PHẦN MỞ ĐẦU - LÝ THUYẾT CÔNG TY 1 Định nghĩa công ty 1.1 Công ty như kẽ hở để thực hiện quyền lực độc quyền o Biện pháp đối phó của công ty có thể là nội hóa vì các giao dịch nội bộ th
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - LÝ THUYẾT CÔNG TY 5
1 Định nghĩa công ty 5
1.1 Công ty như kẽ hở để thực hiện quyền lực độc quyền 5
1.2 Quan điểm về công ty ngắn hạn và tĩnh 5
1.3 Công ty như là mối quan hệ dài hạn 6
1.4 Công ty như là hợp đồng không đầy đủ 11
2 Giả thiết tối đa hóa lợi nhuận 18
2.1 Vấn đề cơ bản về động cơ 18
2.2 Hạn chế 20
2.4 Giả thiết tối đa hóa lợi nhuận và tổ chức ngành 32
3 Mối quan hệ giữa ông chủ và người đại diện 33
PHẦN 1 – THỰC HÀNH QUYỀN LỰC ĐỘC QUYỀN 36
CHƯƠNG 1- ĐỘC QUYỀN 36
1.1 Hành vi định giá 36
1.1.1 Nhà độc quyền sản phẩm đơn 36
1.1.2 Độc quyền đa-sản phẩm 39
1.1.3 Nhà độc quyền hàng-lâu bền 41
1.1.4 Tìm hiểu đường cầu 41
1.1.5 Hàng tồn kho 42
1.2 Bóp méo chi phí 42
1.3 Hành vi tìm kiếm tô kinh tế 42
CHƯƠNG 2 - LỰA CHỌN SẢN PHẨM, CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢNG CÁO 44
2.1 Khái niệm Không gian Sản phẩm 44
2.1.1.Phân biệt theo chiều dọc 44
2.1.2 Phân biệt theo chiều ngang 46
2.1.3.Tiếp cận thuộc tính hàng hóa 48
2.1.4 Tiếp cận Người tiêu dùng Truyền thống) 49
2.2 Lựa chọn Sản phẩm 51
Trang 32.2.1 Chất lượng sản phẩm 51
2.2.2 Quá nhiều hay quá ít sản phẩm 53
2.2.3 Lựa chọn sản phẩm và phân biệt đối xử 55
2.3 Chất lượng và Thông tin 55
2.3.1 Mua lặp 58
2.3.2 Chất lượng, Thông tin và Chính sách Công cộng 58
2.4 Quảng cáo 61
CHƯƠNG 3 – PHÂN BIỆT GIÁ 63
3.1 Phân-biệt-giá hoàn hảo 63
3.2 Phân-biệt-giá (bậc-ba) đa-thị trường 64
3.3 Phân biệt giá cấp 2 – Mua đi bán lại tư nhân và Sàng lọc 68
CHƯƠNG 4 – KIỂM SOÁT THEO CHIỀU DỌC 74
4.1.Giá tuyến tính vs hạn chế theo-chiều-dọc 74
4.1.1 Khung cơ bản 74
4.1.2.Cạnh tranh nội-ngành 77
4.1.3 Một vài đầu vào 78
4.1.4 Cạnh tranh ngoại-ngành 79
4.1.5 Tính pháp lý của ràng buộc 79
4.2 Ngoại ứng và kiểm soát theo-chiều-dọc 79
4.2.1 Phương pháp luận 79
4.2.2 Ngoại ứng theo chiều dọc căn bản 80
4.3 Cạnh tranh nội-ngành 81
4.3.1 Cạnh tranh nội-ngành và dịch vụ bán lẻ 81
4.3.2 Ngoại ứng theo-chiều-ngang 83
4.3.3 Các nhà bán lẻ bị phân-biệt 85
4.3.4 Cạnh tranh bán lẻ như động-cơ-khuyến khích 86
4.4 Cạnh tranh ngoại-ngành 87
4.4.1 Giao dịch đặc biệt và hiệu quả 87
4.4.2 Các hạn chế theo-chiều-dọc và hành vi chiến lược thượng-du 88
CHƯƠNG 5 – CẠNH TRANH GIÁ NGẮN HẠN 89
Trang 45.1 Nghịch lý Bertrand 89
5.3 Giao hoàn giảm dần theo quy mô và ràng buộc công suất 93
5.4 Phân tích Cournot truyền thống 97
5.5 Các chỉ số về độ tập trung và khả năng sinh lợi của ngành 102
CHƯƠNG 6- CẠNH TRANH GIÁ DÀI HẠN VÀ CÂU KẾT NGẦM 105
6.1 Kiến thức thông thường (Các yếu tố tạo thuận lợi và cản trở sự câu kết) 105
6.2 Các phương pháp tiếp cận tĩnh đối với cạnh tranh giá động 107
6.3 Siêu trò chơi 109
6.4 Tính cứng nhắc của giá cả 112
6.5 Uy tín cho hành vi thân thiện 113
CHƯƠNG 7 – PHÂN BIỆT SẢN PHẨM: CẠNH TRANH GIÁ VÀ CẠNH TRANH PHI GIÁ 115
7.1 Cạnh tranh không gian 115
7.1.1 Thành phố tuyến tính 115
7.1.2 Thành phố vòng tròn 120
7.2 Độc quyền cạnh tranh 124
7.3 Quảng cáo và phân biệt sản phẩm về thông tin 126
7.3.1 Các quan điểm về Quảng cáo 127
7.3.2 Hàng Tìm kiếm và Quảng cáo Thông tin 127
7.3.3 Hàng hoá Trải nghiệm: Phân biệt Thông tin và Thiện chí 128
CHƯƠNG 8 – NHẬP NGÀNH, DÀN XẾP, XUẤT NGÀNH 129
8.1 Chi phí cố định: Độc quyền Tự nhiên và Khả-năng-tranh-giành 129
8.1.1 Chi phí Cố định vs Chi phí Chìm 129
8.1.3 Chiến-tranh-tiêu-hao 132
8.2 Chi phí Chìm và Rào cản cho Nhập ngành: Mô hình Stackelberg-Spence-Dixit 134
8.2.1 Nhập ngành được Dàn xếp, bị Ngăn cản, và bị Phong tỏa (Blockaded) 134
CHƯƠNG 9 - THÔNG TIN VÀ HÀNH VI CHIẾN LƯỢC: UY TÍN, ĐỊNH GIÁ GIỚI HẠN VÀ HỦY DIỆT 139
9.1 Cạnh tranh tĩnh với thông tin phi đối xứng 139
9.1.1 Mô hình cạnh tranh đơn giản về giá 139
9.2 Tính động: Cách tiếp cận heuristic 141
9.3 Điều tiết và câu kết ngầm 142
Trang 59.4 Hủy diệt cho sáp nhập 145
9.5 Danh tiếng đa thị trường 146
CHƯƠNG 10– NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ CHẤP NHẬN CÔNG NGHỆ MỚI 148 10.1 Động cơ như là chức năng của cấu trúc thị trường : giá trị của cải tiến 148
10.1.1 Nhà hoạch định XH 148
10.1.2 Nhà độc quyền 148
10.1.3 Cạnh tranh 149
10.1.4 Độc quyền đe dọa bằng việc ra nhập 150
10.2 Giới thiệu cuộc đua phát minh sáng chế 152
10.3 Phân tích phúc lợi về bảo vệ phát minh sáng chế 152
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU - LÝ THUYẾT CÔNG TY
1 Định nghĩa công ty
1.1 Công ty như kẽ hở để thực hiện quyền lực độc quyền
o Biện pháp đối phó của công ty có thể là nội hóa (vì các giao dịch nội bộ thường khó quan sát thấy, cho nên chúng có thể tránh được luật)
Phân biệt giá:
o Bán hàng tại các thị trường khác nhau với các mức giá khác nhau;
o Điều này dẫn tới sự tùy tiện của các đại lý nhà sản xuất phải tham gia trực tiếp vào phân phối và tự phục vụ các thị trường giá-thấp;
o Hiện tượng tương tự xảy ra nhưng vì nguyên nhân pháp lý (đối xử công bằng với những đối tượng tương tự nhau) nhà sản xuất tham gia giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng
vì để phân biệt đối xử với những người tiêu dùng khác, hoặc có thể đóng cửa hoàn toàn thị trường hàng-trung gian
Kiểm soát giá trung gian:
o Trong thực tế, giá của hàng hóa trung gian có thể bị cơ quan điều chỉnh áp đặt dưới mức giá cân bằng khi đó công ty muốn hợp nhất với người mua vì cơ quan điều chỉnh hạ giá xuống dưới ý muốn thanh toán của người mua
o Hậu quả là hợp nhất theo chiều dọc cho phép nhà cung cấp tránh luật bằng cách tạo ra các giao dịch nội hóa không quan sát được
o Cũng có nguyên nhân pháp lý cho hợp nhất theo chiều dọc: tránh thuế giá trị gia tăng (cơ
sở thuế là trung tính với quyết định hợp nhất);
o Một nguyên nhân khác xuất hiện khi có điều chỉnh tỷ lệ giao hoàn công ty đang xét có thể muốn hợp nhất với các công ty cung cấp trang thiết bị nếu giá cung cấp trang-thiết bị không bị điều chỉnh
Nhận xét:
o Hợp nhất theo chiều ngang cũng là đáng mong muốn vì lý do quyền lực độc quyền
