1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Tạp chí Khoa học Công nghệ số 9 - 2017

101 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 4,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, giáo dục STEM còn khá mới đối với Việt Nam� Bộ GD&ĐT mới phối hợp với Hội đồng Anh thí điểm giáo dục STEM trong chương trình chính khóa ở một số trường tiểu học và trun[r]

Trang 2

Trần Văn Hùng, Chu Thị Thanh Hiền

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong xu thế thời đại những năm 20 của thế kỷ XX � � � � � � � � � � � � � �15

Đặng Thị Bích Hồng, Dương Tuấn Anh

Tương thông Thiên - Địa - Nhân trong thơ Lý Quý Lan � �21

Phân tích họ gene mã hóa β-amylase ở cây Sắn

(Mani-hot esculenta Crantz) bằng phương pháp tin sinh học � � � �49

Cao Huy Phương, Nguyễn Hữu Hùng, Lê Quang Khải

Ảnh hưởng của hiệu ứng phi điều hòa lên sự thay đổi hằng số mạng của màng mỏng kim loại cấu trúc tinh thể lập phương� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �58KHOA HỌC XÃ HỘI

KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 3

Phùng Thị Lan Hương, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Ngọc Liên, Nguyễn Thị Bình Yên

Nghiên cứu xác định đồng thời hàm lượng Sắt và Canxi bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử kết hợp với phương pháp hồi quy đa biến tuyến tính – Ứng dụng xác định hàm lượng Sắt và Canxi trong rau Chùm ngây tại tỉnh Phú Thọ � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �68

Nguyễn Văn Kiên, Lê Hùng Tiến, Trần Trung Nghĩa, Phạm Thị Lý, Lê Chí Hoàn, Đặng Quốc Tuấn, Hoàng Thị Sáu

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống hữu

tính cây Lạc tiên (Passiflora foetida L�) tại Thanh Hóa � � � �76

Trần Trung Nghĩa, Nguyễn Văn Tài, Lê Hùng Tiến, Lê Chí Hoàn, Phạm Thị Lý, Nguyễn Văn Kiên, Nguyễn Thu Trang, Phan Thị Trang

Xây dựng phương pháp định lượng Bacoside trong rau

Đắng biển Bacopa monnieri (L�) Wettst bằng HPLC và

tuyển chọn mẫu giống rau Đắng biển có hàm lượng Bacoside cao� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �86

Phan Thị Yến, Đỗ Thị Phương Thảo

Đánh giá các loại thức ăn cho cá Chạch đồng

(Misgurnus anguillicaudatus) trong ruộng lúa tại tỉnh

Phú Thọ� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �94KHOA HỌC NÔNG - LÂM NGHIỆP

Trang 4

1 Đặt vấn đề

Thế giới bên ngoài luôn ẩn chứa những

cạm bẫy, nguy hiểm với các em lứa tuổi học

sinh tiểu học (HSTH) và mỗi khi các em rời

xa tầm tay của cha mẹ, của những người thân

yêu, họ lại thường lo lắng và tìm cách ngăn

cấm con trước những nguy cơ rủi ro nhưng

lại không giải thích cho trẻ vì sao và hậu quả

có thể xảy ra như thế nào? [3]� Do đó, nếu

trẻ em không có những kiến thức cần thiết

để nhận diện và biết cách lựa chọn cách ứng

phó tích cực để vượt qua những thách thức

mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp

trở ngại, rủi ro trong cuộc sống� Vì vậy, giáo

dục kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại

thân thể cho HSTH được coi là một vấn đề

cấp bách�

TÓM TẮT

Lựa chọn phối hợp các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, tổng hợp, điều tra,

quan sát, thống kê toán học, bài viết tập trung làm rõ thực trạng kỹ năng ứng phó

với hành vi xâm hại thân thể cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị xã Phú Thọ; xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó của các em Từ đó, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng ứng phó cho học sinh tiểu học, giúp các em vượt qua những thách thức, trở ngại, rủi ro trong cuộc sống, biết cách ứng phó với những tình huống có thể khiến bản thân gặp nguy hiểm

Từ khóa: Kỹ năng ứng phó, xâm hại thân thể, học sinh tiểu học

VỚI HÀNH VI XÂM HẠI THÂN THỂ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Bùi Thị Loan

Trường Đại học Hùng Vương

Kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể ở HSTH là khả năng các em vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm đã có để ứng phó những nguy hiểm từ hành động của người khác nhằm tránh gây tổn thương

về cơ sở giải phẫu và hoạt động sinh lý, đảm bảo cho thân thể được an toàn, khỏe mạnh

và phát triển đầy đủ [5]�

Biểu hiện của kỹ năng ứng phó với hành

vi xâm hại thân thể ở HSTH [5]:

• Ứng phó với hành vi xâm hại tình dục hoặc hành vi bạo lực từ người khác: Khi bị người khác đánh hoặc trấn lột,

bị đe dọa, bỏ đói, bắt lao động quá sức hoặc bị người khác cố tình sờ

mó vào cơ quan sinh dục, bị người khác bắt khỏa thân để họ thỏa mãn

Nhận bài ngày 5/11/2017, Phản biện xong ngày 27/12/2017, Duyệt đăng ngày 28/12/2017

Trang 5

mục đích của mình như chụp hình,

nhìn, sờ… [5]�

• Biết ứng phó với những tình huống

như: Người lạ rủ đi chơi, cho quà bánh,

người lạ yêu cầu mở cửa khi ở nhà một

mình, người lạ yêu cầu cung cấp thông

tin của gia đình qua điện thoại lúc ở

nhà một mình [5]�

• Ứng phó với những nguy hiểm xảy ra

từ hành động của bản thân: Leo trèo,

chơi, với tay ở ban công, chơi ở những

nơi vắng vẻ như ao hồ, sông suối…

• Ứng phó với các nguy hiểm từ môi trường

xung quanh: Nước, lửa, dao kéo, các vật

dụng dễ vỡ, hóa chất, vật nuôi [2]…

2 Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 120 học

sinh (HS), 18 giáo viên (GV), 25 phụ huynh

học sinh (PHHS) thuộc các trường trên địa

bàn thị xã Phú Thọ: Trường tiểu học Hùng

Vương, Trường tiểu học Lê Đồng, Trường

tiểu học Phong Châu, Trường tiểu học

Trường Thịnh� Thời gian khảo sát từ ngày

12/9/2017 đến 15/11/2017�

Để có được kết quả nghiên cứu khách

quan, chúng tôi sử dụng phối hợp các

phương pháp như: phân tích, tổng hợp, điều

tra, quan sát, thống kê toán học, nghiên cứu

trường hợp điển hình� Có 3 mức độ đánh giá

kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân

thể của HSTH là Yếu, Trung bình và Tốt�

Mức “Yếu” được đánh giá bằng điểm trung

bình (ĐTB) thấp nhất là 1 và mức “Tốt” có

ĐTB cao nhất là 3� Điểm càng cao thì mức

độ biểu hiện kỹ năng ứng phó với hành vi

xâm hại thân thể của HSTH càng tốt (mức

Tốt: 2,41–3 điểm; mức Trung bình: 1,71–2,4

điểm; mức Yếu: 1–1,7 điểm)�

3 Những kết quả đạt được của nghiên cứu thực trạng

Qua Bảng 1 cho thấy: Kỹ năng ứng phó

với hành vi xâm hại thân thể của HSTH tại thị xã Phú Thọ nhìn chung là còn thấp, chưa thể hiện được sự thành thục và linh hoạt�

Cụ thể: Khả năng ứng phó với những tình huống có thể khiến bản thân gặp nguy hiểm trong mối tương tác với người khác đạt mức

độ thấp với mức điểm trung bình là 1�61� Khả năng ứng phó với những nguy hiểm

từ môi trường và các vật dụng xung quanh đạt mức độ thấp với mức điểm trung bình

là 1�54�

Lý do có thể dễ dàng giải thích như sau: Việc nhận diện những nguy hiểm với bản thân đã khó, việc ứng phó trong những tình huống nhất định gây xâm hại thân thể lại càng khó hơn� Điều này đòi hỏi trẻ không chỉ

có kiến thức về việc ứng phó mà trẻ còn cần phải có những trải nghiệm trong cuộc sống thì kỹ năng mới thành thục và linh hoạt�Khả năng ứng phó với hành vi xâm hại tình dục hoặc hành vi bạo lực từ người khác đạt mức độ thấp nhất với mức điểm trung bình là 1�36� Những bài tập để khảo sát kỹ năng này ở học sinh tiểu học, đa phần được lấy từ các câu chuyện thực tế, qua các ví dụ điển hình cho nên tính thực tiễn rất cao� Chẳng hạn:

Tình huống: Chiều ngày 30�6�2012, Phú

rủ cháu D 6 tuổi là hàng xóm, qua phòng trọ của mình chơi� Tại đây, Phú thực hiện hành

vi xâm hại với cháu như sờ mó vào ngực, mông và bộ phận sinh dục của cháu��� Xong việc, Phú cho cháu 5�000 đồng tiền mua kẹo

và dặn cháu D: Không được nói với ai, nếu không chú sẽ đánh chết [1]�

Câu hỏi: Nhận xét về hành động của bạn

nhỏ trong câu chuyện�

Trang 6

Nếu là bạn nhỏ trong câu chuyện em sẽ

làm gì, em có dám kể lại chuyện với người

khác: Bố mẹ, bạn bè, anh em không?

Nhiều học sinh tiểu học đã trả lời: Em sẽ

không dám nói với cha mẹ vì sợ bị chú đánh�

Thực tế đã có nhiều trường hợp trẻ bị xâm hại

tình dục nhiều lần nhưng do sợ không dám

nói với người lớn� Chính vì hiện tượng tâm lý

này, khi cha mẹ phát hiện tình trạng của con

thì trẻ cũng đã bị xâm hại nhiều lần rồi�

Khi trao đổi phỏng vấn với đa số các phụ

huynh về tình huống này và hỏi họ đã bao

giờ hướng dẫn con cách xử lý tình huống

tương tự như trên chưa thì đa số phụ huynh

thừa nhận, chưa bao giờ trò chuyện và

hướng dẫn con� HSTH cần phải được giáo

dục rằng: Cho dù người khác dụ dỗ, cho

mình những món quà, đồ ăn, thức uống mà

mình yêu thích, thậm chí cho mình tiền thì

cũng không được đồng ý cho người ta thực

hiện những hành vi xâm hại như bạn nhỏ

trong câu chuyện� Nếu người khác có thực

hiện hành vi trên với mình thì cần kể lại cho

cha mẹ biết ngay�

Mặt khác, ngay kể cả giáo viên tiểu học

ở những trường khảo sát, khi chúng tôi trò

chuyện nhằm tìm hiểu thực tế giảng dạy kỹ

năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học thì nhiều giáo viên còn thấy e ngại, không biết dùng từ ngữ thích hợp để giải thích cho trẻ� Họ cho rằng, đây là những vấn đề nhạy cảm rất khó dạy cho trẻ�

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể cho HSTH

■Yếu tố ảnh hưởng từ gia đình:

Có 25�2% PHHS thừa nhận là ít khi cho con có cơ hội trải nghiệm cuộc sống: cha mẹ hạn chế không cho trẻ chơi với bạn bè hoặc tham gia các hoạt động ngoài trời vì sợ con

bị bắt nạt, bị nhiễm các thói quen xấu từ bạn�

Có 25�1% PHHS có suy nghĩ sai lầm: HSTH còn nhỏ nên luôn cần được cha mẹ

ở bên cạnh bảo vệ� Những tai nạn xảy ra với các em còn chưa nhiều nên chưa cần dạy trẻ kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể�

Có 10�6% PHHS khẳng định: Cách ứng

xử chưa đúng của cha mẹ khi bản thân gặp những tình huống thiếu an toàn, nguy hiểm khiến trẻ bắt chước� Một PHHS chia sẻ là

đã rất bất ngờ và cả hoảng sợ khi nhìn thấy hành động lấy mũi dao nhọn để gãi ngứa sau

Bảng 1 Đánh giá kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể của học sinh tiểu học tại Thị xã Phú Thọ

(%) Tính thành thạo (%) Tính linh hoạt (%) Đánh giá chung

Ứng phó với những tình huống có thể

khiến bản thân gặp nguy hiểm trong mối

tương tác với người khác�

X = 1�60 Mức độ thấp

Ứng phó với những nguy hiểm từ môi

trường và các vật dụng xung quanh�

X = 1�61 Mức độ thấp

Ứng phó với hành vi xâm hại tình dục

hoặc hành vi bạo lực từ người khác�

X = 1,39 Mức độ thấp

Trang 7

lưng của cậu con trai lớp 3 của mình� Khi

mắng cháu thì cháu nói rằng: “Hôm trước

con cũng thấy bố làm như vậy� Tại sao con

làm giống như bố mà lại bị mẹ mắng?”� Từ

câu chuyện trên cho thấy, việc bắt chước của

trẻ diễn ra tự phát và vô thức� Do vậy, cha

mẹ, thầy cô cần chú ý tới từng hành động

của bản thân để trẻ noi theo�

Có 19�6% PHHS cho rằng: Cha mẹ ít dành

thời gian cho con cũng như chưa tận dụng

những tình huống thực tế trong cuộc sống

của trẻ trên các phương tiện truyền thông

và tham khảo sách, truyện… để giáo dục kỹ

năng giữ an toàn thân thể cho con�

Có 15�5% PHHS cho rằng: Cha mẹ thiếu

phương pháp giáo dục kỹ năng ứng phó

với hành vi xâm hại thân thể ở HSTH� Họ

thường ngăn cản gay gắt con trước những

rủi ro mà không giải thích nguyên nhân,

hoặc cha mẹ thường làm thay khi trẻ gặp

những tình huống khó khăn…

■Yếu tố ảnh hưởng từ nhà trường:

Bảng 2 cho thấy: Bản thân học sinh chưa

Ngoài ra theo các giáo viên, còn một số nguyên nhân khác: Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể ở HSTH trong chương trình còn ít� Giáo viên chưa thực sự chủ động trong việc xây dựng nội dung kế hoạch giảng dạy, còn ngại chưa đưa một số bài mới vào chương trình�

Khi chúng tôi đặt câu hỏi về việc nhà trường có tổ chức tuyên truyền cho học sinh thường xuyên không, tất cả giáo viên được hỏi đều có chung quan điểm: Nhà trường

có tổ chức tuyên truyền nhưng cũng không thường xuyên, chủ yếu là chỉ tổ chức vào một dịp lễ nào đó có lồng ghép nội dung này�Như vậy, có thể khẳng định: Nhận thức không đầy đủ chính là nguyên nhân sâu xa

Bảng 2 Những yếu tố ảnh hưởng (từ phía nhà trường) đến giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học

• Nội dung giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể cho học sinh tiểu học còn

nghèo nàn� Một số nội dung liên quan còn e dè chưa đưa vào chương trình dạy

học sinh�

• Lý luận về giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể của học sinh tiểu học

• Bản thân học sinh chưa tích cực rèn kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể� 15 83�3

• Giáo viên chưa được tập huấn về phương pháp giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm

• Cơ sở vật chất, phòng học còn thiếu thốn, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho các hoạt

