Tuy nhiên, tham khảo những nghiên cứu sơ lược của các nhà sử học, có thể khẳng định trang phục Việt từ thời khai hoang mở nước cho đến cuối triều Nguyễn luôn kế thừa và bi
Trang 1Stt MSSV Họ & tên Nhiệm vụ Ghi chú
7
Đỗ Thị Thanh Thảo Áo Ngũ thân, mục lục,
Chương 1
(Trưởng nhóm)
0
Phùng Anh Thư Áo Ngũ thân, phụ lục
8
Phạm Thị Hồng Nga Áo Nhật Bình, thuyết
trình
0
Lê Thảo Nguyên Áo Nhật Bình, thuyết
trình
4
Văn Nhựt Trường Áo Viên Lĩnh,
lời nói đầu
9
Nguyễn Nhật Huy Áo Viên Lĩnh, định
dạng văn bản
9
Nguyễn Tường Vy Tổng hợp các thông
tin, kiểm tra
5
Ngô Thu Hằng Áo Giao lĩnh, trò chơi
4
Nguyễn Thị Kiều Nga Áo Giao lĩnh, kết luận
3
Diệp Nguyễn Phúc Duyên Làm bìa tiểu luận, làm
powerpoint
DANH SÁCH NHÓM
Trang 2Lời mở
đầu………
3 Chương 1: Khái quát về trang phục Việt Nam……….… 4
Chương 2: Cổ phục quý tộc thời Nguyễn……….……… 6
1: Áo Giao Lĩnh……… 6
2: Áo Viên Lĩnh……… 10
3: Áo Ngũ Thân……… 12
4: Áo Nhật Bình……… 13
Kết luận ………
16 Tài liệu tham khảo ……….……… 17
Trang 3Lời mở đầu
hời trang Việt, đặc biệt là trang phục của cha ông qua hơn 4000 năm Văn Hiến vẫn là một đề tài còn nhiều bỏ ngỏ Bởi đến nay có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này Tuy nhiên, tham khảo những nghiên cứu sơ lược của các nhà sử học, có thể khẳng định trang phục Việt từ thời khai hoang mở nước cho đến cuối triều Nguyễn luôn kế thừa và biến đổi theo biến động lịch sử Nếu trang phục của tầng lớp quý tộc mang nhiều đường nét, có một số hướng về giai cấp phong kiến Trung Hoa, thì trang phục của người dân lao động lại thể hiện nét thẩm mỹ độc đáo, là tinh hoa văn hóa dân tộc qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển đất nước
T
Trở lại với lịch sử, chắc nhiều người còn nhớ một sự kiện mang tính bước ngoặt của nghiên cứu cổ sử Việt Nam nói chung, nghiên cứu trang phục cổ nói riêng, đó là đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010 Cổ sử bỗng chốc không còn là mối quan tâm của nhóm nhỏ những nhà nghiên cứu và những người yêu thích lịch sử nữa, mà trở thành mối quan tâm chung của nhiều tầng lớp, đặc biệt là giới hoạt động nghệ thuật
Nói cụ thể hơn, muốn làm phim, làm truyện tranh về thời xưa, buộc phải nghiên cứu những chi tiết “đời sống” như kiến trúc, phục trang, ẩm thực, phong tục cộng đồng chứ không thể chỉ là những diễn biến lớn trong dòng chảy lịch sử được nữa
Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Cổ Phục Việt” Bài tiểu luận sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin chi tiết hơn về nhiều loại trang phục khác nhau của các tầng lớp trong xã hội phong kiến Việt Nam thời Nguyễn
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TRANG PHỤC VIỆT NAM
Điểm qua các giai đoạn phát triển của lịch sử nước ta, sẽ thấy rất rõ mỗi giai đoạn đều có những dấu ấn về trang phục rất riêng và hàm chứa nhiều ngạc nhiên thú vị
Thời Hùng Vương: Phụ nữ thời Hùng Vương thường mặc áo ngắn đến bụng, xẻ
ngực, bó sát vào người, phía trong mặc yếm kín ngực có cổ tròn sát cổ, trang trí thêm hình những tấm hạt gạo Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng Hai loại sau có thể là loại mặc chui đầu hay cài khuy bên trái Trên áo đều có hoa văn trang trí Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng
Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê: Đến thời kỳ này, ngành dệt may đã có những bước
phát triển vượt bậc, với sự xuất hiện của hàng loạt các chất liệu vải khác nhau như vải bông thô, vải đay, vải gai, vải cát bá loại mịn, lụa…,
Thời Lý: Là một trong những giai đoạn cực thịnh của triều đại phong kiến, vua
thời Lý đã ban hành những quy định về phục trang để phân biệt giữa các tầng lớp nhân dân và quan lại Nhà vua còn thể hiện tinh thần tự lập, tự cường của dân tộc qua việc không dùng gấm vóc của triều Tống để may lễ phục mà sử dụng các chất liệu vải trong nước
Điểm nổi bật nhất trong trang phục thời này là sự phát triển sang một cấp độ mới của hoa văn trang trí, không còn là những hình ảnh đơn giản và thô sơ, các hoa văn hình xoắn, hình móc… được thêu tinh xảo trên trang phục, thể hiện sự giao hòa đầy ý nghĩa giữa thiên nhiên và cuộc sống con người
Thời Trần: Điểm nổi bật nhất trong triều đại nhà Trần chính là 3 lần đánh bại giặc
xâm lược Nguyên – Mông Do liên tiếp phải đối đầu với những kẻ thù hùng mạnh, nên
tâm lý sẵn sàng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” luôn thường trực trong cuộc sống quân
dân thời Trần, ảnh hưởng đến cả phục sức và quan niệm thẩm mỹ của cả dân tộc
Bên cạnh tập tục xăm lên mình hai chữ “Sát thát” đã trở thành huyền thoại, người dân Đại Việt còn xăm lên bụng những chữ “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” (Vì
nghĩa liều thân, báo đền ơn nước) vừa thể hiện tinh thần báo đền ơn nước, vừa thể hiện
quan điểm thẩm mỹ lúc bấy giờ Với phụ nữ, trang phục thường là áo tứ thân, đàn ông thường để mình trần hoặc mặc áo tứ thân, quần mỏng bằng lụa thâm, màu sắc của hai giới cũng rất giản dị, thường là màu đen Tục nhuộm răng đen bắt đầu phổ biến
Trang 5Thời Lê Mạc: Trang phục trong triều đại này đã rất gần với chiếc áo tứ thân, vấn
khăn mỏ quạ của phụ nữ làng quê Việt Nam vào thế kỷ 19 - 20, với sự xuất hiện của
“mốt” để tóc dài, vấn khăn, rẽ đường ngôi giữa, mặc áo dài tứ thân cổ tròn, thắt lưng buông dài trước bụng, váy dài và rộng Thời trang hơn, phụ nữ quý tộc còn mang những dải xiêm nhiều màu sắc rủ xuống chân, góp phần mang lại vẻ đẹp yểu điệu, thướt tha Trang sức cũng ngày càng đa dạng hơn về kiểu dáng, màu sắc, với vòng tay tròn dẹt, hoa tai hình quả bầu, hình hoa sen hay khuyên tròn đẹp mắt
Thời Nguyễn: Đời sống xã hội trong thời kỳ này có ảnh hưởng không nhỏ đến
trang phục của người dân Nếu như trang phục của tầng lớp thống trị ngày càng bị “pha tạp” theo lối đua đòi cải cách nửa mùa, thì trong xã hội, những phục trang truyền thống như áo dài, áo yếm, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, nón quai thao… đã trở thành hơi thở và là kết tinh văn hóa của cả dân tộc
Áo dài: Nhắc đến trang phục truyền thống Việt Nam, chắc chắn phải đề cập đến áo dài, vốn đã trở thành “quốc phục” tượng trưng cho tinh hoa dân tộc Chiếc áo dài có tuổi đời rất lâu năm, ngay trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn người ta đã tìm thấy hình ảnh của chiếc áo dài tha thướt Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân
Như vậy, qua hàng ngàn năm văn hiến, cùng với sự biến động của lịch sử, đặc trưng trang phục dân tộc qua từng thời kỳ cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên, vượt qua mưu đồ đồng hóa của quân xâm lược Trung Hoa, trang phục Việt nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung vẫn giữ được những nét đẹp riêng độc đáo, trong đó không thể không kể đến những tinh hoa văn hóa kết tinh trên những bộ “quốc phục” mang đậm nét thẩm mỹ và ứng dụng cao như vừa nêu trên
Trang 6CHƯƠNG 2 CỔ PHỤC QUÝ TỘC THỜI NGUYỄN
1 – ÁO GIAO LĨNH
Xuất xứ
Áo Tràng Vạt, Tràng Xiên, Giao Lĩnh (chữ Hán: 交領, Giao Lĩnh; chữ Nôm: 長拔, Tràng Vạt) hoặc gọi tắt áo Tràng là cách gọi một trong những lối y phục lâu đời trong tập quán Việt Nam Cái tên Tràng Vạt xuất phát từ việc tràng áo xiên (tức cổ áo) được tạo thành bằng cách ghép thêm vạt cả Tràng Vạt thường được dùng như lễ phục, tế phục mặc phủ ra ngoài
Kiểu áo này phổ biến vào thời phong kiến ở Việt Nam Áo giao lĩnh là một dạng của áo trực lĩnh Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay, ống tay áo rộng, hẹp cho được tùy tiện Áo từ hai bên nách trở xuống đều được may khép lại (không xẻ tà), không được để mở, không được chiết eo Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn, hẹp tay để tiện làm việc cũng được Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy ý
Hình 1.1 - Tranh thờ danh nhân Nguyễn Quý Đức (1648-1720) mặc Bù Long
Trang 7Thời nhà Lê Trung Hưng, trước năm 1744, người dân Đàng Ngoài và Đàng Trong đều mặc áo trực lĩnh Các dạng áo trực lĩnh có ba kiểu chính: Tràng Vạt, Bù Long và áo cổ thìa Dưới thời Nguyễn, lối y phục tiền triều bị cấm, Bù Long và áo cổ thìa biến mất, Tràng Vạt chỉ còn dùng như loại áo thụng mặc cùng phong cân trong lúc tế lễ Nam giới bắt đầu mặc lập lĩnh nhưng nữ lưu phía bắc sông Gianh vẫn nhất nhất theo lối cũ Áo tứ thân được xem là cách tân của áo Bù Long, tiếp tục tồn tại đến đầu thế kỷ 20 nhưng yếm trong chỉ còn sắc trắng không thêu hoa văn, mặc váy đen (thời Lê gọi quần không đáy, xống) Cách mặc của tứ thân có hai cách là buông vạt và buộc chéo vạt che nương Các phong tục thời Lê là mặc áo trực lĩnh kết hợp đinh tự cân, chu lạp đính mao, bức cân đều bị giản lược các chi tiết trên mũ theo cổ lệ (mục đích chống đối ngầm luật lệ triều Nguyễn) để kết hợp với áo lập lĩnh Những loại áo mũ thời Lê chỉ còn xuất hiện tại lễ hội Bắc Bộ để tưởng nhớ tiền triều
Hình 1.2 – Người Việt Đàng Trong Hình 1.3 - Người Việt Đàng Ngoài
Cấu tạo
Áo giao lĩnh là một loại áo rộng Kiểu áo thời Lê, vạt cả thường nhỏ hơn thân, ít khi xẻ tà hai bên hông Nhưng sang thời Nguyễn luôn xẻ tà, vạt cả rộng bằng thân Áo may dài tay, tay rộng (32 – 36 cm) Thân áo dài tù ngang xương ống đồng đến chấm gót chân và may bằng năm - sáu tấm vải, không phân biệt giới tính Theo thư tích cũ minh họa thì đàn bà mặc áo phủ ngoài, bên trong là yếm che ngực Phía dưới bụng quấn váy, buộc bằng thắt lưng nhuộm màu, hai đầu buông thả, nếu thân phận là hoa nương hoặc
Trang 8quý tộc thì phủ ngoài còn một lớp xiêm thường thêu hoa văn Đàn ông cũng mặc áo ra ngoài quần hay khố Vạt bên trái được kéo chéo qua ngực và bụng rồi buộc vào dưới nách áo bên phải, phân biệt với áo cổ thìa có nút buộc nằm ngang xương mỏ ác Hiện vật trong một số mộ cổ như ở Nhật Tân, Tây Hồ hay ở mộ Đại tư đồ Nguyễn Bá Khanh (Hưng Yên) đã phát hiện một lượng áo Tràng Vạt
Đến thế kỷ 19 thì áo giao lĩnh không còn dùng như thường phục nữa mà chỉ sử dụng làm quan phục, tế phục Trong dân gian thì gọi là áo thụng Trong triều thì gọi là
"phổ phục" hay "bổ phục" để các quan mặc ra bên ngoài cùng khi có đại tế hay vào chầu vua Khi mặc áo thì đính thêm bố tử ở ngực và lưng để rõ phẩm ngạch Đại để là Thời Nguyễn, từ "trực lĩnh" cũng biến mất hẳn vì chỉ còn dùng loại trực lĩnh buộc vạt sang phía nách gọi là "giao lĩnh"
Giao lĩnh vạt ngắn dài không quá thân trên, thường dùng cho phụ nữ Ở Trung Quốc, chiếc áo vạt ngắn này được gọi là nhu (襦), khi đi chung với váy sẽ được gọi là nhu quần (襦裙) – tức áo ngắn và váy Những từ như thường (裳) và quần (裙) xưa đều được dùng để chỉ hạ y không đáy; tại Việt Nam từ thời Nguyễn trở đi, từ “quần” mới được chuyển sang dùng chủ yếu cho hạ y hai ống
Tại Việt Nam thời Lê, giao lĩnh vạt ngắn có thường quây bên ngoài, tương tự các thời kỳ trước của Trung Quốc, có nét tương đồng với giao lĩnh quây Hakama của Nhật Bản Tuy nhiên giao lĩnh vạt ngắn quây thường triều Lê có thể phân biệt với giao lĩnh vạt
Trang 9ngắn quây thường của các triều đại ở Trung Quốc ở chỗ chiếc thường bên ngoài ngắn hơn chiếc thường (hoặc váy) bên trong, để lộ hai lớp váy
Áo tràng xưa chủ yếu may từ tơ tằm: sa, gấm, đoạn Mùa hè trời nóng thì dùng sa/the, vải thanh cát (tơ thân cây chuối để dệt như cách sản xuất tại Philippin và tỉnh Okinawa - Nhật Bản do vị trí địa lý vùng nhiệt đới) Mùa đông thì dùng gấm, đoạn
Phân loại tầng lớp
Trang phục Việt thời Lê có một kiểu áo khá đặc biệt, đáng chú ý là Giao Lĩnh Cổ Võng Áo này có thể thấy là một dạng tiện phục, mặc vào ngày thường, nam nữ ít phân biệt, thường xuất hiện nhiều ở các tầng lớp có chức vị cao trong xã hội thời bấy giờ
Trước thế kỷ XIX, áo giao lĩnh được mặc theo như sau: trước từ Thiên tử, dưới xuống thứ dân, nam tới nữ, đều sử dụng loại áo này Áo giao lĩnh của người Việt Nam dành cho cả nam và nữ giới với những chất liệu vải phân biệt tầng lớp thời xưa
Trang 10Hình 1.4 - Chân dung người sống vào thời cuối Lê, mặc áo giao lĩnh, xõa tóc
2 – ÁO VIÊN LĨNH
Xuất xứ
Viên lĩnh (圓領) là một dạng áo có cổ hình tròn, cổ kiềng… gài cúc bên phải, Đây là một loại áo xuất xứ từ Trung Á, sau đó du nhập vào Trung Hoa thời Ngũ Hồ thập lục quốc, và lan rộng sang các quốc gia khác Cũng như giao lĩnh, áo viên lĩnh cũng có những biến thể, chủ yếu là ở hình dạng tay áo rộng hay chẽn Loại áo này cũng phối hợp với thường, phủ ra ngoài hoặc mặc bên trong tùy ý của người mặc Vào thời Lê, Nguyễn áo viên lĩnh là kiểu áo chính thức nhất của tầng lớp quan viên và triều đình
Viên lĩnh (圓領) cũng gọi là Đoàn lĩnh (團領) hay Bàn lĩnh (盘领), rất phổ biến trong văn hóa các xứ Đông Á từ khi triều đại nhà Đường của họ Lý thống trị trung nguyên Đây là loại áo đã trở nên phổ biến khắp văn minh Đông Á ngang ngửa với Giao lĩnh
Cấu tạo
Viên lĩnh cổ áo thiết kế nhằm phục vụ nhu cầu hoạt động Cổ áo khép kín là để phòng ngừa gió cát xâm nhập, nút thắt áo ở trên bả vai ngay cổ nên tạo thành tên gọi
“Thượng lĩnh” Khi mở cổ áo này ra, nó tạo thành hình ảnh một chiếc áo Phiên lĩnh Trang phục này không quy định giới tính, vì cả phụ nữ cũng sử dụng, nhất là từ các
bộ Lễ phục của nữ giới triều Minh, hay như tại An Nam Nguyễn triều thì có Phượng bào – trang phục cao quý chỉ có bậc Hậu và Công chúa được dùng Theo tranh vẽ của người Nhật khi thăm Quảng Nam quốc của chúa Nguyễn, họ bắt gặp rất nhiều phụ nữ mặc viên lĩnh tay ngắn, bên trong là giao lĩnh tay thụng Áo viên lĩnh khi được nữ giới mặc thông thường có thắt Nhu quần ở bên ngoài che hạ thể Nhu quần, tức là Thường, là một dạng váy may khép kín để che hạ thể Ở Việt Nam lại có vẻ chuộng Nhu quần ngắn ngang mắt cá chân, để lộ lớp váy trong
Có 2 loại Viên lĩnh tiêu biểu:
Viên lĩnh vạt ngắn: viên lĩnh vạt ngắn thường có Thường quây bên ngoài, và thường dùng cho phụ nữ
Viên lĩnh vạt dài: thường được mặc phủ bên ngoài thường
Hình 2.1 - Viên lĩnh vạt ngắn tay thụng (Tranh minh họa)