o Nhưng điều này thường bị cấm bởi luật pháp
1.2 Quan điểm về công ty ngắn hạn và tĩnh
o Chủ đề chính trong nghiên cứu cổ điển về các đường cong chi phí trong tổ chức công nghiệp là kích thước và số lượng công ty trong một ngành liên quan tới mức độ giao hoàn theo quy mô (return to scale):
o Hiện nay, hiệu quả kinh tế theo quy mô:
product-specific economies (hiệu quả theo quy mô sản phẩm đơn): nguyên nhân là
do công nghệ giảm-chi phí-sản xuất;
Trang 7 economies of massed reserves (hiệu quả theo quy mô đa-sản phẩm hoặc đa-thị
trường): nguyên nhân là do giảm bất định (vì luật số lớn làm tính bất định)
Các hàng bổ sung cầu (demand complementarities)
Hình thức hóa (mô hình hóa):
i
i C q q
C
1 1
1.3 Công ty như là mối quan hệ dài hạn
Để đơn giản hóa, chúng ta chỉ xét bài toán động này được giới hạn trong mối quan hệ theo chiều dọc (vertical relationship) giữa nhà cung cấp và người mua (cùng là trung tính với rủi ro)
Đầu tư đặc thù
- Quan hệ dài-hạn thường gắn với chi phí chuyển đổi (switching costs) và đầu tư đặc biệt:
o Chi phí chuyển đổi (từ nghiên cứu của Williamson về hiểm họa gắn với đấu thầu lặp để phân bổ độc quyền tự nhiên:
Khái niệm nổi bật trong các loại chi phí chuyển đổi là:
nhu cầu của thành viên mới tham gia đấu thầu tìm hiểu thông tin;
sự miễn cưỡng của thành viên cũ trong chia sẻ thông tin
o Chính các chi phí này (chi phí ngăn cản nhà điều chỉnh không sử dụng đấu thầu lặp _ repeated bidding _ để phân bổ cung cấp độc quyền của một hàng hóa) cũng ngăn cản người mua không sử dụng lặp thị trường-giao ngay _ spot markets _ để mua một số hàng hóa và dịch vụ từ những người cung cấp
Trang 8o Chi phí chuyển đổi là một trường hợp riêng của idiosyncratic investment (đầu tư đặc thù) Khi này:
Nếu 2 bên trao đổi cùng ở lại với nhau sẽ tao ra thặng dư so với trường hợp nếu trao đổi với người khác;
Tổng quát hơn: đầu tư đặc thù gắn với viễn cảnh tương lai;
Hai kiểu đặc thù:
Đặc thù về vị trí (chỗ);
Đầu tư đặc thù vào vốn con người
- Kết cục chung: các bên tham gia ký hợp đồng ngày hôm nay biết về khả năng khai thác thành quả thương mại sau này giữa họ;
- Khía cạnh tối-quan trọng là:
o Các bên lựa chọn nhau ex-ante, nhưng lại sẽ thực hành độc quyền tay đôi (bilateral
monopoly), tức là, mỗi bên muốn chiếm hữu thặng dư chung ex-post
o Hậu quả: gây hại cho hiệu quả thương mại ex-post và lượng đầu tư đặc thù hiệu quả
ex-ante
Định giá độc quyền đôi và khối lượng giao dịch
- Mô hình 2-giai đoạn:
- Tập trung vào giai đoạn 2:
o Mỗi bên nghiên cứu xem mình thu được bao nhiêu từ thương mại trong giai đoạn 2: họ nghiên cứu về việc thương mại 1 đơn vị của hàng hóa không thể phân chia (dự án);
mại là p ;
o Không có thương mại, thặng dư bằng 0
- Thương lượng:
o Thông tin đối xứng: vấn đề phi-hiệu quả không phát sinh;
o Thông tin phi-đối xứng:
Vấn đề độc quyền tay đôi (bilateral monopoly);
o Xét trường hợp riêng: chỉ có v là thông tin riêng (private information)
Cả hai đều biết về c ;
v được gắn với hàm phân phối sản xuất tích lũy F v và hàm mật độ phân phối xác suất f v trên khoảng v, v với F v 0 và F v 1;
Trang 9 Khi đó xác suất thương mại xảy ra là: p 1c F p;
Bài toán của người cung cấp: max 1F p pc f p 0 không hiệu quả vì lời giải cho p trong khi lời giải lời giải tối ưu là c p ! c
và v với một xác suất nào đó Kết quả là không có quá trình mặc quả c
hiệu quả!
- Hợp đồng:
o Khả năng mất hiệu quả của thương mại ex-post khiến cho các bên có động cơ hợp
đồng ex-ante để tránh hoặc hạn chế tính mất-hiệu quả:
có quyền định giá
Trên thực tế còn một số tình huống khác với một số giải pháp khác;
Tóm tắt:
Mặc cả ex-post có thể không dẫn tới lượng thương mại hiệu quả;
Cần phải có hợp đồng về quá trình làm quyết định trong giai đoạn thứ hai, càng đơn giản càng tốt;
Khi thông tin của một bên là hiểu biết chung, cần trao quyền lựa
chọn thương mại cho 1 bên, Quyền này nên được trao cho bên có
thông tin riêng
Vấn đề đầu tư đặc thù và “Hold-up”
Giả thiết:
- nhà cung cấp đầu tư để giảm chi phí;
- người mua đầu tư để cải thiện giá trị;
- đầu tư là đặc thù (specific) là ở chỗ họ sẽ không giảm được chi phí hoặc cải thiện được giá trị nếu họ quan hệ thương mại với các đối tượng khác
Thương lượng:
- Chỉ xét việc mặc cả trong giai đoạn 2 để xem xét sự phụ thuộc của đầu tư đặc thù ex-ante vào sự phân chia thành quả ex-post;
- Mô hình minh họa:
o Mặc cả ex-post dẫn tới cân bằng Nash: thặng dư được chia đều cho 2 bên
o Lựa chọn của nhà cung cấp trong hoàn cảnh thông thường:
Trang 10 Không đầu tư: I 0 c là cao không có thành quả thặng dư = 0;
o Lựa chọn của nhà cung cấp trong hoàn cảnh đặc thù (specific investment)
- Mô hình tổng quát (liên tục):
o Hàm chi phí tất định của nhà đầu tư là c I , với c' I 0 và c '' I 0;
o v là giá trị tất định của người mua, giả sử v c 0 ;
o Giá p được xác định ex-post bằng lời giải Nash:
Nghiệm tối ưu là: c' I 2
o Xã hội:
max
Nghiệm tối ưu là: I c' 1
o Kết luận: Đầu tư tư nhân (tối ưu về mặt tư nhân) là không tối ưu (về mặt xã hội);
gọi tình trạng này là chủ nghĩa cơ hội (opportunism);
kết luận: độc quyền tay đôi + mặc cả đầu tư thiếu trong tài sản đặc thù
- Mô hình về quan hệ giữa tính đặc thù tài sản với các cơ hội bên ngoài (outside opportunities):
là vc I ;
o Nếu buôn bán với khách hàng đặc biệt, chúng ta vẫn sử dụng giả thiết lời giải Cân
p c I v c I
p
Trang 11o Dễ thấy, nhà đầu tư có động cơ buôn bán với khách đặc biệt Khi đó thanh toán liên-thời gian của anh ta là:
- Hợp đồng:
o Trường hợp không thể chứng minh (not verifiable) trước tòa:
Chúng ta cũng giả thiết giá trị và chi phí không thể kiểm chứng trước tòa
Trường hợp verifiable không xét vì không còn là specific investment
o Vì việc từ bỏ buôn bán đe dọa chiếm hữu thặng dư cần ngăn chặn bằng cách quy định hình phạt trong hợp đồng:
Một trường hợp cực đoan của hình phạt là buôn bán theo giá cho trước (mức
phạt vô hạn, sự phụ thuộc của p vào I bị loại bỏ
Ý nghĩa: hình phạt giữ cho thương mại được diễn ra
Nhược điểm: bắt phải trao đổi ngay cả khi không có thặng dư!