• Thiếu sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi

Trang 8

dẫn đến kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại

thân thể cho HSTH còn hạn chế� Từ cách

nhìn nhận này có thể thấy, công tác tuyên

truyền, nâng cao nhận thức cho các em còn

hạn chế; tiếp đó là do yếu tố chủ quan từ

chính các em – đang còn ở lứa tuổi tiểu học

với đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lý là

sống bằng cảm xúc, dễ tin người� Đây cũng

chính là khoảng trống để đối tượng xấu lợi

dụng thực hiện hành vi xâm hại đối với trẻ�

3.2 Một số biện pháp giáo dục kỹ năng

ứng phó với hành vi xâm hại thân thể cho

HSTH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Biện pháp 1: Tạo cơ hội cho trẻ tương

tác, được trải nghiệm nhằm rèn luyện kỹ

năng ứng phó với hành vi xâm hại thân thể

cho HSTH�

■Ý nghĩa:

Để giáo dục và hình thành ứng phó hành

vi xâm hại thân thể cho học sinh tiểu học thì

điều quan trọng nhất là phải luôn tạo cơ hội

để trẻ được thực hành, luyện tập các hành vi

thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi; có như vậy,

trẻ mới hình thành nên kỹ năng một cách

bền vững�

Kỹ năng này được hình thành thông qua

tương tác với người lớn, với bạn cùng học�

Trong khi tương tác, trẻ được thể hiện các

ý tưởng của mình, được trải nghiệm, được

đánh giá, xem xét về những kinh nghiệm mà

mình đã có trước đây� Hơn nữa, việc tổ chức

cho trẻ trải nghiệm những tình huống thực tế

sẽ vừa tạo hứng thú cho trẻ, đồng thời nhiều

kinh nghiệm quý báu được hình thành, kể cả

khi trẻ chưa thực hiện đúng trong quá trình

thao tác�

■Cách tiến hành:

Việc tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm có thể

được tiến hành thông qua việc xây dựng các

tình huống và tổ chức các hoạt động phù hợp, cũng có thể được thực hiện bằng cách cho trẻ trực tiếp quan sát trong thực tế�Trong cuốn sách “Học qua trải nghiệm”, David Kolb đã mô tả việc học là một quá trình gồm bốn bước� Các bước này là: (1) Quan sát, (2) Suy nghĩ (tâm trí), (3) Cảm nhận (cảm xúc), (4) Hành động (cơ bắp)� ■Điều kiện vận dụng:

• Giáo viên phải tin tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ�

• Giáo viên tạo các hoạt động, cơ hội để trẻ được trải nghiệm, thực hành mọi lúc mọi nơi qua các hoạt động ở trường mầm non: giờ học, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời, khi đi tham quan ngoại khóa…

Biện pháp 2: Xây dựng và đưa nội dung

giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể cho HSTH một cách toàn diện hơn theo hướng tích hợp với các hoạt động dạy, hoạt động vui chơi và các hoạt động khác� ■Ý nghĩa:

Việc giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể cho HSTH theo hướng tích hợp với các hoạt động dạy, vui chơi và các hoạt động khác là quan điểm hiện đại, không những phù hợp với tâm lý trẻ mà còn phù hợp với xu hướng giáo dục của thế giới hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục kỹ năng này�

■Cách tiến hành:

• Xây dựng mục tiêu tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể cho HSTH� Ví dụ, trong chủ đề về “Bản thân”, chúng ta có thể giáo dục giới tính và tích hợp giáo dục

kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể cho HSTH�

Trang 9

+ Rà soát toàn bộ chương trình giáo

dục tiểu học, xem xét nội dung nào

có thể lồng ghép nội dung kỹ năng tự

bảo vệ cho trẻ� Tùy vào những chủ đề

theo tuần, tháng, học kỳ mà GV lựa

+ Xây dựng mục tiêu của từng nội

dung và của kỹ năng ứng phó hành vi

xâm hại thân thể cho HSTH cần đạt

được về kiến thức, kỹ năng, thái độ�

hành vi xâm hại thân thể cho HSTH:

+ Xây dựng nội dung bài học�

• Biết những nội dung cần thiết của kỹ

năng ứng phó hành vi xâm hại thân

thể cho HSTH�

• Những nội dung của kỹ năng phải

được lồng ghép ứng phó hành vi xâm

hại thân thể cho HSTH một cách khéo

léo, linh hoạt, mềm dẻo theo chủ đề�

Ngoài ra, còn 1 số biện pháp giáo dục

kỹ năng ứng phó hành vi xâm hại thân thể

cho HSTH:

Tích cực đẩy mạnh công tác tuyên

truyền về đấu tranh phòng chống tệ nạn xã

hội nói chung và phòng chống xâm hại tình

dục nói riêng không chỉ trong gia đình, nhà trường mà trong toàn xã hội: Cần mở rộng

đối tượng tuyên truyền, không chỉ cán bộ phụ nữ, người làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em mà cả các bậc phụ huynh� Việc tổ chức tuyên truyền cần lan rộng trong nhân dân, tập trung nhiều hơn cho các xã, bản, huyện vùng sâu, miền núi – nơi nhận thức của người dân còn hạn chế và đây chính

là kẽ hở để đối tượng xấu có nhiều cơ hội

để đưa trẻ vào tình huống nguy hiểm, có nguy cơ bị xâm hại� Đối với người phạm tội, cần xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm�

Phát huy vai trò của cha mẹ và GV chủ nhiệm trong việc quan tâm, chăm sóc và theo dõi những bất thường ở HSTH:

• Dạy cho các em 3 quy tắc động chạm

dành cho các bộ phận tế nhị:

1) Nếu các con tự chạm vào những bộ phận trên cơ thể mình thì đó là điều bình thường;

2) Sẽ là không bình thường nếu con chạm vào những bộ phận tế nhị trên

cơ thể người khác;

3) Không để cho người khác chạm vào những vùng tế nhị của con (ngoại trừ bác sĩ, y tá khi con đi khám bệnh)�

• Làm rõ các quy tắc: Hãy dạy cho các

con hiểu rằng, nếu người lớn có những hành động động chạm, xâm hại đến những vùng trên cơ thể con thì đó là điều không bình thường và trái với các quy tắc thông thường� Cho các con hiểu rằng cơ thể các con là của riêng các con và nếu có bất kì ai chạm vào

nó làm con cảm thấy khó chịu thì con hoàn toàn có thể nói “không”�

Trang 10

4 Kết luận

Xâm hại thân thể trẻ em là một trong

những vấn nạn đang có chiều hướng gia

tăng phức tạp, đặc biệt ở các vùng nông thôn,

miền núi� HSTH khi bị xâm hại thường phải

đối diện với nguy cơ của sự phát triển không

bình thường về tâm lý, xấu hổ, mặc cảm� Để

phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng xâm hại

thân thể trẻ em, cần có sự chung tay và phối

hợp chặt chẽ của cả gia đình, nhà trường,

xã hội và bản thân trẻ trong việc trang bị

kiến thức; định hướng thái độ và rèn luyện

kỹ năng ứng phó cho HSTH trước nguy cơ

bị xâm hại thân thể, giúp các em nâng cao

khả năng tự bảo vệ bản thân� Bởi như nhà

giáo dục học Dorothy đã nói: “Cây giáo dục

chỉ đơm hoa thơm và kết trái ngọt khi có

sự chăm sóc và vun xới của nhà trường, gia

đình và xã hội”�

SUMMARY Sexual assault, physical abuse prevention and education

for primary school children

Bui Thi Loan

Hung Vuong University

Based on a combination of selected research methods, such as analysis, synthesis,

investigation, observation, mathematical statistics, this survey was conducted in some areas of Phu Tho town to gather information on how primary school students are trained about child sexual abuse prevention, and to find key factors that affect on their readiness Moreover, the paper proposed some measures to improve the coping skills of primary students to help them overcome the challenges, obstacles, risks in life; as well as to handle dangerous situations

Keywords: the coping skills, physical abuse, primary school students

Tài liệu tham khảo

[1] Bạch Băng (2011), Tuyển tập những câu

chuyện vàng về khả năng tự bảo vệ mình,

NXB Kim Đồng�

[2] Liêm Chinh (2004), Dạy con kỹ năng sống,

NXB Phụ nữ�

[3] Huyền Linh (2011), Cẩm nang tự vệ an toàn

(trong nhà), NXB Thanh niên�

[4] Cù Thị Thúy Lan, Dương Minh Hào (2009),

Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh tránh

xa những cám dỗ nguy hiểm, NXB Giáo dục

Việt Nam�

[5] Mai Hiền Lê (2014), Kỹ năng giữ an toàn

thân thể của trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi, Luận án

Tiến sĩ tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam�

[6] Mai Xuân Phương (2007), Trẻ em bị xâm hại

tình dục những điều cần biết, Bộ Văn hóa

Thể thao và Du lịch – Tổng cục Du lịch�

Trang 11

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu,

thu hút tất cả các quốc gia, bao trùm lên hầu

hết các lĩnh vực� Toàn cầu hóa vừa thúc đẩy

hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và sự

lệ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia� Cùng

với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế thì sự phát triển nhanh chóng của khoa

học công nghệ với cuộc cách mạng công

nghiệp lần thứ 4 đã tác động mạnh mẽ, sâu

rộng đến tất cả các mặt của đời sống xã hội,

trong đó có giáo dục� Bối cảnh đó đòi hỏi

giáo dục phải nhanh chóng đổi mới, đáp ứng

yêu cầu đào tạo người học vừa có kiến thức,

vừa có kỹ năng thực hành và khai thác được

trong đào tạo sinh viên ngành Sư phạm Toán

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

Đỗ Tùng

Trường Đại học Hùng Vương

thành tựu phát triển khoa học công nghệ vào cuộc sống�

Trường Đại học Hùng Vương là trường đại học đa ngành được thành lập năm 2003 trên cơ sở một trường cao đẳng sư phạm� Hiện nay, Nhà trường đang đào tạo trình độ đại học, sau đại học thuộc nhóm ngành: Sư phạm, kinh tế, nông lâm nghiệp, kỹ thuật công nghệ, ngoại ngữ, nghệ thuật và văn hóa

du lịch� Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay, đặc biệt

là đối với việc chuẩn bị cho đổi mới chương trình, sách giáo khoa ở phổ thông sau năm

2018, Nhà trường đã và đang thực hiện nghiên cứu và đổi mới mạnh mẽ trong công

TÓM TẮT

Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự

phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đòi hỏi giáo dục phải đổi mới toàn diện, sâu sắc Một hướng đi khả thi và hiệu quả trong giáo dục hiện nay đang được triển khai ở nhiều quốc gia là thực hiện giáo dục STEM (Science, Technology, Engineering, and Math) nhằm giúp cho người học vừa có kiến thức lý thuyết, vừa có khả năng thực hành, thông qua các dự án và sản phẩm thực tiễn Bài viết trình bày một số đề xuất nhằm thực hiện giáo dục theo định hướng STEM trong đào tạo sinh viên sư phạm ngành Toán tại Trường Đại học Hùng Vương

Từ khóa: đào tạo, đại học, giáo dục STEM, Hùng Vương, sư phạm Toán.

Nhận bài ngày 20/10/2017, Phản biện xong ngày 25/11/2017, Duyệt đăng ngày 26/11/2017

Trang 12

tác đào tạo để sinh viên sư phạm ra trường

có thể đáp ứng cũng như thích ứng được yêu

cầu đổi mới của giáo dục phổ thông� Giáo

dục theo định hướng STEM trong đào tạo

sẽ giúp gắn kết chặt chẽ giữa lí luận và thực

tiễn, kết nối chặt chẽ kiến thức của các môn

học để làm nên sản phẩm hữu ích trong

cuộc sống�

2 Giới thiệu về giáo dục STEM

STEM là cụm từ được viết tắt từ chữ

cái đầu của các từ: Science (khoa học),

Technology (công nghệ), Engineering (kỹ

thuật) và Math (toán học)� Từ khóa STEM

được sử dụng lần đầu tiên từ những năm

2000 bởi Quỹ Khoa học Quốc gia (National

Science Foundation – NSF), Hoa Kỳ [6]�

Có những quan điểm khác nhau về STEM

nhưng theo Hiệp hội các giáo viên dạy khoa

học của Mỹ (NSTA) thì giáo dục STEM là một

cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học,

trong đó, các khái niệm học thuật mang tính

nguyên tắc được lồng ghép với các bài học

trong thế giới thực, ở đó học sinh áp dụng các

kiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật

và toán học vào các bối cảnh cụ thể, giúp kết

nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc

và các tổ chức toàn cầu để từ đó phát triển các

năng lực trong lĩnh vực STEM và khả năng

cạnh tranh trong nền kinh kế mới [5]�

Theo Phạm Quang Tiệp [7], về bản chất,

giáo dục STEM trang bị cho người học những

kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến

các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và

toán học nhưng các kiến thức, kỹ năng này

phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho

nhau, giúp người học không chỉ có hiểu biết

về nguyên lý mà còn có thể áp dụng chúng để

thực hành và tạo ra được những sản phẩm có

thể ứng dụng được trong cuộc sống� Việc tích

hợp trong giáo dục STEM không thực hiện dàn trải trên phạm vi rộng lớn mà chỉ tập trung vào 4 lĩnh vực cụ thể, đó là khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học�

Dạy học theo mô hình STEM là tổ chức dạy “Học qua hành”–“Learning by doing”� Quá trình học tập của người học chủ yếu theo phương thức làm việc, thực hành, trải nghiệm và hợp tác� Thông qua hoạt động thực tiễn, người học tự khám phá, phát hiện

ra tri thức khoa học, từ đó hình thành và phát triển được kỹ năng tìm tòi, khai thác và ứng dụng tri thức khoa học đó vào thực tiễn� Trong dạy học theo mô hình STEM, giáo viên là người xác định mục tiêu, định hướng

và hướng dẫn để học sinh tìm tòi, kiến tạo kiến thức cho chính mình� Giáo viên khéo léo dẫn dắt, giúp đỡ người học khi cần nhưng tuyệt đối không làm thay� Học sinh học được và nắm vững được kiến thức là do tìm hiểu, phân tích được các kiến thức liên quan đến các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học để giải quyết nhiệm

vụ đặt ra, tiếp nhận kiến thức mới một cách

tự nhiên mà không hề có cảm giác nặng nề,

áp lực hay quá tải�

Mục tiêu của giáo dục STEM không phải

là dạy cho học sinh trở thành những nhà toán học, khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên mà hướng tới phát triển ở người học những kỹ năng có thể được sử dụng trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay,

