đã tự do phát tán tài liệu, truyền bá những quan điểm sai trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp Nhà nước Số này không nhiều nhưng rất nguy hại

Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là công cuộc đấu tranh bảo vệ

và xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi Đảng ta phải nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trước hết, phải thấm nhuần thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng khoa học của nó (cả những thành công cũng như những mặt còn hạn chế trong quá trình đổi mới chứng tỏ sự cần thiết phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại), đồng thời khắc phục chủ nghĩa chủ quan, bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm trong việc vận dụng phép biện chứng duy vật vào thực tiễn đổi mới đất nước Chúng ta không thể đổi mới thành công nếu xa rời phép biện chứng duy vật, rơi vào chủ nghĩa chủ quan, bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm và chủ nghĩa xét lại Chủ nghĩa chủ quan và bệnh giáo điều còn dẫn đến sự vận dụng

lý luận theo lối chủ nghĩa chiết trung,

mà đó lại là cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin của chủ nghĩa cơ hội

Trang 37

Trong việc xuyên tạc chủ nghĩa

Mác theo cách cơ hội chủ nghĩa thì việc

dùng chủ nghĩa chiết trung để xuyên tạc

phép biện chứng là dễ đánh lừa quần

chúng hơn cả, nó làm cho quần chúng

tựa hồ như được thỏa mãn; nó làm ra vẻ

xét đến mọi phương diện của quá trình,

mọi xu hướng của sự phát triển, mọi

ảnh hưởng có tính chất mâu thuẫn

nhưng kỳ thực, nó không đưa ra được

một quan niệm nào hoàn chỉnh và cách

mạng về quá trình phát triển của xã hội

[6, tr 27]

Đương nhiên, những vấn đề mà sự

nghiệp đổi mới đang đặt ra không thể giải

quyết được chỉ bằng phép biện chứng duy

vật và bản thân việc Đảng ta vận dụng

phép biện chứng duy vật trong quá trình

đổi mới đất nước cũng cần được đổi mới

để phát triển Việc tìm giải pháp cho

những vấn đề mà sự nghiệp đổi mới đất

nước cũng như việc nâng cao hiệu quả

vận dụng phép biện chứng duy vật của

Đảng ta không thể không liên quan đến

những giải pháp thích hợp

4 Kết luận

Nhờ vận dụng sáng tạo phép biện

chứng duy vật, Đảng ta đã thành công

trong những quyết định chính trị của

mình liên quan đến sự phát triển của đất

nước với những nội dung lớn như sau:

- Đổi mới quan niệm về chủ nghĩa

xã hội và ngày càng làm sáng tỏ con

đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,

làm cơ sở cho mọi hoạch định trên những lĩnh vực lớn của công cuộc đổi mới

đúng những nội dung phải đổi mới; từ

đó mở ra định hướng cho sự phát triển toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi bình diện của đất nước

- Kết hợp biện chứng giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, trong

đó đổi mới kinh tế là bước đột phá Dựa trên sự phát triển của kinh tế mà từng bước đổi mới chính trị Sự kết hợp hài hòa này phản ánh đúng đắn hiện thực của những vấn đề hệ trọng của đất nước

Thực tế đổi mới ở nước ta đã chứng tỏ

sự lựa chọn trên đây của Đảng ta là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn

- Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội trong từng bước

và trong cả quá trình Trong điều kiện cụ thể của nước ta, nếu chúng ta lựa chọn hoặc là ưu tiên kinh tế, hoặc ưu tiên xã hội đều sai lầm, đều chệch định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết những vấn đề xã hội là một nội dung chủ yếu xuyên suốt của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời là biểu hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam 1991 Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành

Trung ương khóa VII, NXB Sự thật, Hà Nội

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam 1996 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 38

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam 1996 Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành

Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam 1999 Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành

Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

[5] V.I Lênin 1981 Toàn tập, tập 20, NXB Tiến bộ, Mátxcơva

[6] V.I Lênin 1976 Toàn tập, tập 33, NXB Tiến bộ, Mátxcơva

[7] Hồ Chí Minh 1996 Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 39

MỘT SỐ TƯ TƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (KỲ 1)

ThS Lê Thị Mến

Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

Tóm tắt: Sau gần 30 năm đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt được một số thành

tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực và ngày càng khẳng định vị thế của mình

trên trường quốc tế Thực tiễn đó cho thấy những chủ trương, đường lối, chính

sách của Đảng đã đi vào cuộc sống và được hiện thực hóa trên con đường đi

lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Bài viết phân tích về một số tư tưởng kinh tế của

Đảng cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước

Từ khoá: Việt Nam (VN), Xã hội chủ nghĩa (XHCN), Công nghiệp hóa, hiện

đại hóa (CNH, HĐH), Đảng cộng sản, Đại hội Đảng toàn quốc, thành phần kinh

tế (TPKT)

1 Tư tưởng về công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước

Tư tưởng CNH, HĐH xuyên suốt

trong các tư tưởng kinh tế VN hiện đại

Xuất phát từ nước nông nghiệp lạc hậu,

muốn xây dựng một nền kinh tế sản xuất

lớn, hiện đại thì con đường tất yếu là

phải CNH, HĐH đất nước

Ngay từ đại hội III (09/1960) của

Đảng đã xác định: CNH XHCN là

nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá

độ ở nước ta Tư tưởng đó được quán

triệt trong các kỳ đại hội Đảng toàn

quốc tiếp theo

Đại hội III xác định, điểm mấu

chốt trong CNH là ưu tiên phát triển

công nghiệp nặng, vì đó là nền tảng của

nền kinh tế quốc dân Có ưu tiên phát

triển công nghiệp nặng mới có thể tranh

thủ được những tư liệu sản xuất cho

công nghiệp, nông nghiệp, đảm bảo tái

sản xuất mở rộng không ngừng, phát

triển cao độ nền kinh tế quốc dân, cải

thiện không ngừng đời sống nhân dân

Nhìn chung, tư tưởng ưu tiên phát

triển công nghiệp nặng là nhằm HĐH

đất nước Tư tưởng đó là đúng đắn Tuy

nhiên, phương pháp, bước đi về phát

triển CNH, HĐH như thế nào lại là vấn

đề phức tạp Trong nhiều năm, VN tập

trung nguồn lực vào đầu tư phát triển lĩnh vực công nghiệp như: điện lực, luyện kim, chế tạo cơ khí,…Song, do chủ quan nóng vội đã đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô và quá cao về tốc

độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất nên nhiều mục tiêu CNH không được thực hiện, lại góp phần làm sâu sắc những khó khăn về kinh tế-xã hội của đất nước

Vì vậy, đại hội V (03/1982) Đảng

ta khẳng định tiếp tục đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN là: đẩy mạnh CNH XHCN nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công-nông nghiệp Đồng thời đã cụ thể hóa cách đi của CNH trong những năm 1981-1985 là: tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một

số ngành công nghiệp nặng quan trọng

Trang 40

Đến đại hội VI (12/1986), tư tưởng

CNH, HĐH được gắn với việc thực hiện

3 chương trình về lương thực thực phẩm,

hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đó là

cụ thể hóa nội dung chính của CNH

XHCN trong chặng đường đầu tiên ở

nước ta

Đến đại hội VII (06/1991), tư

tưởng về CNH có một bước phát triển

mới Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ

VII Ban chấp hành Trung ương Đảng

khóa VII (7/1994) viết: CNH, HĐH là

quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện

các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch

vụ và quản lý kinh tế-xã hội, từ sử dụng

thủ công là chính sang sử dụng lao động

một cách phổ biến cùng với công nghệ,

phương tiện và phương pháp tiên tiến,

HĐH dựa trên sự phát triển của công

nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ

tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Về mục tiêu lâu dài của CNH,