o Giả sử trường hợp xấu hơn, tức là xét cả khả năng không có thặng dư:
v và c là ngẫu nhiên và tồn tại xác suất để v ; c
Cơ chế đặt chủ quyền (sequential authority machanism):
Nhà cung cấp chọn giá;
Ng
ười mua chấp nhận hay từ chối;
Chú thích:
thông tin ex-post là đối xứng: lượng trao đổi là hiệu quả
nhà cung cấp thu tất cả thặng dư
- Nhận xét:
o v và c cần phải được kiểm toán bất cứ khi nào có thể; hợp tác hay không hợp
tác dựa hoàn toàn vào kiểm toán;
o Theo Williamson, kiểm toán nội bộ dễ hơn kiểm toán bên ngoài;
o Grossman và Hart lý luận rằng hợp nhất không thay đổi cấu trúc thông tin
Hạn chế của quan hệ dài-hạn
Trang 12- Hạn chế thứ nhất: Các cơ hội bên ngoài (outside opportunities):
o Không có thặng dư dẫn tới phải phá hợp đồng (hình phạt sẽ là không hiệu quả);
o Cơ hội bên ngoài cũng giống như Không có thặng dư;
- Hạn chế thứ 2: cấu kết giữa đội ngũ nhân sự của đơn vị giải pháp: luân chuyển cán bộ
- Hạn chế khác: quan hệ ngắn hạn tạo điều kiện thuận lợi cho những người hay có cơ hội bên ngoài Những người như vậy phát tín hiệu (to signal) bằng cách ký hợp đồng-ngắn hạn
1.4 Công ty như là hợp đồng không đầy đủ
- Trên đây (các Mục 1.2 và 1.3) công ty được xem như các hợp đồng ngắn- và dài-hạn, nhưng thực ra, các hợp đồng này khá là không đầy đủ (fairly incomplete contracts):
o Một hợp đồng phải có “chi phí giao dịch” thấp, nhưng với công ty thì chi phí giao dịch lại cao;
o Có bốn loại chi phí giao dịch:
Các tình huống dự phòng (contigencies) không nhìn thấy trước;
Có quá nhiều tình huống dự phòng (có thể dự kiến được);
Giám sát quá đắt đỏ;
Cưỡng chế quá tốn kém
- Các nguyên nhân về tính không đầy đủ khó được hình thức hóa (khó mô hình hóa) Hai
trường hợp cực đoan của các quá trình làm quyết định để xử lý ex-post các tình huống dự
phòng không thấy trước:
o Không hợp đồng (kèm theo mặc cả ex-post không bị ràng buộc);
o Hợp đồng đầy đủ
- Tồn tại các dạng trung gian giữa không-hợp-đồng và hợp đồng đẩy đủ:
o Các dạng trung gian tiết kiệm chi phí giao dịch;
o Bao gồm 2 dạng chính:
Trọng tài bên ngoài;
Chủ quyền bên trong của một trong hai bên,
- Mặc cả:
o Tiêu chuẩn trọng tài:
Biết tìm hiểu và nắm bắt được tình huống (thông tin) với chi phí thấp:
Hạn chế sử dụng trọng tài ngoại;
Với trọng tài nội:
Có lợi thế trong việc trợ giúp lãnh đạo giải quyết xung đột giữa các đơn vị trực thuộc;
Có lợi thế trong việc về quá trình tiếp xúc;
Cũng có bất lợi khi lãnh đạo không được cung cấp đầy đủ thông tin;
Phải độc lập (vì lợi ích chung, không thiên vị một bên mà gây tổn hại cho bên còn lại):
Trang 13 Phải được tin cậy;
Phải tạo lập được uy tín
- Chính quyền
o Quyền ứng xử với những tình huống dự phòng chưa biết _ thẩm quyền (authority) _ có thể được trao cho một trong những bên có liên quan thay vì một trọng tài nào
đó Theo Grossman và Hart (1986) và Hart và Moore (1985):
thẩm quyền không có nghĩa là các bên có liên quan sẽ không thương lượng;
một quyết định ưa thích nào đó của bên có thẩm quyền có thể là rất tốn kém cho một bên khác nào đó;
bên có thẩm quyền buộc không nhận một số lợi ích nào đó do thực hành thẩm quyền;
Hiểu biết quan trọng là: thẩm quyền thay đổi điểm status-quo trong quá
trình mặc cả _ nó đặt bên có thẩm quyền vào một tình huống mặc cả tốt hơn
và, đến lượt mình phân chia thành quả ex-post từ thương mại sẽ tác động tới các đầu tư ex-ante
o Mô hình (Grossman và Hart):
Ex-post, các bên phải làm quyết định d trong tập D Họ nhận được thanh toán bằng tiên là B i d (i = 1,2);
Trao thẩm quyền có nghĩa là cho phép bên được trao thẩm quyền (ví dụ bên
thứ 1) được lựa chọn d mà nó ưa thích
Nhưng nếu thanh toán của bên thứ hai (bên thứ 2) không được tối đa sẽ
thanh toán chung của họ B1 d B2 d ;
tái-thương lượng được phân phối bằng nhau (tức là lời giải Cân bằng Nash),
ta có:
*
1 2
* 2
* 1 1
*
quyết định tối ưu d ), suy ra: *
*
1 2
* 1 1
* 2
* 1
* 1 1
1
d B d B d B d B d
* 1 2
* 1
* 1 2 2
2
1
d B d B d B d
B
Rõ ràng bên có thẩm quyền hưởng lợi từ việc có thẩm quyền
Trang 14
,
,
* 2 2
* 1 2
* 2 1
* 1 1
d B d B
d B d B
* 2 1
* 1 2
* 1
Nhận xét:
Vì lợi ích ex-post phụ thuộc vào:
Đầu tư ex-ante;
Quyết định ex-post;
phân phối của thẩm quyền tác động đến động cơ của các bên
trong việc đầu tư vào tài sản đặc thù:
Tại trạng thái status-quo, đầu tư của bên 1 không thể bị tước
đoạt vì anh ta là người làm quyết định
Một số khái niệm:
Kiểm soát của nhà cung cấp (supplier control) là tình huống
khi nhà cung cấp có thẩm quyền quyết định;
Kiểm soát của người mua (buyer control) là tình huống khi
người mua có thẩm quyền quyết định;
Không hợp nhất (nonintegration) là trường hợp ít nhất có 2
khía cạnh mà mỗi bên có thẩm quyền với một khía cạnh;
Hợp nhất (integration) là trường hợp khi một bên có thẩm
quyền với tất cả các khía cạnh);
o Ví dụ:
Ví dụ này chỉ ra phân phối của bên có thẩm quyền tác động như thế nào tới phân chia thành quả từ thương mại và động cơ đầu tư
Giả thiết:
Người mua và người bán hợp đồng ngày hôm nay;
Hợp đồng không thành vấn đề: hai bên đồng ý trao đổi;
Bất định ảnh hưởng tới chất lượng cuối cùng của hàng hóa:
Thiết kế cơ sở được hợp đồng tại ngày 1;
Cơ hội cải thiện chất lượng xuất hiện trong ngày 2, và không được mô tả tại ngày 1;
Liệu cải thiện chất lượng có xảy ra không được xác định trực tiếp tại ngày 1, và chỉ biết vào ngày 2;
Chi phí của nhà cung cấp trong ngày 2 sẽ là c lớn hơn 0; Để
đơn giản, chúng ta giả thiết c đã được biết trong ngày 1 và
không phụ thuộc vào cải thiện cụ thể
Thanh toán:
Trang 15 Người mua lựa chọn đầu tư trong giai đoạn 1:
Giá trị ở giai đoạn 2 cho cải thiện là:
v với xác suất x, và c
0 với xác suất 1 – x;
biết mức đầu tư
Lưu ý: v và c là giá trị và chi phí ròng ngoài các mức tương ứng trong giai đoạn 1
Giải thích công nghệ đầu tư:
Người mua đầu tư vào khả năng linh hoạt;
Đầu tư cao hơn làm tăng xác suất mà cải thiện có thể xảy ra;
Ví dụ: ông chủ (người mua) có thể tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên để thích nghi với thay đổi công nghệ, hoặc công ty có thể mua công nghệ đắt nhưng phù hợp với nhiều sự thay đổi có thể
Bài toán:
Bài toán tối ưu về mặt xã hội của mô hình:
Đầu tư tối ưu của người mua:
/ 2 maxx v c x2
x* vc thặng dư chung là W* vc2/2
Giả thiết: các bên là ích kỷ (self-interested); cải thiện mặc dù không được chỉ ra ở ngày 1, có thể được hợp đồng ở ngày 2 Xét 3 tình huống:
Mặc cả không ràng buộc (các bên mặc cả trong giai đoạn thứ hai về việc có cải thiện hay không; nếu không thể đồng thuận
sẽ không có đầu tư nào được thực hiện);
“Kiểm soát của ngưởi mua (buyer control)”: người mua quyết định liệu đầu tư có được thực hiện hay không;
“Kiểm soát của người cung cấp (supplier control)”: người cung cấp có quyền quyết định liệu có đầu tư hay không
Giả thiết thêm:
Bên có thẩm quyền có thể mặc cả và từ bỏ thẩm quyền;
Trong bất kỳ tình huống nào, thành quả từ thương mại được chia sẻ;
Trang 16 Giả sử các bên có thể chọn thể chế làm tối đa thặng dư chung
kỳ vọng, dựa trên cơ sở rằng thành quả từ trao đổi thể chế thành hiệu quả hơn sẽ được tái phân phối trong ngày 1
Bài toán mặc cả không ràng buộc:
Kiểm soát của người cung cấp:
là tương đương với mặc cả không ràng buộc, vì điểm quo là như nhau:
status- Nếu 2 bên không đồng ý bên cung cấp chọn không cải thiện (là hoạt động ít tốn kém hơn cho anh ta); Quyền của anh ta cho phép anh ta sử dụng sự tuân thủ nghiêm ngặt với hợp đồng nguyên thủy;
Ví dụ: Thương lượng giữa Bộ Quốc phòng với nhà thầu quốc phòng về những thay đổi thiết kế Nhà thầu
sẽ sử dụng quyền không thay đổi của họ (mặc dù những thay đổi này có thể mang lại lợi nhuận lớn hơn);
là supplier control) Đầu tư của người mua, một lần nữa lại là
“bị tước đoạt một nửa _ half-expropriated”
Kiểm soát của người mua:
Cải thiện luôn được thực hiện nếu status-quo không được tái-thương lượng:
Nếu giá trị của người mua bằng không, người mua sẽ bàng quan giữa quyết định đầu tư hoặc không; chúng
ta giả sử là anh ta quyết định đầu tư Một mặt, chúng
ta sẽ làm như vậy nếu giá trị chỉ đôi chút dương; mặt
Trang 17khác, các kết luận của chúng ta thậm chí sẽ mạnh hơn nếu anh ta quyết định không đầu tư
Nếu giá trị là v:
Nếu giá trị cho người mua bằng v, người mua
sẽ bàng quan giữa đầu tư hay không không
có mặc cả;
Nếu giá trị bằng 0, trạng thái status-quo sẽ
không hiệu quả và mặc cả sẽ chia đôi c của
việc không thực hiện cải thiện;
Bài toán:
Lựa chọn đầu tư tối ưu của người mua được cho là:
,
2 2 1 max
x BC và /2 3 /2
2
1
c v c v
Kết quả đặc biệt ở đây là: người mua sẽ quá-đầu tư!