đó chính là kỹ năng STEM� Theo Đỗ Văn Tuấn [8], kỹ năng STEM là sự tích hợp, lồng

ghép hài hòa từ nhóm các kỹ năng: Kỹ năng

khoa học; kỹ năng công nghệ; kỹ năng kỹ thuật; kỹ năng toán học� Ngoài nhóm các kỹ

năng trên, theo Phạm Đức Quang [4], giáo dục STEM còn giúp cho học sinh có những

kỹ năng cần thiết để phát triển tốt trong thế

Trang 13

kỷ 21 như: Kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy

phản biện, kỹ năng cộng tác, kỹ năng giao

tiếp, …

Với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực,

nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm

đáp ứng yêu cầu phát triển của nước ta

hiện nay thì cần phải tăng dần quy mô các

chương trình đào tạo chất lượng cao, các

chuyên ngành khoa học cơ bản, các ngành

học liên quan đến các lĩnh vực STEM� Đây là

một trong những yêu cầu được đặt ra trong

Chỉ thị về những nhiệm vụ chủ yếu năm học

2017–2018 của ngành giáo dục [2]�

3 Một số đề xuất nhằm tiếp cận

giáo dục STEM trong đào tạo sinh

viên ngành sư phạm Toán tại trường

Đại học Hùng Vương

Trường Đại học Hùng Vương được Bộ

Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo ngành

đại học sư phạm Toán từ năm 2004� Trước

khóa tuyển sinh năm 2009, Nhà trường đào

tạo theo niên chế, chương trình thiết kế với

210 đơn vị học trình� Từ khóa tuyển sinh

năm 2009, ngành đại học sư phạm Toán

chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ�

Hiện nay chương trình đào tạo gồm 130 tín

chỉ, chia thành 2 khối kiến thức: Kiến thức

giáo dục đại cương (44 tín chỉ), Kiến thức

giáo dục chuyên nghiệp (86 tín chỉ)�

Trong quá trình đào tạo, sinh viên ngành

sư phạm Toán hiện đang được học các học

phần về Toán học và các học phần Tin

học cơ sở (TI1201), Ngôn ngữ lập trình

Pascal 1 (TI1242), Ứng dụng công nghệ thông

tin trong dạy học môn Toán (TN2287),… Tuy

nhiên, kiến thức mà sinh viên tiếp nhận được

thường dưới dạng rời rạc, không được kết nối

với nhau� Đặc biệt, việc vận dụng kiến thức

lĩnh vực toán, khoa học, kỹ thuật và công

nghệ vào thực tiễn chưa được khai thác một cách hệ thống dẫn đến người học có thể nắm được lý thuyết nhưng không quan tâm đến ứng dụng thực tế của kiến thức đã học khiến cho họ gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề thực tiễn�

Trên cơ sở những đòi hỏi về đội ngũ giáo viên ngành Toán nhằm đáp ứng yêu cầu trong chương trình giáo dục phổ thông mới, chúng tôi đưa ra một số đề xuất nhằm tiếp cận giáo dục STEM trong đào tạo giáo viên ngành đại học sư phạm Toán để khắc phục những hạn chế nêu trên�

3.1 Nâng cao nhận thức của giảng viên nhà trường đối với giáo dục STEM

Hiện nay, giáo dục STEM còn khá mới đối với Việt Nam� Bộ GD&ĐT mới phối hợp với Hội đồng Anh thí điểm giáo dục STEM trong chương trình chính khóa ở một số trường tiểu học và trung học cơ sở trong hai năm học vừa qua� Tuy nhiên, xác định đây là xu thế tất yếu để các nhà trường đào tạo người học có kiến thức, có kỹ năng đáp ứng yêu cầu của sự phát triển khoa học, công nghệ của thế kỉ 21 nên không phải chỉ các trường phổ thông mà chính từ các trường sư phạm cũng cần phải quan tâm, có định hướng đổi mới trong công tác đào tạo sinh viên để khi tốt nghiệp, về trường phổ thông làm việc các

em không xa lạ với giáo dục STEM và có thể triển khai ngay nội dung này trong công việc của mình� Thực hiện điều này, cần sự thay đổi bắt đầu từ giảng viên, trước hết là đối với nhận thức của họ về giáo dục định hướng STEM, thấy được những điểm ưu việt của giáo dục STEM để từ đó vận dụng, khai thác trong quá trình dạy học của mình� Là trường đại học đa ngành, Trường Đại học Hùng

Trang 14

Vương rất có lợi thế trong đào tạo theo định

hướng STEM� Nhà trường đang đào tạo các

ngành sư phạm Toán, sư phạm Lý, sư phạm

Kỹ thuật và Công nghệ thông tin, Công nghệ

kỹ thuật điện, điện tử,… Các giảng viên còn

khá trẻ, năng động, nhiệt huyết, được đào

tạo bài bản nên có nhiều thuận lợi trong

việc cùng nhau triển khai các dự án nghiên

cứu khoa học� Chính vì vậy, Nhà trường nên

dành kinh phí giúp cho các giảng viên, nhất

là giảng viên thuộc nhóm ngành có lợi thế

trong giáo dục STEM để triển khai, nghiên

cứu các dự án, các sản phẩm thực tế trên cơ

sở tạo lập các nhóm nghiên cứu và ứng dụng

STEM, tạo ra sản phẩm là các mô hình sử

dụng trong dạy học, hay là các sản phẩm có

thể chuyển giao trong thực tiễn�

3.2 Cấu trúc lại chương trình đào tạo

theo hướng chú trọng đồng thời cả kiến

thức lý thuyết và kỹ năng thực hành

Trong năm học 2017–2018, Nhà trường

đang triển khai thực hiện rà soát, cấu trúc

lại chương trình đào tạo các ngành trong

đó có ngành đại học sư phạm Toán� Việc

điều chỉnh chương trình đào tạo lần này

được thực hiện theo nhóm ngành đào tạo và

không chỉ xem xét tối đa đến tính liên thông

dọc (giữa các bậc học trong cùng ngành)

và liên thông ngang (giữa các ngành trong

nhóm) mà còn tính đến cả sự kết nối kiến

thức, kiến thức liên môn giữa các ngành học

để tránh sự trùng lặp về nội dung trong các

học phần�

Với sự phát triển của giáo dục STEM hiện

nay, ngoài các kiến thức liên môn cần đưa

vào chương trình thì cần trang bị cả kiến

thức lý thuyết và kỹ năng thực hành cho sinh

viên nhất là việc vận dụng kiến thức được

học vào thực tiễn thông qua các sản phẩm

cụ thể� Trong xây dựng chương trình, cùng với các học phần được thiết kế theo dạng

“truyền thống” chia học phần theo các nội dung kiến thức thì cần đưa vào các học phần được thiết kế gồm các chủ đề mang tính tổng hợp để có thể khai thác được nhiều kiến thức

Trong quá trình học tập của sinh viên, Nhà trường không những cần tạo cơ hội cho người học được tham gia các hoạt động giảng dạy, học tập ở phổ thông thông qua

dự giờ, tham gia thực tập sư phạm mà còn quan tâm cho sinh viên cơ hội kết nối kiến thức học ở trường đại học với kiến thức phổ thông, dùng kiến thức học ở đại học để “soi sáng”, làm rõ các vấn đề ở phổ thông�

3.4 Triển khai các hoạt động ngoại khóa của sinh viên ngành Toán theo định hướng giáo dục STEM

Do không thể đưa tất cả các nội dung giáo dục STEM vào chương trình đào tạo, hơn nữa, để phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên thì ngoài các Câu lạc bộ đang hoạt động do Hội Sinh viên Nhà trường tổ chức,

Trang 15

cần khuyến khích sinh viên ngành Toán kết

hợp với sinh viên của các ngành Công nghệ

thông tin, Công nghệ Kỹ thuật Điện – Điện

tử, Nông Lâm Ngư,… thành lập các Câu lạc

bộ STEM để cùng nghiên cứu, triển khai các

dự án thiết kế các sản phẩm ứng dụng trong

thực tiễn nhờ sử dụng các kiến thức đã học,

nhất là các sản phẩm được thiết kế dựa trên

kiến thức của các môn học ở phổ thông� Việc

tổ chức các câu lạc bộ này một mặt sẽ giúp

cho sinh viên thấy yêu thích nghiên cứu khoa

học, thúc đẩy các em tự giác tìm tòi, nghiên

cứu, mặt khác sẽ góp phần trang bị thêm kỹ

năng xây dựng chủ đề kiến thức theo hướng

tích hợp và gắn kiến thức học được của học

sinh với thực hành thực tế nhiều hơn�

Ngoài ra, Nhà trường nên tổ chức Ngày

hội STEM để các sinh viên trưng bày, giới

thiệu kết quả của các dự án là các sản phẩm

nghiên cứu của câu lạc bộ STEM� Đây cũng

là cơ hội để cho sinh viên được trao đổi, học

hỏi lẫn nhau, tạo ra môi trường học tập tốt

không chỉ đối với sinh viên của Nhà trường

mà còn đối với cả các em học sinh trên địa

bàn cũng như những người quan tâm đến

giáo dục STEM�

4 Kết luận

Giáo dục STEM là phương pháp giáo dục

gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành,

giữa kiến thức được học và ứng dụng kiến

thức đó vào thực tiễn, đồng thời khơi dậy

được sự hứng thú, niềm đam mê của người

học trong quá trình học tập� Để sinh viên

ngành sư phạm Toán của Nhà trường sau khi

tốt nghiệp, ra trường đáp ứng được yêu cầu

của đổi mới giáo dục ở phổ thông sau năm

2018 thì ngay trong quá trình đào tạo trong

trường sinh viên cần được học, được làm

quen và tiếp cận với giáo dục STEM� Thực

hiện điều này vừa giúp cho sinh viên ngành sư phạm phát triển kỹ năng và năng lực cá nhân của mình thông qua giáo dục STEM, vừa giúp các em được trang bị kiến thức chuyên môn gắn kết chặt chẽ với việc vận dụng kiến thức

đó vào trong thực tiễn cuộc sống�

Tài liệu tham khảo

[1] Kerry Bissaker (2014)� Transforming STEM

education in an innovative Australian School: The Role of Teachers’ and Academics’ Professional Partnerships, http://dx�doi�org/

10�1080/00405841�2014�862124

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo� Chỉ thị về nhiệm

vụ chủ yếu năm học 2017 – 2018 của ngành giáo dục.

[3] Nguyễn Thanh Nga cb (2017)� Thiết kế và

tổ chức chủ đề giáo dục STEM cho học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông,

[5] Đỗ Đức Thái (2017)� Việt Nam học được gì từ

giáo dục STEM?

http://dantri�com�vn/giao- giao-duc-stem-20170727085028452�htm� [6] Chu Cẩm Thơ (2016)� Bài học về thay đổi đào tạo/bồi dưỡng giáo viên từ ngày hội STEM và ngày Toán học mở ở Việt Nam,

duc-khuyen-hoc/viet-nam-hoc-duoc-gi-tu-Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội, số

61, tr 195–201�

[7] Phạm Quang Tiệp (2017)� Bản chất và đặc

điểm của mô hình giáo dục STEM, Tạp chí

Khoa học giáo dục, số 145, tr 61–64�

[8] Đỗ Văn Tuấn (2014)� Những điều cần biết

về giáo dục STEM Tạp chí Tin học và Nhà

trường, số 281, tr 4–7�

(Xem tiếp trang 34)

Trang 16

1 Đặt vấn đề

Phụ nữ qua mọi thời đại luôn chiếm

khoảng ½ dân số thế giới, đảm nhiệm nhiều

công việc trong xã hội, sản xuất và gia đình�

Tuy nhiên, phụ nữ trong thời kỳ dài là bộ

phận yếu thế, bị coi thường, hạ thấp; bị ràng

buộc bởi những quy tắc khắt khe, ngặt nghèo�

Đấu tranh cho bình đẳng giới của phụ nữ là

cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài, dai dẳng

của nhân dân tiến bộ thế giới� Những năm

20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc có nhiều

bài viết về phụ nữ, hoặc nói đến những nội

dung liên quan đến đấu tranh cho phụ nữ

đăng trên các báo, tạp chí quốc tế� Từ những

bài viết này, chúng tôi nhận thấy những vấn

đề lớn về nhận thức, chủ trương và hành

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

TRONG XU THẾ THỜI ĐẠI NHỮNG NĂM 20 CỦA THẾ KỶ XX

Trần Văn hùng, Chu Thị Thanh hiền

Khoa KHXH & NV – Đại học Hùng Vương

TÓM TẮT

Trong những năm 20 của thế kỷ XX, đấu tranh về quyền phụ nữ là một vấn đề nóng

bỏng của thế giới cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc Tiếp thu tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào đấu tranh về quyền phụ nữ trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng cho phong trào Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc về giải phóng phụ

nữ trong thời kỳ này thể hiện qua những bài viết, hành động của Người với những nội dung cơ bản: Nhận thức về tình cảnh phụ nữ thế giới và phụ nữ Việt Nam; Vai trò của phụ nữ; Mục tiêu đấu tranh giải phóng phụ nữ và thực hiện “Bình đẳng giới”

Từ khóa: Phụ nữ; giải phóng phụ nữ; bình đẳng giới

động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

về giải phóng phụ nữ�

2 Kết quả nghiên cứu2.1 Đấu tranh giải phóng phụ nữ trên thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Đến những năm 70 (thế kỷ XIX), cách mạng tư sản đã thành công ở nhiều nước, chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống trên toàn thế giới nhưng phụ nữ vẫn chưa được giải phóng khỏi những ràng buộc của quy tắc xã hội, chưa có sự bình đẳng với nam giới� Năm 1870, sau cuộc nội chiến lần thứ hai, Hiến pháp mới của Mỹ được ban hành vẫn chỉ thừa nhận quyền bầu cử của tất cả nam giới không kể màu da, lúc này “phụ nữ

Nhận bài ngày 25/10/2017, Phản biện xong ngày 16/12/2017, Duyệt đăng ngày 17/12/2017

Trang 17

vẫn không có quyền bầu cử” [5]� Tại nhiều

nơi, lao động phụ nữ cùng với lao động trẻ

em được sử dụng rộng rãi với tiền công rẻ

mạt� Tại Nhật Bản, hiến pháp cải cách năm

1883 quy định quyền bầu cử chỉ dành cho

nam giới đối với Viện bình dân: “cử tri phải

là những nam giới, trên 15 tuổi, đóng thuế

15 yên/năm, tương đương 100 ngày công

của thợ dệt� Thời gian cư trú là 1,5 năm”

[5]� Với quy định đó, chỉ có khoảng 1% dân

số được tham gia bầu cử� Vì vậy, đấu tranh

giành quyền bình đẳng toàn diện cho phụ

nữ là một yêu cầu của cách mạng, đồng thời

phát huy sức mạnh của phụ nữ trong cuộc

đấu tranh cách mạng là một nhiệm vụ của

những người cộng sản� Vì vậy, C� Mác và

V�I� Lênin trong thời kỳ lãnh đạo cách mạng

của mình đã đưa ra quan điểm về vai trò và

yêu cầu giải phóng phụ nữ; về việc xây dựng

tổ chức để vận động phụ nữ tham gia đấu

tranh cách mạng� C� Mác đã khẳng định:

“Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa

sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào,

thì chắc không làm nổi� Xem tư tưởng và

việc làm của đàn bà, con gái thì biết xã hội

tấn bộ ra thế nào”� Phát triển quan điểm

của C� Mác, V�I� Lênin khẳng định: “Đảng

cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu

ăn cũng phải biết việc nước, như thế cách

mệnh mới gọi là thành công”�

Phong trào đấu tranh đòi quyền lợi kinh

tế, chính trị cho phụ nữ diễn ra mạnh ở Mỹ,

châu Âu, New Zealand, Australia, Nga cuối

thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX� Một số đại biểu

nữ đi đầu trong phong trào đấu tranh này là

Elizabeth Cady Stanton và Susan B� Anthony

(Mỹ), Clara Zetkin (người Đức); Rosa

Luxemburg (Ba Lan); Nadezhda Krupskaya

(Nga – vợ Lênin)� Cuộc đấu tranh đã thu

được thắng lợi bước đầu ở một số quốc gia

về công nhận quyền bầu cử của phụ nữ như: New Zealand (1893); Australia (1902)�

Ngay sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô viết đã ban hành

““Sắc luật” tuyên bố về sự bình đẳng giữa nam và nữ” [6]� Nhiều hành động cụ thể về

bình đẳng nam và nữ được chính quyền Xô viết Nga (sau này là Liên Xô) thực hiện: lao động 8h; phụ nữ được nghỉ thai sản; phụ nữ được quyền bầu cử và tham gia chính quyền;

hỗ trợ học tập nâng cao trình độ;… “Sắc luật” của nước Nga Xô viết là văn bản pháp

lý đầu tiên trên thế giới của một nhà nước công nhận về quyền bình đẳng toàn diện giữa nam và nữ�

Từ ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cách mạng ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ phát triển mạnh� Hàng triệu công nhân, trong đó có bộ phận quan trọng là nữ tham gia đấu tranh chống chính quyền tư sản trong những năm 1919 – 1923, buộc chính quyền các nước tư bản phải thực hiện những cải cách hiến pháp tích cực hơn, trong đó có công nhận quyền bầu cử của phụ nữ� Ở Đức, Hiến pháp Vaima (1919) quy định Quốc hội gồm hai viện: Viện Liên bang (gồm đại biểu những tỉnh lớn) và Nghị viện

do những công dân nam, nữ từ 20 tuổi trở lên bầu bằng hình thức phổ thông đầu phiếu� Năm 1920, nước Mỹ thông qua “Tu chính án 19” (Amendment 19), công nhận quyền bầu

cử của phụ nữ trên toàn Liên bang Mỹ� Ở các nước Anh, Pháp, Canada lúc này cũng công nhận quyền bầu cử của phụ nữ�

Như vậy, đến đầu những năm 20 (thế kỷ XX), trên thế giới hình thành phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ�

Từ phong trào hình thành hai xu hướng giải quyết quyền bình đẳng cho phụ nữ: ở các nước tư bản, đế quốc, chính phủ công nhận

Trang 18

quyền bình đẳng về bầu cử; ở nước Nga Xô

viết (Liên Xô sau này) công nhận quyền bình

đẳng toàn diện của phụ nữ� Tư tưởng giải

phóng phụ nữ toàn diện của Lênin và nước

Nga Xô viết là tiến bộ, xu thế tất yếu của thời

đại� Tuy nhiên, vấn đề giải phóng phụ nữ ở

các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam

chưa được đề cập đến�

2.2 Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh

giải phóng của phụ nữ các dân tộc thuộc

địa trong những năm 20 của thế kỷ XX

Những bài viết của Nguyễn Ái Quốc đã

dẫn chứng, nêu bật nhận thức thực tiễn

của Người về thân phận, khả năng của phụ

nữ thế giới, Việt Nam� Cũng trong phần

viết “Phụ nữ Quốc tế”, Nguyễn Ái Quốc

đã dẫn chứng về những tấm gương phụ

nữ điển hình của cách mạng thế giới như:

người học trò Sáclốt Coócđây, Luy Misen

(Pháp), tấm gương của 1854 phụ nữ Nga

tham gia cách mạng Tháng Mười – 1917:

“Năm 1917, ngày 23 tháng 2, đàn bà ở kinh

đô Nga nổi lên ‘đòi bánh cho con’ và đòi

‘giả chồng chúng tôi lại cho chúng tôi’ (vì

chồng phải đi đánh)� Sự bạo động này làm

mồi cho cách mệnh” [4]� Phần nhiều trong

các bài viết của Nguyễn Ái Quốc những

năm 20 của thế kỷ XX là phản ánh về thân

phận, phong trào đấu tranh của nhân dân

các nước thuộc địa, trong đó có tầng lớp

phụ nữ�

Trong bài “Nông dân Bắc Phi”, nói về nông

dân các nước Angiêri, Tuynidi, Marốc,…,

Người đã phản ánh về sự bóc lột nặng nề của

thực dân đối với nông dân, trong đó có phụ

nữ� Những người dân bản địa ở đây đã bị

tước đoạt ruộng đất, phải lao động khổ sai:

phụ nữ� Trong bài “Phụ nữ phương Đông”,

Người nhấn mạnh phong trào cách mạng của phụ nữ các nước chống thực dân phương Tây: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa

đế quốc phương Tây� Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh� Phụ nữ Trung Quốc tham gia cách mạng năm 1912� Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc”� Viết về “Cương lĩnh của Hội sinh viên cách mạng” Trung Quốc, Người đã đề cập đến chủ trương giải quyết “Vấn đề phụ nữ” của Hội: “Quyền bình đẳng về giáo dục kinh

tế và chính trị có cả đàn ông cũng như đàn

bà thi hành hệ thống trường học thống nhất – tức là thành lập các trường trong đó con trai và con gái cùng học� Trả công như nhau cho sự lao động như nhau” [3]�

Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy những chuyển biến về chất của phụ nữ trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa� Phụ nữ các nước thuộc địa đã đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung� Tiêu biểu như phong trào đấu tranh của công nhân nữ

ở Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ� Từ sự tổ chức, giác ngộ của Quốc tế Phụ nữ, của Đảng Cộng sản các nước nên phụ nữ các dân tộc thuộc địa đã giác ngộ cách mạng vô sản, hiểu được vai trò to lớn của Quốc tế III và Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng chính tầng lớp mình�

Từ thực tiễn sự tham gia trong phong trào cách mạng các nước trên thế giới, Người đã khẳng định vai trò của phụ nữ đối với cách mạng: “Vậy nên muốn thế giới cách mệnh

Trang 19

thành công, thì phải vận động đàn bà con gái

công nông các nước” [3]� Luận điểm này của

Nguyễn Ái Quốc cũng là một nhiệm vụ của

cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh

giải phóng dân tộc� Những phản ánh của

Nguyễn Ái Quốc về tình cảnh, phong trào

đấu tranh cách mạng của phụ nữ các dân tộc

trên thế giới, nhất là ở các nước thuộc địa

cho thấy những nhìn nhận thực tiễn sâu sắc

của Người đối với các giai tầng trong xã hội,

tố cáo sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, cổ

vũ sự tham gia của phụ nữ trong cuộc đấu

tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp�

2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải

phóng phụ nữ Việt Nam trong những

năm 20 của thế kỷ XX

* Tình cảnh phụ nữ Việt Nam

Từ tình hình phụ nữ thế giới, soi vào Việt

Nam, Nguyễn Ái Quốc có những nhận thức

đúng đắn về thân phận, truyền thống, khả

năng cách mạng của phụ nữ và đề ra mục

tiêu đấu tranh giải phóng phụ nữ� Trong các

bài viết nói chung trong những năm 20 của

thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc thể hiện rõ nét

nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam

với thân phận người dân nô lệ� Ngoài ra,

Người còn có những bài, phần viết riêng về

tình cảnh phụ nữ Việt Nam� Trong tác phẩm

“Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã

dành một mục viết về “Nỗi khổ nhục của

người phụ nữ bản xứ” Những nỗi khổ cực

của người phụ nữ Việt Nam lúc này không

chỉ là việc phải lao động khổ sai; mất chồng,

mất con; đóng sưu cao, thuế nặng; bị bắt bớ

và bỏ tù vô cớ, mà còn bị sát hại, hãm hiếp

tàn bạo từ những em bé gái nhỏ tuổi đến

phụ nữ trung niên và người cao tuổi: “Một

ngày lễ nọ, một tên lính trong cơn vui, tự

nhiên vô cớ nhảy bổ vào một bà già người

Việt Nam, lấy lưỡi lê đâm bà một nhát chết ngay… Không phải chỉ có những cuộc khám xét nhà hàng loạt, liên tục, mà còn có những cuộc khám xét thân thể người bản xứ bất kể

ở chỗ nào, bất kể là nam hay nữ!���” [3]� Thực dân thực hiện việc bắt bớ, sát hại vô cớ: “Một

cô giáo bản xứ đã bị bắt giải về tỉnh lỵ, cổ đeo gông, đầu phơi trần dưới ánh nắng như thiêu đốt…� Một sĩ quan khác hiếp một em

bé gái bằng những cách dâm bạo vô cùng ghê tởm� Bị truy tố trước tòa đại hình, hắn được trắng án, chỉ vì nạn nhân là người Việt Nam���” [3]�

Trong hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam, thực tiễn phong trào cách mạng thế giới và truyền thống yêu nước của phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định

“Việt Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới Việt Nam muốn cách mệnh thì phải theo phụ

nữ quốc tế chỉ bảo” [3]� Từ nhận thức sâu sắc về tình cảnh người phụ nữ thế giới cũng như Việt Nam thời kỳ này, Người rất đồng cảm, trân trọng và dành cho họ những tình cảm thân thương nhất qua tên gọi, lời hỏi thăm, động viên ân cần� Người thường dùng những tên gọi trân trọng, thân mật về phụ

nữ như “chị em gái”, “chị em mình”, “nữ giới”, “người mẹ”, “người vợ”, “em bé gái”,

“cháu gái”, “bông hồng” (chỉ những người công nhân nữ của Liên Xô)� Sau khi rời nước Pháp, Người đã viết “Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp”� Trong bức thư này, Người

đã nói đến những cháu trai, cháu gái ở Pháp như A-lít-xơ (Alice) hay Pôn (Paul)� Những tình cảm thân thương, những lời nhắc nhở

ân cần được Người gửi gắm cho các cháu:

“Các cháu rất yêu chú và chú cũng rất yêu các cháu, phải không các cháu? Chú sẽ nói với những người bạn nhỏ Việt Nam là các

Trang 20

cháu rất ngoan� Chú sẽ thay mặt các cháu

bắt tay các bạn nhỏ Việt Nam… Chú sẽ luôn

nhớ các cháu…� Các cháu ngoan� Học thuộc

bài� Vâng lời cha mẹ�” [3]

* Tư tưởng giải phóng phụ nữ Việt Nam

Trước hết, Nguyễn Ái Quốc chủ trương

vận động cách mạng Việt Nam để giải

phóng dân tộc, cũng là giải phóng phụ nữ

Việt Nam khỏi thân phận người dân thuộc

địa, giải phóng khỏi những áp bức, bóc lột

tàn bạo của thực dân, phong kiến tay sai

như đã nhấn mạnh ở trên� Sau khi thực

hiện thành công cách mạng giải phóng dân

tộc, giải phóng thân phận nô lệ của phụ nữ,

cách mạng chủ trương thực hiện những

chính sách bình đẳng toàn diện giữa nam

và nữ� Khi thành lập Hội Việt Nam cách

mạng Thanh niên, trong “điều kiện vào hội”,

“quyền lợi hội viên”, Nguyễn Ái Quốc đã thể

hiện chủ trương bình đẳng quyền chính trị

của phụ nữ� Điều kiện vào hội ghi rõ: “Hễ

ai tín ngưỡng tôn chỉ hội, thừa nhận điều

lệ, chương trình hội…� thì được vào hội”�

Như vậy có nghĩa là không có sự phân biệt

nam hay nữ khi tham gia vào tổ chức hội�

Về quyền lợi hội viên, gồm biểu quyết, tuyển

cử và bị cử, nghĩa là nam hay nữ khi tham

gia vào hội đều có quyền như nhau về biểu

quyết, ứng cử và bầu cử� Vấn đề này cho

thấy, tư tưởng hành động của Người đúng

với quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và

hơn hẳn hành động mới công nhận quyền

bầu cử của nữ giới ở các nước tư bản�

Cùng chủ trương bình đẳng quyền chính

trị, trong bản “Chính cương tối đê hạn độ”

của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên

khẳng định việc cách mạng thực hiện những

nhiệm vụ cách mạng sẽ thực hiện cho phụ

nữ Việt Nam: “Thực hành chế độ tám giờ cho

thợ thuyền đàn ông và sáu giờ cho thợ thuyền

đàn bà và trẻ con/ Định luật lao động cấm chỉ thuê đàn bà, trẻ con làm công ban đêm và các chỗ độc địa/ Đàn ông, đàn bà tuyệt đối bình đẳng, bình quyền về các phương diện (pháp luật, tục lệ, v.v…)” [1]�

Trong Cương lĩnh thành lập Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, giải phóng toàn diện phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ với vai trò là một người dân của nước Việt Nam� Bên cạnh đó, “Chánh cương vắn tắt” đã khẳng định một chính sách quan

trọng về phương diện xã hội của Đảng là “b)

Nam, nữ bình quyền v.v ” [2]� Ngay sau khi

thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra

“Lời kêu gọi” nhân dân Việt Nam, trong đó

có “chị em” phụ nữ đấu tranh chống thực dân Pháp, phong kiến tay sai� Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, hàng vạn chị em phụ

nữ Việt Nam đã tham gia phong trào cách mạng trong những năm 1930–1931, đỉnh cao

Thứ nhất: Qua những hoạt động thực tiễn

cả trong nước và thế giới, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhận thấy phụ nữ ở các nước thuộc địa và các nước tư bản đều có thân phận thấp kém, khổ cực, bất hạnh� Họ

bị tư bản, thực dân áp bức, bóc lột nặng nề, tàn bạo� Người phụ nữ dù ở nước tư bản hay chính quốc đều là bộ phận bị tổn thương nặng nề nhất bởi các chính sách của chính quyền tư bản, thực dân�

Thứ hai: Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng

đắn, sâu sắc về tư tưởng giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhận thức sâu sắc về những việc làm cụ thể của Liên Xô đối với phụ nữ các dân tộc Liên Xô� Người đồng

Trang 21

thuận và xác định phương hướng giải phóng

phụ nữ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác–

Lênin—quan điểm giải phóng toàn diện,

bình đẳng toàn diện: quyền về chính trị, về

kinh tế, về giáo dục và các quyền khác�

Thứ ba: Hồ Chí Minh nhận thức rõ về vai

trò của phụ nữ thế giới, phụ nữ Việt Nam

ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX� Đối

với phụ nữ Việt Nam, Người nhận thấy một

truyền thống quý báu được duy trì từ buổi

đầu dựng nước� Do vậy, Người xác định rõ

phụ nữ là một bộ phận không thể thiếu của

cách mạng ở chính quốc và thuộc địa� Người

chủ trương phải thu hút, vận động, bồi

dưỡng, tổ chức để phụ nữ tham gia mạnh

mẽ vào cuộc cách mạng chung của dân tộc�

Thứ tư: Những chủ trương giải phóng phụ

nữ Việt Nam của Hồ Chí Minh thời kỳ này là

sự vận dụng sáng tạo tư tưởng giải phóng phụ

nữ của chủ nghĩa Mác–Lênin vào hoàn cảnh

cụ thể của cách mạng Việt Nam: giải phóng

thân phận người dân nô lệ; sau giải phóng

phải thực hiện bình đẳng quyền lợi chính trị,

kinh tế, văn hóa; hỗ trợ tích cực về mọi mặt

để phụ nữ có thể thực hiện bình đẳng thật

sự với nam giới� Người dành cho phụ nữ thế

giới, phụ nữ Việt Nam sự trân trọng, tình

cảm thân thương không chỉ qua lời nói, mà

cả những hành động cách mạng thực tiễn�

Thứ năm: Trong bối cảnh thế giới lúc đó,

các nước tư bản phát triển mạnh về kinh tế

nhưng việc thực hiện bình đẳng mới dừng

lại ở quyền bầu cử, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp

thu tư tưởng tiến bộ của các bậc tiền bối

như C� Mác, V�I� Lênin và xác định phải

giải phóng toàn diện cho phụ nữ� Mặt khác,

Người đã phát triển tư tưởng giải phóng

phụ nữ thêm một bước qua chủ trương giải

phóng phụ nữ các dân tộc thuộc địa, trực

tiếp là phụ nữ Việt Nam� Như vậy, Nguyễn

Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp giải phóng toàn diện phụ nữ thế giới�

3 Kết luận

Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ trong những năm 20 của thế kỷ XX là sự tiếp thu sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác phụ nữ trong thời đại mới vào thực tiễn cách mạng Việt Nam� Tư tưởng của Người trong giai đoạn này là nền tảng định hình chủ trương, hành động thực tiễn giải phóng phụ nữ Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đến nay� Hồ Chí Minh đã có những đóng góp thiết thực về

lí luận và thực tiễn cho cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ� Thực tiễn những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới cho phụ nữ Việt Nam là một trong những minh chứng cho thấy việc xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân chủ, công bằng, văn minh�

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng

toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1998�

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng

toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

[5] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử

thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003�

[6] Nguyễn Anh Thái, Lịch sử thế giới hiện đại,

Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000�

(Xem tiếp trang 27)

Trang 22

Đất nước Trung Hoa rộng lớn với chiều

sâu văn hóa hàng nghìn năm đã trở

thành một trong những cái nôi của văn hóa,

văn minh nhân loại� Đặc trưng quan trọng

của cái nôi ấy là tính chất nông nghiệp,

nông thôn, nơi con người tồn tại hài hòa

cùng thế giới tự nhiên� Cũng vì thế, văn

học cổ điển Trung Hoa nói chung, kho tàng

Đường thi nói riêng xuất hiện không ít bài

thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên� Trong hơn

200 nữ sĩ đời Đường, Lý Quý Lan là nhà thơ

duy nhất được tôn xưng “Nữ trung thi hào”�

Cũng như sáng tác của nhiều thi nhân thời

ấy, thơ Lý Quý Lan phản ánh mối quan hệ

hài hòa giữa con người với tạo vật thiên

nhiên� Con đường sáng tạo của nữ thi nhân

là hành trình sử dụng ngôn ngữ để mở ra

Đặng Thị BíCh hồng 1 , Dương Tuấn anh 2

1 Đại học Hùng Vương, 2 Đại học Sư phạm Hà Nội

Nhận bài ngày 14/11/2017, Phản biện xong ngày 27/11/2017, Duyệt đăng ngày 28/11/2017

TÓM TẮT

Hệ thống văn học cổ điển Trung Hoa nói chung, kho tàng Đường thi nói riêng

không đứng ngoài truyền thống của một nền văn hóa nông nghiệp với kinh nghiệm thuận hòa, nương tựa vào thiên nhiên Trong hơn 200 nữ sĩ đời Đường, Lý Quý Lan là nhà thơ duy nhất được tôn xưng “Nữ trung thi hào” Đọc thơ Lý Quý Lan từ mối quan hệ tương thông Thiên – Địa – Nhân, chúng tôi nhận diện con đường sáng tạo của nữ thi nhân như là hành trình sử dụng ngôn ngữ để mở ra mối tương cảm đặc biệt giữa con người và thế giới tự nhiên

Từ khóa: Lý Quý Lan, con người, thiên nhiên.

mối tương cảm đặc biệt giữa con người và thế giới tự nhiên� Tìm hiểu mối quan hệ tương thông Thiên – Địa – Nhân trong thơ

Lý Quý Lan, bài viết này hướng đến nhận diện tâm thế con người trong môi trường

tự nhiên với những núi non, cỏ cây, sông nước, bầu trời… Cũng từ đó, thơ xác định một thái độ ứng xử, một nguyên tắc chung sống cùng tự nhiên của con người cổ điển Đông phương�

1 Mô hình Thiên – Địa – Nhân trong truyền thống tư tưởng phương Đông

Con người Á Đông trong sâu thẳm truyền thống vốn gần gũi với thiên nhiên và nương tựa vào thiên nhiên mà sống� Nhìn lại truyền thống tư tưởng phương Đông, có thể nói, sự

Trang 23

coi trọng thiên nhiên trở thành điểm gặp

nhau giữa các trường phái tôn giáo, triết học

cổ điển� Quan niệm về sự tương thông Thiên

– Địa – Nhân trong tư tưởng Nho, Đạo, Phật

như một minh chứng của thái độ tôn sùng

thiên nhiên, đồng nhất bản thể con người

với bản thể tự nhiên�

“Thiên nhân hợp nhất” của Nho gia được

đánh giá là khái niệm cổ điển nhất trong

truyền thống văn hóa Trung Hoa� Vạn vật

trong trời đất và con người hợp thành nhất

thể, con người là một bộ phận của thế giới

tự nhiên� Do vậy, con người phải tuân theo

quy luật tự nhiên, nhân tính phải thống nhất

với thiên đạo� “Khi ‘trung’ – một trạng thái

của ‘tâm’ (tuyệt đối bình lặng trước những

tác động bên ngoài) – đi vào mỗi con người

và tạo nên được sự thống nhất thiên – địa –

nhân, thì đó là lúc ‘hòa’ xuất hiện Nói cách

khác, triết lý Nho giáo khuyến dụ, giữa con

người và thiên – địa có một khoảng cách hiện

hữu, nhưng bất kể trường hợp nào con người

cũng không nên tách mình ra khỏi tự nhiên

và không nên tìm hiểu nó một cách lãnh đạm

mà cần ‘hòa trộn hài hòa nội tâm vào ngoại

cảnh’ – một tiền đề cho việc con người, cả xưa

và nay, tham gia vào sự cộng hưởng nội tại

của các sinh lực trong tự nhiên là chuyển hóa

nội tại của chính mình” [5, tr�454-455]� Tuy

nhiên, là một học thuyết đạo đức, Nho giáo

khi khẳng định trạng thái tương thông giữa

con người và vũ trụ vẫn đặt con người vào vị

trí trung tâm� “Để tìm căn cứ lý luận từ thế

giới khách quan, người ta đem luân thường

đạo lý của con người gán cho vạn vật trong

trời đất, biến trời thành hóa thân của đạo đức

rồi lại lấy thiên đạo chứng minh cho nhân

thế” [1, tr�76]� Giữa con người và vũ trụ tồn

tại mối liên hệ tương cảm; và dựa vào khả

năng điều chỉnh hành vi của con người, mối

liên hệ ấy có thể đạt tới trạng thái cân bằng, thống nhất�

Nếu Nho giáo nói tới “Thiên, Nhân hợp nhất” để nhấn mạnh ý thức đạo đức thì Đạo giáo khẳng định “Thiên, Nhân hòa hợp” để theo đuổi sự hài hòa giữa tâm tính con người với thế giới tự nhiên� “Tự nhiên” là cái đích cao nhất mà triết thuyết Đạo gia hướng tới�

Đạo đức kinh nhấn mạnh: “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp

tự nhiên”� Quan điểm này bắt nguồn từ tư

tưởng Thiên – Địa – Nhân nhất thể có chung bản nguyên là Khí� Như vậy, trạng thái nhất thể này là thuộc tính của tự nhiên, sự cân bằng là trật tự của tự nhiên� Nguyên tắc xử thế được đề xuất ở đây là “vô vi nhi vô bất vi”, kêu gọi con người trở về với tự nhiên, cảm nhận đạo vô vi của vũ trụ� Và trong thế giới tự nhiên ấy, con người bình đẳng với tất

cả các sinh loài khác�

Quan niệm về “vô” của Đạo gia “hầu

như song hành với quan niệm “tính không” (sunyata) – tầm quan trọng của việc đạt tới trạng thái vô niệm, hư không, giải thoát tâm thức khỏi mọi tri kiến được nhấn mạnh trong nhiều kinh sách Phật giáo”[4, tr�215]� Phật giáo Thiền tông chủ trương tu thân xuất thế� Muốn tham thiền đạt ngộ, điều kiện khách quan là con người phải có một không gian thanh tĩnh� Trời, đất tĩnh lặng, thiên nhiên

êm ả là không gian lý tưởng để con người đạt tới trạng thái “tĩnh lự”, “minh tưởng”— trạng thái thống nhất hài hòa giữa con người

và khách thể tự nhiên�

Như vậy, tam giáo phương Đông có thể

đề xuất những quan niệm khác nhau về vị thế của con người trong mối quan hệ với

tự nhiên nhưng xét cho cùng, cả Nho, Đạo, Phật đều khẳng định sự tương liên giữa con người và đất trời như là trạng thái sinh tồn lý

Trang 24

tưởng� Tư tưởng coi trọng thiên nhiên trong

truyền thống Á Đông này chi phối cách con

người thiết lập một thái độ, một nguyên tắc

ứng xử với thế giới tự nhiên� Văn học Á

Đông, vì thế, nổi tiếng với những sáng tác

ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, khắc họa mối

quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự

quấn quýt, giao hòa�

Nhìn vào lịch sử gần 300 năm thời đại

Đường thi, không thể không kể đến một

dòng thơ nổi tiếng lấy cảnh vật nước non làm

đề tài ngâm vịnh chủ đạo: dòng thơ sơn thủy

điền viên với những tên tuổi lừng danh như

Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lưu Trường

Khanh, Vi Ứng Vật, Liễu Tông Nguyên��� Xét

riêng trong trong bậc nữ thi nhân, Lý Quý

Lan “đã vượt khỏi thói tục, tu dưỡng thứ giáo

dục thanh tịnh, tâm sự những xúc cảm sâu

kín, lưu luyến những cảnh sắc tươi đẹp, tiêu

dao với công việc nhàn hạ, luôn nghĩ về những

điều trong trẻo như mây trắng nước xanh” [6,

tr�111]� Thơ Lý Quý Lan nhìn từ truyền thống

tư tưởng phương Đông là một thể nghiệm

về sự tương thông Thiên – Địa – Nhân, sự

gắn kết hài hòa giữa con người và thế giới

tự nhiên�

2 Thiên – Địa hữu linh: bức tranh

sinh loài đa diện trong thơ Lý Quý Lan

Truyền thống thơ ca cổ điển nhìn vạn

vật trong trạng thái tĩnh tại muôn thuở,

miêu tả vạn vật với những thuộc tính tự

nhiên của bản nguyên thế giới� Những

trang thơ điền viên của Vương Duy, Mạnh

Hạo Nhiên, Liễu Tông Nguyên tái hiện vẻ

đẹp nguyên sơ, khách quan của thế giới tự

nhiên, của những ruộng vườn, đồng bãi,

sông núi, suối khe… Con người hiện lên

trong tâm thế soi ngắm và cảm khái� Cùng

chung nguồn mạch tái hiện thế giới tạo

vật muôn vẻ ấy, thơ Lý Quý Lan khắc họa diện mạo thiên nhiên với những sinh loài, những cảnh tượng cụ thể: một cảnh trời, một ngọn núi, một cành hoa… Tuy nhiên, trong thơ Lý Quý Lan, những cảnh tượng

ấy không chỉ là điểm gợi hứng, là nền tảng cho một cảm xúc ký gửi� Thiên nhiên hiện lên trước hết mang những đặc tính

tự nhiên vốn có của nó� Đó là một cảnh tượng đăng sơn:

Úc úc sơn mộc vinh Miên miên dã hoa phát

(Cây trên núi tươi tốt Hoa dại nở miên man)

Là một khung cảnh ngày xuân trước khuê phòng:

Bách xích tinh lan thượng

từ ngữ cá thể hóa sắc thái của sự vật, cụ thể hóa cảnh tượng� “Mộc” phải “vinh”, “dã hoa” phải “phát”, “đào” phải “hồng”, “tường vi” phải dệt thành “linh lung trướng”… Hình ảnh thơ trở thành minh chứng giản dị cho tinh thần “dĩ thiên hợp thiên”, “điêu trác phục phác” của Đạo gia� Vạn vật không đẹp

ở sự đẽo gọt, chỉnh sửa, ngay cả khi đó là sự đẽo gọt, chỉnh sửa khéo léo� Vạn vật đẹp ở chính sự chân thực vô vi của nó�

Trang 25

Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói

nhiều hơn về bức tranh sinh loài trong thơ

Lý Quý Lan là những câu thơ phóng chiếu

cảm giác của chủ thể lên vạn vật� Nó thiết

lập một “luật lệ” riêng của thơ Lý Quý Lan

trong tương quan truyền thống thơ cổ điển�

Nếu như vịnh cảnh trong thơ cổ tạo ấn

tượng về bức tranh thiên nhiên với trạng

thái tự nhiên cố hữu của nó thì thiên nhiên

trong thơ Lý Quý Lan lại phảng phất đời

sống tinh thần con người� Tái hiện khung

cảnh và tâm thế chia tay đêm trăng sáng,

nhà thơ viết:

Ly nhân vô ngữ nguyệt vô thanh

Minh nguyệt hữu quang nhân hữu tình.

Biệt hậu tương tư nhân tự nguyệt

Vân gian thủy thượng đáo tằng thành.

(Người đi không nói trăng lặng thinh

Trăng có ánh vàng người có tình

Xa cách người trăng chung nỗi nhớ

Chân mây mặt nước đến tầng thành)

“Vô thanh” là thuộc tính cố hữu của

“nguyệt”, nhưng khi “nguyệt vô thanh” đặt

trong thế đối xứng với “ly nhân vô ngữ”

thì cái lặng thinh của trăng ấy trở thành

một sự đồng vọng hữu thức với tâm trạng

con người trong khung cảnh biệt ly� Cũng

như thế, “minh nguyệt hữu quang” đối

với “nhân hữu tình”� Ánh sáng của trăng

không còn thuần túy là một thuộc tính tự

nhiên nữa mà nó chuyên chở “tình” trăng,

chuyên chở xúc cảm phút chia tay� Cho

nên câu thơ đồng nhất “nhân tự nguyệt”,

con người và vầng trăng cùng chung nỗi

tương tư� Xét cho cùng, đây chính là cách

thi nhân thiết lập mối quan hệ giữa con

người và vũ trụ� Nhà thơ phóng chiếu cái

nhìn chủ quan của mình lên vạn vật� Vạn

vật từ đó phát lộ đời sống tinh thần của

nó như một sự tương thông, tương hợp với tinh thần con người�

Từ cách thức phổ cảm giác chủ thể vào vạn vật như vậy, nữ sĩ nhận ra cây dương liễu cũng thẫn thờ ly biệt, con thuyền cũng cô độc lẻ loi:

Tương khán chỉ dương liễu Biệt hận chuyển y y.

Vạn lý Giang Tây thủy

Cô chu hà xử quy.

(Nhìn nhau chỉ liễu rủ Thẫn thờ chia tay nhau Dòng Giang Tây muôn dặm Thuyền lẻ loi về đâu)

Lấy con người làm tâm điểm để nhìn ra thế giới, nhà thơ mô tả âm thanh tiếng suối theo chuẩn mực âm thanh tiếng đàn:

Thiếp gia bổn trụ Vu Sơn vân

Vu Sơn lưu tuyền thường tự văn.

Ngọc cầm đàn xuất chuyển liêu huyến Trực thị đương thì mộng lý thính.