HĐH là cải biến nước ta thành một nước

công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật

hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ

sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ

phát triển của lực lượng sản xuất, mức

sống vật chất và tinh thần cao, quốc

phòng an ninh vững chức, xã hội công

bằng văn minh Mục tiêu trước mắt đến

năm 2000 là đưa đất nước ra khỏi khủng

hoảng kinh tế, ổn định tình hình kinh

tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, củng

cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện

cho đất nước phát triển nhanh hơn vào

đầu thế kỷ XXI

Trong những năm đổi mới, các nhà

kinh tế học VN đưa ra khái niệm CNH

theo hướng xuất khẩu đồng thời thay

thế nhập khẩu Nội dung cơ bản của tư

tưởng này là hướng sự phát triển của

khoa học, kỹ thuật, công nghệ trong

nước vào việc sản xuất hàng hóa nhằm

đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở lợi thế so sánh của đất nước; đồng thời tăng cường sản xuất những hàng hóa mà đất nước

có khả năng sản xuất và nhập khẩu những hàng hóa công nghệ nhằm phục

vụ sản xuất hàng nhập khẩu Về thực chất, đây là một phương pháp, cách đi của CNH nhằm HĐH đất nước, thúc đẩy nhanh sự phát triển khoa học, công nghệ góp phần vào tăng trưởng và phát triển của đất nước

Đến đại hội IX (04/2001) của Đảng cộng sản VN, một tư tưởng đặc biệt chú

ý là đẩy mạnh CNH, HĐH để đến năm

2020 đưa VN cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện đường lối chiến lược đó, con đường CNH, HĐH của VN là cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhày vọt

Đại hội IX cũng chỉ ra, cần phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều, càng cao và phổ biến hơn những thành tựu mới về công nghệ, từng bước phát triển kinh tế trí thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người VN; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và là động lực của sự nghiệp CNH, HĐH

Tư tưởng tranh thủ cơ hội thuận lợi

do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của VN để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế trí thức, coi kinh tế trí thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của CNH, HĐH được đại hội X (04/2006) của Đảng cộng sản VN tiếp tục khẳng định

Đại hội lần thứ XI (01/2011) khẳng định: Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Ngày đăng: 09/01/2021, 20:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ xây dựng, Tiêu chuẩn Việt Nam 3118:1993, Bê tông nặng – Phương pháp xác định cường độ nén, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê tông nặng – Phương pháp xác định cường độ nén
[2]. Bộ xây dựng, Tiêu chuẩn Việt Nam 3119:1993, Bê tông nặng - Phương pháp xác định cường độ kéo khi uốn, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê tông nặng - Phương pháp xác định cường độ kéo khi uốn
[3]. Bộ xây dựng, Tiêu chuẩn Việt Nam 3120:1993, Phương pháp thử cường độ kéo khi bửa, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thử cường độ kéo khi bửa
[4]. Guang Li, The effect of moisture on the tensile strength properties of concrete, Master of Engineering, University of Florida, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Master of Engineering, University of Florida
[5]. Jikai Zhou, Wanshan Huang & Xudong Chen, Effect of moisture content on compressive and split tensile strength of concrete, Indian Journal of Engineering &Materials Sciences Vol.19, December 2012, pp.427-435 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian Journal of Engineering &
[6]. M. Albert GIRAUD, M. Abdelhafid KHELIDJ, Modelisation du comportement hydromecanique d’un mortier sous compression et dessiccation, Thèse de doctorat, Université des Sciences et Technologies de Lille, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thèse de doctorat, Université des Sciences et Technologies de Lille
[7]. Samir N. Shoukry, Gergis W. William, Brian Downie, Mourad Y. Riad, Effect of moiture and temperature on the machanical properties of concrete, Proceeding of the SEM Annual Conference June, 2009 USA Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w