Nguyên nhân là thẩm quyền cho phép người mua
không thanh toán chi phí sản xuất c nếu giá trị của anh ta là v
Không có đầu tư nào hiệu quả;
Kiểm soát của nhà cung cấp (hoặc mặc cả không ràng buộc) là tối ưu;
Kiểm soát của người mua khuyến khích đầu tư và tạo
ra thặng dư chung âm
- Phạm vi thẩm quyền:
phác thảo ra từ trước (ex-ante) điều này có thể mâu thuẫn với giả thiết chi
Trang 18o Vậy xác định D như thế nào trong hợp đồng nguyên thủy (nếu không được chỉ ra trước một cách chính xác):
Grossman và Hart đã lần dấu vết thẩm quyền tới quyền sỡ hữu;
Kreps (1984) cũng chỉ ra quyền sở hữu cũng có thể gắn với các tài sản vô hình, như uy tín Nó cũng có thể được chỉ ra như một chức năng bên trong công ty, thông qua sự ủy quyền cho bên có thẩm quyền
Mặc dù quyền sở hữu có thể được xác định nhưng có thể không được xác định một cách đầy đủ cần có hiểu biết chung về phạm vi thẩm quyền
Xác định phạm vi thẩm quyền ex-post tạo ra vai trò cho trọng tài (trọng tài bên trong hoặc bên ngoài, ví dụ thẩm quyền cấp cao hơn)
Một chiếc khóa an toàn khác để tránh lạm dụng thẩm quyền là cho phép các bên chấm dứt mối quan hệ, điều này làm cho bên này được phép bác bỏ
quyết định do thẩm quyền đưa ra ex-post
- Khảo sát thực nghiệm
o Hợp nhất theo chiều dọc, giống như hợp đồng dài hạn, thường được áp dụng cho các đầu tư đặc biệt hơn (đặc thù hơn) Điều này làm cho khó phân biệt hai trường hợp này về mặt thực nghiệm
o Kết luận chính từ phân tích Coase-Williamson là hợp nhất theo chiều dọc thường xảy ra khi chi phí giao dịch cao
o Nhưng có thể phỏng đoán rằng chi phí giao dịch cao thường xảy ra trong các tình huống có bất định công nghệ cao
o Thật không may, mức độ “không thấy trước” và độ phức tạp khó đo lường về mặt thực nghiệm cần có biến đại diện (proxies) thích hợp
- Uy tín như một nhân tố thay thế cho hợp đồng hoặc hợp nhất;
o Từ phần trên ta thấy để tránh các nguy hiểm tương lai, cần phải ký hợp đồng toàn diện, và nếu không thể thì cần sử dụng đúng đắn một cấu trúc thẩm quyền nào đó (hợp đồng giới hạn)
o Trong thực tế, tuy nhiên, MaCaulay (1963) thấy, các mối quan hệ giữa các công ty
có xu hướng không-hình thức (informal _ thân mật) hơn so với dự báo của lý thuyết Điều đó thậm chí đúng cả với các mối quan hệ dài-hạn Hiệu quả khi đó được duy trì bởi uy tín của các công ty
o Uy tín cho phép công ty:
Tiết kiệm chi phí viết hợp đồng đầy đủ;
Tính không-hình thức (hay tính thân mật, không-nghi lễ) phơi bày công ty trước đe dọa cơ hội chủ nghĩa
Tính không-hình thức (không-nghi lễ) phổ biến khi các đầu tư đặc thù bị giới hạn và khi thương mại là đủ thường xuyên khiến động cơ lừa đảo thấp
- Nguồn cung ứng kép như một nhân tố thay thế cho hợp đồng
Trang 19o Một cách khác để tránh vấn đề hold-up (ngưng trệ?) ex-post là tạo ra sự cạnh tranh
ex-post bất cứ khi nào có thể
o Farrell and Gallini (1986) and Shepard (1986) đã phân tích mô hình Williamson
trong đó người mua đầu tư vào tài sản đặc thù và nhà cung cấp chọn, ex-post, một
biến phi-hợp đồng (noncotratible) nào đó (được gọi là “chất lượng”):
Nhà cung cấp, ex-post, có động cơ chọn chất lượng thấp;
Có 2 hoặc nhiều nhà cung cấp để cạnh tranh ex-post về chất lượng;
Cạnh tranh ex-post giảm nhẹ độc quyền tay đôi và tăng hiệu quả;
2 Giả thiết tối đa hóa lợi nhuận
Phần chia cho các bên:
Lợi ích kỳ vọng cho các bên:
i
i i
i w p
u
Bài toán: có được hợp đồng hiệu quả là khi:
Trang 20 s.t ,
i
i i i
i i i
i i
Điều kiện cần: u' w i 1/ nghiệm không phụ thuộc w k0 rủi ro; i
Đánh đổi giữa các mục tiêu bảo hiểm và lợi nhuận nói chung dẫn tới bảo hiểm và lợi nhuận kém-hiệu quả
o Trường hợp riêng:
Người đại diện có thông tin riêng;
Chủ sở hữu biết Người đại diện thực hiện hoạt động tối ưu chung;
Chủ sở hữu bán (hay chuyển giao) cái bánh cho Người đại diện;
Khi này Người đại diện trở thành nguyên cáo phần dư (residual claimant),
là người thực hiện hành động không-thể-quan sát, đưa ra lời giải tổng quát cho bài toán động cơ khuyến khích;
Nhận xét: việc chỉ ra sơ đồ động cơ khuyến khích là rất phức tạp
- Khả năng quan sát, khả năng kiểm soát, và chủ quyền;
o Khác biệt giữa khả năng quan sát và khả năng kiểm soát liên quan tới khả năng Chủ
sở hữu có thể quan sát thấy hoạt động của Người đại diện nhưng không thể kiểm tra các quan sát này (tức là không thể cung cấp đủ bằng chứng) cho tòa án Vì hoạt động không thể được kiểm tra bởi một tòa án, các hợp đồng tùy thuộc vào hoạt động (ví dụ, các hợp đồng nói rằng: “Nếu hoạt động của Người đại diện thỏa mãn chuẩn này hoặc chuẩn kia, chúng ta sẽ thanh toán cho anh quá nhiều”) không thể được thực hiện, vì các tòa án sẽ không có khả năng cưỡng chế chúng Ví dụ, khi Người đại diện là một bộ phận của nhóm sản xuất, các thủ tục kế toán tin cậy có thể chỉ đo lường hoạt động của nhóm, chứ không phải của các đóng góp cá nhân
o Tuy nhiên, người trong cuộc (ví dụ, quan chức lãnh đạo hàng đầu hoặc giám sát viên) có thể có khả năng gỡ rỗi các đóng góp này, trong khi một người ngoài cuộc (một quan tòa) thì không Điều này cũng được áp dụng cho tác động của các ban
bổ sung (ví dụ, ban sản xuất và maketing) hoặc cho hoạt động của các nhân viên của nhóm
Trang 212.2 Hạn chế
- Mục trên đã sử dụng thước đo trình diễn để giới hạn sự tự do tùy tiện của nhà quản lý;
- Trên thực tế, cũng có thể sử dụng nhiều biện pháp khác để giới hạn việc này
Cạnh tranh theo chuẩn mực (Yardstick competition)
- Trình diễn cá nhân của Ng Đại diện:
o chỉ là thước đo lộn xộn, thậm chí có thể kiểm chứng được, về nỗ lực của cá nhân;
o lý lẽ: Lợi nhuận (trình diễn) thấp của công ty có thể do sự suy giảm trong cầu hoặc
sự gia tăng trong chi phí, chứ không phải do sự trì trệ trong quản lý;
- Cạnh tranh theo chuẩn mực:
o các tác động như trên có thể được phát hiện, trong một phạm vi nào đó, bằng cách
so sánh trình diễn của Ng Đại diện với những Ng Đại diện khác được đặt các điều kiện tương tự
o Mô hình:
Xét Ví dụ 1:
giả thiết lợi nhuận của Cổ đông bằng tổng các lợi nhuận được tạo ra bởi mỗi nhà quản lý, sau khi đã trừ đi hóa đơn lương;
việc nhà quản lý làm việc hay lãn công
các bất định đứng trước các nhà quản lý tương quan một cách hoàn hảo ở chỗ cùng mức nỗ lực tạo ra cùng mức lợi nhuận:
o Nếu cả hai nhà quản lý lựa chọn làm việc, lợi nhuận thực tế
cả hai (với xác suất 1 – x), hoặc tương tự cho trường hợp cả