(Nhà thiếp trong mây Vu Sơn Vẫn nghe tiếng suối chảy dồn nơi đây Mênh mang đàn ngọc tiếng bay Khác chi tiếng nhạc đong đầy miên man)

Rõ ràng, thiên nhiên trong thơ Lý Quý Lan không phải là một trạng thái hóa sinh

đã hoàn tất mà là một quá trình hóa sinh đang diễn tiến� Nó không tĩnh tại, không bất biến mà ngược lại, ẩn tàng sinh khí, mang chứa niềm giao cảm của thế giới con người�

3 Nhân tâm đối cảnh: nhận diện thế giới quan trong thơ Lý Quý Lan

Trong thơ ca cổ điển Trung Hoa nói chung và thơ Đường nói riêng, mô hình thơ không đơn thuần là mô hình thi luật mà còn

là mô hình thế giới quan� Và điểm nổi bật

Trang 26

nhất của mô hình thế giới quan đó là mô

hình tâm – vật: kết cấu bài thơ thường đi

theo trình tự từ vật đến tâm hoặc từ tâm đến

vật� Thơ “không theo đuổi mô phỏng cảnh

vật khách quan như thật, mà ra sức sáng tạo

và biểu hiện cái ý cảnh có đặc điểm cá tính,

tức là cảm xúc chủ quan của tác giả giao hòa

với cảnh vật khách quan mà hình thành nên

cảnh giới nghệ thuật – tức cảnh sinh tình, gửi

tình vào cảnh và miêu tả cái tình của vạn

vật” [2, tr�706]�

Thơ Lý Quý Lan nhìn chung đứng ngoài

quy định ngặt nghèo của những luật lệ thơ

ca cứng nhắc� Trong toàn bộ sự nghiệp thơ

của mình, Lý Quý Lan hầu như không sáng

tác theo thể luật Đường� Tuy nhiên, những

vần thơ tự do phóng khoáng của nữ sĩ về cơ

bản không phá vỡ mô hình thế giới quan

tâm – vật� Bài thơ có thể mở đầu là một

không gian ngoại cảnh, kết lại bằng không

gian tâm trạng:

Lưu thủy Xương Môn ngoại

Cô chu nhật phục tê (tây).

Ly tình biến phương thảo

Vô xứ bất thê thê.

Thiếp mộng kinh Ngô uyển

Quân hành đáo Diệm khê.

Quy lai trọng tương phóng

Mạc học Nguyễn lang mê.

(Ngoài Xương Môn nước chảy

Thuyền theo ráng về tây

Phương thảo nhuốm ly biệt

Đâu đâu cũng hương đầy

Vườn Ngô thiếp mơ tới

Sông Diệm chàng vui vầy

Về lại cùng dò xét

Chớ học Nguyễn lang say)

Cũng có khi bài thơ được cấu trúc theo

chiều ngược lại, mở đầu bằng tâm trạng, kết

lại bằng cái nhìn ra ngoại cảnh:

Tâm viễn phù vân tri bất hoàn Tâm vân tịnh tại hữu vô gian.

Cuồng phong hà sự tương diêu đãng Xuy hướng nam san phục bắc san.

(Lòng theo mây nổi mãi biệt ly Giữa khoảng có – không đến lại đi

Hà cớ cuồng phong xoay chuyển thổi Nam sơn bay tới, Bắc sơn về)

Ở đây, điểm nổi bật trong cái nhìn của nhà thơ là sự thống nhất giữa tâm và vật, giữa tiểu ngã và đại ngã� Kết cấu thơ dù đi

từ vật đến tâm hay từ tâm đến vật thì giữa tâm và vật đều tồn tại sự hô ứng lẫn nhau, rặng cỏ xanh nhuốm sắc màu ly biệt, tâm tư trôi theo mây trời� Bản thân sự hô ứng tâm – vật ấy tạo ra cho thơ Lý Quý Lan vẻ đẹp của trạng thái điềm tĩnh, của sự giao hòa�

Để miêu tả mối quan hệ thân thiết, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, để gợi thái độ của con người trước thế giới tự nhiên,

Lý Quý Lan vận dụng linh hoạt kho ngôn ngữ Đường thi với những con chữ vừa biểu

ý, vừa biểu cảm, khi “vọng thủy”, lúc “đăng sơn”, khi “ngưỡng khan minh nguyệt”, lúc

“phủ miện lưu ba”… Trong thơ Đường nói chung, trạng thái đối cảnh gần như đi liền với sự tương thông, tương cảm giữa nhân tâm và thiên cảnh� Cho nên nhắc tới “đăng cao”, “viễn vọng” cũng tức là nhắc tới “hoài cổ”, “tư hương”, đối diện “minh nguyệt” là gợi nhắc “cố hương”… Thơ Lý Quý Lan tái hiện cảnh huống đăng cao như một bối cảnh

(Lên núi ngắm nước non

Hồ rộng, núi chon von

Trang 27

Nhớ nhau quên sớm tối

Năm tháng vẫn sắt son)

Bài thơ được viết sau buổi Lý Quý Lan chia

tay danh sĩ Chu Phóng để Chu Phóng phụng

chỉ đi làm quan ở tỉnh Giang Tây� Nỗi “tương

tư”, “tương vọng” giữa hai người bạn tâm giao

cần đến chiều kích của “sơn cao”, “hồ khoát”�

Cũng như thế, trong tình yêu, nữ thi nhân

bày tỏ nỗi sầu oán tương tư gắn với không

gian của “cao lâu”, của “nguyệt hoa mãn”:

Huề cầm thượng cao lâu

Lâu hư nguyệt hoa mãn.

Đàn trứ tương tư khúc

Huyền tràng nhất thì đoạn.

(Lầu cao ôm đàn gảy

Hoa trăng ngập lầu không

Tương tư đàn một khúc

Đứt dây lẫn cõi lòng)

Trong thời đại Đường thi, các danh sĩ

đăng cao để phóng cái nhìn ra xa, để thâu

cảm cái mênh mông của không gian, cái

vô tận của thời gian� Nữ sĩ họ Lý tái hiện

những cảnh huống đăng cao, song tâm thế

con người đăng cao lại hướng về những xúc

cảm đặc trưng phái tính� Nó làm nên cá tính

sáng tạo của thi nhân trong bức tranh nghệ

thuật thời Đường� Trước đó mấy trăm năm,

Đào Uyên Minh đã đưa thơ về với ruộng

vườn quen thuộc như là không gian nương

náu bình yên, lánh xa thế thái� Đến phong

khí Thịnh Đường, Vương Duy, Mạnh Hạo

Nhiên khắc họa thiên nhiên trong vẻ đẹp

thanh tân, bình dị, quyện hòa đời sống con

người để truy tầm trạng thái an nhiên, tự

tại, thanh nhàn… Thơ Lý Quý Lan trở về

với tự nhiên nhưng không phải để ảnh xạ

tâm tư nhàn nhã� Thiên nhiên hòa điệu với

chiều sâu nội tâm con người song đó là chiều

sâu nội tâm của một cái tôi nữ giới – cái tôi

phóng khoáng mà đa cảm trong tình bạn, tình đời và trong cả tình yêu�

Có thể nói, Thiên – Địa – Nhân hợp

nhất là tư tưởng bao trùm trong triết lý phương Đông� Nó quy tụ mọi tư tưởng tôn giáo và tạo nên bản sắc văn học nghệ thuật phương Đông là tình yêu thiên nhiên� Nhìn

từ trường hợp thơ Lý Quý Lan, quan điểm tương thông Thiên – Địa – Nhân đã làm nên diện mạo bức tranh sinh loài đa sắc và căng đầy sự sống, đã kiến tạo sự hài hòa nhân tâm thiên cảnh như một nguyên tắc thế giới quan� Thơ Lý Quý Lan, vì thế, góp thêm một tiếng nói khẳng định nguyên tắc ứng xử hài hòa giữa con người với thế giới tự nhiên của thơ Đường nói riêng và thơ ca cổ điển phương Đông nói chung�

Tài liệu tham khảo

[1] Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý chủ

biên (2004), Đại cương lịch sử văn hóa Trung

Quốc� (Lương Duy Thứ dịch)� Nxb VHTT�

[2] Đường Đắc Dương chủ biên (2003), Cội

nguồn văn hóa Trung Hoa (Nguyễn Thị Thu

Hiền dịch)� Nxb Hội Nhà văn�

[3] Đỗ Văn Hiểu, Văn học sinh thái và lý luận

phê bình sinh thái� http://www�dovanhieu�

phe-binh�html

net/2015/08/van-hoc-sinh-thai-va-li-luan-[4] Michael Jordan (2004), Minh triết Đông

phương (Phan Quang Định dịch)� Nxb

Mỹ thuật�

[5] Trần Hải Yến (2016), “Nghiên cứu, phê bình hiện đại và di sản văn hóa: Nhìn từ cách

sinh thái học tìm về Tam giáo”, Văn học

Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Tập 1� Nxb Khoa học Xã hội�

[6] Nhiều tác giả (1995), Đường tài tử truyện

toàn thích� NXB Nhân dân Quý Châu�

Trang 28

SUMMARY The correspondence among Heaven, Earth, and Human

in ly quy lan’s poetry

Dang Thi BiCh hong 1 , Duong Tuan anh 2

1 Hung Vuong University, 2 Hanoi National University of Education

The classical Chinese literature system in general, Tang treasures in particular, did

not stand outside of the tradition of an agricultural culture, with a harmonious experience, relying on nature Among more than 200 Tang dynasty artists, Ly Quy Lan was the only poet honored as the “Female Poet” Reading Ly Quy Lan’s poetry from the correspondence among Heaven, Human and Earth, we identify her path of cre-ation as the journey of using language to open up the special relationship between human and the natural world

Keywords: Ly Quy Lan, human, nature.

SUMMARY

Ho Chi Minh’s heritage on the solution of women in the future

of the twenty-year of the 20th century

Tran Van hung, Chu Thi Thanh hien

Faculty of Social Sciences & Humanities – Hung Vuong University

In the twenties of the 20th century, the struggle for women’s rights was a critical issue

in the world, besides the struggle for national liberation, against imperialism To absorb the progressive ideas of Marxism–Leninism and the movement of women’s rights in the world, Nguyen Ai Quoc–Ho Chi Minh made important contributions to the movement The thought of Nguyen Ai Quoc on women’s liberation during this period is reflected in his writings and actions with the basic contents: Awareness of the situation of women and the world in Vietnam; The role of women; The goal is to fight for women’s liberation and implement “gender equality”

Keywords: women; women’s liberation; gender equality

Trang 29

tạo ra 4 triệu việc làm, trong đó có 1,6 triệu

việc làm trực tiếp [1]� Tuy nhiên, theo số liệu

từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt

Nam, tính đến hết năm 2017, ngành du lịch

mới có khoảng hơn 2,5 triệu lao động, với

hơn 600�000 lao động trực tiếp [2]� Điều này

Khoa KHXH & NV – Đại học Hùng Vương

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40�000 lao động; nhưng chỉ có khoảng 20�000 lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, trong số đó chỉ có khoảng 1�800 sinh viên đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 2�100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch� Bên cạnh đó là học sinh trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới ba tháng [2]� Các con số này cho thấy, nguồn nhân lực không những thiếu về số lượng mà còn thiếu trầm trọng đội ngũ được đào tạo bài bản�Hiện có khoảng 60% lực lượng lao động của ngành biết ngoại ngữ nhưng chủ yếu là tiếng Anh (42%), tỷ lệ biết tiếng Trung Quốc chỉ 5%, tiếng Pháp 4%��� Trong đó, số lao

TÓM TẮT

Nhân lực du lịch Việt Nam là một trong những vấn đề đang được quan tâm khá lớn

hiện nay Việt Nam được đánh giá là nước có tay nghề du lịch cao trong khu vực nhưng số lượng lao động có tay nghề cao còn hạn chế Du lịch tỉnh Phú Thọ đang đứng trước sự khó khăn về nguồn nhân lực du lịch được đào tạo bài bản có tỷ lệ thấp, thiếu về số lượng và chất lượng – tay nghề, ngoại ngữ Sự liên kết giữa các doanh nghiệp sử dụng và cơ sở đào tạo nhân lực còn hạn chế Bài báo này đưa ra một số giải pháp: mở các lớp đào tạo nghề cho lao động, các khóa học ngắn hạn về ngoại ngữ; thu hút nguồn lao động chất lượng cao làm việc tại Phú Thọ… nhằm nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực du lịch địa phương

Từ khóa: nhân lực, lao động có tay nghề cao, nhân lực du lịch

Nhận bài ngày 02/11/2017, Phản biện xong ngày 25/12/2017, Duyệt đăng ngày 26/12/2017

Trang 30

động có khả năng sử dụng thành thạo ngoại

ngữ chỉ 15%, tập trung chủ yếu ở bộ phận

làm hướng dẫn viên du lịch, lễ tân khách sạn

[2]� Số lượng lao động nằm trong vùng mù

ngoại ngữ còn khá lớn�

Theo Tổng cục Du lịch, cho đến nay

cả nước có trên 1,3 triệu lao động du lịch,

chiếm khoảng 2,5% tổng lao động cả nước;

trong đó 42% được đào tạo về du lịch, 38%

được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang

và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy

– tham gia các lớp huấn luyện tại chỗ [2]� Vì

vậy số lao động có chuyên môn, kỹ năng cao

vừa thiếu, vừa yếu nhưng số lao động chưa

đáp ứng yêu cầu lại dư thừa�

Mỗi năm, các trường đào tạo chuyên

ngành về du lịch của cả nước hiện đáp ứng

60% nhu cầu lao động của ngành, dẫn đến

tình trạng thiếu trầm trọng nguồn nhân lực

du lịch [2]� Hiện nay, một số doanh nghiệp

như Vingroup, FLC��� đầu tư xây dựng hàng

ngàn phòng khách sạn 4-5 sao tại Phú Quốc,

Thanh Hóa, Phú Yên��� Điều này dẫn đến

việc nguồn lao động chất lượng cao đang

bị “săn đón” quyết liệt; đầu ra từ các trường

đào tạo chuyên ngành du lịch không đủ cung

cấp cho thị trường lao động� Do đó, hiện nay

nguồn lao động đạt tiêu chuẩn về nghề hoạt

động trong các khách sạn 4-5 sao chủ yếu lại

là các lao động có tay nghề không cao�

Như vậy, có thể nói nhu cầu về nguồn lao

động du lịch có chất lượng đang là mong mỏi

rất lớn và có thị trường đầu ra rất mở đối với

các cơ sở đào tạo về du lịch� Tổng kết nhu

cầu về lao động du lịch chúng ta thấy doanh

nghiệp du lịch Việt Nam hiện nay đang yêu

cầu và cần rất lớn ở các khía cạnh: tay nghề

chuyên môn, trình độ ngoại ngữ của người

lao động� Đây là vấn đề lớn chúng ta cần

khắc phục đối với nguồn lao động của mình�

Bên cạnh đó, lao động du lịch của chúng ta được đánh giá khá cao về mặt tay nghề trong các cuộc thi tay nghề khu vực ASEAN� Tuy nhiên, số lao động đạt được trình độ cao đó chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của doanh nghiệp�

2 Nội dung2.1 Hiện trạng nhân lực du lịch ở Phú Thọ hiện nay

Tại tỉnh Phú Thọ, trong vài năm trở lại đây, hoạt động du lịch với các yếu tố cung cấp dịch vụ du lịch đang phát triển mạnh tại Phú Thọ: công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn… cùng với đó là nhu cầu lớn về nhân lực được đào tạo�

Trên địa bàn tỉnh hiện có 04 trường đại học, cao đẳng và trung cấp mở mã ngành đào tạo du lịch (Đại học Hùng Vương, Đại học Công nghiệp Việt Trì, Cao đẳng nghề Phú Thọ, Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật

& Du lịch) với tổng số hơn 400 sinh viên đã

và đang được đào tạo� Trong đó, trường Đại học Hùng Vương và trường Cao đẳng Nghề Phú Thọ là 2 cơ sở cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành du lịch tỉnh nhà, mỗi năm cung cấp ra thị trường vài chục lao động có tay nghề về: Hướng dẫn viên, bếp, bàn, khách sạn… Tuy nhiên, nguồn cung lao động này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp� Các doanh nghiệp ngành dịch vụ du lịch, lữ hành trong tỉnh: Khách sạn Mường Thanh Việt Trì, khách sạn Việt Trì Garden, tổ hợp các khu vui chơi giải trí tại Thanh Thủy… đang cần và thiếu rất nhiều lao động có tay nghề cao: Khách sạn, bếp, buồng, bàn, quản trị khách sạn, nhà hàng và các trung tâm vui chơi giải trí� Có thể thấy rõ nét thực trạng nguồn nhân lực du lịch hiện nay trên địa bàn tỉnh qua các số liệu sau: Tính đến 30/4/2017,

Trang 31

nhân lực làm việc trong ngành Du lịch của

tỉnh Phú Thọ là 3�530 người [5]� Trong số này:

Cơ quan quản lý nhà nước với tổng số cán

bộ, công chức quản lý du lịch là 33 người�

Đơn vị sự nghiệp bao gồm 44 cán bộ viên

chức tại: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du

lịch (18 cán bộ), Trung tâm Văn hóa Thể thao

và Du lịch các huyện thành thị (26 cán bộ)�

Cơ sở đào tạo du lịch tại tỉnh Phú Thọ bao

gồm 10 cán bộ quản lý và 23 giảng viên tại 02

trường đại học, 01 trường cao đẳng nghề du

lịch, 01 trường trung cấp� Đối với các đơn vị

kinh doanh có các cơ sở lưu trú gồm 296 cơ

sở lưu trú (gồm 32 khách sạn, 264 nhà nghỉ)

có tổng số 1�735 lao động� Doanh nghiệp lữ

hành và vận chuyển khách du lịch có 24 đơn

vị lữ hành và vận chuyển khách du lịch, 70 hộ

kinh doanh cá thể xe ô tô vận chuyển khách

du lịch, 01 hộ kinh doanh phương tiện thủy

nội địa với 258 lao động� Tại khu, điểm du

lịch hiện có 504 lao động (Khu di tích lịch sử

Đền Hùng, Đền Mẫu Âu Cơ, Vườn quốc gia

Xuân Sơn, Bảo tàng Hùng Vương, đình Hùng

Lô, Thét…)� Hệ thống nhà hàng với 20 nhà

hàng lớn đảm bảo khả năng phục vụ khách

du lịch có 530 lao động� Bên cạnh đó là các

cơ sở khác như: làng nghề, điểm mua sắm,

điểm dừng chân đạt chuẩn phục vụ khách du

lịch… gồm 320 lao động�

Tổng hợp số liệu khối lượng lao động

trong ngành du lịch của Phú Thọ cho thấy:

Nhân lực lao động du lịch tập trung phần

lớn tại khối các đơn vị kinh doanh; đây là khối thực hiện hoạt động kinh doanh phục

vụ khách du lịch trực tiếp với 3�347/3�530 lao động, chiếm 94,8% tổng số lao động toàn ngành du lịch Phú Thọ� Tuy nhiên,

số lượng lao động này chủ yếu là lao động chưa được đào tạo tay nghề chuyên sâu� Đồng thời, đây là nhóm lao động thời vụ

có số lượng lao động rất lớn; thời gian làm việc mang tính chất thời vụ vào thời điểm trước và trong thời gian lễ hội Đền Hùng

tổ chức� Lực lượng lao động này được thể

hiện rõ qua bảng 1 với số lượng lao động

gián tiếp trong ngành qua các năm đều rất lớn – chiếm hơn 70% tổng số lao động toàn ngành� Với đặc thù lao động thời vụ, việc nâng cao trình độ tay nghề lao động là một vấn đề rất lớn đặt ra đối với ngành du lịch Phú Thọ nói chung và Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch nói riêng� Với nhu cầu rất lớn nguồn lao động qua đào tạo, đặc biệt lao động chất lượng cao, trong các doanh nghiệp du lịch như hiện nay, thì hướng đi đào tạo nghề du lịch sẽ tiếp tục có nhiều triển vọng trong những năm sắp tới�

Trong hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch đến với khách du lịch, tay nghề người lao động khẳng định sự chuyên nghiệp của doanh nghiệp nói riêng và ngành du lịch của tỉnh nói chung� Số lượng lao động của tỉnh Phú Thọ được đào tạo bài bản tập trung chủ yếu vào khối các cơ quan quản lý, cơ sở đào

Chú thích: (*) số liệu dự kiến� Nguồn: Thống kê về tình hình phát triển du lịch, thực

trạng và nhu cầu phát triển – Sở Văn hóa-Thể thao & Du lịch 2017

Trang 32

Bảng 2 Trình độ của lao động du lịch Phú Thọ (Đơn vị tính: người)

QLNN Đơn vị sự nghiệp Khách sạn, nhà hàng Lữ hành, vận chuyển DL Dịch vụ khác

Chú thích: A: Anh, P: Pháp, T: Trung, N: Nga, Đ: Đức và K: Ngoại ngữ khác� Nguồn: Báo cáo đánh giá thực

trạng và nhu cầu nguồn nhân lực du lịch tỉnh Phú Thọ 2017- Sở Văn hóa–Thể thao–Du lịch tỉnh Phú Thọ

tạo du lịch và đơn vị sự nghiệp (bảng 2) tạo

ra sự mất cân bằng giữa các khối ngành� Tỉ lệ

lao động có trình độ tay nghề, được đào tạo

tham gia trực tiếp vào hoạt động phục vụ còn

chiếm số lượng thấp� Lao động có khả năng

giao tiếp và đạt trình độ ngoại ngữ tốt phục

vụ khách du lịch quốc tế có tỷ lệ quá thấp –

2�706 lao động chưa có chứng chỉ ngoại ngữ

trên tổng số 3530 lao động� Điều này đang đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu thu hút khách du lịch nước ngoài đến với Phú Thọ trong những kế hoạch phát triển du lịch dài hạn�

Nguồn lao động có tay nghề, được đào tạo bài bản phục vụ trực tiếp đối với khách tập trung số lượng lớn vào ngành khách

Trang 33

sạn, nhà hàng (125 lao động) các ngành dịch

vụ du lịch khác tỷ lệ lao động được đào tạo

đúng chuyên ngành khá thấp� Lực lượng lao

động trái ngành, trái nghề hoạt động khác

phổ biến (930 lao động đào tạo các ngành

khác hoạt động trong ngành du lịch)� Đáp

ứng nhu cầu lao động được đào tạo đúng

chuyên ngành, phát huy thế mạnh và tiềm

năng sẵn có về lao động là bài toán, nhu cầu

Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch tỉnh Phú

Thọ cần giải quyết để nâng cao chất lượng và

cân bằng cán cân trình độ tay nghề lao động

trong mục tiêu phát triển du lịch chất lượng

cao và là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh�

Qua số liệu trên, rút ra một số vấn đề sau:

Một là, nhân lực du lịch phân bổ theo

cơ cấu nhóm nghề và địa bàn đang bị mất

cân đối, nhân lực tập trung chủ yếu ở nhóm

ngành nhà hàng và khách sạn, đặc biệt thiếu

và mỏng ở nhóm nghề lữ hành� Ngoài ra, địa

bàn hoạt động chủ yếu tập trung tại Việt Trì�

Hai là, trình độ lao động du lịch trong tỉnh

cũng đang ở mức đáng lo ngại� Lao động có

trình độ đại học và sau đại học ít về số lượng,

lại tập trung chủ yếu ở khối đơn vị sự nghiệp

chiếm 48,8%� Trong đó, số lượng được đào

tạo về du lịch chiếm một tỷ lệ vô cùng khiêm

tốn so với tổng lực lượng lao động vốn có của

ngành� Số lao động trình độ chuyên môn cao

tập trung lớn vào các ngành đào tạo khác và

thực hiện hoạt động lao động trong ngành

du lịch�

Ba là, trình độ ngoại ngữ của lao động

du lịch cũng trong mức báo động với ngoại

ngữ chính là tiếng Anh; tỷ lệ lao động thực

hiện giao tiếp tốt với du khách chiếm một

tỷ trọng quá nhỏ� Số lượng lao động biết

ngoại ngữ phân bố không đồng đều giữa các

ngành� Số lượng lao động không có chứng

chỉ tiếng Anh đi kèm với không thể giao tiếp

bằng ngoại ngữ đối với khách du lịch chiếm

tỷ lệ lớn với 76,7%�

Bốn là, lực lượng lao động gián tiếp hoạt động trong ngành chiếm một tỷ trọng khá lớn, dẫn đến sự khó khăn trong quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân sự�

2.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu nhân sự du lịch tại tỉnh Phú Thọ

Nhu cầu và hiện trạng nhân lực du lịch tại địa phương hiện đang là một bài toán nan giải, mang tính cấp thiết trong việc nghiên cứu, triển khai các chiến lược điều chỉnh phát triển du lịch� Hoạt động quan tâm, đầu

tư cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

du lịch là việc làm cấp thiết và mang tính bắt buộc hiện nay� Với việc Đảng bộ tỉnh đã xác định du lịch là một trong 4 khâu đột phá phát triển kinh tế trọng điểm thì cần phải tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề thu hút nguồn lao động từ địa phương khác trở về tỉnh làm việc, đồng thời giữ chân nguồn lao động đang được đào tạo tại các cơ sở đào tạo của tỉnh hiện nay� Do đó, tác giả đề xuất một

số giải pháp giải quyết các vấn đề đang đặt ra đối với nguồn nhân lực du lịch tỉnh:

Một là, thu hút nguồn nhân lực hướng

dẫn viên và nhân lực du lịch được đào tạo, có tay nghề tham gia phát triển và hoạt động tại tỉnh bằng cách tạo ra chế độ làm việc, môi trường, các chính sách thúc đẩy phát triển tay nghề và giữ chân lao động…

Hai là, tăng cường mở các lớp đào tạo, tập

huấn tại chỗ về kỹ năng nghề du lịch dựa vào các cơ sở đào tạo về du lịch trên địa bàn tỉnh (Trường Đại học Hùng Vương, Trường Cao đẳng Nghề Phú Thọ…)� Mở một số ngành đào tạo về nhà hàng, khách sạn tại các cơ sở đào tạo� Định hướng cung cấp nguồn nhân sự chất

Trang 34

lượng cao đối với lao động trực tiếp phục vụ

khách du lịch� Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân

lực khối ngành cung ứng dịch vụ du lịch�

Ba là, Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch

tỉnh cần xây dựng các chương trình và hoạt

động đào tạo ngoại ngữ đối với nhân lực

du lịch: Nâng cao khả năng giao tiếp bằng

ngoại ngữ thông qua các hoạt động trao

đổi chuyên môn, các khóa huấn luyện ngắn

hạn tại các cơ sở cung ứng dịch vụ, các lớp

đào tạo tập trung ngắn hạn; Khuyến khích

người lao động tham gia các hoạt động học

tập ngoại ngữ; Liên kết mở các lớp đào tạo

và cấp chứng chỉ ngoại ngữ đối với nhân lực

du lịch tại các cơ sở đào tạo (Trường Đại học

Hùng Vương)�

Bốn là, nâng cao mối liên kết giữa các đơn

vị quản lý nguồn lao động gián tiếp cũng

như các đơn vị quản lý chủ quản về du lịch

tại tỉnh; quản lý và đồng nhất chất lượng, tay

nghề nguồn nhân lực phục vụ du lịch�

3 Kết luận và kiến nghị

Cùng với thực trạng chung của cả nước,

nguồn nhân lực du lịch Phú Thọ không tránh

khỏi tình trạng vừa thiếu về số lượng, vừa yếu

về chất lượng trình độ chuyên môn, ngoại ngữ�

Sự phân bố lực lượng lao động du lịch không

đồng đều giữa các ngành và các địa phương;

sự chênh lệch về trình độ chuyên môn, tay

nghề; lực lượng lao động thời vụ chiếm số

lượng với trình độ chuyên môn và tay nghề

thấp là những vấn đề đang đặt ra và cần giải

quyết� Du lịch Phú Thọ với nguồn nhân lực

như hiện nay rất cần sự quan tâm đầu tư phát

triển về trình độ chuyên môn tay nghề, ngoại

ngữ� Đồng thời, cần thiết lập mối quan hệ

chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và nhà tuyển

dụng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn

nguồn nhân lực chất lượng cao như hiện nay�

Từ đây, tác giả đưa ra một số kiến nghị đặt

ra đối với các ban, ngành liên quan nhân sự

và Cao đẳng Nghề Phú Thọ trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng nhu cầu thị trường sử dụng lao động du lịch ngày một lớn hiện nay trong và ngoài tỉnh�

■Đối với các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp: cần định hướng đúng mục tiêu các ngành đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động�

Từ đó, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường�

■Đối với trường đại học Hùng Vương: định hướng mở chuyên ngành Khách sạn, nhà hàng sẽ đáp ứng nhu cầu cao của hệ thống nhà hàng khách sạn về nguồn nhân

sự ngành này tại Phú Thọ – số lượng nhà hàng khách sạn tại Phú Thọ đến năm 2018 rất lớn, nhưng số lượng lao động qua đào tạo chuyên ngành rất ít, chủ yếu lao động phổ thông, không qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ�

Tài liệu tham khảo

[4] Sở VH-TT-DL� Báo cáo đánh giá thực trạng

và nhu cầu nguồn nhân lực du lịch tỉnh Phú Thọ 2017.

[5] www�itdr�org�vn/

Trang 35

SUMMARY Current status of human resources in tourism

in the country and phu tho province

Pham Thi Phuong Loan

Faculty of Social Sciences & Humanities – Hung Vuong University

Human resources is one of the biggest issues that Vietnam tourism industry is

fac-ing nowadays In the South East region, although Vietnam is placed highly on the list of countries having skilled labor forces, yet the number of high-quality labor

is limited Tourism in Phu Tho Province is also having many difficulties: low ratio of well-educated employees, lack of quantity and quality as well as skilled, fluent foreign language speakers; broken link between the demand for and the supply of high-skilled workers This article presented a number of solutions: open training classes for employees, short-term courses teaching foreign languages, and deploy various strategic plans to attract high-quality labor working in Phu Tho in order to improve the quality and quantity of local tourism resources

Keywords: human resources, high-quality labor, tourism resources

SUMMARY Approaching STEM education in training mathematical pedagogical

students at Hung Vuong University

Do Tung

Hung Vuong University

The current context of globalization and international integration with the

devel-opment of science and technology have required the comprehensive education reform A feasible and effective pathway to education in many countries is the imple-mentation of STEM education (Science, Technology, Engineering, and Math) through educational projects or products to enable learners to have both theoretical knowl-edge and practical ability This paper proposes some suggestions for implementing STEM-oriented education in training mathematical pedagogical students at Hung Vuong University

Keywords: Training, University, Hung Vuong, STEM education, mathematical

pedagogi-cal student

Tiếp cận giáo dục STEM trong đào tạo sinh viên (tiếp theo trang 14)

Trang 36

1 Đặt vấn đề

Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi

Bắc Bộ, nơi tiếp giáp giữa đồng bằng và miền

núi, là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà

Nội� Lợi thế nổi bật của du lịch Phú Thọ là

vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi cội nguồn

của dân tộc Việt Nam với hệ thống các di

tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, khảo cổ; di

tích kiến trúc nghệ thuật, di tích cách mạng

kháng chiến� Đặc biệt, Khu di tích lịch sử

quốc gia Đền Hùng kết hợp cùng với loại

hình nghệ thuật “Hát xoan Phú Thọ”, “Tín

ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã được

UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi

vật thể của nhân loại (Ủy ban Nhân dân

tỉnh Phú Thọ, 2012, Quy hoạch phát triển du

Thực trạng và giải pháp

nguyễn minh Tuân, nguyễn nhậT Đang

Trường Đại học Hùng Vương

lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011–2020, định hướng đến năm 2030)�

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,

du lịch Phú Thọ vẫn chưa thật sự là “điểm đến” của khách du lịch trong nước và quốc tế� Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ (2016), du lịch đã góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, thể hiện ở tỷ trọng GDP ngành du lịch mới chỉ đạt chưa đến 2% (Niên giám thống kê, 2016)� Trong thời gian qua, số lượt khách đến Phú Thọ tăng mạnh, tuy nhiên tỷ lệ khách lưu trú rất thấp, trung bình từ 5-6%� Một trong những nguyên

TÓM TẮT

Phú Thọ là một tỉnh Trung du miền núi Bắc Bộ, cội nguồn của dân tộc Việt Nam với

hệ thống đa dạng các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, khảo cổ; di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích cách mạng kháng chiến Tuy nhiên trong quá trình phát triển, du lịch Phú Thọ vẫn chưa thật sự là “điểm đến” của khách du lịch trong nước và quốc tế Trên cơ sở phân tích đầy đủ thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ, quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch Phú Thọ đến năm 2020, tầm nhìn 2030, bài viết này sẽ bàn thảo về các giải pháp nhằm tăng cường liên kết, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Từ khóa: du lịch, Phú Thọ, phát triển

Nhận bài ngày 05/12/2017, Phản biện xong ngày 28/12/2017, Duyệt đăng ngày 29/12/2017

Trang 37

nhân là du lịch Phú Thọ chưa có sự liên kết,

tương tác giữa các khu du lịch để giữ chân

du khách� Bài báo này tập trung đánh giá

thực trạng liên kết các khu du lịch trên địa

bàn tỉnh Phú Thọ, từ đó đưa ra giải pháp liên

kết phát triển các khu du lịch trên cơ sở tiềm

năng và lợi thế vùng�

2 Nội dung và phương pháp

nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Bài báo tập trung đánh giá thực trạng du

lịch tỉnh Phú Thọ, những tiềm năng, thách

thức trong liên kết các khu du lịch của tỉnh

Phú Thọ, từ đó đề xuất các giải pháp tăng

cường liên kết, phát triển du lịch trên địa

bàn tỉnh Phú Thọ.

2.2 Phương pháp nghiên cứu

■Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu:

• Đối với tài liệu thứ cấp: Kế thừa các số

liệu thống kê, tài liệu, các báo cáo, các

công trình nghiên cứu về liên kết phát

triển du lịch…

• Đối với tài liệu sơ cấp: Tiến hành khảo

sát tại các khu du lịch theo phiếu với các

đối tượng: Cán bộ quản lý khu du lịch,

chính quyền địa phương, khách du lịch

và cộng đồng dân cư tại địa phương�

■Phương pháp phân tích: Sử dụng

phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp

phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và

đã đạt được nhiều kết quả khả quan, cơ

bản hình thành được một số khu, điểm du lịch trọng điểm trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch đặc trưng của tỉnh như: Du lịch nghỉ dưỡng; du lịch sinh thái – danh thắng; du lịch văn hóa tâm linh gắn với di sản văn hóa thế giới được UNESCO vinh danh: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (năm 2012) và Hát Xoan Phú Thọ (năm 2011)� 

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch của tỉnh được triển khai tích cực, hướng vào trọng tâm, trọng điểm bằng nhiều hình thức, góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Phú Thọ tới du khách trong và ngoài nước� Cùng với đó là việc tỉnh đã thu hút được một

số dự án đầu tư du lịch trọng điểm có ý nghĩa lan tỏa, thúc đẩy du lịch phát triển� Công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch được tăng cường, tổ chức bộ máy về du lịch bước đầu được củng cố, kiện toàn� Cụ thể một số chỉ tiêu về hiện trạng phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2010–2016 như sau:

Qua bảng 1 có thể thấy lao động du lịch

cũng như các dịch vụ du lịch của tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây tăng nhanh, riêng lao động du lịch tăng bình quân 1,02%� Trong 5 năm, lượng du khách đến Phú Thọ tăng bình quân 14,7%, trong đó lượng khách quốc tế tăng 17%� Thời gian gần đây lượng khách đến Phú Thọ ổn định hơn nhưng tốc

độ tăng trưởng vẫn ở mức thấp� Năm 2016, lượng khách du lịch đến Phú Thọ có sự tăng trưởng chậm, chủ yếu tập trung ở khách nội

địa (bảng 2)� Tuy nhiên khách du lịch đến

Phú Thọ chủ yếu là khách du lịch trong ngày (chiếm tỷ lệ từ 91–94% trong tổng lượng khách hàng năm), lượng khách có sử dụng dịch vụ lưu trú chiếm tỷ lệ thấp (từ 6–9% tổng lượng khách, trong đó lượng khách có

sử dụng dịch vụ lưu trú chiếm 3–5%) và chỉ

Trang 38

đứng thứ 8/14 tỉnh trong vùng miền núi phía

Bắc, 36/63 tỉnh thành trong cả nước� Một

trong những nguyên nhân là do du lịch Phú

Thọ chưa thu hút và giữ chân được du khách

khi về với Đất Tổ� Vì vậy cần nghiên cứu các

giải phát để phát triển, liên kết các khu du

lịch trên địa bàn tỉnh, nâng cao vị thế du lịch

tỉnh Phú Thọ xứng đáng với tiềm năng du

lịch của tỉnh�

Có thể thấy du lịch Phú Thọ chủ yếu mới

chỉ khai thác được ở các tuyến du lịch, chưa

có sự gắn kết giữa các khu du lịch trên địa

bàn tỉnh để có các tour du lịch đặc trưng và

chưa mang được bản sắc riêng cho tỉnh Phú

Thọ� Khả năng tiếp cận một số tài nguyên

du lịch tiềm năng (như vườn quốc gia Xuân

Sơn, đầm Ao Châu, đầm Vân Hội���) còn hạn chế do giao thông chưa thực sự thuận lợi; các quan hệ liên kết tour, tuyến mới chỉ đạt được kết quả bước đầu, chưa mở rộng được nhiều,

tỷ lệ thời gian lưu giữ khách theo tour trên địa bàn Phú Thọ thấp so với tổng thời gian của các tour du lịch liên tỉnh mà Phú Thọ có tham gia liên kết tour�

3.2 Đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại của ngành du lịch Phú Thọ

* Những kết quả đạt được

Với nhiều lợi thế về tiềm năng du lịch

và điều kiện cơ sở hạ tầng, Phú Thọ đã có những bước tiến trong phát triển du lịch, lượng khách du lịch đến Phú Thọ tăng nhanh qua các năm, thị trường du lịch ngày

• Ngày khách trong nước - 252�487 312�977 367�901 352�400 444�400 380�577

Nguồn: Số liệu Thống kê, Phú Thọ 2010 và 2017 [4]

Bảng 1 Một số chỉ tiêu cơ bản về hiện trạng phát triển tỉnh Phú Thọ

-Doanh thu du lịch, giá hiện hành Tỷ đồng 968 1�828 1�982

-Nguồn: Số liệu Thống kê, Phú Thọ 2010 và 2017 [1], [2]

Trang 39

càng được mở rộng, sản phẩm du lịch ngày

càng phong phú và đa dạng� Hệ thống cơ

sở vật chất đang từng bước được xây dựng

đồng bộ, tạo điều kiện thúc đẩy du lịch Phú

Thọ� Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn

nhân lực du lịch cũng đang được triển khai

nhằm bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng

với tiềm năng và lợi thế của tỉnh� Tuy lượng

khách đến Phú Thọ tăng qua các năm và có

các bước đột phá nhưng lượng khách lưu trú

và khách quốc tế đến Phú Thọ vẫn còn thấp,

các cơ sở lưu trú, các sản phẩm dịch vụ chất

lượng cao còn ít�

- Nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch tuy

đã tăng nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng để du

lịch thực sự trở thành kinh tế mũi nhọn;

đóng góp của du lịch trong phát triển kinh tế

của tỉnh chưa cao�

* Nguyên nhân

- Chưa có sự liên kết giữa các doanh nghiệp

kinh doanh lữ hành trên quy mô rộng�

- Việc liên kết giữa các khu du lịch trên

địa bàn tỉnh chưa rõ nét và chưa được định

hình rõ ràng� Chưa có các tour du lịch và

các sản phẩm du lịch đặc trưng cho du lịch

và văn hóa Phú Thọ� Chưa có những chính

sách, quy định cụ thể, rõ ràng về việc liên kết

các khu du lịch�

- Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ

quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh và cấp

huyện còn thiếu và hạn chế�

- Hạ tầng các khu, điểm du lịch chưa được

đầu tư đồng bộ� Công tác lập quy hoạch, kế

hoạch; lập đề án đầu tư và triển khai dự án

nhằm phát triển du lịch còn chậm, kết cấu

hạ tầng đô thị còn chưa đồng bộ�

3.3 Một số giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển các khu DL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

* Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước

Đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện tổ chức của các cơ quan quản lý liên quan đến phát triển du lịch, chú trọng bổ sung và nâng cao năng lực cho cán bộ văn hóa du lịch cấp huyện và cấp xã�

Rà soát một cách tổng thể và mang tính

hệ thống các quy hoạch du lịch đang còn hiệu lực, tiến hành sơ kết việc thực hiện quy hoạch theo giai đoạn, phân tích, đánh giá cụ thể chất lượng, tính bền vững, tính đồng bộ của mỗi quy hoạch, trên cơ sở đó có các giải pháp tiếp tục thực hiện hoặc điều chỉnh, bổ sung những nội dung không còn phù hợp, xây dựng mới các quy hoạch cần thiết làm cơ

sở cho sự phát triển của du lịch địa phương� Một số điểm tài nguyên du lịch tự nhiên đã được thể hiện trong phân kỳ thu hút đầu tư của quy hoạch tổng thể thì cần phải được tiến hành quy hoạch cụ thể để mời gọi đầu

tư, đồng thời có giải pháp bảo vệ tài nguyên thời gian tới như các điểm du lịch Ao Giời–Suối Tiên (Hạ Hòa), Đầm Vân Hội (Hạ Hòa), Thác Cự Thắng, Ba Vực (Thanh Sơn) để liên kết phát triển các khu du lịch�

Tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành xây dựng những tour du lịch mới, liên kết các khu du lịch trên địa bàn tỉnh� Cần phối hợp tạo điều kiện để các hãng lữ hành nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc sắc nhằm nâng cao hơn sức cạnh tranh cho ngành du lịch mỗi địa phương� Cần tập trung đẩy mạnh đầu tư các tuyến đường nối

Trang 40

các tuyến, điểm du lịch chính của các địa

phương với những tuyến, điểm du lịch chính

của cả vùng để hình thành các chương trình

du lịch liên vùng phong phú�

* Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng

và đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với

phát triển các dịch vụ cơ bản cho khách tại

các khu DL

Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng giao

thông đến các điểm tài nguyên du lịch để

tăng cường sự liên kết chuỗi tài nguyên

du lịch phục vụ đa dạng hóa sản phẩm�

Khuyến khích, thu hút đầu tư xây dựng hệ

thống cơ sở lưu trú và dịch vụ theo sát xu

hướng nhu cầu thị trường; đầu tư hạ tầng,

mở rộng, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ

vui chơi giải trí tại các khu vực trọng điểm

phát triển du lịch của tỉnh (thành phố Việt

Trì, khu du lịch Đầm Ao Châu, khu du lịch

Xuân Sơn, khu du lịch nước khoáng nóng

Thanh Thủy)� Đầu tư nghiên cứu để tạo ra

và phát triển các sản phẩm lưu niệm đặc

trưng của Phú Thọ, các sản phẩm, hàng

hóa đặc sản của địa phương phục vụ du

lịch� Mỗi điểm du lịch, địa phương trên địa

bàn tỉnh cần tìm ra lợi thế riêng, tạo sản

phẩm riêng để phát huy thế mạnh của liên

kết vùng�

* Quảng bá, phát triển thị trường DL

Đẩy mạnh các chương trình hợp tác, liên

kết quảng bá, giới thiệu, xúc tiến du lịch

trong nước với các tỉnh trong vùng Thủ đô,

vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ� Bên

cạnh đó tiếp tục mở rộng các chương trình

hợp tác song phương với các tỉnh bạn trong

nước, với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),

Luông Nậm Thà (Lào), Nara (Nhật Bản) và

tìm thêm cơ hội liên kết hợp tác với một số

địa phương, vùng lãnh thổ tương đương cấp

* Tăng cường bố trí nguồn lực, thu hút vốn đầu tư; đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế–xã hội phục vụ liên kết, phát triển DL

Chú trọng đầu tư phát triển hệ thống cơ

sở hạ tầng đồng bộ để phục vụ kinh tế–xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng� Theo

đó, tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp liên kết đầu tư phát triển du lịch liên vùng, thay đổi tư duy từ phát triển “điểm du lịch” thành “vùng du lịch”, “khu du lịch”�

Đối với hệ thống cơ sở vật chất vui chơi giải trí cần ưu tiên đầu tư xây dựng các loại hình giải trí tổng hợp hiện đại, các hoạt động thể thao cảm giác mạnh, dã ngoại tại các trung tâm du lịch lớn, các khu vực đô thị kết hợp với việc đầu tư khai thác các trò chơi dân gian trong các lễ hội của các vùng�

* Hoàn thiện quy hoạch tổng thể DL Phú Thọ và các khu DL trọng điểm tỉnh

Điều chỉnh hợp lý nội dung các quy hoạch

du lịch của tỉnh để đảm bảo có sự cân đối hơn giữa các mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng, các nhóm giải pháp phát triển du lịch về khía cạnh kinh tế với các mục tiêu, định hướng, giải pháp liên kết, phát triển các khu du lịch trên địa bàn tỉnh� Liên kết các khu du lịch Thành phố Việt Trì, khu du lịch Thanh Thủy

và khu du lịch Tân Sơn để thu hút và giữ chân du khách đến tham quan và lưu trú tại tỉnh Phú Thọ�

Ngày đăng: 09/01/2021, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w