Trong các yếu tố tạo nên sự đa dạng và thống nhất củakhu vực Đông Nam Á thì yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng không kém so vớicác yếu tố về địa lý, lịch sử, chính trị,… Có thể xem Đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viênhướng dẫn - Thạc sĩ Nguyễn Thị Ty đã giúp đỡ tôi trong quá trình đề xuất đề tài,nghiên cứu, viết bài và hoàn thiện Kính mong nhận được sự nhận xét, bổ sung, góp ýcủa cô để tiểu luận được hoàn thiện hơn
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên cùng khóa trong khoa Lịch sử,trường Đại học Sư phạm- Đại học Huế đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm và xử
lý tài liệu
Người viết Trương Đình Tý
Trang 2MỤC LỤC
5Chương 1 Những nét khái quát về người Khmer ở Đông Nam Á
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đông Nam Á là một khu vực được ví như một tấm vải đa màu sắc được dệt nên bởi
sự đa dạng, phong phú Đây là một khu vực ngày nay bao gồm 11 quốc gia lớn nhỏ.Đông Nam Á nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trên bản đồ chính trị - thương mại thếgiới, án ngữ con đường hàng hải quan trọng trên Thái Bình Dương, có vai trò làm cầunối giữa các khu vực, các quốc gia khác Khu vực này lại có nguồn tài nguyên thiênnhiên đa dang, phong phú, khí hậu thuận lợi Các nước trong khu vực có một lịch sửlâu đời, các dân tộc sống ở đây đã sáng tạo nên một nền văn hóa đặc sắc Chính nhữngyếu tố trên đã góp phần tạo nên cho Đông Nam Á như là một khu vực địa lý – lịch sử
- chính trị - văn hóa riêng biệt Trong các yếu tố tạo nên sự đa dạng và thống nhất củakhu vực Đông Nam Á thì yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng không kém so vớicác yếu tố về địa lý, lịch sử, chính trị,…
Có thể xem Đông Nam Á là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại.Những dấu tích của con người buổi bình minh đã được tìm thấy ở đây Trải qua mộtquá trình phát triển lâu dài, các dân tộc ở Đông Nam Á đã xây dựng nên những bảnsắc văn hóa riêng của mình Do quá trình di cư và các yếu tố lịch sử - xã hội, nhiềudân tộc đã xuất hiện và sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau trong khu vực Chínhđiều này đã minh chứng cho sự đa dạng và thống nhất của khu vực Đông Nam Á.Trong các dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia nói trên, người Khmer là một dân tộc cólịch sử lâu đời, có một vai trò chính trị - xã hội nhất định đối với cả khu vực, và họ đãtạo dựng nên một truyền thống văn hóa đặc sắc, riêng biệt, đóng góp vào kho tàng vănhóa – văn minh nhân loại
Người Khmer là thành phần dân tộc chủ yếu ở đất nước Campuchia, và được côngnhận là một dân tộc thiểu số ở một số nước Đông Nam Á , trong đó có Việt Nam(khoảng 1,2 triệu người, năm 2014) Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang thực hiệnchính sách đại đoàn kết các dân tộc, nên việc tìm hiểu về văn hóa của các dân tộcthiểu số như người Khmer có ý nghĩa quan trọng Hơn nữa, nghiên cứu về văn hóangười Khmer cũng có tác động tích cực trong các chính sách xã hội, chính sách ngoạigiao, góp phần xây dựng đất nước phát triển, nhất là trong bối cảnh “toàn cầu hóa”diễn ra ngày càng mạnh mẽ, và các nước trong khu vực Đông Nam Á đang dần hình
Trang 3thành nên Cộng đồng ASEAN Chính vì những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề
“Văn hóa của người Khmer ở Đông Nam Á” cho tiểu luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Văn hóa của người Khmer ở Đông Nam Á” không phải là một vấn đề mới mẻ củacác nhà nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Đông Nam Á Ở nhiều mức độ chuyên sâukhác nhau, nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này trong các công trình khoahọc hay bài viết của mình Ở bình diện thế giới, chúng ta có thể thấy văn hóa củangười Khmer đã được đề cập trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á (1997), nhà xuất bảnChính trị quốc gia của D.G.E Hall, Almanach những nền văn minh thế giới, Nhà xuấtbản Văn hóa thông tin, H., 1995,…
Ở bình diện trong nước, vấn đề văn hóa của người Khmer có được đề cập trongcuốn “Văn hóa ba nước Đông Dương” ( Nhà xuất bản Văn hóa, H., 1992) của nhómtác giả Cao Xuân Phổ, Ngô Văn Doanh, Phan Ngọc, Ngô Thế Phong Hay tác phẩmHuyền thoại về sự ra đời nước Phù Nam, nước Chiêm Thành và nước Campuchia củaĐặng Đức Siêu (tạp chí Văn hóa dân gian số 1) Chữ viết trong các nền văn hóa(1982), Nhà xuất bản Văn hóa Các dân tộc ở Đông Nam Á của Nguyễn Duy Thiệu(chủ biên), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 1997 Lễ hội đua thuyền ở Việt Nam vàĐông Nam Á của Lê Thị Nhâm Tuyết, tạp chí Văn hóa dân gian số 4, năm 1986 Bàiviết Sự hình thành và phát triển chữ viết của các dân tộc ở Đông Nam Á của ĐoànVăn Phúc, in trong cuốn “Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển”,Viện Thông tin Khoa học xã hội xuất bản Văn hóa Khmer Nam Bộ - Nét đẹp trongbản sắc văn hóa Việt Nam, Phạm Thị Phương Hạnh chủ biên, Nhà xuất bản Chính trịquốc gia, H., 2013
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều tác phẩm viết về lịch sử, văn hóacủa người Khmer ở Nam Bộ Việt Nam Nhà văn Sơn Nam có đề cập đến văn hóaKhmer trong cuốn sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ ChíMinh, năm 2009 Tác giả Huỳnh Lứa với tác phẩm Lịch sử khai phá vùng đất Nam
Bộ, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, năm 1987 Nhóm tác giả Trần VănGiàu, Trần Bạch Đằng (Chủ biên) với cuốn Địa chí văn hóa TP Hồ Chí Minh cũng có
đề cập đến văn hóa của người Khmer Tác giả Nguyễn Khắc Cảnh với bài viết “Quá
trình hình thành tộc người của người Khmer từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII”, In trong
Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á, Nhà xuất bản Đại học Quốcgia TP Hồ Chí Minh, 2000
Cùng với đó là những thông tin, những bài viết trên các báo in, tạp chí, các trangbáo điện tử,…
Những công trình, sách, bài viết nêu trên đã đề cập một phần đến lịch sử, văn hóangười Khmer ở Đông Nam Á ở nhiều mức độ khác nhau Có công trình viết chuyên