hai chọn không làm việc;
o Ví dụ: hai cơ sở kinh doanh phục vụ hai thị trường khác nhau
về mặt địa lý có các hàm cầu tương quan hoàn hảo
Trong tình huống đó, Cổ động có thể sử dụng hợp đồng sau:
o Nếu cả hai nhà quản lý đạt được cùng một mức lợi nhuận (giả sử là 1 hoặc 2), cả hai sẽ nhận được mức lương thông tin-đầy đủ w 1 w2= w0Φ;
o Nếu các mức lợi nhuận khác nhau, nhà quản lý ứng với mức
mức lợi nhuận thấp bị phạt
o Nhận xét:
Lương của nhà quản lý phụ thuộc cả vào trình diễn của nhà quản lý khác lẫn của riêng anh ta;
Trang 22 Các nhà quản lý ở một cân bằng của trò chơi kế tiếp giữa các nhà quản lý:
nếu một nhà quản lý được kỳ vọng làm việc,
và tạo ra lợi nhuận cao,
nhà quản lý kia tự động bộc lộ anh ta không chịu làm việc vì lợi nhuận thấp;
anh ta không thể gán trình diễn của anh ta cho tình huống “xấu” anh ta đáng bị phạt nặng;
o Bài tập 2***: so sánh nguồn cung ứng duy nhất vs nguồn cung ứng đối ngẫu:
Giả thiết:
Hàm mục tiêu của nhà quản lý là các động cơ tiền bạc nhưng khá
không có hiệu lực (ineffective);
là ngẫu nhiên trên , với kỳ vọng là E Biến e ký hiệu nỗ
lực của nhà quản lý cho dự án Nhà quản lý có hàm tiện ích
if
w w w
w u
w w w
u
học, Φ' cho mọi e
do vậy anh ta chỉ quan tâm tới tiện ích của anh ta trong trạng thái xấu nhất của tự nhiên: minU , w e ;
nhà quản lý có thể được viết là:
Cổ đông muốn tối thiểu chi phí kỳ vọng của dự án:
Yêu cầu:
Trang 23(i) Hãy chứng tỏ rằng: Nếu và/hoặc e được quan sát thấy bởi Cổ
if
w
e C
w
i
i e
nhau cho cả hai nhà quản lý Hãy chỉ ra rằng hợp đồng tối ưu là:
j
j i
j i j
i i
C C C
C e w
C C w
C C w
C C w
if /'
if
if ,
Φ
Hãy giải thích: Chủ Sở hữu ưa thích nguồn cung ứng kép (đối ngẫu)
Các động cơ quản lý: viễn cảnh động học
- Mô tả mô hình về động cơ ở lại công ty:
o Nhà quản lý trình diễn kém cỏi có thể không được tin sẽ làm tốt trong tương lai;
o Viễn cảnh thăng tiến nội bộ có thể yếu;
o Cách mô hình hóa:
Giả thiết:
tập trung vào các khía cạnh của mối quan hệ giữa một công ty và các nhân viên của nó;
giả sử trong mối giai đoạn trình diễn của nhân viên là cao hoặc thấp;
chất lượng quan sát được nhưng không kiểm chứng được bởi lãnh đạo;
Hành động của công ty:
Trang 24 trao tô kinh tế trong mỗi giai đoạn (tô kinh tế có nghĩa là nhân viên muốn ở lại với công ty hơn hẳn so với chạy thoát), khi mà trước đó nhân viên đã trình diễn với chất lượng cao;
dừng trao tô kinh tế nếu nhân viên “lừa đảo” và quay sang trình diễn chất lượng thấp;
Công cụ mô hình hóa:
supergame hoặc
lý thuyết uy tín trong điều kiện thông tin phi-đối xứng;
ý tưởng tương tự với ý tưởng trong Chương 2: người tiêu dùng ngừng tin tưởng vào công ty khi công ty sản xuất chất lượng kém
- Mô hình mô tả động cơ rời bỏ công ty của nhà quản lý:
o Mối đe dọa chào mời từ bên ngoài có thể làm cho công ty ý thức hơn trong việc đối
xử tốt với các nhà quản lý khi chất lượng công việc của họ quan sát được nhưng không kiểm chứng được:
Giả sử nhà quản lý làm việc với chất lượng-cao: có thể là tính hiệu của năng lực, hoặc của nỗ lực, nhưng không được thưởng;
Nếu trình diễn của anh ta được quan sát thấy bởi công ty bên ngoài, công ty bên ngoài có thể “cuỗm” anh ta khỏi công ty;
o Ví dụ về công việc của giáo sư
o Khả năng nhận được các cơ hội tốt bên ngoài công ty hiện thời, giống như được thưởng bên trong công ty, chắc chắn mang lại cho nhà quản lý các động cơ trình diễn một cách thỏa đáng; Khi các nhà giám sát bên ngoài hoặc bên trong chỉ quan sát thấy trình diễn của anh ta, một lượng lười biếng nào đó từ phía bên trong của anh ta có thể bị lầm lẫn vì thiếu độ tin cậy hoặc năng lực, và bởi vậy có thể làm hại cho sự nghiệp của anh ta Theo Holmstrom, trong những tình huống như vậy, một nhà quản lý, trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp của anh ta, có thể làm việc chăm chỉ hơn cả mức tối ưu về mặt xã hội
- Nhận xét: hai cơ chế khác cho phép một công ty ban thưởng cho trình diễn quan sát nhưng-không kiểm chứng được của nhân viên bằng sự thừa nhận (fiat), đã được mô tả:
được-o Một cơ chế dựa trên sự ủy thác của công ty ban thưởng chđược-o tỷ lệ phần trăm đã chđược-o của các nhân viên của công ty;
o Cơ chế kia dựa trên uy tín
o Cơ chế áp lực bên ngoài có thể làm việc tốt hơn cho các nhà quản lý cấp cao hơn
là so với các nhân viên cấp thấp, vì nhân viên cao cấp có tầm nhìn bên ngoài rộng lớn hơn so với nhân viên cấp thấp
Giám sát (supervision)
- Giới thiệu:
Trang 25o Ngoại trừ thảo luận trong mục tiếp quản, chúng ta hầu như luông cho rằng thông tin của Chủ Sở hữu đã được cho trước, và
o Giải bài toán sử dụng tối ưu thông tin này để kiểm soát Ng Đại diện
o Bây giờ chúng ta sẽ xem xét vấn đề động cơ giám sát bên trong (internal incentive
to monitor)
- Theo Alchian và Demsetz (1972):
o Tính không tách biệt hoặc giao hoàn tăng theo quy mô đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu biết thiết kế tổ chức sản phẩm của một đội vượt quá tổng sản phẩm của mỗi thành viên sản xuất một cách cô lập;
o Sản xuất theo đội che dấu việc đo lường năng suất và phần thưởng
- Tính không tách biệt tạo ra vấn đề “kẻ ăn không _ free-rider” giữa các thành viên:
o Mỗi nhân viên có động cơ quá nhỏ để đóng góp vào sản xuất của đội;
o Cách giải quyết:
Tăng các động cơ tiền bạc hơn nữa;
Đưa vào thành viên thứ ba (bên giám sát _ monitor hoặc supervisor):
Alchian và Demsetz cho rằng giám sát viên là danh xưng (title) cho những thu nhập ròng của đội sản xuất;
Theo Lý thuyết Động cơ, giám sát viên được tạo thành residual claimant hoặc sink;
Do vậy danh xưng này nắm bắt bất kỳ lợi nhuận phụ trội nào của đội sản xuất do vậy anh ta có động cơ nỗ lực đo lường các trình diễn cá nhân của nhân viên
- Tóm tắt:
o Tổ chức (hay công ty) của Alchian và Demsetz là một thiết bị làm chính sách đặc biệt được sử dụng khi hiện diện sự sản xuất theo đội;
o Theo Alchian và Demsetz, trong danh sách các quyền gắn với quyền sở hữu công
ty có quyền là residual claimant và giám sát hành vi của các nhân công
- Nhận xét: Lý thuyết Công ty thay thế của Holmstrom (1982b) được dựa trên xác suất theo đội và khả năng không thể đo lường trình diễn cá nhân:
o Nhân viên phải là “residual claimant” cho các quyết định sản xuất của anh ta;
o Phân phối lợi nhuận cận biên chỉ có thể tồn tại nếu tồn tại “nguồn _ source”, là điều phá vỡ ràng buộc ngân sách ở mức cận biên!
o Lý thuyết của Holmstrom và của Alchian-Demsetz:
Cùng chung điểm đầu (không thể tách biệt) và điểm cuối (ràng buộc ngân sách phải bị phá vỡ);
Alchian và Demsetz dựa vào sự giám sát bởi thành viên thứ ba, là cái bể chứa (sink) để tạo ra động cơ giám sát;
Holmstrom khép kỷ luật cho các thành viên của đội sản xuất thông qua các động cơ khuyến khích được cho bởi một nguồn cận biên
Trang 26- Theo Williamson (1975):
o Không nên đánh giá quá cao vai trò của tính không thể tách biệt;
o Lý do: giám sát viên chỉ có thể giám sát một số lượng hạn chế nhân viên giỏi lắm lý thuyết này chỉ giải thích cho tổ chức các nhóm nhỏ;
o Đối với các công ty lớn, giám sát phải được đại diện (delegated)
- Mô hình phân cấp:
o Giả thiết công ty được tổ chức theo cấu trúc kim tự tháp: mức 1 được giám sát bởi mức 2, mức 2 được giám sát bởi mức 3, …
o Thuộc tính hấp dẫn của mô hình này là chiều ngang và chiều dọc không bị cố định;
o Thuộc tính hay khác là định cỡ công ty: số lượng nhân viên cấp 1 xác định ra số lượng nhân viên cấp 2, …, cho tới đỉnh hình kim tự tháp
- Mô hình của Tirole (1986b):
o Nhận xét: thực hành giám sát và thẩm quyền trong tổ chức cần được giới hạn bởi
sự câu kết giữa các nhóm thành viên của nó;
o Một nhân viên có quyền lực với người khác khi được trao cho quyền:
Được đánh giá trình diễn của người khác (giám sát), hoặc
Được làm quyết định với các tình huống dự phòng có ảnh hưởng tới anh ta;
Quyền lực này tạo ra khả năng câu kết giữa hai bên, được cưỡng bách bởi các chuyển khoản-kế bên;
Thiết kế tổ chức một phần được thúc đẩy bởi việc ngăn cản câu kết bằng cách nhận biết động cơ của giám sát viên hành động như người biện hộ (advocate) cho, chứ không phải những người khởi tố (prosecutor) của các nhân viên bị giám sát, và giới hạn thẩm quyền thông qua việc đặt ra các quy tắc quan liêu
Cạnh tranh Thị trường-Sản phẩm
- Scherer (1950) đã nhận xét:
Khi bị dồn vào chiến hào cho câu hỏi liệu các công ty có tối đa hóa lợi nhuận hay không, các nhà kinh tế viện dẫn tới vũ khí cuối cùng trong kho súng của họ: phiên bản của lý thuyết lựa chọn tự nhiên của Darwin Trong suốt một quá trình lâu dài chỉ có một tiêu chuẩn đơn giản cho sự sinh tồn của một hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận phải là không
âm Bất kể các nhà quản lý ưa thích mạnh mẽ như thế nào với việc theo đuổi các mục tiêu khác, và bất kể khó khăn như thế nào trong việc tìm được các chiến lược tối-đa-hóa-lợi nhuận trong một thế giới bất định và chi phí thông tin lớn, thất bại trong việc thỏa mãn tiêu chuẩn này cuối cùng có nghĩa là một công ty sẽ biến mất khỏi ý nghĩa kinh tế
- Ví dụ, Winter (1971) đề xuất: một công ty cạnh tranh đưa ra các quyết định không-hiệu quả (ví dụ về kỹ thuật) phải gánh chịu thất thoát vì nó không thể đơn giản truyền dẫn chi phí phụ trội của nó cho những người tiêu dùng (giá thị trường được coi là đã cho) Công ty
do vậy bị dẫn tới việc tìm kiếm các quyết định mới và tốt hơn để sinh tồn Do vậy, các
Trang 27công ty trong môi trường cạnh tranh bị ép buộc phải giảm chi phí, và trở nên hiệu quả hơn Điều này rõ ràng là một câu chuyện khá hiện thực; tuy nhiên, theo nhận xét của Hart (1983),
“một câu hỏi mà Winter không phân tích, ít nhất về mặt hình thức, là tại sao các công ty chọn các kỹ thuật không-hiệu quả tại vị trí đầu tiên” Câu trả lời cho câu hỏi này có thể nằm trong những bài toán ủy thác (delegation) và giám sát được nhắc tới ở trên
- Các tác động của mối đe dọa phá sản và của áp lực cạnh tranh lên các động cơ quản lý vẫn chưa được mô hình hóa theo một cách thức thỏa đáng Tuy nhiên, một số tác động của áp lực cạnh tranh lên các động cơ (không phải những động cơ liên quan tới vấn đề sinh tồn)
đã được nghiên cứu:
o Một tác động rõ ràng xuất phát từ khả năng cạnh tranh theo chuẩn mực: Cổ đông của một công ty cạnh tranh có thể dựa các phần thưởng quản lý vào lợi nhuận của các bên cạnh tranh hoặc lên giá thị trường;
o Tác động của cạnh tranh thị trường-sản phẩm lên các động cơ-bên trong (internal incentives) trở nên tinh tế hơn khi số liệu bên ngoài (lợi nhuận hoặc giá thị trường) không sẵn có cho công ty Hart (1983) đã chỉ ra dạng cạnh tranh trong thị trường sản phẩm vẫn có ảnh hưởng lên kiểm soát bên trong khi các chủ sở hữu của công
ty chỉ quan sát thấy trình diễn của công ty:
Theo mô hình của Hart, cạnh tranh vận hành qua sự biến thiên của giá thị trường, là đại lượng cùng với cú sốc về chi phí, xác định ra sự biến thiên của lợi nhuận của công ty và do vậy xác định ra phạm vi trong đó các nhà quản lý của công ty có thể xử lý bất định của chủ sở hữu để gây ra trì trệ Nói một cách thô thiển, lợi nhuận về mặt ngoại sinh là biến thiên hơn sẽ gây ra nhiều sự trôi nổi (leeway) hơn cho thể hiện sai trái bởi các nhà quản
lý và ít cơ hội hơn cho kiểm soát bởi các cổ đông
Hart coi một ngành công nghiệp cạnh tranh với hai kiểu công ty: các công
ty quản lý (trong đó các cổ đông ủy thác quyền quyết định cho các nhà quản
lý và do vậy phơi bày ra trước các nguy cơ kiểm soát được nhắc tới ở trên)
và các công ty kinh doanh (entrepreneurial firms) (là những công ty được vận hành bởi bản thân các nhà kinh doanh)
Về mặt trực giác, khi chi phí sản xuất cận biên (là đại lượng tương quan hoàn hảo qua các công ty) là thấp, các công ty kinh doanh mở rộng sản phẩm của chúng Các nhà quản lý của các công ty quản lý, nếu họ không phản ứng nhiều với các động cơ tiền bạc, tận dụng lợi thế thời gian thích hợp cho trì trệ Nếu phần của các công ty kinh doanh tăng lên, sản phẩm bởi vậy là nhạy cảm hơn với một sự cắt giảm chi phí Việc này làm giảm giá thị trường trong những thời gian trì trệ, bởi vậy giảm nhẹ ảnh hưởng của chi phí thấp lên lợi nhuận Nói riêng, lợi nhuận của các công ty quản lý trở nên
ít nhạy cảm với bất định bên ngoài khi tỷ lệ của doanh nghiệp tăng trưởng Điều này làm cho kiểm soát chúng bởi các cổ đông trở nên dễ hơn, là điều
Trang 28tạo ra ít trì trệ hơn Tới phạm vi mà các doanh nghiệp là một biểu tượng của cạnh tranh, việc có nhiều cạnh tranh hơn trên thị trường sản phẩm sẽ dẫn tới
ít trì trệ hơn trong các công ty quản lý Thật không may, kết quả này là nhạy cảm với mô tả hàm lợi ích của các nhà quản lý, như Scharfstein (1955b) đã chỉ ra Nếu các nhà quản lý phản ứng với các động cơ tiền bạc đủ lớn, một
tỷ phần lớn của các doanh nghiệp sẽ làm tăng độ trì trệ trong các công ty quản lý
Một ứng dụng: Công ty dạng-M (An Application: The M-form Firm)
- Phân tích động cơ quản lý có thể rọi một tia sáng vào sự xuất hiện của cái-gọi-là công ty dạng-đa-phân-ban (multidivisional-form _ M-form)
- Tình huống của tổ chức công ty hợp lý về mặt công nghệ ở Mục 1 là dạng nhất thể (unitary form), với việc chỉ rõ chức năng của nó Tuy nhiên, kiểu tổ chức này đã sụp đổ với việc
mở rộng công ty theo chiều ngang:
o Theo Chandler (1966), sự sụp đổ chủ yếu là do:
Mất mát quyền kiểm soát bởi quản lý cấp cao nhất
Giải thích: Để kiểm soát các phân ban chức năng, quản lý cấp cao nhất có thể sử dụng về mặt cơ bản một trong hai phương pháp:
Ban thường mỗi phân ban chức năng vì trình diễn tốt (dựa các sơ đồ động cơ khuyến khích vào đầu ra);
Giám sát các phân ban trực tiếp để đánh giá các đóng góp cá nhân (đo lường đầu vào)
o Điều này dẫn tới vấn đề đội sản xuất kiểu Alchian-Demsetz
Phương pháp thứ hai chỉ có thể được sử dụng nếu công ty là nhỏ Sự mất mát khả năng giám sát của quản lý cấp cao nhất có thể được giải thích vì những khó khăn của công ty dạng-nhất-thể trong giai đoạn
mở rộng
Xuất hiện công ty dạng đa-phân-ban
o Định nghĩa của Williamson (1975):
Công ty đa-phân-ban bao gồm việc tổ chức công ty thành các tựa-công ty (quasi-firms) giống “cấu trúc dạng-U được chỉ rõ thủ nhỏ _ scaled down, specialized U-form)
Trang 29 Các phân ban được xác định bởi sản phẩm, nhãn hiệu, hoặc các tuyến địa lý
và khá tự-chủ (autonomous)
o Đặc điểm:
Có thước đo tương đối chính xác về trình diễn của phân ban;
Vai trò của quản lý cấp cao đối với các phân ban cạnh tranh:
Kiểm toán;
Phân phối tài nguyên
Bên trong phân ban, ngược lại:
Chế độ giám sát là phổ biến hơn
Điều này cho phép đánh giá nào đó về các đóng góp tương đối của các phân ban con chức năng
- Tóm tắt:
o phân tích thô này để lại một câu hỏi quan trọng chưa được trả lời:
Nếu các phân ban là các tựa-công ty , tại sao chúng phải được tổ chức bên trong một cấu trúc đơn?