Trang 4sâu về lịch sử người Khmer, có công trình đề cập chủ yếu về văn hóa Khmer trongdòng chảy văn hóa Đông Nam Á, có sách lại viết về văn hóa Khmer ở Nam Bộ ViệtNam, cũng có bài viết nghiên cứu riêng về chữ viết của người Khmer, hoặc đi sâu về
lễ hội truyền thống Khmer Tuy nhiên những công trình, bài viết nêu trên vẫn chưa đisâu nghiên cứu chuyên biệt về văn hóa của người Khmer Chính vì vậy, trên cơ sở tậphợp những tài liệu đã có, kết hợp với việc đọc, sắp xếp, đối chiếu, phân tích cụ thể cáctài liệu, so sánh, đánh giá nội dung các tài liệu, tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những khía cạnh
cụ thể của vấn đề “Văn hóa của người Khmer ở Đông Nam Á”
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này, đối tượng mà tôi đi sâu nghiên cứu là văn hóa của người Khmer ởkhu vực Đông Nam Á, giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ nét về các khía cạnhtrong văn hóa của dân tộc này Từ đó tôi rút ra một số nhận xét
3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này, tôi mong muốn người đọc sẽ có những hiểu biết sâu sắc về quá trìnhhình thành và phát triển, và những yếu tố tạo nên nền văn hóa đa dạng của ngườiKhmer trong khu vực Đông Nam Á Từ đó có thể có cái nhìn đa chiều hơn về văn hóacác tộc người ở Đông Nam Á Chính cách nhìn về văn hóa sẽ giúp ích cho chúng tatrong công cuộc hội nhập và giao lưu quốc tế
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của đề tài là tìm hiểu về văn hóa của người Khmer (trên nhiềuphương diện khác nhau), từ đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá
3.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: văn hóa của người Khmer ở khu vực Đông Nam Á
- Về mặt thời gian: văn hóa của dân tộc Khmer từ thời xa xưa đến nay, yếu tố vănhóa hiện đại lại được đề cập đến nhiều hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc, sắp xếp, nghiên cứu cụ thể các tài liệu
- So sánh, phân tích, đánh giá nội dung mà tài liệu phản ánh
- Tổng hợp kiến thức, tổng hợp các nguồn tài liệu
- Xây dựng đề cương sơ lược, dàn ý chi tiết, bổ sung sửa chữa, viết bản thảo, vàhoàn thành đề tài
Trang 55 Ý nghĩa, đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài “Văn hóa của người Khmer ở Đông Nam Á” sẽ giúp chongười đọc có thêm hiểu biết về những nét văn hóa tiêu biểu của người Khmer Từ đógiúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quan hơn, đa chiều hơn về văn hóa các tộc người ởkhu vực Đông Nam Á
- Về mặt thực tiễn: Đề tài góp một phần nhỏ vào việc giúp cho người đọc, nhất làcác bạn học sinh, sinh viên có hiểu biết hơn về dân tộc Khmer, một trong 54 dân tộc ởViệt Nam , và là một dân tộc nổi bật trong khu vực Từ đó sẽ giúp cho mọi người cótâm thế vững vàng và hành động tích cực trong quá trình hội nhập, giao lưu giữa cácquốc gia, dân tộc
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chương:Chương 1 Những nét khái quát về người Khmer ở Đông Nam Á
1.1 Lich sử hình thành và phát triển của người Khmer
1.2 Người Khmer ở Việt Nam và Thái Lan
Chương 2 Văn hóa của người Khmer ở Đông Nam Á
Trang 6Chương 1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER
Ở ĐÔNG NAM Á
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của người Khmer
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộcxuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc,
bộ lạc, bộ tộc Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất
Một là: dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh
hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộlạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dântộc
Hai là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh
thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhấtquốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa
và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước
và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - Quốc giadân tộc
Vậy người Khmer là một dân tộc có thể nhìn nhận theo hai nghĩa trên : dân tộc bộphận của quốc gia và quốc gia dân tộc Để tìm hiểu về quá trình hình thành và pháttriển của người Khmer, chúng ta cần hiểu về quá trình ra đời và di cư của ngườiKhmer ở Đông Nam Á
Đông Nam Á là một trong những nơi con người hiện đại xuất hiện đầu tiên Nhữngdấu vết hóa thạch của người tối cổ, người tinh khôn đã được tìm thấy ở Việt Nam,Indonesia Trải qua lịch sử đầy biến động, nhờ vị trí chiến lược và sự giàu có về tàinguyên thiên nhiên của mình, khu vực Đông Nam Á đã diễn ra sự di cư của các dântộc (tộc người) Quá trình di cư này diễn ra xuyên suốt, lâu dài trong thời kỳ cổ - trungđại Kết quả của quá trình di cư ấy đã tạo ra một bức tranh dân cư đa sắc ở khu vựcĐông Nam Á Nhiều quốc gia có thành phần dân cư thuộc nhiều dân tộc khác nhau.Trong khi cũng có nhiều dân tộc lại sinh sống tại nhiều quốc gia khác nhau Một ví dụđiển hình nhất là dân tộc Thái Người Thái do những biến động của lịch sử, họ đã di
cư và lập nên quốc gia Thái Lan ngày nay Trong khi một bộ phận lại định cư tại đấtnước Lào, và một nhóm khác sinh sống tại miền núi phía Bắc Việt Nam
Lịch sử di cư của người Khmer ở Đông Nam Á không tiêu biểu và phức tạp nhưngười Thái, nhưng cũng đáng được chú ý Người Khmer thuộc nhóm ngữ hệ Mon –Khmer, là một nhóm cư dân bản địa ở Đông Nam Á Những phát hiện khảo cổ đãchứng minh rằng Campuchia chính là nơi phát tích của người Khmer Sự hiện diện cótính tiếp nối các di chỉ khảo cổ học được xếp vào văn hóa đá mới (Laang Spean), đámới – đồng thau (Samrong Sen) rồi đến đồng thau – sắt sớm (Mlu Plây) đã chứng tỏ
Trang 7sự có mặt của một bộ phận cư dân cổ Đông Nam Á trên đất Campuchia Dựa vào sựphân bố các di chỉ khảo cổ học có thể đoán định rằng những bộ phận cư dân này tậptrung chủ yếu ở vùng Đông Bắc Biển Hồ và lưu vực sông Sê-mun chảy qua Cò-rạt(Thái Lan ngày nay) Cũng những tài liệu khảo cổ học này cho biết rằng những cư dân
cổ sinh sống ở đây chủ yếu là cư dân nông nghiệp, sống bằng nghề trồng trọt, săn bắn,đánh cá,… Trải qua những biến động lịch sử, người Khmer đã di cư đến nhiều nơitrong khu vực Đông Nam Á, mà trong đó chủ yếu là ở vùng bán đảo Trung - Ấn Một
bộ phận người Khmer đã sinh sống tại vùng đất miền Nam Việt Nam ngày nay, lậpnên vương quốc cổ Phù Nam Cho đến thời hiện đại người Khmer tiếp tục định cư tạiđây và hòa nhập vào đời sống các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận của cộngđồng cư dân Việt Nam Một bộ phận khác của người Khmer lại di cư đến Thái Lan
Đông Nam Á như một ngã ba đường, các dòng thiên di tộc người trong khu vựcthường “quá cảnh” qua đây Bởi vậy bức tranh các tộc người ở Đông Nam Á cực kỳphức tạp, phức tạp đến mức một bản đồ với tỷ lệ lớn đến mấy cũng không thể nào thểhiện được hiện tượng xếp tầng của những nhóm chủng tộc, tiểu chủng và dân tộc ởđây [5, 9] Trong sự đa dạng và phức tạp đó, người Khmer chính là một dân tộc cónguồn gốc và lịch sử hình thành, di cư và phát triển lâu đời
Người Khmer hiện đại là sản phẩm của bao thế kỷ pha trộn văn hóa và chủng tộcphức tạp Kết quả bước đầu của việc nghiên cứu khảo cổ học chỉ ra rằng vào thời kỳ
đồ đá mới, ít nhất có 3 loại hình chủng tộc cư trú ở Đông Dương: Negrito, Melanesia, và Indonesian Di duệ của các loại hình: Proto – Melanesian và Indonesianhiện còn sinh sống ở vùng đồi núi Campuchia
Proto-Vào khoảng năm 2000 trước Công nguyên, người Khmer từ hướng Tây – Bắc đãchuyển dịch xuống vùng Campuchia hiện nay, đẩy lùi dần các cư dân đã có mặt trước
đó và chiếm lĩnh vùng đồng bằng châu thổ Vào đầu Công nguyên người Khmer tiếpxúc trực tiếp với các cư dân bản địa thuộc going Indonesian và đẩy họ lùi dần lênvùng núi cao
Từ thế kỷ II trước Công nguyên văn hóa Ấn Độ dồn dập đến Campuchia Quá trìnhtiếp xúc văn hóa đi kèm theo quá trình pha trộn chủng tộc Quá trình này đạt tới điểmcao nhất vào khoảng thế kỷ IX – X sau Công nguyên
“Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phù Nam là vương quốc cổ ở Campuchia, thờithịnh trị có lãnh thổ rộng lớn, trung tâm chủ yếu nằm ở vùng Vadhapura (ngày nay làBapnon) đến vùng Angkorborea (Nam Phom Penh ngày nay) Thời kỳ trên đây tạivùng Bắc Campuchia và Nam Lào, nước Phù Nam có một thuộc quốc tên là Chenla.Những tiểu quốc ở châu thổ song Mê Nam tại phía Tây Campuchia là các tiểu quốccủa người Môn cũng lệ thuộc vào Phù Nam Vào thế kỷ VI, Chenla thoát khỏi sự lệthuộc vào Phù Nam và chiếm toàn bộ lãnh thổ của nước bá chủ” [5, 29]
Trang 8Cùng vào thời kỳ đế quốc Chenla chiếm độc quyền lãnh đạo đất nước, bộ tộcKhmer cũng được hình thành Trung tâm của Chenla ở phía Nam nước Lào ngày nay,
đó là cái nôi của dân tộc Khmer cổ đại Triều đại cầm quyền của Chenla có nguồn gốc
từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước) biến từ con rắnthành thiếu nữ Tên gọi của nước Campuchia xuất hiện vào thế kỷ X, gắn liền vớinhân vật này Nhờ sự phân bố rộng rãi người Khmer trên toàn lãnh thổ Campuchia sauchiến thắng của Chenla đã mở đầu cho giai đoạn mới trong lịch sử dân tộcCampuchia Người Khmer ngày càng cố kết chặt chẽ và sự cố kết ấy đồng thời thu hútvào đó các tộc người thời cổ đại sống trong vùng
Sau năm 707 Chenla tách thành hai quốc gia Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp.Thủy Chân Lạp suy yếu lệ thuộc vào triều đại Sailendr ở Java, đến năm 802 vuaJayavarman II đưa Lục Chân Lạp thoát khỏi sự bảo hộ của Sailendr, thống nhất đấtnước lập kinh đô ở Kharikharalaia (sau này là Angkor) gần Thái Lan ngày nay Sau đóbảy thế kỷ liền, vùng Bắc hồ Tonle Sap là trung tâm của Campuchia Từ đây bắt đầumột thời kỳ lịch sử mới của đất nước thống nhất và hung cường – thời kỳ Angkor huyhoàng Những cứ liệu được khắc trên bia đá cho chúng ta biết ngay từ đầu thời kỳ nàyCampuchia đã tiến hành các cuộc chiến tranh với Champa Xã hội trong cung đình cóhai đẳng cấp là Bà la môn và Satrya Tuy nhiên trong số những quan đại thần vào thế
kỷ X đã có một số Phật tử Đến đầu thế kỷ XV đạo Phật tiểu thừa (Theravada) mớiđược khẳng định là tôn giáo thống trị
Trong thời kỳ trị vì của Suravarman II, có nhiều sự kiện đáng lưu ý Năm 1113 saukhi lên ngôi ông ta đã cắt quan hệ bang giao với Trung Quốc, liên minh với Champa
và gây chiến với Đại Việt Nhưng chẳng bao lâu ông ta chiếm Champa, tấn công vàongười Môn ở đất Xiêm, đuổi họ đến tận biên giới Myanmar ngày nay Chính trongthời kỳ này, Angkor Wat hùng vĩ và rất nhiều di tích hùng tráng khác đã được xâydựng
Việc xây dựng các đền đài, cung điện khổng lồ lúc bấy giờ đặt gánh nặng lên vaingười nông dân Khmer Mỗi khu để xây dựng những đền đài lớn, được tổ chức chặtchẽ như những xóm làng Trong đó có những người chủ tế, sư sãi, thợ đá, thợ xây,…sinh sống Phần lớn những người thợ là tù binh nô lệ bắt được từ các cuộc chinh phạt
và cư dân các dân tộc thiểu số bị chinh phục Thí dụ ở phía Bắc dãy Đăng Rếch, cóngười Kui đào mỏ sắt, luyện sắt và sản xuất tất cả các loại vũ khí cho quân độiAngkor Người Samre ở vùng Buốc Xát và Công Pông Thom, được coi là loại ngườiPôn như là loại người lệ thuộc [5, 31]
Cơ sở kinh tế của xã hội lúc bấy giờ là nghề trồng lúa của nông dân bao gồm lúanước ở vùng đồng bằng và lúa rẫy ở vùng rừng núi Kinh tế lúc bấy giờ còn tự cấp tựtúc Đế quốc Angkor chưa có tiền, trao đổi vật ngang giá là chủ yếu Mối quan hệ tộcngười giữa người Khmer và các dân tộc thiểu số khác đã phát triển khá rộng rãi và bền
Trang 9chặt Người Samre, người Kui, người M` nông , người Xtieng,… xung quanh đã tiếpthu mạnh mẽ ngôn ngữ và văn hóa của người Khmer Dĩ nhiên người Khmer cũng tiếpthu các yếu tố văn hóa của các cư dân khác Thí dụ điệu múa mừng năm mới uyểnchuyển “Leng trốt” là điệu múa của người Samre mà họ thường nhảy múa trước lúc đisăn hoặc trong thời kỳ làm vụ xuân Khoảng từ thế kỷ X diện mạo tộc người ởCampuchia bắt đầu xuất hiện những nhân tố mới: người Thái, có thể cả người Việt đãđến lãnh thổ của họ.
Vào thế kỷ XII Campuchia vẫn là một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á Saumột thời binh biến ngắn, kết thúc bằng cái chết của Sudravarman II (1145), kể từ năm
1181 là thời kỳ bắt đầu thịnh trị của Jayavarman VII Là một nhà tu hành nhiệt tình,ông ta đã xây dựng đền Bayon độc đáo có 50 ngọn tháp miêu tả những bộ mặt lớn củaPhật Theo lệnh của ông ta các bệnh viện, nhà nghỉ cho những người hành hương, thưviện, các viện hóa đạo, trong đó có cả viện do hoàng hậu điều khiển,… đã được xâydựng
Những năm sau đó, bắt đầu thời kỳ suy sụp của đế quốc Angkor Thoạt đầu chưa rõrệt lắm, nhưng chỉ đến thế kỷ XIII quân đội Campuchia đã bỏ đất Champa mà họ đãchiếm trước đây Còn người Thái thì đẩy lùi người Khmer khỏi đất của họ Vào thế kỷXIV quân đội Xiêm tiến quân vào Campuchia, hàng chục ngàn người Khmer bị dồnsang đất Xiêm, người Xiêm đã tàn phá kinh đô Angkor Trừ những chùa, tháp xâybằng đá, còn lại tất cả đều bị thiêu rụi Pôn- khê- láp quyết định chuyển thủ đô vào sâutrong nước, và từ đó tới giờ thủ đô chỉ xoay quanh vùng hồ Tol Lesap, khi thì ở Udon,khi lại ở Phnom Penh
Vào thế kỷ XVI người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đến Campuchia, đến thế kỷXVII, XVIII người Hà Lan và người Nhật Bản muốn xâm nhập chính trị vàoCampuchia, nhưng đều thất bại Người Pháp đến Campuchia vào thế kỷ XVII và rútkhỏi đất nước này năm 1954 Từ đó tới nay lịch sử Campuchia trải qua nhiều bướcthăng trầm
Hiện nay, người Khmer trên thế giới chủ yếu sống ở Campuchia, chiếm khoảng90% dân số nước này, với khoảng 13,2 triệu người (năm 2015) Ở các nước kháctrong khu vực Đông Nam Á, cộng đồng người Khmer tập trung đáng kể ở Thái Lan vàViệt Nam Ở Thái Lan, có hơn một triệu người Khmer, chủ yếu ở các tỉnh Surin
( Soren ), Buriram ( Borei Rom ) và Sisaket( Sri Saket ), ở Thái Lan Ước tính số
người Khmer tại Việt Nam có khoảng 1,2 triệu người (năm 2014)
1.2 Người Khmer ở Việt Nam và Thái Lan
Người Khmer được thừa nhận là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam Quá trình ngườiKhmer đến định cư ở Việt Nam diễn ra lâu dài, và bắt đầu từ thời quốc gia cổ PhùNam và Chân Lạp Quốc gia Chân Lạp cổ đại thời kỳ đầu là thuộc quốc của Phù Nam.Sau đó Chân Lạp mạnh lên, chẳng những thoát khỏi sự xâm lấn của Phù Nam mà cònquay trở lại thống trị Phù Nam, sáp nhập thành một bộ phận lãnh thổ của mình Nước
Trang 10Phù Nam dần diệt vong Việc chinh phục Phù Nam đối với Chân Lạp không những là
sự mở rộng lãnh thổ mà còn là sự mở đường cho cuộc Nam tiến của người Khmer, rồidần đi vào lãnh thổ Nam bộ Việt Nam
Trước khi người Khmer có mặt ở Nam bộ, nhiều tài liệu khảo cổ học đã chứngminh sự tồn tại của một nhà nước Phù Nam ở đây dưới sự ảnh hưởng sâu sắc của lànsóng văn minh Ấn Độ giáo – Phật giáo ở nhiều vùng khác nhau của khu vực ĐôngNam Á, trong đó có Nam bộ Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên Đây là giaiđoạn hình thành và phát triển của văn hóa Óc Eo Trên cơ sở phát triển kinh tế xã hộicuối thời kì đồng thau, sơ kì đồ sắt, dưới tác động của văn minh Ấn Độ, khoảng đầucông nguyên, vùng đất Nam bộ bước vào thời kỳ lập quốc Theo thư tịch cổ của TrungQuốc thì quốc gia đó có tên gọi là Phù Nam Nước Phù Nam là một thực thể lịch sửđược ghi chép trong thư tịch cổ Trung Hoa và trên những minh văn phát hiện được ởvùng châu thổ sông MeKông Vị trí của nước Phù Nam là phía Nam bán đảo ĐôngDương, phía Nam quận Nhật Nam và Lâm Ấp
Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay củaViệt Nam Cư dân chủ thể là người Mã Lai đa đảo có truyền thống hàng hải và thươngnghiệp khá phát triển Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng chi phối trên toàn bộ vùngVịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dươngsang Ấn Độ qua eo Kra
Sau một thời kỳ phát triển rực rỡ, đến cuối thế kỷ VI, đất nước Phù Nam bắt đầusuy yếu và tan rã Trong khi đó, nước Chân Lạp của người Khmer – một thuộc quốccủa Phù Nam trước kia đã phát triển nhanh chóng Lợi dụng sự suy yếu của Phù Nam
để tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỷ VII Vươngquốc Phù Nam đến đây chấm dứt sự tồn tại Từ chỗ một quốc gia độc lập, vùng đấtNam Bộ bị phụ thuộc vào Chân Lạp
Sau khi đánh bại Phù Nam, do những mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến vào
đầu thế kỷ VIII, Chân Lạp bị chia thành hai miền các cứ: “Nửa phía Bắc vùng núi đồi
và thung lũng gọi là Lục Chân Lạp Nửa phía Nam có biển bao vây và đầm lầy gọi là Thủy Chân Lạp Thủy Chân Lạp về đại thể tương ứng với vùng đất thấp của Phù Nam
cũ (tức phần lãnh thổ của Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ) còn Lục Chân Lạp là vùng đất gốc của Chân Lạp” [7, 82] Trong khi đó việc cai quản vùng lãnh thổ mới đối với
Chân Lạp hết sức khó khăn Bởi vì truyền thống của người Khmer là quen khai tháccác vùng đất cao, dân số ít hơn Họ khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớnvùng đồng bằng mới bồi đắp, còn ngập nước và sình lầy Hơn nữa, việc khai thác đấtđai trên lãnh thổ Lục Chân Lạp còn đang đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực Việccai trị xứ Thủy Chân Lạp chưa được chú ý
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quân đội Srivijaya của người Java đã liên tục tiến côngcác quốc gia trên bán đảo Đông Dương Kết cục là Chân Lạp bị quân Java chiếm Cảvương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya trong vòng một thế kỷ, chođến năm 802 Trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ IX đến thế kỷ XI, Chân Lạp trởthành một quốc gia cường thịnh tạo dựng nên nền văn minh Ăngkor rực rỡ, đồng thời
mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm lên cả khu vực sông Chao Phaya Tuynhiên, người Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển các vùng trung tâm truyền thốngcủa họ ở khu vực Biển Hồ (TonleSap), trung lưu sông MéKông và hướng nỗ lực bànhtrướng sang phía Tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya Nhưng khảo cổ học đã chothấy ảnh hưởng của văn minh Ăngkor trên đất Nam bộ khá mờ nhạt
Trang 11Trong đợt biển tiến cuối cùng của thời kỳ Toàn Tân kéo dài 800 năm (350 – 1150),
cả Nam bộ chìm trong nước biển nên con người không thể sinh sống ở đây được Saukhi biển thoái, Nam bộ hiện lên một vùng đồng bằng mênh mông nhưng lại là mộtvùng sình lầy, khí hậu ẩm thấp, nhiều thú dữ sinh sống, dân cư thưa thớt Đó là tình
trạng hoang hóa của vùng đất Nam bộ kéo dài trong nhiều thế kỷ, một vùng đất “điểu thủ quần hoang, tuyệt vô nhân tích” mà những tư liệu như “Chân Lạp phong thổ ký” của Châu Đạt Quan (thế kỷ XIII), “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII),
“Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức (thế kỷ XIX),… đã phản ánh khá rõ.
Từ thế kỷ X trở đi, cùng với sự rút dần của nước biển thì ở đồng bằng Nam bộ cũnghiện lên một số giồng đất cao màu mỡ, rất thuân lợi cho cư dân cư trú và sản xuất.Vào lúc này, những người nông dân Khmer nghèo khổ, do không chịu được sự bóc lột
hà khắc cùng các loại thuế khóa nặng nề của các thế lực phong kiến Angkor, đã bỏtrốn, tìm đến sinh sống ở những giồng đất cao của đồng bằng Nam bộ Tại đây, họ tậptrung sinh sống ở những giồng cát lớn, cư trú theo từng khu vực, dựa trên mối quan hệdòng họ và gia đình Từ thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng củacác vương triều Xiêm từ phái Tây, đặc biệt là từ sau khi vương quốc Ayuthaya hìnhthành Trong gần một thế kỷ, Chân Lạp phải liên tục đối phó với những cuộc tiến công
từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng.Trong hoàn cảnh đó, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiếnThái Lan, nhiều nhóm người Khmer, trong đó có cả những sư sãi và trí thức Khmer đã
di cư đến khu vực đồng bằng Nam bộ sinh sống Đến đây, họ lại hòa nhập với nhữnglớp người Khmer đến trước, tiếp tục khai phá và biến những vùng đất này thànhnhững điểm tụ cư đông đúc Nhìn chung, vào đầu thế kỷ XVI, ở đồng bằng Nam bộ
cơ bản đã hình thành các điểm dân cư tập trung của người Khmer Tuy nhiên, về phíatriều đình Chân Lạp, từ thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm,triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc, đất nước suy yếu, khả năng kiểm soát và quản
lý của Chân Lạp ở vùng đất Nam bộ giảm sút dần
Vào thời điểm này, người Khmer là thành phần dân cư chủ yếu sinh sống ở vùngđồng bằng Tây Nam bộ (đồng bằng sông Cửu Long) Trên đại thể, người Khmer đồngbằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia là những người đồng tộc cóchung ngôn ngữ, tôn giáo và về những đặc trưng tộc người Tuy nhiên từ khi đến khuvực đồng bằng sông Cửu Long sinh sống, nhóm người này đã sống độc lập và không
có mối quan hệ với bất kỳ một quốc gia nào thời đó Do sống tách biệt với ngườiKhmer ở Campuchia trong một thời gian lâu dài, nên người Khmer ở đồng bằng sôngCửu Long đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hóa
và xã hội
Sau đó, cùng với quá trình cộng cư với các tộc người mới diễn ra liên tục từ nhữngnăm cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII càng làm tăng sự khác biệt giữa cộng đồngngười Khmer đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia Đặc biệt từkhi các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền cũng như đưa ranhững chính sách trong việc quản lý vùng đất Nam bộ, người Khmer đồng bằng sôngCửu Long đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ nói riêng và lịch sử ViệtNam nói chung cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đadân tộc, đa văn hóa Việt Nam Người Khmer Nam bộ đã cùng chung sống và pháttirển với người Việt, người Hoa, người Chăm Họ đã thể hiện sự gắn bó, tinh thần
Trang 12đoàn kết trong cuộc sống cũng như torng cuộc chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dântộc và chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc.
Địa bàn cư trú và đời sống xã hội của người Khmer ở Nam kỳ
Đến cuối thế kỷ VIII, văn hóa Óc Eo bắt đầu suy tàn Các công trình văn hóa rực rỡmột thời bị vùi lắp trong lòng đất phèn, mặn của đồng bằng sông Cửu Long Nguyênnhân chính làm hoang phế và vùi lắp nền văn hóa này có lẽ là nạn ngập lụt triền miên
và sự tàn phá của những đội quân người Khmer Campuchia trên đường Nam tiến (saukhi chinh phục được Phù Nam)
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo, vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Nam bộ nóichung trở nên hoang vu Đến cuối thế kỷ XIII, vùng đất Nam bộ về cơ bản là một
vùng hoang dã, chưa được mở mang, khai phá bao nhiêu: “Bắt đầu vào Chân Bồ (vùng biển Vũng Tàu ngày nay) gần hết cả vùng đều là bụi rậm cùng rừng thấp, những cửa rộng của những con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm…Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông, thấy những cánh đồng hoang không có một gốc cây Xa nữa tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy…” [8, 49].
Từ thế kỷ X trở đi, biển rút dần, những giồng đất lớn nổi lên ở vùng Sóc Trăng, Trà
Cú, Đồng Tháp Mười, Giồng Riềng đã trở thành những vùng đất đai màu mỡ Vàothời kỳ này, người Khmer đang bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ dưới triều đạiAngkor Những người nông dân Khmer nghèo khó tìm cách trốn chạy sự bóc lột hàkhắc và nạn lao dịch nặng nề của giai cấp phong kiến thống trị, đã di cư về vùng châuthổ sông Cửu Long ngày một đông
Tiếp theo, từ thế kỷ XIII – XIV, đế chế Angkor bắt đầu khủng hoảng Đặc biệt từthế kỷ XV (1434) trở đi, khi đế chế Angkor sụp đổ, người dân Khmer lại càng rơi vàocảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi phong kiến ngoại tộc Thái Lan Trước tìnhhình đó, người Khmer ngoài số đông là những người nông dân nghèo trốn chạy chiếntranh, còn có cả quan lại, thậm chí hoàng tộc, sư sãi, trí thức tiếp tục di cư đến đồngbằng sông Cửu Long
Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long về đạithể đã hình thành 3 vùng dân cư tập trung lớn:
Vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau (chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi).
Ở đây các vùng Kế Sách, Long Phú, Mỹ Xuyên là đất Phù Sa lẫn nhiều cát và cócác giồng ven biển Ngược lại ở các huyện Thạnh Trị, Hòa Thuận là vùng đất sét cónhiều phèn nên không canh tác được lúa mà chỉ có rừng Chổi, rừng Tràm Vùng bờbiển ở đây thuộc loại đất bùn Mùa khô nước mặn lên tới tận Đại Ngãi nên các xã, ấpxung quanh đất đai bị nhiễm phèn nặng
Giữa các giồng là bờ biển, đất thấp và lầy lội, nên chưa thu hút được đông cư dân
cư trú Đất đai ở đây ít màu mỡ, chỉ thuận lợi cho cuộc sống nghề biển, nhưng do thóiquen làm nông nghiệp nên nghề đánh cá biển của người Khmer kém phát triển Đặctrưng nổi bật của vùng này là sự cư trú đan xen giữa người Khmer, Việt, Hoa dẫn đến
sự hòa nhập một cách sâu sắc về văn hóa giữa các dân tộc, tạo nên yếu tố văn hóachung của vùng
Vùng An Giang – Kiên Giang (chủ yếu là Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng, sau đến phía Tây Bắc Hà Tiên)
Vùng này còn được gọi là vùng núi Tây Nam bao gồm: vùng tứ giác Long Xuyênvới diện tích khoảng 300.000 ha [9, 36]; vùng núi cao dọc biên giới Campuchia thuộc
Trang 13dãy Bảy Núi và một số núi nhỏ khác như: núi Sập, núi Ba Thê Vùng Hà Tiên có một
ít núi đá vôi chạy dài theo vịnh Thái Lan Thiên nhiên ở đây đa dạng và cũng rất khắcnghiệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng cư trú, sinh hoạt, sản xuất của ngườiKhmer và người Việt trong vùng Các tư liệu sưu tầm được chủ yếu là ghi chép vềcông cuộc sinh sống và khai khẩn của người Việt, còn người Khmer thì chưa được chú
ý ghi chép đầy đủ Tác giả Sơn Nam trong công trình biên khảo Lịch sử khẩn hoang miền Nam cho rằng: “Những con số trên chỉ ghi những thôn xã do người Việt thành lập Phía Hậu Giang ruộng nương chưa đến nổi ít oi, dân số không quá thưa thớt, chỉ
vì phần Cương Vực Chí không ghi lại dân số, diện tích các sóc Cao Miên, tập trung ở vùng Trà Vinh, Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng Riêng về vùng Hà Tiên ghi
6 phố, sở của người Tàu, 26 sóc Cao Miên và 19 xã thôn Việt Nam” [10, 66].
Cư dân Khmer ở vùng này thuộc 2 tỉnh biên giới Tây Nam là An Giang và KiênGiang Người Khmer ở đây xây dựng phum sóc trên đồi hay trên các giồng ven kênhtrong những vùng đất thấp hoặc ven chân núi quanh dãy Bảy Núi Ngoài ra, ngườiKhmer còn cư trú ven các thị trấn, thị xã như Tri Tôn, Hà Tiên, Rạch Giá, mặc dùsống ven quanh các thị trấn, thị xã nhưng họ theo thói quen, vẫn cư trú theo từngphum, sóc và làm ruộng nước
Vùng Trà Vinh – Vĩnh Long (còn gọi là vùng nội địa)
Địa hình vùng này phẳng thấp, có những sống đất dọc theo hai bờ sông Tiền, sôngHậu và những gờ đất chạy song song với bờ biển cao một vài mét Những sống đất và
gò đất này được người Khmer gọi là “phno” (giồng) Những giồng hay gò đất là vùngđất phù sa cổ, trên mặt là đất cát pha thịt, dưới sâu là đất sét, dễ thoát nước Đây lànhững dải duyên hải xưa cũ mà đồng bằng trong quá trình tiến dần ra biển hình thànhnên Đây là một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của người Khmer ở đồng bằngsông Cửu Long mà minh chứng là những chùa tháp được xây dựng từ khoảng 400năm về trước, hiện còn được bảo lưu ở đây Phum sóc của người Khmer phần lớnđược xây dựng trên các dải đất giồng, một số cư trú xen kẽ trong các trũng đồng ruộngmênh mông gọi là “ô”, một số cư trú ven kênh và ven bờ biển
Trong số đó, vùng Khmer Sóc Trăng, Cần Thơ, Bạc Liêu là địa bàn cư trú cổ xưanhất của người Khmer Theo nghiên cứu của một tác giả người Pháp thì vào khoảngnăm 1886, người Khmer ở Trà Vinh chiếm khoảng 30% dân số, ở Sóc Trăng chiếm27%, Rạch Giá 26%, Châu Đốc 18%, Bạc Liêu 18%, Cần Thơ 8% Do đó ta thấyngười Khmer cũng chiếm một tỉ lệ dân số khá cao nhưng chưa phải là chiếm tỉ lệ tuyệtđối trong dân số Nam kỳ
Ở Thái Lan, có hơn một triệu người Khmer, chủ yếu ở các tỉnh Surin
( Soren ), Buriram ( Borei Rom ) và Sisaket( Sri Saket )
Trang 14Chương 2 VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER Ở ĐÔNG NAM Á
Đông Nam Á là một bức tranh đa dạng về văn hóa Sự tồn tại và cùng chung sốngcủa nhiều dân tộc khác nhau tại các quốc gia trong khu vực đã tạo nên sự đa dạng,phong phú về văn hóa Người Khmer cũng là một dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc
và thống nhất, mặc dù người Khmer sinh sống ở nhiều quốc gia khác nhau thì các yếu
tố văn hóa của họ vẫn thống nhất Người Khmer có thể cùng chung sống hòa thuậnvới các dân tộc khác (người Thái, người Việt, người Chăm,…) nhưng họ vẫn lưu giữ
và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng của mình Có thể tìm hiểu về văn hóa củangười Khmer ở Đông Nam Á trên các phương diện chính: chữ viết,văn học, tôn giáo
và tín ngưỡng, phong tục tập quán ,lễ hội, và nghệ thuật truyền thống
có lẽ cả Phù Nam
Đa số người Khmer nói phương ngữ Trung Khmer, một phương ngữ Khmer củađồng bằng trung tâm nơi người Khmer tập trung Tại Campuchia, giọng địa phương cótồn tại nhưng được xem là biến thể của Trung Khmer Hai ngoại lệ là phương ngữ thủ
đô, Phnom Penh, và Khmer Khe ở tỉnh Stung Treng, cả hai đều đủ khác biệt với TrungKhmer để có thể xem là những phương ngữ riêng Ngoài Campuchia, ba phương ngữđược sử dụng bởi người Khmer địa phương mà về mặt lịch sử từng là một phầncủa Đế quốc Khmer Phương ngữ Bắc Khmer được nói bởi một triệu người tại vùngphía nam Đông Bắc Thái Lan và được vài nhà ngôn ngữ học xem là một thứ tiếngriêng Khmer Krom, hay Nam Khmer, là ngôn ngữ thứ nhất của người Khmer tại ViệtNam Còn người Khmer ở dãy Kravanh nói một phương ngữ thể hiện những nétcủa tiếng Khmer Trung đại
Tiếng Khmer chủ yếu là một ngôn ngữ phân tích, đơn lập Không có biến tố, chiađộng từ hay hậu tố cách ngữ pháp Thay vào đó, tiểu từ và trợ từ được dùng để xác
định mối quan hệ ngữ pháp Cấu trúc từ nói chung là chủ–động–tân (subject–verb– object) Từ phân loại (classifier) xuất hiện sau số khi đếm danh từ, dù không luôn hiện
diện như tiếng Trung Quốc Trong ngôn ngữ nói, cấu trúc đề-thuyết (topic-comment)
Trang 15phổ biến và mối quan hệ xã hội giữa những người tham gia hội thoại được xác địnhcách dùng từ, như đại từ và kính ngữ.
Tiếng Khmer khác với những ngôn ngữ lân cận như tiếng Thái, tiếng Miến Điện,tiến Lào và tiếng Việt là nó không phải ngôn ngữ thanh điệu Ngôn ngữ này được viếtbằng chữ Khmer từ ít nhất thế kỷ thứ bảy, đây là một abugida bắt nguồn từ chữBrāhmī, thông qua chữ chữ Pallava Nam Ấn Độ Hệ chữ viết Khmer hình thành vàđược sử dụng qua hàng thế kỷ Khoảng 79% người Campuchia biết đọc chữ Khmer Tiếng Khmer là thành viên của hệ ngôn ngữ Nam Á, một hệ ngôn ngữ bản địatrong khu vực, phân bố từ bán đảo Mã Lai tới qua Đông Nam Á lục địa tới Đông Ấn
Độ Hệ Nam Á, gồm có cả tiếng Môn, tiếng Việt và tiếng Munda, đã được nghiên cứu
từ năm 1856 và được đề xuất như một hệ ngôn ngữ vào năm 1907 Dù được nghiêncứu, vẫn có sự không rõ ràng trong mối quan hệ giữa những ngôn ngữ trong hệnày Gérard Diffloth đặt tiếng Khmer trong nhánh đông của nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer Theo cách phân loại này, tiếng Khmer có quan hệ gần nhất với ngữchi Bahnar (Ba Na) và Pear Cách phân loại gần đây hơn nghi ngờ tính chính xác củanhóm Môn-Khmer và đặt tiếng Khmer trong nhánh của chính nó, một trong 13 nhánhcủa hệ
Tiếng Khmer được nói bởi khoảng 13 triệu người ở Campuchia, nơi nó là ngôn ngữchính thức Nó cũng là ngôn ngữ thứ hai của đa phần các nhóm dân tộc thiểu số tạiđây Thêm vào đó, có khoảng 1 triệu người bản ngữ Khmer ở miền nam ViệtNam (ước tính 1999) và 1,4 triệu người ở đông bắc Thái Lan (2006)
Các phương ngữ Khmer, dù thông hiểu lẫn nhau, đôi khi có thể gây bối rối Chúnggồm các phương ngữ Phnom Penh (thủ đô Campuchia), vùng nông thôn Battambang,vùng đông bắc Thái Lan tiếp giáp với Campuchia như tỉnh Surin, dãy Kravanh, vàmiền nam Việt Nam Người nói tiếng Khmer Campuchia chuẩn có thể hiểu đượcphương ngữ khác, nhưng, ví dụ, một người Khmer Krom từ Việt Nam sẽ gặp khókhăn lớn khi muốn giao tiếp với một người Khmer từ tỉnh Sisaket tại Thái Lan
Chữ viết của người Khmer chịu ảnh hưởng nhiều từ chữ của người Ấn Độ Mặc dùsinh sống ở nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nhưng người Khmer vẫn có sựthống nhất chung trong chữ viết Chữ viết của người Khmer được người Lào học hỏi,tiếp thu nhiều
2.1.2 Văn học
Văn học của người Khmer có nguồn gốc từ xa xưa Giống như văn học của các dântộc, quốc gia khác ở Đông Nam Á, nền văn học Khmer gồm hai bộ phận chủ yếu: Vănhọc viết và văn học dân gian Văn học viết hầu như chỉ phổ biến trong cung đình vàcác chùa Phật giáo; Văn học truyền miệng được dựa trên văn học dân gian bản địa Bộphận văn học này chịu ảnh hưởng sâu nặng bởi đạo Phật, loại hình tôn giáo của đa sốngười Khmer, cũng như hai bộ sử thi của người Ấn Độ Ramayana và Mahabharata.Các bằng chứng về ngôn ngữ Khơ me cổ xưa được tìm thấy trên vô số bản khắctrên đá Văn bản viết đầu tiên giúp dựng lại lịch sử đế chế Khơ me là những bảnkhắc.Những văn bản này được viết trên cột, bia, trên những bức tường mà nội dungcủa nó chiếu rọi những sự kiện xảy ra với những người thuộc dòng dõi Hoàng gia;chúng cũng là các sắc lệnh tôn giáo, viết về các cuộc chinh phạt chiếm lãnh thổ và tổ
Trang 16chức công việc nội bộ của Vương quốc Ngoài văn bản khắc đá, thuộc dạng tài liệuxưa nhất của Khơ me là những bản dịch hoặc chú giải văn bản Phật giáo Pali làkinh Tam Tạng viết bằng ký tự Khơ me.
Riêm Kê (Reamker) hay Ram Kê (danh hiệu của Rama) là phiên bản Campuchiacủa Ramayana, một sử thi Ấn Độ nổi tiếng Riêm Kê được biểu diễn dưới dạng thơngâm và trích đoạn sân khấu, có biến đổi so với nguyên gốc Ấn Độ dựa trên cách cảmnhận của các nghệ sĩ bản địa; các động tác của nghệ thuật múa Campuachia đã đượcđưa vào trình diễn
Riêm Kê là dạng thức cổ xưa nhất của sân khấu Campuchia Điệu múa RobamSovann Maccha trích từ Riêm Kê, kể về thần khỉ Hanuman và Suvannamaccha, nàngtiên cá vàng là một trong những điệu múa nổi tiếng nhất của nghệ thuật múa cổ điểnCampuchia
Nhiều truyền thuyết, truyện kể, bài ca có nguồn gốc rất cổ, vẫn chưa được chép lạicho đến thế kỷ 19, 20 mà chỉ được ghi nhớ rồi kể lại qua nhiều thế hệ
Nhiều truyền thuyết có đặc điểm và cốt truyện lấy từ sử thi Ấn Độ Ramayana vàMahabharata, cũng như là từ các truyện kể trong Bản sinh kinh Cũng có truyện thểhiện ảnh hưởng từ Xiêm La
Những truyện truyền khẩu truyền thống thường được kể ngâm thành những bài thơrất dài Người anh hùng trong các truyện này thường là hoàng tử hoặc các đấng siêunhiên và diễn biến thường là sự nối kết của nhiều cung điện và đền chùa Mục đíchquan trọng khiến các truyện này được truyền lại qua nhiều thế kỷ, đó là để truyền lạicác giá trị và chuẩn mực Nhiều truyện nhấn mạnh vào giải pháp hòa bình khi có xungđột Tham chiếu đến các vùng đất địa lý hay ý nghĩa của các địa danh Campuchiacũng được truyền lại thông qua các truyện này
Một trong những đại diện tiêu biểu của truyện kể là truyện Vorvong và Sorvong,một truyện dài thuộc truyền thống truyền khẩu Khơ me, kể về hai hoàng tử Khơ me bịruồng bỏ, nhưng sau một loạt các thử thách lại lấy lại được địa vị "Vorvong vàSorvong" được chuyển thành văn viết bởi Auguste Pavie với tựa "Vorvong andSaurivong"; công chức người Pháp này nói rằng ông ta đã nhận được bản truyềnthuyết dân gian từ một người chú lớn tuổi Nip nào đó ở quận Somrontong Rồi ông đãviết lại truyện tại Battambang.Có hai quả đồi ở công viên quốc gia Kirirom, huyệnPhnom Sruoch, tỉnh Kampong Speu, được đặt theo tên của hai anh em hoàng tử anhhùng, Vorvong và Sorvong
Một truyền thuyết dân gian Khơ me khác có nói tới một ngọn núi địa phương
là Puthisan Neang Kong Rei.Năm 2006, truyện "Vorvong và Sorvong" được chuyểnthể thành tác phẩm múa bởi Nhà hát vũ lịch Campuchia
Tum Tiêu là một thiên tình sử bi thảm cổ điển lấy bối cảnh Kampong Chàm phổbiến khắp đất nước, ít nhất là từ giữa thế kỷ 19 Truyện được sáng tác dựa vào một bàithế thế kỷ 17,18 không rõ nguồn gốc; bài thơ này có lẽ cũng bắt nguồn từ một truyềnthuyết dân gian Campuchia cổ nào khác Ngày nay, "Tum Tiêu" được thể hiện dướidạng truyền khẩu, văn chương, sân khấu và điện ảnh bằng tiếng Khơ me Dù bản dịchđầu tiên là sang tiếng Pháp bởi Étienne Aymonier vào năm 1880, nhưng "Tum Tiêu"chỉ phổ biến ra quốc tế sau khi nhà văn George Chigas dịch văn bản viết năm 1915
Trang 17bởi nhà sư Phật giáo đáng kính Preah Botumthera Som, còn gọi là Padumatthera Som, hay là Som
2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng
Đối với người Khmer, tín ngưỡng Arak, Neakta và Phật giáo Theravada có vị trí rấtquan trọng trong đời sống tâm linh của họ
Tín ngưỡng Arak, Neakta của người Khmer
Trước thế kỷ XVII, người Khmer chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Ấn Độ giáo Sự ảnhhưởng đó ngày càng nhiều và ngày càng chiếm ưu thế của Phật giáo Tiểu thừa củangười Khmer Đối với người Khmer, Arak và Neakta là thần hộ mệnh Arak được
người Khmer xem là thần bảo vệ gia đình, dòng họ (Arak Phan), nhà cửa (Arak Phateh), bảo vệ đất đai (Arak Phum), bảo vệ khu rừng (Arak Prei) Người Khmer
quan niệm rằng, Arak đều có nguồn gốc giống như người trong gia đình là từ một bà
tổ sinh ra Người phụ nữ chết bất đắc kì tử và trở thành Arak Vì vậy, mỗi dòng họKhmer khi cúng bái phải chọn một bà làm người đại diện cho dòng họ để Arak nhậpvào "con đồng", về sau người này được thay bằng đàn ông
Người Việt ở Nam bộ thường gọi Neakta là ông Tà hoặc Thần tài Neakta củangười Khmer có nhiều loại nhưng quan trọng nhất là Neakta phum sóc tương tự nhưThành Hoàng của người Việt Người Khmer thường dựng miếu Neakta ở đầu làng, ởngã ba đường, ở góc ruộng… để hàng năm, ít nhất một lần, dân làng Khmer làm lễcầu an trước miếu này Neakta có thể ở chùa, Neakta có thể mang tên một vật gì đótrong tự nhiên, cũng có thể mang tên một người hay tên sự tích liên quan đến ngườihoặc tên các vị thần trong đạo Bàlamôn như Visnu, Shiva, Brahma… Tín ngưỡngNeakta là một hỗn dung giữa tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tục thờ cúng tổ tiên, thờngười đã khuất, tín ngưỡng Bàlamôn và Phật giáo Tiểu Thừa
Phật giáo Theravada của người Khmer
Hiện nay chỉ số ít người Khmer ở Đông Nam Á là theo đạo Công giáo, Tin Lành…còn đa số đều theo Phật giáo Theravada Phật giáo Theravada và tộc người Khmer đãtrở thành một khối bền chặt, không thể tách rời Trong chừng mực nhất định, đó còn làniềm tin, là thế giới quan, là nhân sinh quan của cộng đồng Khmer Những tinh hoacủa Phật giáo Theravada được người Khmer xem là những giá trị cần phải vươn tới
Từ xa xưa, Phật giáo Theravada của người Khmer ở Đông Nam Á có hệ thống tổ chứcthống nhất để thực hiện giáo quyền và giáo luật
2.3 Phong tục tập quán
2.3.1 Nhà ở, đền chùa
Nhà cửa, đền chùa của người Khmer mang những đặc trưng kiến trúc riêng biệt sovới các dân tộc khác cùng cộng cư ở vùng đất khác Người Khmer coi nhà ở khôngquan trọng, không cần để phô trương biểu thị về sự giàu sang, bề thế của gia đình, họtộc nên về mặt kiến trúc thường rất đơn giản, không cầu kỳ nhưng họ lại rất quan tâmđến việc xây dựng, tu bổ cho ngôi chùa lộng lẫy
Nhà ở của người Khmer thường tụ sau các luỹ tre, trong các khuôn viên nhỏ, có ràotre thấp, tường xây hay hàng rào cây xương rồng bao bọc Trước mặt nhà thường cómột cái sân nhỏ với đống rơm ở bên rìa sân Bên hông và sau nhà thường là bếp, nhà