Tại sao chúng không là các thực thể tách biệt về mặt pháp lý?
o Theo Williamson:
Công ty dạng-M giống “thị trường vốn thu nhỏ”;
Nhưng, trụ sở chính có năng lực kiểm toán tốt hơn, cũng như các năng lực tiếp quản tốt hơn so với thị trường vốn;
Lý luận của ông ta liên quan tới các hoạt động không đầy đủ
2.3 Doubts about the Neoclassical Methodology
o Simon 1976 và Nelson và Winter 1982 là những tài liệu tốt để tham khảo Một số chủ đề từ những tài liệu này được trình bày sau đây:
- Một số chủ đề:
o Hành vi tối ưu hóa:
Lý thuyết tân-cổ điển cho rằng các thành viên của tổ chức hành động sao cho tối đa hóa một hàm mục tiêu của một số biến chuẩn (như thu nhập và
nỗ lực) Điều này làm xuất hiện hai câu hỏi:
Trang 30 Mục tiêu của họ có bao gồm những biến khác [uy tín, tính tự trọng, quyền lực, số thuộc cấp, kích thước ngân sách, sự vui vẻ (conviviality), tình bạn bè, etc.]?
Họ thậm chí có một hàm mục tiêu xác định-tốt, hoặc họ có sử dụng các quy tắc ngón tay cái hoặc “satisfice” hay không?
điều này hành động như một tín hiệu cho thị trường lao động, hoặc
nó giải thích cho một phép toán trơn hơn và làm giảm
áp lực trong-công-việc (nỗ lực)
Vấn đề lưỡng nan quen thuộc:
Tăng số biến giải thích (các đối số của hàm mục tiêu)
sẽ dễ dàng hơn trong việc giải thích hiện tượng thực;
Đồng thời, lý thuyết mất đi quyền lực dự báo: bằng cách thểm vào đủ số biến giải thích, ai đó luôn có thể
“giải thích” bất kỳ loại hành vi nào Ngược lại, việc giới hạn vào số nhỏ các biến nguyên thủy được xác định trước sẽ khôi phục một số quy tắc ứng xử
Vấn đề thứ hai (khả năng các đại diện kinh tế không tối ưu hóa):
Trang 31 Anh ta bởi vậy có thể làm các quyết định, khi mà
có thông tin tốt hơn, sẽ có vẻ là bất hợp lý;
Tuy nhiên, các quyết định có thể là hợp lý, khi đã cho giá bóng của thời gian cần thiết để thu thập thông tin;
Tương tự, thời gian và nỗ lực được yêu cầu để tính các quyết định tối ưu trong các bài toán phức tạp được đánh-đổi với những điều mất-hiệu quả trong việc làm quyết định
Vẫn còn bỏ ngỏ câu hỏi: “các lời giải thích hợp lý” về tính hợp lý bị hạn chế sẽ thành công như thế nào?
o Thông tin liên lạc và hiểu biết
Vấn đề:
Lý thuyết tân-cổ điển chỉ “nói mồm” (pay only lip service) cho vấn
đề thông tin-liên lạc (communication);
Các luồng thông tin giữa các thành viên của một tổ chức chỉ bị hạn chế vì tính-tương-thích-động cơ (incentive compatibility):
Một thành viên giữ thông tin riêng (bí mật) khi anh ta phải gánh chịu thiệt hại nếu nó trở thành công cộng;
Các động cơ cá nhân chắc chắn giới hạn các luồng thông tin một cách đáng kể;
Thậm chí các thành viên có ý-định-tốt cũng có vấn đề khi thực hiện thông tin-liên lạc vì:
Tốn thời gian;
Khó mã hóa để trở nên dễ hiểu cho người nhận;
Vấn đề: các quyết định tối-đa-hóa-lợi nhuận trong điều kiện thông tin-liên lạc đầy đủ sẽ không được tạo ra trong điều kiện thông tin-liên lạc không đầy đủ
Khái niệm hiểu biết:
Nhiều đóng góp (Nelson và Winter, 1982,…) đã “cấp vốn” cho một công ty kho kiến thức (hiểu biết), là những thứ chỉ dẫn cho các thành viên trong việc làm quyết định và hợp tác trong một thế giới thông tin-không đầy đủ:
Hoàn cảnh của thông tin có được bởi một thành viên cá nhân được thiết lập bởi thông tin có được bởi tất cả các thành viên khác … Việc xem bộ nhớ của tổ chức như là có thể thu nhỏ thành các bộ nhớ thành viên cá nhân là bỏ sót, hoặc đánh giá thấp, sự liên kết các bộ nhớ của các thành viên cá nhân đó bởi các kinh nghiệm chung trong quá khứ, là các kinh nghiệm đã thiết lập hệ thống thông tin-liên lạc đặc biệt và
Trang 32cực kỳ chi tiết nằm bên dưới trình diễn thường ngày (Nelson
và Winter 1982)
Văn hóa tổ chức là mẫu hình của các giả thiết cơ bản:
mà một nhóm đã cho đã phát minh ra, đã khám phá
và phát triển trong việc học tập để nắm bắt những vấn đề của nó về thích nghi bên ngoài và hợp nhất bên trong, và
đã làm việc đủ tốt để được coi là hợp lý, và do vậy cần phải được dạy cho những thành viên mới như là một cách thức đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc trong mối quan hệ với những vấn đề này (Schein, 1984)
Bộ nhớ tổ chức giúp cho các thành viên tìm được các quyết định tương đối thỏa đáng trong sự hiện diện của việc làm quyết định phức tạp (“satisficing” hoặc tính hợp lý có giới hạn của cá nhân) và để phối hợp các hành động tương ứng của họ khi vắng mặt thông tin-liên lạc hoàn hảo (tính hợp lý
có giới hạn của tập thể)
o Động học của các tổ chức
Lý thuyết tân-cổ điển tập trung vào thiết kế tối ưu của tổ chức tại một thời điểm đã cho Nó ít nói về tái-tổ chức
Tái-tổ chức nói chung không được chỉ ra trong thiết kế tổ chức khởi đầu;
Chúng bị ảnh hưởng bởi thẩm quyền và các quan hệ mặc cả tại thời điểm tái-tổ chức;
Nhận xét:
Lý thuyết tân-cổ điển không có gì để nói về tái tổ chức;
Hiện này tái-tổ chức còn trong giai đoạn phôi thai
o Hành vi nhóm
Các nhà xã hội học (Dalton, 1959; Crozier, 1967) và các nhà lý thuyết tổ chức (Cyert và March, 1963) đã nhấn mạnh: hành vi tổ chức thường tốt nhất được dự báo bằng cách phân tích các động cơ nhóm cũng như các động cơ
Trang 33 Các nhà lý thuyết xã hội học và tổ chức học đang chiến đấu để tuyển bố lý thuyết tân-cổ điển đã không giải quyết một số khía cạnh quan trọng của tổ chức;
Cần cho lý thuyết thêm thời gian đủ để phát triển và giải quyết những mô hình đầy đủ
2.4 Giả thiết tối đa hóa lợi nhuận và tổ chức ngành
- Như đã nhận xét:
o có nhiều cách theo đó sự tự do tùy tiện có thể được kiềm chế;
o không có cách nào hoàn hảo;
o kỳ vọng một số sự-đi-trệch quan trọng có thể-xảy ra khỏi hành vi tối ưu-hóa-lợi nhuận
o Liệu điều này có nghĩa là mô hình tối ưu-hóa-lợi nhuận bị hỏng?
- Xét mô hình minh họa:
o Bài toán định giá độc quyền:
q q c e, q w,
o Giả sử:
Ví dụ: chi phí đơn vị c có thể quan sát được từ phía cổ động;
bộ thông tin thích hợp về nỗ lực (là suficient statistic cho nỗ lực)
*
e _ mức tối ưu nhẽ ra đạt được nếu nỗ lực có thể quan sát được từ cổ đông;
Công ty là tối ưu-hóa-lợi nhuận chỉ theo nghĩa bị ràng buộc, và nhà quản lý
o Tuy nhiên, khi đã biết nỗ lực e có được từ cấu trúc lương tối ưu w , c c e,
ký hiệu chi phí ngẫu nhiên tạo thành Lợi nhuận kỳ vọng của cổ đông là:
Do vậy, từ phía nhà quan sát bên ngoài, hành vi của công ty là tương đương
về mặt quan sát với hành vi của công ty không thực hiện X-inefficiency,
nhưng có phân phối chi phí c cho mức nỗ lực hiệu quả;
Trang 34 Vì vậy, không phải lo lắng về phân phối của chi phí đơn vị bị chệch theo hướng các mức cao hơn vì thông tin-phi-đối xứng; mô hình định giá-độc quyền được phát triển trong Chương 1 vẫn là hợp lý
- Kết luận:
o Đây chỉ là 1 ví dụ điều đó không có nghĩa là nó chuyển tải ấn tượng rằng “tính khả tách” giữa tổ chức bên trong và các quyết định thị trường-sản phẩm hoặc thị trường-đầu vào là quy tắc
o Một trong những diễn đàn nghiên cứu sôi động trong tương lai là xác định phạm vi
và tầm quan trọng của các tương tác này
o Hy vọng: nhiều kết luận của lý thuyết tổ chức công nghiệp vẫn còn hợp lý (ít ra ở mức mô tả) khi các định đề tối ưu-hóa-lợi nhuận bị bác bỏ cho mô hình “đủ lông
đủ cánh _ full-fludged” của tổ chức bên trong
3 Mối quan hệ giữa ông chủ và người đại diện
- Vấn đề: Giới thiệu bài toán Suy đồi Đạo đức trong một khung tổng quát hơn
- Các cấu phần của bài toán:
giả sử chỉ có một nhà quản lý duy nhất (để cho dễ thể hiện):
quyết định được giải thích là mức nỗ lực, nhưng
Tổng quát hơn quyết định này là một biến tự do tùy ý hoặc biến suy đồi-đạo đức nào đó, là biến không quan sát được bởi cổ đông;
o Mục tiêu của các bên:
Doanh thu là e, :
Doanh thu phụ thuộc nỗ lực và biến ngẫu nhiên;
Hàm mục tiêu của cổ đông:
e w e
Hàm mục tiêu của nhà quản lý:
Là kỳ vọng tiện ích của anh ta;
Tiện ích là U w,e :
U tăng theo w;
Trang 35 U giảm theo e;
Biểu diễn toán học:
- Khung tổng quát cho Bài toán Chủ Sở hữu – Ng Đại diện truyền thống:
Ràng buộc tham gia:
Emax U w e e U0
Lời giải: rất phức tạp chỉ xét một số trường hợp cực đoan
- Trường hợp đầy đủ thông tin (full information):
o e và là quan sát được;
buộc tham gia (8);
o nếu không đáp ứng yêu cầu của cổ đông thì nhà quản lý bị phạt nặng;
o theo tiêu chuẩn bảo hiểm toàn phần (full insurance), cổ đông trung-tính-với-rủi-ro
sẽ đưa ra mức lương cố định cho nhà quản lý
o lựa chọn mức nỗ lực trong trường hợp tổng quát sẽ phức tạp hơn;
thấp nhất có thể)
- Khung thông tin-phi-đối xứng:
o Trường hợp cực đoan 1 _ nhà quản lý trung-tính-với-rủi-ro-thu nhập neutral manager):
(income-risk- Tiện ích của nhà quản lý:
,EEE
U e e
e e w U w
Trang 36trong đó có sử dụng tính chất trung-tính-với-rủi-ro và ràng buộc tham gia của nhà quản lý (trường hợp ràng buộc trói buộc)
Trường hợp thông tin-đầy đủ:
*
e tối đa E e, Φ e , e* là nỗ lực tối ưu khi đó lợi nhuận ròng của Cổ đông là:E e*, Φe* U0
Trường hợp thông tin phi-đối xứng:
Giả sử Chủ Sở hữu bán công ty cho Ng Đại diện với giá:
Nếu nhà quản lý chấp nhận anh ta trở thành residual claimant
cho lợi nhuận của công ty;
Điều trên tương đương về mặt hình thức theo sơ đồ động cơ trong
đó Cổ đông vẫn là residual claimant cho lợi nhuận của công ty
Để xem nhà quản lý có chấp nhận hay không, xét hàm mục tiêu của nhà quản lý:
chính xác làm ra cùng một mức lợi nhuận như trong trường hợp có đầy đủ-thông tin
Trang 37PHẦN 1 – THỰC HÀNH QUYỀN LỰC ĐỘC QUYỀN
CHƯƠNG 1- ĐỘC QUYỀN
- Giả thiết:
o Sản phẩm đơn, chất lượng đã cho trước;
o Nhà độc quyền đặt ra cùng một mức giá cho mỗi đơn vị hàng hóa (không có phân biệt giá);
- Nội dung:
o Độc quyền sản phẩm đơn (bóp méo độc quyền nổi tiếng):
Chiến lược định giá độc quyền khi nhà độc quyền có quyền lực tăng giá trên mức giá cận biên;
Điều đó dẫn tới giá quá cao và thất thoát phúc lợi “dead-weight” cho xã hội (trừ phi công ty có thể phân biệt giá hoàn hảo);
o Độc quyền đa-sản phẩm:
Chi phí sản xuất tương quan cho các sản phẩm khác nhau;
Cầu tương quan cho các sản phẩm khác nhau
o Các bóp méo khác:
Chi phí không tối thiểu;
Chi phí cạnh tranh để có được độc quyền
o Chú ý: một cách tự nhiên các kết quả sẽ tương tự trong trường hợp độc quyền mua (monopsony)
1.1 Hành vi định giá
- Kết quả bóp méo độc quyền nổi tiếng là do hành vi định giá;
- Giả thiết:
o sản phẩm độc quyền đã được cho trước;
o tính sẵn có và chất lượng được quan sát bởi người tiêu dùng
- Nội dung:
o Tăng giá bóp méo (distortionary markup) sản phẩm đơn;
o Nhà độc quyền đa-sản phẩm;
o Định giá liên-thời gian (intertemporal pricing cho độc quyền hàng lâu-bền)
1.1.1 Nhà độc quyền sản phẩm đơn (A Single-Product Monopolist)
1.1.1.1 Quy tắc độ-co-giãn nghịch đảo (The Inverse Elasticity Rule)
Trang 38p D
p D p
D C
,1'
- Gọi q m D p m là sản lượng độc quyền viết lại điều kiện bậc-nhất:
o Ý nghĩa:
Nhà độc quyền bán tại mức giá > giá tối ưu xã hội (MC);
Bóp méo giá sẽ lớn khi người tiêu dùng, khi đối mặt với tăng giá, chỉ giảm cầu đôi chút;
Nhà độc quyền sẽ lo lắng về tác động nghịch của giá cao lên tiêu dùng khi người tiêu dùng phản ứng mạnh với tăng giá bằng cách giảm mạnh cầu
- Ảnh hưởng của độ co giãn:
o Nếu độ co giãn = const Chỉ số Lerner = const nhà độc quyền điều chỉnh giá của anh ta theo tỷ lệ cố định (điều chỉnh theo chi phí cận biên);
Nhà độc quyền thường vận hành trong điều kiện độ co giãn > 1 (?);
Khi độ co giãn < 1 (?) thì tăng giá sẽ dẫn tới tăng doanh thu hoặc lợi nhuận (hoặc giảm khối lượng)
1.1.1.2 Khối lượng mất không (The Dead-Weight Loss)
- Định lượng “bóp méo” giá theo quan điểm “chuẩn tắc”: mất không phúc
lợi xã hội (loss of social wefare);
- Thước đo:
o tổng thặng dư tại mức giá độc quyền so với tại mức giá cạnh tranh;
Trang 39 Khi đó thay đổi giá không ảnh hưởng nhiều đến lượng cầu Đúng hơn là, tình huống này suy ra chuyển khoản một lượng tiền lớn từ người tiêu dùng sang nhà cung cấp
Do vậy, ta không thể kết luận mất mát phúc lợi đơn điệu theo độ co giãn cầu
1.1.1.3 Tác động của thuế hàng hóa (The Effect of Commodity Taxation)
- 1 đơn thuốc chính sách phục hồi tối ưu xã hội:
Trang 40o Để thỏa mãn điều kiện tối ưu về mặt xã hội, chi phí cận biên '
tức là, t/p c 1 /, trong đó p c là giá cạnh tranh
o Vì t < 0, biện pháp đánh thuế sẽ trở thành chính sách trợ cấp cho sản lượng
1.1.2 Độc quyền đa-sản phẩm (Multiproduct Monopoly)
- Giả thiết công ty đa-sản phẩm:
o độc quyền với mọi sản phẩm của mình;
o giả sử:
các sản phẩm là i1, ,n và
định giá là pp1, ,p n và
khối lượng hàng là qq1, ,q n, trong đó q i D i p là cầu cho hàng hóa i
chi phí để sản xuất véc tơ sản lượng là Cq1, ,q n
o trường hợp trong Mục 1.1.1 là trường hợp riêng:
khi q i D i p i với mọi i và
tổng chi phí có thể phân rã thành tổng của mỗi thành phần:
i i i
n C q q
q C
1
trong Mục 1.1, ta nhận được kết quả là nhà độc quyền tăng giá cho các hàng hóa có độ co giãn nhỏ; chúng ta có thể tổng quát hóa kết quả này trong Chương 3 (Định giá Ramsey _ Ramsey pricing)
- Mô hình đa-sản phẩm tổng quát của nhà độc quyền:
D q
C p
D p p
D p D
j j
j j i
i i
o Xét 2 trường hợp riêng cực đoan ở các Mục nhỏ sau (bỏ qua đạo hàm bậc-hai):
1.1.2.1 Cầu phụ thuộc, Chi phí khả tách (Dependent Demands, Separable Costs)
o Giả sử tổng chi phí có thể tách thành n chi phí:
n C q q
q C
(1.6) trở thành: