Đặc biệt, ở chặng sáng tác trước 1945, những vần thơ trào phúng của Tú Mỡ thả đăng trên tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay dù nằm trong lưới kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thực dân, nhưng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Trần Hữu Tá
TP Hồ Chí Minh – Năm 2004
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 14
5 Giới hạn nội dung tư liệu nghiên cứu 15
6 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1: Tú Mỡ trong dòng chảy của thơ trào phúng dân tộc 18
1.1 Chân dung người tiếp nối tiếp dòng thơ trào phúng 18
1.2 Nội dung trào phúng trong thơ Tú Mỡ 32
Chương 2: Kết cấu và giọng điệu trào phúng trong thơ Tú Mỡ 42
2.1 Kết cấu trào phúng trong thơ Tú Mỡ 42
2.1.1 Kết cấu ngắn gọn đưa ra đến đâu cười ngay đến đó 43
2.1.2 Kết cấu theo kiểu bài binh bố trận để kết thúc đột ngột, gây cười bất ngờ 49
2.2 Giọng điệu trào phúng trong thơ Tú Mỡ 56
2.2.1 Giọng hài hước bông lơn 57
2.2.2 Giọng châm biếm cay độc 65
2.2.3 Giọng tự trào hóm hỉnh 80
Chương 3: Ngôn ngữ 88
3.1 Các biện pháp nghệ thuật 88
3.1.1 So sánh 89
3.1.2 Phóng đại 97
3.1.3 Chơi chữ 100
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 108
3.3 Thể thơ 109
Kết luận 124
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Trong thành tựu của văn học Việt Nam ở thế kỷ XX, thơ Tú Mỡ chiếm
một vị trí nổi bật Tú Mỡ được coi là“ cây bút hoạt kê cự phách”, là “ngọn cờ
đầu ” của thơ trào phúng Việt Nam hiện đại Qua hai chặng đường sáng tác
văn học trước và sau cột mốc năm 1945, ông đã cống hiến cho nước nhà một sự nghiệp văn chương sáng giá Trong đó, thơ trào phúng là phần tinh túy nhất, thành công nhất mà ông đã gặt hái được sau bao năm cần mẫn cầm bút sáng tạo nghệ thuật văn chương Hơn nữa, dường như, đây mới là chỗ hơn người của cây bút gây cười “rất có duyên” này Và do vậy, đây cũng là phần chắc chắn sẽ còn sống lâu với thời gian, mang được tiếng cười mới đóng góp cho kho tàng văn học nước nhà Từ nhiều năm qua, thơ Tú Mỡ đã hiển nhiên trở thành“ một sự kiện khách quan” trong nền văn học Việt Nam hiện đại Nó thu hút sức mạnh sự chú ý của người đọc và gây nhiều hứng thú cho giới nghiên cứu phê bình văn học Khi tìm hiểu về thơ Tú Mỡ, các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao nội dung tư tưởng và cả nghệ thuật trào phúng trong thơ ông Song, ở mỗi giai đoạn sáng tác, Tú Mỡ hướng đến những đề tài khác nhau, có cảm hứng và đứng trên lập trường sáng tác khác nhau, do đó, thơ ông nói chung, và nghệ thuật trào phúng trong thơ ông ở từng chặng sáng tác nói riêng có sự thành công ở những đỉnh cao khác nhau Đặc biệt, ở chặng sáng tác trước 1945, những vần thơ trào phúng của Tú Mỡ thả đăng trên tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay dù nằm trong lưới kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thực dân, nhưng nội dung những vần thơ này có giá trị phê phán hiện thực xã hội sâu sắc chính là do Tú Mỡ thể hiện nó bằng những hình thức nghệ thuật độc đáo, đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật trào phúng Ở đó, Tú Mỡ có sự tiếp
Trang 4biến tiếng cười trong văn học truyền thống, thông qua các đòn bút gây cười tinh tế và điêu luyện để tạo ra những nét hàm tiếu đặc vị kiểu Tú Mỡ, làm cho
hai tập thơ Giòng nước ngược trở thành một thế giới nghệ thuật thơ vừa phong
phú và đa dạng, vừa mới lạ và hấp dẫn
Với những hướng tiếp cận khác nhau, giới nghiên cứu, phê bình văn học đã công bố những công trình tìm hiểu công phu về khu vực nội dung thơ Tú Mỡ sáng tác ở chặng trước năm 1945 Bên cạnh những kiến giải sắc sảo về nội dung hai tập thơ, giới nghiên cứu chuyên môn đã có những kiến giải khá sâu sắc về khu vực nghệ thuật thơ Tuy vậy, trang viết nêu về nghệ thuật chưa được toàn diện và chuyên biệt, mà theo chúng tôi đây là lĩnh vực để lại dấu ấn phong cách đậm nhất của Tú Mỡ Vì thế, việc tiếp tục tìm hiểu “Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ trước 1945” là cần thiết và có ý nghĩa cả trong học thuật và trên thực tế Vì rằng, nghiên cứu vấn đề này tức là đề cập, hướng đến khám phá phong cách nghệ thuật độc đáo của chân dung văn học Tú Mỡ để qua đó thấy được những đóng góp tích cực của ông trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam ở giai đoạn 1930 – 1945
Ngoài lý do trên, chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu còn là vì, từ lâu nay thực trạng nghiên cứu Tú Mỡ còn nghiêng về phương diện nội dung thơ mà chưa được giới chuyên môn chú trọng, mở rộng phạm vi tìm hiểu về hình thức nghệ thuật trong đó có vấn đề nghệ thuật trào phúng của thơ ông mà cụ thể là phần thơ sáng tác ở thời kỳ trước năm 1945 Luận văn ra đời hi vọng có thể góp được một phần nhỏ bé vào sự nghiệp nghiên cứu chung về Tú Mỡ, đồng thời cũng hi vọng có thể giúp người đọc có được cách nhìn toàn diện hơn về thơ Tú Mỡ ở chặng đường định hình một phong cách thơ “trào lộng đặc biệt Việt Nam”
Trang 52 Lịch sử vấn đề
2.1 Thời kỳ trước năm 1945,“Mấy vần thơ lỗ mỗ” dồi dào cảm xúc trào
phúng của Tú Mỡ trong Giòng nước ngược đăng trên tuần báo Phong Hóa,
Ngày Nay có sức thu hút mạnh sự chú ý của người đọc và giới nghiên cứu, phê bình văn học Nó như là mảnh đất màu mỡ có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối
với những ai quan tâm và muốn khai thác Đến nay,“các bài tiểu luận, nghiên
cứu, phê bình, giới thiệu, bình luận … về thơ và các tác phẩm khác của Tú Mỡ đã lên đến dăm trăm trang” [ 73 - 117] Thế nhưng, chưa ai dám xác nhận rằng
đối tượng này giờ đây đã được tìm hiểu thấu đáo, và khai thác triệt để Trái lại, các bài viết về nó ngày một khách quan hơn kể cả về tính chất, lẫn cấp độ, và qui mô của các công trình nghiên cứu đã được công bố
Trong sự phong phú của nguồn tư liệu viết về Tú Mỡ, chúng tôi chú ý nhiều đến những ý kiến bàn về vấn đề nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ:
Trước 1945, trong công trình Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan có nêu nhận xét đáng chú ý về giọng điệu nghệ thuật của Tú Mỡ qua hai tập Giòng nước
ngược: “hai tập thơ có cái giọng bình dân rất trong sáng chúng ta vốn ưa thích xưa nay Giọng đùa cợt lẳng lơ của Hồ Xuân Hương, giọng nhạo đời của Trần Tế Xương, giọng thù ứng ý nhị của Nguyễn Khắc Hiếu , giọng giao duyên tình tứ của Trần Tuấn Khải , từng ấy giọng thơ , ngày nay ta thấy cả trong hai tập thơ trào phúng của Tú Mỡ ” [ 79 – 737 ] Thực chất ở đây nhà nghiên cứu
muốn nói đến giọng thơ giễu nhại, và khả năng tiếp thu, học tập nghệ thuật gây cười của các bậc thầy ở Tú Mỡ Tuy nhiên, nhà nghiên cứu họ Vũ chưa lý giải một cách thấu đáo đánh giá của mình với ý nghĩa là một khía cạnh trong nghệ thuật gây cười của Tú Mỡ
Trang 6Sau “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, là cuốn “Việt Nam văn học sử yếu”
của Dương Quảng Hàm Khi đánh giá các văn gia Tự Lực Văn Đoàn, Dương Quảng Hàm có ấn tượng mạnh đối với lối văn “vui vẽ, hoạt bát” của Tú Mỡ:
“Ông chuyên viết những bài văn có tính cách khôi hài, trào phúng, ông đã khéo
đem một lối văn vui vẻ, buồn cười, hoạt bát, nhí nhảnh mà châm biếm những cái dở, thiên kiến của ta” [ 28 _ 455 ] Mặc dù, đánh giá của nhà nghiên cứu
dành cho ngòi bút của Tú Mỡ chỉ vắn tắt trong một vài dòng rất đại lược, nhưng lại nêu bật được đặc điểm, sở trường của Tú Mỡ
Ra đời cùng thời với “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm, còn có “Nghiên cứu và phê bình văn học” của Lê Thanh Tìm hiểu
“Văn nghiệp Tú Mỡ”, Lê Thanh nhận thấy tác giả “ Giòng nước ngược” đã
đạt đến chỗ đáng mong ước của “ một nhà thơ có nghệ thuật ” Đánh giá cao nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ, Lê Thanh khẳng định :“ Với vài nét
phác ông đã trình bày được cả một nhân vật về hình thể và tinh thần ( … ) Với một đoạn thơ ông có thể diễn đạt lại được cả một cảnh hoạt động với tất cả những màu sắc của vật, cử chỉ của nhân vật Đọc thơ ông ta có cảm tưởng như xem một đoạn phim màu dàn xếp một cách rất khéo”[ 4 _ 122 ] Tiếp đó, Lê
Thanh kiến giải:”Cái giá trị của những bức tranh ( …) ấy, phần nhiều là những
chữ chọn rất khéo, những chữ tả hình dạng, kể việc một cách bất ngờ ” [ 4 –
124 ]
Tiếc rằng ý kiến của Lê Thanh chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát mà chưa có sự phân tích, lý giải đầy đủ Đây cũng là nét chung ở những công trình trước năm 1945 có ý kiến bàn về nghệ thuật trào phúng trong “Giòng nước ngược” của Tú Mỡ
Trang 72.2 Do hoàn cảnh lịch sử của đất nước, từ sau 1960 trở lại đây vấn đề thơ
Tú Mỡ trong đó có vấn đề nghệ thuật trào phúng mớiù thật sự được quan tâm như một bình diện khoa học nhân văn Ta có thể thấy rõ qua loạt ý kiến của các nhà nghiên cứu sau :
Trong giáo trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945, tập II (Nxb Giáo dục,
1961), nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ khẳng định tác giả Giòng nước ngược: “ là
người đạt đến một nghệ thuật trào phúng cao nhất so với các nhà thơ khác đương thời ”[ 37 – 138 ] Nhà nghiên cứu phân tích, lí giải, chỉ ra sự thành
công trong nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ:“ Thơ Tú Mỡ sở dĩ thành công ( …
) là do ông chủ yếu biết vạch ra mâu thuẫn của nhân vật và biết vận dụng sáng tạo nghệ thuật của truyền thống văn hóa dân tộc Ở Hồ Xuân Hương, ông học được lối thanh mà tục, tục mà thanh ( … ) Ở Tú Xương, ông học được lối châm biếm sâu cay, chua chát, lối tự trào mà hóa ra chửi đời ( … ) Ở Yên Đổ, Tú Mỡ học được lối cười thanh cao ( … ), lối châm biến kín đáo ( … ) Ngoài ra Tú Mỡ còn học tập ở nghệ thuật trào phúng của ca dao , chuyện tiếu lâm , chuyện khôi hài ”[ 37 _ 143,144 ] Mặc dù, Phan Cự Đệ khẳng định thơ Tú Mỡ có sự thừa
tiếp nghệ thuật trào phúng của văn học dân tộc khá phong phú và đa dạng, nhưng theo cái nhìn thực chứng của Phan Cự Đệ thì Tú Mỡ vẫn có nét “ đặc vị
riêng”: “ Tú Mỡ có một lối chơ chữ hóm hỉnh, nên câu văn câu thơ rất ý nhị,
duyên dáng, đó là đặc vị “ hạt muối “ kiểu Tú Mỡ” [ 37 – 144, 145 ] Theo
Phan Cự Đệ: “Tú Mỡ học được ở Tiếu lâm lối kết thúc bất ngờ, câu kết bài thơ
trào phúng như một quả pháo đùng to, kết thúc một tràng pháo tép, nó càng đột ngột càng gây cảm xúc mạnh , càng để lại những ấn tượng sâu sắc, lâu dài cho người đọc” [ 37 – 147 ].Và, “ để gây tiếng cười”, “Tú Mỡ còn thường sử dụng
“ lối thơ nhạo”, ngòi bút dựng người, dựng cảnh tài tình , sinh động ” [ 37 –
149]
Trang 8Chỉ ra hạn chế trong ngòi bút nghệ thuật của Tú Mỡ, Hoàng Như Mai
luận giải và đưa ra đánh giá xác đáng: “Những bài đối với độc giả đương thời
cho là có giá trị trào phúng có giá trị trội nhất là những bài đùa bỡn cái hũ văn của thi sĩ Tản Đà, châm chọc cái búi tóc của cụ Nguyễn Văn Tố, viếng lõm báo Phụ nữ thời đàm… Nghiên cứu kỹ những bài này, chúng ta sẽ thấy tiếng cười phát ra không phải tự bản thân sự việc mà do những phần thêm thắt, bẻ ngay ra quẹo ( … ) của tác giả Trước đây cái “tài” của Tú Mỡ mà nhiều độc giả thán phục là chỗ ở đó Thực ra, chính đó là chỗ yếu trong nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ Là vì yếu tố trào phúng không nằm ngoài bản chất của sự việc, và nguyên nhân của hiện tượng này hoặc do tác giả không nhìn thấy, không khai thác được nó hoặc do sự việc tự nó không có yếu tố trào phúng.Như vậy, một mặt chúng ta thừa nhận sự sáng tạo của tác giả, nhưng mặt khác chúng ta vẫn thấy tính chất chủ quan ( … ) của phương pháp nghệ thuật ấy ” [
37 – 233 ] Đây là ý kiến rất đáng tham khảo để giới nghiên cứu có thể điều chỉnh cho sự thẩm định, đánh giá của mình được thật sự thận trọng và khách quan hơn về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ
Trong công trình biên soạn về “Thơ văn trào phúng Việt Nam” [42],
Vũ Ngọc Khánh nhận xét khái quát về nghệ thuật gây cười của Tú Mỡ: “ Tú
Mỡ có nụ cười hả hê và hóm hỉnh ( … ) Tú Mỡ còn sở trường cả những lối thơ hài hước, thơ nhại và rất nhạy bén với những việc xảy ra chung quanh, khai thác vốn liếng ở nhiều nguồn để làm bật ra tiếng cười thoải mái ” Theo Vũ
Ngọc Khánh: “ Chỗ sắc sảo nhất của tác giả Giòng nước ngược có lẽ là ở
những nét phác thảo nhân vật và bóc trần những hiện tượng rởm đời Điểm mặt từ quan to, quan nhỏ, cho tới bọn tân học nhố nhăng ( … ), ngòi bút của Tú Mỡ thường rất sinh động, thông minh ( … ), Tú Mỡ tiếp thu được chất trào phúng của dân tộc để nối gót Tú Xương trong thời đại mới [ 42 – 374 ]
Trang 9Trong bài viết “ Thơ trào phúng đánh giặc của Tú Mỡ từ sau cách mạng
tháng Tám “, Đặng Quốc Nhật ghi nhận cao công lao “đóng góp về nghệ thuật thơ trào phúng và cả lý luận trào phúng của Tú Mỡ”, và chỉ ra điểm mạnh
trong ngòi bút trào phúng của tác giả “Giòng nước ngược”: “Những trang thơ
họa lên bù nhìn của Tú Mỡ có sức sống, nó như một bức tranh, mẫu kịch, một đoạn múa rối và rõ hơn là một cảnh đời Nhà thơ thường để lại cái bất ngờ như tấm màn hạ nhanh để khán giả bung ra những tiếng cười khoái trá” [ 80 – 161
] Và “ điểm mạnh của Tú Mỡ là việc vận dụng sáng tạo vốn ca dao tục ngữ (
… ), việc phóng đại tầm cỡ đối tượng, lối kết thúc bất ngờ, vận dụng so sánh đối lập táo bạo của những truyện tiếu lâm dân gian” [ 83 – 167, 169 ]
Nguyễn Văn Long chú ý lí giải sự chuyển biến trong ngòi bút gây cười
của Tú Mỡ: “ Trước kia Tú Mỡ phải dùng cách nói bóng gió mỉa mai , những
đòn ngầm , những cách chơ chữ lắt léo , những cách nói ngọt mà lọt đến xương để lách lưỡi dao trào phúng vào thực trạng xã hội ” [ 37 – 263 ] (…)“còn sau
này, Tú Mỡ chú trọng phát huy cách chơi chữ ( … ) để điểm huyệt khiến cho
người đọc không thể quên được ( … ) , nhà thơ thường biết cách đưa dẫn sự việc một cách có duyên, linh hoạt và nhiêu khi tạo được những bất ngờ lý thú như một lớp kịch nhỏ ( … ) Tú Mỡ cũng thường dành được cái đột ngột, cái chốt trào phúng, cho đoạn cuối, câu cuối để tiếng cười vỡ ra sảng khoái lúc kết thúc như một quả pháo đùng to sau tràng pháo tép vạây ” [ 37 – 268, 269 ]
Tác giả Nguyễn Trác đánh giá cao “kỹ thuật trào phúng” của Tú Mỡ qua cách “xây dựng hình ảnh”, “học tập công phu vốn cũ người xưa“ Tác giả nhận định: “Tú Mỡ sử dụng thành công nghệ thuật gây cười, ông biết khai thác
những mặt mâu thuẫn, những cái ngược đời trái tự nhiên để làm bật ra ý nghĩa mỉa mai trào lộng ( … ) làm người ta xúc cảm mạnh “ [ 57 – 328, 329 ]
Trang 10Về xây dựng hình ảnh: “ Ông có lối tả không những vẽ được bộ dạng
bên ngoài mà còn nói được tư cách đạo đức bên trong”
Về tiếp thu vốn cũ : “Ông biết học tập ở truyện dân gian, truyện khôi
hài, tiếu lâm lối đả kích khi phũ phàng, khi hóm hỉnh ( … ) Ở các nhà văn Pháp ông học tập ( … ) lối đả kích vào chế độ thối nát của thời đại trong thơ châm biến của Vôn-Te, lối đi sâu vào tâm lý con người trong “ tính cách ” của La-Bơ- Ruy-e, lối châm biến thời sự chính trị hóm hỉnh và sâu sắc của Buy-Giơ-Lanh [
57 – 331 ] Ý kiến của tác giả Nguyễn Trác rất xác đáng, tuy nhiên tác giả chỉ nêu lên nhận xét mà chưa đi sâu vào phân tích, lí giải ngọn ngành
Viết về Tú Mỡ trong cuốn “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”, Vũ Quần Phương chỉ ra chỗ sắc bén trong ngòi bút nghệ thuật của Tú Mỡ: ”ngòi bút Tú
Mỡ bền bĩ tách bóc làm hiện lên những nét hài hước, những mặt trái đời đáng lên án (…) nâng nó lên thành nét phổ biến của lũ người hãnh tiến (…) nâng nó lên thành hình tượng nghệ thuật bằng cách chuyền nghĩa bóng sang nghĩa đen (…) để lọt được lưới kiểm duyệt (…) đả kích làm cho đối tượng đỏ mặt vậy xấu hổ chứ không nỡ chôn sống người ta” [ 33 – 92 ]
Hai nhà nghiên cứu đề cập trực tiếp và có những đánh giá bao quát về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ là Hà Minh Đức và HàVăn Đức
Khi viết về Tú Mỡ trong cuốn “Nhà văn Việt Nam” tập 1 [17], Hà Minh
Đức có cái nhìn khá thấu đáo về nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ qua hai
chặng đường sáng tác: “Trước cách mạng tháng Tám, Tú Mỡ khéo chọn được
những chi tiết tiêu biểu, vận dụng một cách linh hoạt và thông minh mọi hình thức để đã kích vào đối thủ” [17 – 496,497 ] “ Cách mạng tháng Tám thành công ( … ), Tú Mỡ có những đổi thay rất cơ bản trong thế giới quan ( … ) Ngòi bút của nhà thơ không phải là ngòi bút hoa mỹ, mà là ngòi bút chiến đấu Tú
Trang 11Mỡ biết nắm lấy những mâu thuẫn của kẻ địch và phơi bày những mâu thuẫn đó
ra để làm lộ rõ thực chất của bọn thực dân phản động” [ 17 – 500, 501 ] Hà
Minh Đức đã bao quát và lý giải được sự chuyển biến tích cực về tư tưởng và nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ từ khi nhà thơ đi theo cách mạng
Đánh giá về mặt ngôn ngữ và kỹ thuật sử dụng câu chữ có tính chất
trào lộng trong thơ Tú Mỡ, Hà Minh Đức khẳng định: “Tú Mỡ sử dụng thành
công một vốn từ phong phú các khẩu ngữ, thành ngữ dân gian Tú Mỡ sử dụng thành thục, chọn đúng chỗ, nắm chắc ý tứ, hạ đúng từ ngữ, làm cho câu chữ trong nhiều bài thơ vừa chặt chẽ mực thước, vừa phóng túng tài hoa, vừa thời sự hiện đại, lại vừa có màu sắc dân gian quen thuộc” [17 – 59]
Lý giải sự thành công trong nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ, Hà Minh
Đức cho rằng: “Tú Mỡ nắm được biện pháp gây cười và sử dụng một cách
thành công Tú Mỡ biết vận dụng những yếu tố cường điệu một cách có mức độ không biến đối tượng thành cái gì quá xấu xa nhem nhuốc và trở thành kỳ quặc vô lí Tú Mỡõ tô vẽ thêm thắt nhưng vẫn giữ tính khách quan trong nhận xét để đối tượng tự trở thành lố bịch” [17 – 511, 512]
Đánh giá của Hà Minh Đức về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ là khá xác thực Những ý kiến này không chỉ ghi nhận sự thành công của thơ Tú Mỡ ở khía cạnh nghệ thuật mà còn bao quát khá trọn vẹn giá trị thơ Tú Mỡ trong cái nhìn liên hệ biện chứng giữa tư tưởng và nghệ thuật theo phong cách sáng tạo của nhà thơ
Trong giáo trình “Văn học Việt Nam 1900 – 1945” [19], viết về Tú Mỡ, Hà Văn Đức hết sức chú ý đến tính chất châm biếm của thơ Tú Mỡ, nhà nghiên cứu coi đó là “nét chủ đạo xuyên suốt” trong sáng tác của nhà thơ:
“Ngòi bút châm biếm của Tú Mỡ tạo ra những tiếng cười mạnh mẽ, sâu sắc, có
Trang 12phần nào mỉa mai chua chát Nét chủ đạo, xuyên suốt trong thơ trào phúng cuả Tú Mỡ là tính chất châm biếm đạt tới một nghệ thuật sắc sảo, nhạy bén và tinh tế, đạt tới một mức độ phê phán gay gắt” [19 – 516] Không riêng gì Hà Văn
Đức, mà khá nhiều nhà nghiên cứu trước đây đã nhận ra nét chủ đạo trong nghệ thuật trào phúng của Tú Mỡ, nhưng Hà Văn Đức có sự phân tích, lí giải
ngọn ngành: “nét chủ đạo” này đã cho thơ Tú Mỡ có những “tiếng cười đa
dạng đủ sắc thái khác nhau Bên cạnh tiếng cười đả kích có sức công phá lớn là tiếng cười mỉa mai giễu cợt lắng đọng vào trong, có cái cười hả hê sảng khoái, nhưng cũng có cái cười ra nước mắt Nhiều tiếng cười châm biếm không còn là tiếng cười nhẹ nhàng hoặc sâu cay nữa và sự phê phán đã đạt đến một mức độ rất cao, rất quyết liệt ( ).Tú Mỡ đã tặng tiếng cười vào đúng đối tượng, đánh đúng vào cái đáng cười, đáng châm biếm (…) Tiếng cười trào phúng của Tú Mỡ mang màu sắc dân tộc, đượm sức sống và tinh thần đấu tranh của nhân dân, nhất là những người bình dân” [16 – 518] Theo Hà Văn Đức: “Tiếng cười trong thơ Tú Mỡ thường bật lên ở câu kết bài thơ Trong khá nhiều trường hợp, Tú Mỡ đưa đối tượng lên cao rồi đột ngột quẳng nó xuống chỗ thấp tận cùng, tạo lên sự thú vị bất ngờ ở độc giả Việc vận dụng thủ pháp này vừa phù hợp với tính chất châm biếm, vừa gây cho người đọc, người nghe có được ấn tượng sâu sắc” [19 – 519]
Theo chúng tôi đây là những ý kiến rất đáng tham khảo, nó có giá trị gợi mở để những ai quan tâm có thể tiếp tục đi sâu vào phương diện nghệ thuật thơ Tú Mỡ
Điểm qua các ý kiến đánh giá, nhận định về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ, điều dễ nhận thấy là các ý kiến nhận định này diễn ra khá thuận chiều, có những ý kiến nhận định toát lên sự sắc sảo tinh tế, có những ý kiến trùng lắp, lặp lại, có ý kiến nêu ra cũng cần được kiểm chứng lại, và
Trang 13hiếm có ý kiến mâu thuẫn nổ ra tranh luận gay gắt Tuy vậy, chúng tôi thấy cũng cần khẳng định:
Một là, hầu hết các ý kiến nhận định của các nhà nghiên cứu về nghệ thuật thơ của Tú Mỡ được đề cập trên đây là xác đáng, vừa bao quát khá đầy đủ về mặt nghệ thuật gây cười của Tú Mỡ, vừa chỉ ra được những hạn chế và thành công trong ngòi bút nghệ thuật của nhà thơ
Hai là, các nhà nghiên cứu bị cuốn hút vào tiếng cười ma lực của Tú Mỡ Và, họ đã nêu lên được những nhận định làm nổi bật được nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ, nhưng những ý kiến này chưa được đặt trong cái nhìn toàn diện, hệ thống của một công trình khoa học độc lập
3 1 Tú Mỡ được coi là cây bút trào phúng sáng tác thành công trong cả
hai giai đoạn trước và sau năm 1945 Thơ của ông nói chung và hai tập thơ
“Giòng nước ngược” (tập I và tập II) được sáng tác ở thời kỳ trước năm 1945 nói riêng đều có nội dung hiện thực sinh động và hình thức gây cười độc đáo
Do vậy, khi nghiên cứu về sự thành công trong hai tập thơ này, chúng ta không nên xem nhẹ bất kỳ phương diện nào dù là nội dung hay hình thức Tuy nhiên,
do khuôn khổ của một luận văn, sự giới hạn của thời gian, tư liệu và tầm hiểu biết của người viết luận văn Vì vậy, luận văn của chúng tôi chỉ có điều kiện tìm hiểu sự thành công về “Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ trước năm 1945” Hơn nữa, chúng tôi chỉ xin tập trung vào các khía cạnh chủ yếu như: kết cấu trào phúng, giọng điệu trào phúng, ngôn ngữ thơ, các thủ pháp nghệ thuật Theo chúng tôi, đây là những khía cạnh mà qua đó có thể thấy được những đóng góp xuất sắc của Tú Mỡ cho “nghệ thuật thơ trào phúng” Việt Nam hiện đại và thấy được phong cách sáng tạo của nhà thơ
Trang 14Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi cũng ý thức được rằng những điều mà chúng tôi đề cập đến chưa phải là toàn bộ các vấn đề cần khảo sát Song, trong khả năng hiểu biết có hạn của mình, chúng tôi chỉ xin dừng lại
ở một số vấn đề như trên
3.2 Bên cạnh việc giới hạn nội dung nghiên cứu, chúng tôi xin được giới
hạn cụ thể số lượng bài thơ khảo sát để làm cơ sở cho tỉ lệ thống kê mà không phải lí giải trở lại trong các chương sau
Trong hai tập thơ “Giòng nước ngược” có cả thảy 218 bài thơ Ở tập I có 105 bài, chúng tôi xin không khảo sát 6 bài của các tác giả khác (gồm những bài: Gửi cho Tú Mỡ, Giận anh Tú Mỡ là do Tú Xơn viết; các bài: Thư đáp lại người tình nhân mới quen biết, Mẹ Mốc cho quà chùa Hương, Gửi người tình nhân mới quen biết – do Phạm Thị Cả Mốc viết; và bài: Một tấm lòng vàng – do Gái quê Tân Thời viết)
Ở tập 2: có 113 bài, chúng tôi không khảo sát 6 bài (gồm các bài: Tản Đà cốc tử, Nhắn Tú Mỡ, là những bài do Tản Đà viết; bài: Bức thư ngỏ của Lý Toét-do Tú Mỡ chuyển đạt; bài: Bi quan – do Vũ Đình Liên viết, bài: Vấn kế Tú Mỡ- do Lữ Khách viết; và bài: Nhắn anh Tú Mỡ – do Phạm Thị Cả Mốc viết)
Sau khi loại ra những bài không do Tú Mỡ viết, “Giòng nước ngược”, tập I còn lại: 99 bài thơ, tập II còn lại 107 bài Như vậy, tổng số bài thơ của hai tập thơ được khảo sát là 206 bài Chúng tôi xin được giới hạn khảo sát 206 bài thơ trong 2 tập thơ “Giòng nước ngược”, và lấy số lượng 206 bài thơ để tính vào tỉ lệ thống kê số liệu trong đề tài Do chưa có điều kiện và sức am hiểu còn hạn chế, chúng tôi xin tạm gác lại những bài thơ Tú Mỡ viết trước năm
Trang 151945 mà không nằm trong hai tập thơ “Giòng nước ngược” (tập I và tập II ), và loại ra những bài thơ của các tác giả khác viết được xếp trong hai tập thơ này
3.3 Ngoài ra, để việc tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ
hướng vào trọng tâm và có cơ sở lí luận, chúng tôi nghĩ rằng việc xác định nội hàm của thuật ngữ “Trào phúng” được sử dụng thường xuyên trong luận văn cũng là điều cần thiết
Thuật ngữ “Trào phúng” được sử dụng phổ biến trong sáng tác và nghiên cứu văn học Tuy nhiên, vấn đề về lí luận trào phúng đang còn được nghiên cứu, quan niệm về thuật ngữ “Trào Phúng” vẫn còn những bất đồng nhất định, chưa đạt được cái nhìn thống nhất trong giới nghiên cứu và lí luận Nghiên cứu về thuật ngữ “Trào phúng”, có người xem trào phúng như một loại hình văn học, hoặc thuộc về thể loại, hoặc như một nguyên tắc đặc biệt miêu tả hiện thực có mặt ở mọi thể loại văn học, hoặc thuộc về thể loại, hoặc như một nguyên tắc đặc biệt phản ánh hiện thực
Iventov cho rằng: “Trào phúng là một nguyên tắc đặc biệt miêu tả hiện
thực, có mặt ở mọi thể loại văn học, trong nhiều thành tố cấu trúc thể loại, trong trữ tình, sử thi và kịch Từ trữ tình xuất hiện: Thơ ngắn trào phúng, tiểu phẩm trữ tình, thơ bóc trần trữ tình (…), và là một phương pháp đặc thù thể hiện nổi bật những mâu thuẫn của thế giới hiện thực” [93 – 7] (sách đã dẫn)
L.i Timôphêep quan niệm “Trào phúng là loại đặc biệt của sáng tác
văn học gần gũi với trữ tình, sử thi và kịch trong những trường hợp cụ thể” [29
–306]
Khác với quan niệm của Timôphêep, G.M.Poxpelox xem “Trào phúng như
một biến dạng của cảm hứng, tức là cần phải nói về trào phúng như một phương diện của sáng tạo nghệ thuật ” [93 – 9]
Trang 16Dung hòa các quan niệm trên, các nhà biên soạn “Từ điển thuật ngữ
văn học” [29] ở nước ta đưa ra quan niệm: “Trào phúng là một loại đặc biệt
của sáng tác văn học, đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật, trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” Cũng theo sách này, “Trào phúng là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác Song trong lĩnh vữc văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học và cái hài với cung bậc u mua, châm biếm” [ 29 – 306]
Trong khi vấn đề thuật ngữ “Trào phúng” còn đang được các nhà nghiên cứu đưa ra một quan niệm có tính thống nhất, chúng tôi chủ yếu dựa
vào quan niệm của các nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học để làm cơ sở
lí luận cho việc đi sâu vào lí giải các vấn đề của đề tài
4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp khoa học của luận văn
Từ nhưng lý do đã nêu luận văn hướng đến các mục đích sau :
Đưa cái nhìn hệ thống vào để tìm hiểu các yếu tố thuộc bình diện nghệ thuật trong thơ trào phúng của Tú Mở trước 1945 Góp thêm một tiếng nói vào việc tìm hiểu, khám phá một phong cách thơ độc đáo trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Khẳng định những đóng góp tích cực của tài năng Tú Mỡ trong việc bảo tồn, phát huy truyền thống dân tộc, tinh thần trào lộng Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc
Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả là nghiên cứu thi pháp của một nghệ sĩ, là tìm hiểu cách thức họ “rút ruột tang tằm để… nhả thơ” cho đời Đây là một vấn đề lớn khó thể bao quát được trong một vài công trình, chúng tôi chỉ có thể bước đầu hệ thống những yếu tố thuộc bình diện nghệ thuật trào phúng
Trang 17mà Tú Mỡ đã sử dụng ở hai tập thơ Giòng nước ngược sáng trước 1945 Tìm
hiểu quá trình định hình phong cách thơ Tú Mỡ như là một khuôn mặt mới lạ của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, như là một chiến sĩ tiên phong trong việc phát huy nội lực dân tộc bằng sức mạnh của văn hoá
5 Phương pháp nghiên cứu
Để việc nghiên cứu đạt kết quả, luận văn sẽ triệt để vận dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp lịch sử cụ thể
Luận văn tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ tức là đề cập đến thi phẩm của nhà thơ Mà thi phẩm của nhà thơ lại là một sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, và nằm trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Do đó, tất yếu chúng tôi phải vận dụng phương pháp này để tìm hiểu sự tương tác giữa môi trường văn hóa, thời đại với nhà thơ Cụ thể là để tìm hiểu nguyên nhân nào khiến nhà thơ có thể sáng tạo nên những thi phẩm có giá trị văn học ca, giúp ông ghi vào nền văn học dân tộc một dấu ấn thơ ca độc đáo
5.2 Phương pháp hệ thống
Vận dụng phương pháp hệ thống để khảo sát nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ cần thiết phải xếp các yếu tố của vấn đề nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ vào một hệ thống và phân tích, lí giải mối liên hệ giữa các yếu tố đó để thấy được tính chỉnh thể của vấn đề cần khảo sát Nhưng đồng thời cũng đặt vấn đề cần khảo sát vào trong một hệ thống lớn hơn đó là hình thức nghệ thuật, kết hợp với nội dung thơ để qua đó thấy được phong cách trào phúng của Tú Mỡ Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi có
Trang 18thể trình bày, lí giải các vấn đề thuộc phạm vi đề tài một cách cụ thể và thấu đáo hơn
5.3 Phương pháp so sánh văn học
Trong khi tìm hiểu đề tài, chúng tôi không những nêu lên cái nhìn so sánh nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ giữa hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm 1945, mà còn so sánh nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ với những đặc điểm nghệ thuật trào phúng của các nhà thơ mà Tú Mỡ chịu ảnh hưởng để thấy nét riêng trong ngòi bút gây cười của Tú Mỡ
5.4 Phương pháp phân loại thống kê
Việc nghiên cứu“Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Mỡ trước 1945” cần phải sử dụng phương pháp thống kê để chỉ ra tần số xuất hiện của các chi tiết nghệ thuật, dấu hiệu nghệ thuật, lấy đó làm căn cứ cho sự lí giải về những vấn đề đã phản ánh theo tính chất, mức độ, ý nghĩa báo hiệu điều gì? Kết quả của các số liệu thống kê sẽõ góp phần tăng thêm tính chính xác và sức thuyết phục của luận văn
Những phương pháp nghiên cứu được đề cập bên trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và sẽ được vận dụng kết hợp trong quá trình thực hiện luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tư liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Tú Mỡ trong dòng chảy của trào phúng dân tộc
Nội dung của chương này hướng đến xác định khái quát về chân dung nhà thơ và hệ thống đề tài trong hai tập thơ “Giòng nước ngược” để thấy được
Trang 19giá trị của hai tập thơ làm nên vị trí văn học sử của nhà thơ, và cơ sở hiện thực phong phú trong sáng tác của tác giả Hơn hết là có thể nhận ra sự tương hợp giữa nội dung và hình thức nghệ thuật mà nhà thơ thể hiện để tạo nên giá trị đặc sắc cho“Giòng nước ngược”
Chương 2: Kết cấu và giọng điệu trào phúng trong thơ Tú Mỡ
Trong chương 2, luận văn đi vào tìm hiểu kết cấu và giọng điệu trào phúng trong thơ Tú Mỡ để chỉ ra những phương thức gây cười điêu luyện của tác giả Hay nói khác hơn là đi tìm những hình thức gây cười mang tính nghệ thuật của nhà thơ thông qua“ đòn bút” trào phúng vừa thông minh, linh hoạt, vừa sắc sảo và điêu luyện, lại vừa mang dấu ấn“ đặc vị kiểu Tú Mỡ”
Chương 3: Ngôn ngữ
Nhiệm vụ của chương 3 là khảo sát các thủ pháp nghệ thuật, ngôn ngữ thơ, thể thơ mà nhà thơ sử dụng với ý nghĩa là phương tiện diễn đạt có hiệu quả nghệ thuật cao để thấy được đòn bút tạo tiếng cười phong phú và đa dạng của nhà thơ
Trang 20Chương 1
TÚ MỠ TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ TRÀO PHÚNG DÂN TỘC
1.1 Chân dung người tiếp nối dòng thơ trào phúng
Tú Mỡ tên thật là Hồ Trong Hiếu Ông sinh ngày 14-3-1900 trong một gia đình nghèo ở số 24, phố Hàng Hòm, Hà Nội Song thân của ông phải lao động bằng nhiều nghề để lo cơm, áo, gạo, tiền cho gia đình và năm con mà Tú Mỡ là con trưởng Thương song thân, từ thuở thiếu thời, Trọng Hiếu đã nỗ lực học tập để lập thân, buổi đầu Trọng Hiếu học vỡ lòng nho học do ông nội dạy, rồi sau chuyển hẳn sang học chữ Quốc ngữ và Pháp ngữ ở trường tư thục Hàng Vôi Gần mười năm đèn sách, năm 1914 cậu thiếu sinh Hồ Trọng Hiếu đã làm ngỡ ngàng giới học sinh toàn Bắc Kỳ bằng danh hiệu thủ khoa kỳ thi cơ thủy lấy bằng sơ học Pháp – Việt để có thể vào học bậc thành chung ở trường Bưởi
Trong bốn năm học ở trườøng này, cá tính “thích pha trò”, “hay đùa nhả” của Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu ngày một trỗi dậy mạnh mẽ Trọng Hiếu thường hay “pha trò” với bạn cùng lớp, thỉnh thoảng lại còn chế giễu mấy ông giáo Tây, thầy giám thị hách dịch có những chứng tật riêng bằng những vần thơ nghịch ngợm :
Bọn sú ba giăng có một anh Mặt sùi da cóc, rắn như sành
Đố ai, ai biết là ai đó
Quỳnh!
Trang 21Những vần thơ tinh nghịch viết ở thời kỳ đi học, tuy chưa có giá trị gì đặc sắc, và cũng chỉ có thể lưu truyền trong phạm vi mấy lớp học, nhưng phần nào nó đã cho thấy ở cây bút nghịch tinh này có thừa năng khiếu trào tiếu
“Sáng tác theo kiểu ấy được một vài tháng thì bỡn quá hóa thật, tôi đâm ra
thích làm thơ” [37 – 395] Do lòng yêu thích thôi thúc, Trọng Hiếu tìm đến
người bạn cùng lớp là Hoàng Ngọc Phách để thọ giáo phép làm thơ Về sau
hồi cố lại, Tú Mỡ thầm cảm ơn ông “bạn cô le” họ Hoàng đã tận tình chỉ dẫn
mình trong bước đầu cầm bút sáng tác thơ
Do mê thơ Tản Đà và ảnh hưởng điệu sầu của thời đại thơ mới đang lan tràn, nên từ một cậu học sinh tinh nghịch đến lúc trở thành anh “Ký cóp”, Trọng Hiếu cũng có những vần thơ “Tương tư”, “Sầu tình”, “Mơ màng bạn ngọc” như tác giả “Khối tình con” Tú Mỡ đã biên soạn những bài thơ đó lại thành một tập, đặt nhan đề là: “Câu cười tiếng khóc”, ký bút danh là Nguyên Trực - Hồ Trọng Hiếu Nhan đề tập thơ được rút ra từ câu thơ: “Cuộc nhân thế câu cười, tiếng khóc” của Tản Đà- Nguyễn Khắc Hiếu Đây là giọng “sầu
tình” mà Trọng Hiếu “thổn thức”, nó chẳng khác gì “giọng của thi sĩ sông Lô,
Giấc điệp năm canh diễn khắc trường Muốn nhắn cùng ai, ai nhắn hộ
Mòn đuôi con mắt giải sông Tương
Trang 22(Tương Tư) Hay:
Lòng còn đeo nặng khối tình con, Đối ngọn đèn khuya gợi mối buồn
Ngọn bút tình này khôn tả nỗi,
Biết cùng ai giải tấm lòng son
(Sầu tình) Tuy nhiên, những điệu “sầu tình” có phần chưa thoát khỏi khuôn sáo như trên lại không phù hợp với tiếu tính vốn có của Tú Mỡ, vì thế những kiểu thơ “mơ màng như bạn ngọc” chỉ nhạt nhẽo thoảng qua mà ít khi đáo lại trong ngòi bút của Tú Mỡ sau này
Tú Mỡ là người say mê văn chương, ông đến với văn chương từ rất sớm, từ trước khi ông bất đắc dĩ đeo đuổi nghề thư ký và phải gắn bó với nó suốt từ năm 1918 đến năm 1947, hẳn chẳng có lý do nào khác ngoài chuyện phải lo cơm áo gạo tiền cho gia đình, mà trước là mẹ già, bà cô, năm em nhỏ, sau là vợ và con Tú Mỡ lập gia đình cũng vào năm 1918 Từ đó, tổ ấm ấy cứ sinh sôi lên đến “con đàn, cháu đống”, theo ông tổng kết con cháu có đến:
Con khôn lớn năm trai ba gái, Nội ngọai vừa hai bảy cháu ngoan
Đối với gia đình, Tú Mỡ là một trụ cột có trách nhiệm Ông luôn chăm
lo chu đáo cho tổ ấm thân thương ấy trong mọi hoàn cảnh sống Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Tú Mỡ ra sức lao động bằng nghề thư ký và bằng cả ngòi bút nghệ thuật để có thu nhập ổn định, cải thiện cuộc sống gia đình Năm 1936, nhờ nhuận bút xuất bản tuyển tập “Giòng nước ngược” Tú Mỡ mua
Trang 23đất cất nhà để gia đình được sống tiện nghi hơn Ngôi nhà ấy có vườn rộng đầy hoa bao quanh, nó ở cạnh đường Bờ Hồ- Cầu Giấy Năm 1946 khi toàn quốc đi vào kháng chiến, Tú Mỡ đưa gia đình tản cư lên Bắc Giang Thu xếp cho gia đình có chỗ ở ổn định, ông khóac ba lô lên vai đi vào kháng chiến Hòa bình lập lại năm 1954, cả gia đình trở về tu tạo ngôi nhà cũ bị chiến tranh tàn phá
Theo hồi ức của con cháu, không khí gia đình hồi ông bà Tú Mỡ còn sống luôn rộn rã, đông vui Ông bà, vợ chồng, con cháu sống bên nhau đầm ấm Có lúc hình ảnh của những người thân trong gia đình là nguồn cảm hứng cho mạch trữ tình của thơ Tú Mỡ Bà Tú thỉnh thoảng được ông đề cập đến trong vai trò của bà nội trợ đảm đang, hay để đối lập với các thứ quan bà: “Tủi cho bà Tú Mỡ”, hoặc nói đến bằng cách gọi bình dân, mộc mạc mà cũng rất đỗi hóm hỉnh như: mợ ký, mợ hàn, mẹ đĩ, Khi bà qua đời, ông “khóc vợ hiền” bằng 114 câu thơ nồng nàn nghĩa tình thuỷ chung Ở đó, dù chan chứa nỗi ngậm ngùi, tiếc thương, nhưng bất cứ ai cũng có thể bắt gặp được nét hóm trong cách bày tỏ nỗi lòng xúc động của Tú Mỡ và thấy rõ một tấm lòng sắc son về tình nghĩa vợ chồng Ở tuổi “thất thập”, Tú Mỡ hòa nhập vào thế giới thơ ngây của đàn cháu nhỏ Ông viết về chúng bằng tất cả tình thương yêu của người ông dành cho cháu Tập thơ “Ông và cháu” vừa là những nụ cười tíu tít, hồn nhiên của trẻ thơ, vừa là lời kêu gọi mọi người hãy quan tâm chu đáo đối với trẻ em Việt Nam, những chủ nhân tương lai của đất nước
Với mảng thơ viết về gia đình, Tú Mỡ đã tạo cho mạch trữ tình vốn có trong ngòi bút của ông trở lên phong phú, dồi dào Mỗi vần thơ ông viết đều là những tiếng nói yêu thương bật lên từ nhạc lòng cảm xúc sâu thẳm của một trái tim nghĩa tình giàu lòng yêu thương
Trang 24Sinh thời, Tú Mỡ có nguyện vọng được chuyên tâm họat động văn chương, nhưng vì gánh nặng nghĩa tình ông đã lựa chọn một nghề ổn định hơn cái nghiệp thi sĩ , đó là nghề thầy ký để có thể cải thiện cuộc sống gia đình Song, khát vọng được cầm bút sáng tác trong ông không hề vơi khuyết, nó luôn thôi thúc Tú Mỡ Sau khi nhận chân thư ký ở sở Tài chính Đông Dương (Finance), ông tranh thủ thời gian để học tập, sáng tác thơ văn bằng thái độ nghiêm túc, cần mẫn Ông tìm mua những sách công cụ như: Việt khảo Hán văn” của Phan Kế Bính để tham khảo, nghiên cứu các thể thơ văn của dân tộc Tú Mỡ còn mua thơ của Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đổ, Tản Đà, để học đặc tài ở mỗi tác giả Trong những thi sĩ bậc thầy này, Tú Mỡø tâm đắc và yêu thích biệt tài của nhà thơ Sông Vị Cũng xin nói thêm rằng, do có thi nhân mang tên Tú Xương mà nền văn chương Việt Nam hiện đại chứng kiến hiện tượng tương sinh một loạt bút danh họ Tú như: Tú Mỡ, Tú Nạc, Tú Sơn, Tú Poanh, trong những bút danh nhận họ với Tú Xương duy chỉ có Tú Mỡ còn chịu được sự thử thách của thời gian và sự sàng lọc của công chúng Với cái tên Tú Mỡ đã nói nên chủ ý của cây bút này muốn cười cợt, và muốn kế thừa khiêm tốn sự nghiệp của nhà thơ Tú Xương
Tú Mỡ không chỉ học đặc tài ở các thi nhân dân tộc, ông còn học ở kho tàng văn học dân gian, học qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ, tiếu lâm, và còn học ở thơ văn của các tác giả văn học Pháp như : Môlie, Vônte, Labuyre,
Việc “Học và hành” được Tú Mỡ xác định nghiêm túc : “Học phải có công
phu và hành phải có ý thức, có sáng tạo” Vì: “có sáng tạo ra mới có bản sắc rõ rệt” [35 – 404, 405] Xuất phát từ phương thức học đi đôi với hành, nên
ngòi bút trào phúng của Tú Mỡ chuyển biến khá nhanh Thơ ông cứng cáp về bút pháp thể hiện, có nhiều sắc duyên hơn so với những vần thơ sáng tác thuở còn là một cậu học sinh tinh nghịch Bằng giọng trần tình hóm hỉnh, ông cợt
Trang 25nhả cuộc sống buồn tẻ, vô vị của các thầy ký, thầy thông trong xã hội Việt Nam nửa thực dân phong kiến:
Làm nghề thầy ký với thầy thông Sống ở trên đời có bốn cái mong : Mong tháng chóng qua, tiền chóng lĩnh, Mong giờ mau hết, việc mau xong Miền đay mong được dăm mười chiếc, Lương bổng mong tăng sáu bảy đồng
Hãy tạm thời nay mong thế thôi, Còn bao nhiêu nữa xếp bên lòng
(Bốn cái mong của thầy phán)
Về sau, cuộc đời thầy ký đi vào thơ ông như một chất liệu để gây cười Tại Sở tài chính, Tú Mỡ cùng các đồng sự sính văn chương cho ra đời tập thơ chép tay: “Ngọn bút làng ta”, mà Tú Mỡ vừa đóng góp bài, vừa là thư ký ghi lại rất công phu Bài “Phú thầy phán” của Tú Mỡ ra đời trong thời gian này Cũng chính nơi đây, Tú Mỡ có cuộc hội ngộ với một đồng sự có vốn học rộng và tầm nhìn xa, đó là Nguyễn Trường Tam Đọc tập “Ngọn bút làng ta”, Nguyễn Trường Tam phát hiện ra bài “Phú thầy phán” có hơi thơ của Tú Xương Ông xin tác giả cho gửi đăng báo Bài phú được đăng trên Nam Phong tạp chí dưới dạng thơ khuyết danh Không ít người đọc cho nó là thơ của Tú Xương Vài năm sau sự lầm tưởng đó còn lặp lại trong quyển tuyển thơ tết của ông chủ hiệu sách Nam Ký Khi ấy, Tú Mỡ đã ngồi vững trên “Giòng nước ngược”, góc báo dành cho thơ trào phúng của tờ Phong Hóa Ông liền viết bài
“Xương hay Mỡ” đăng trên tờ Phong Hóa để cải chính
Trang 26Thấy thơ mình có thể tạo ra sự lầm tưởng khó ngờ như thế, Tú Mỡ có thêm niềm tin về khả năng sáng tác của mình Ông ra sức trau dồi ngòi bút vượt qua mục đích vui đùa, tiến tới làm thơ đăng báo
Năm 1925, độc giả thấy nụ cười của Tú Mỡ xuất hiện trong các số báo của tạp chí Việt Nam Thanh Niên, và Tứ Dân Trên tờ “Tứ Dân”, Tú Mỡ đã khai sinh ra “Lý Toét”, một hình tượng văn học điển hình có giá trị phê phán hiện thực sâu sắc Tú Mỡ cộng tác với tạp chí Tứ Dân chẳng bao lâu thì báo này cũng bị định bản như Việt Nam Thanh Niên Duyên nợ giữa Tú Mỡ với nàng thơ gặp trắc trở, nàng:
Cong cớn, nguýt dài, đi mất hút, Mặc anh ký cóp ngẩn ngơ hoài
(Nàng thơ của tôi – GNN.III ) Mãi đến năm 1932, nụ cười của Tú Mỡ đăng đàn văn học trở lại Tú Mỡ – Hồ Trọng Hiếu vốn kết giao với Nhất Linh – chủ tướng của Tự Lực Văn Đoàn lúc còn làm thư ký ở sở tài chính Đông Dương, là Nguyễn Tường Tam đã biết Trọng Hiếu là cây bút có biệt tài về trào phúng, nên khi lập báo tiếng Cười, rồi Tự lực Văn Đoàn, Nhất Linh đã nhận Tú Mỡ làm thành viên sáng lập Và giao cho ông giữ nhiệm vụ phụ trách “Giòng nước ngược” Chính con mắt tinh đời của Nhất Linh là nhân tố quyết định đưa Tú Mỡ đến vớùi thơ trào phúng để ông có thể ngồi vào hàng ghế vinh dự của tao đàn văn học Việt Nam hiện đại mà không bẻn lẽn với các cây bút tài năng đã tề tựu từ trước đó
Tháng 7 - 1932, tờ Phong Hóa do Tự Lực Văn Đoàn tiếp quản xuất bản số báo đầu tiên Dưới mục “Giòng nước ngược”, bút danh Tú Mỡ được ông ký lần đầu tiên ra mắt độc giả Từ đó trở đi, tiếng cười của Tú Mỡ xuất hiện
Trang 27thường xuyên trên các số báo của tờ Phong Hóa, sau nữa là tờ Ngày Nay (ra đời năm 1936) thu hút được sự chú ý của người đọc
Được tập hợp trong hai tập “Giòng nước ngược”, thơ Tú Mỡ sáng tác trước năm 1945 là những bức chân dung sinh động về bọn quan lại, nghị viên
ở nước ta thời thuộc Pháp Chúng là những “quan lớn”, “quan bé”, “quan nghị” trong viện dân biểu bù nhìn do Pháp lập ra được ngòi bút trào phúng sắc nhọn của Tú Mỡ vẽ rất sống động:
Áo sa, khăn nhiễu, giầy ban,
Kính trắng, gọng vàng, tay cắp cập da
Ấy là ông nghị vùng ta Súng sa súng sính đi ra hội đồng
(Nhắn nhủ ông nghị – GNN.I) Nhưng khi vào họp hội đồng, ông nghị lại bộc lộ bộ dạng: con rối khá hài hước:
Gật gù, nghe đọc diễn văn
Vì dân giáng sức mấy lần vỗ tay
Trăm công, nghìn việc,nặng thay !
Vì dân nên phải đêm ngày miên man (…) Vì dân phải xuống Khâm Thiên giải sầu (…) Vì dân khai trí mấy chầu tổ tôm
(Ông nghị đi hội đồng về - GNN.I) Lời lẽ thì đầy tinh thần trách nhiệm, nhưng các quan nói một đường, lại làm một nẻo, chỉ sống vì sự vinh thân, còn dân thì “sống chết mặc bay”
Trang 28Hai tập thơ “Giòng nước ngược” không chỉ có những bức chân dung sinh động về các ông nghị trong bộ máy cai trị của chính quyền thực dân, mà còn là những chuyện đời bi hài trong xã hội Việt Nam ở cuối dòng phong kiến suy tàn, đang từng bước trượt dài trên con đường phản động
Có thể nói những năm Tú Mỡ thả thơ trên chuyên mục “Giòng nước ngược” là thời kỳ phát lộ rõ nét tài thơ trào phúng của Tú Mỡ, người có chí hướng kế tục dòng cười của văn học dân tộc từ thượng nguồn văn học dân gian qua các phong cách thơ lớn như: Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Tuy chưa hề đeo theo nghiệp khoa cử để đỗ tú tài và thân hình xem ra cũng chẳng có mỡ là mấy, thế nhưng cái tên Tú Mỡ vẫn cứ là một hình dung quen thuộc đối với thế hệ độc gỉa “hôm qua và hôm nay”
Tiếng cười của Tú Mỡ chẳng những chiếm được cảm tình của người đọc mà còn trở thành đối tượng săn đuổi của chính quyền thực dân Năm 1939, tên
Cazô (Cazaux) giám đốc Sở Tài Chính Đông Dương buộc Tú Mỡ “phải làm tờ
cam đoan từ nay không được cộng tác với một tờ báo nào nữa” Vì nặng gánh
gia đình, Tú Mỡ đành viết cam đoan Tuy nhiên, Tú Mỡ vẫn bí mật sáng tác tại gia
Sau tháng 3-1945, Nhật hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, độc giả thấy Tú Mỡ đăng đàn văn học trở lại Trên số báo Ngày Nay, Tú Mỡ đả kích mạnh mẽ vào bọn thực dân và bọn việt gian bán nước (Văn tế bảo hộ, Tây khoe, Vịnh tượng bôn be, Tiễn chân anh lỗ về tây, Hịch cảnh cáo bọn Việt gian, Tẩy trừ vết tích nô lệ, ), nhưng ông chưa dám chĩa ngòi bút vào bọn Phát Xít Nhật Cũng vào thời gian này, tình hình chính trị trong và ngoài nước có nhiều biến động Chiến tranh thế giới nổ ra tác động đến làn sóng đấu tranh chính trị của quần chúng, và cách mạng Những người lãnh đạo của Tự Lực Văn Đoàn như:
Trang 29Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo lao vào con đường chính trị Tự Lực Văn Đoàn tan rã từ đó
Sau tháng 8-1945, Tú Mỡ tham gia chính quyền cách mạng Ông làm việc trong Bộ tài chính Nhiều lần Nguyễn Tường Tam khuyên Tú Mỡ viết mục trào phúng cho báo Thiết Thực Tú Mỡ biết đó là tờ báo chống phá chính quyền Việt Minh nên ông đã khéo từ chối Ở giai đoạn này, Tú Mỡ bắt đầu nhạy bén với lý tưởng chính trị, nhận được hướng đi có ý nghĩa cho cuộc đời Năm 1946, khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, Tú Mỡ đưa gia đình tản cư lên Bố Hạ – Bắc Giang, còn ông thì lên chiến khu Việt Bắc cùng Bộ tài chính Cuộc đời cách mạng của ông mở ra từ đấy, không quản gian lao, coi thường khó nhọc, Tú Mỡ hòa mình vào đời sống kháng chiến, đi nhiều nơi trên chiến trường, lúc thì ở Bố Hạ, Nhã Nam, lúc qua Bình Phú,Yên Thế, khi thì về Phù Lưu, Hữu Mục, để phục vụ kịp thời theo yêu cầu công tác
Đến tháng 7-1947, ông xin nghỉ công việc viên chức, chuyển qua công tác ở sở Thông tin tuyên truyền khu XII, rồi khu I, vào cộng tác cho báo cứu
quốc và cả báo Trung ương, để làm thơ trào phúng đánh địch “ Tú Mỡ nhận
nhiệm vụ ấy, hàng tuần một, hàng giờ một dội cho quân thù những đòn nên thân Lúc đầu thơ anh giản dị khiêm tốn đăng trong một bản tin in đất, in đá của Sở thông tin khu I cũ với bí danh bút chiến đấu (Nhân viên sở thông tin khu
I vẫn gọi Tú Mỡ là Bác Đấu) Nhà thơ cố gắng phục vụ và chẳng bao lâu, thơ bút chiến đấu đã ra khỏi bản tin khu I, vào báo cứu quốc khu I, lan ra liên khu Việt Bắc, vào báo cứu quốc trung ương, có tiếng tăm trong toàn quốc” [15 –
496 ]
Trải qua bao cách trở, Tú Mỡ mới thật sự chuyên tâm với công việc sáng tác thơ ca, thực hiện được tâm nguyện mà ông thường mong ước trước đó:
Trang 30Thời dù no đói gươm kề cổ Cũng cứ vươn theo đến bạc đầu
(Lạc nàng thơ – GNN II) Tham gia vào trận tuyến văn nghệ của Đảng, Tú Mỡ được tri ngộ rồi lại tao ngộ với nhiều văn nghệ sĩ đã giác ngộ cách mạng như: Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Đặc biệt, cuộc gặp trong ngả về dân tộc không hẹn mà nên giữa: Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu càng làm cho hành trình đến với ý Đảng, lòng dân, của cả ba vì tinh tú trong tao đàn cũ có thêm niềm vui thú vị về tình bạn tri kỷ, tình đồng chí cao cả Khoác ba lô lên vai đi vào kháng chiến, Tú Mỡ mang theo niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng, về kháng chiến tất thắng Ông cất cao giọng thơ tuyên thệ vệ quốc, phảng phất giai điệu hào hùng của nhạc khúc quân hành:
Kháng chiến bùng lên Biệt thủ đô Lên đường dẻo bước khoác ba lô Mang theo ý chí người dân Việt
Thà chết không làm vong quốc nô Và khi sáng tác thơ văn, Tú Mỡ cảm nhận được thế phóng bút hiên ngang, tự
do mà cách mạng đã giải phóng cho ông:
Ngọn bút từ nay hết buộc ràng Tung hoành đã đến lúc hiên ngang Phóng tên trào lộng công đồn địch Khoái hoạt tâm can ngón sở trường (Tự thuật của Tú Mỡ)
Trang 31Trên mặt trận văn nghệ của Đảng, Tú Mỡ hóa thân thành Bút chiến đấu Ông xông xáo đi tiên phong trong phong trào sáng tác thơ văn cổ vũ nhân dân đấu tranh giành độc lập Ngòi bút cứng nhọn, chắc khỏe của Tú Mỡ viết rất mau lẹ, dẻo dai trong đề tài đánh địch, nhiều bài thơ do Tú Mỡ viết ra được nhân dân, chiến sĩ đón nhận bằng tình cảm yêu thích sâu sắc như: Nồi cá làm vạ cho giặc, Con trâu kháng chiến, Kế hoạch Na-Va “thượng thò hạ thục”, Câu chuyện tướng thua tướng đi ỉa, Tam khí Đờ-Tát-Xi-Nhi, Không chỉ sắc sảo trong những bài thơ đánh địch, Tú Mỡ còn hào hứng trong những bài thơ ngợi ca những gương “Anh hùng vô tận”, “tinh thần kháng chiến” của nhân dân ta Ông viết về những bài thơ này như những bài chính khí ca mới Trên báo cứu quốc ở mục “Anh hùng vô tận”, Tú Mỡ cảm khái về những tấm gương anh dũng của nhân dân :
Làng Lôi châu huyện Lang Tài Lão đồng chí Tựu tuổi ngoài sáu mươi
(…)Ôi! Cụ Tựu lính già anh dũng, Một tấm gương sáng lộng quân dân
Nghìn thu còn mãi tinh thần
Kém chi phụ lão đời Trần khi xưa
(Lão đồng chí Tựu) Hay:
Gương Minh Nguyệt cao ngời sáng quắc, Như vừng trăng vằng vặc đêm thanh
Nghìn năm Trưng Triệu uy linh, Ngày nay con cháu tinh anh vẫn còn
Trang 32(Nữ cán bộ Ngô Minh Nguyệt) Tú Mỡ đã vận dụng được lối vè của văn học dân gian trong lối kể chuyện làm cho thơ ông tăng tính mộc mạc, dễ đọc, dễ nhớ Nếu nói đến những đóng góp tích cực của văn nghệ đối với cuộc kháng chiến giành độc lập, nhất là mặt giáo dục tư tưởng yêu nước và ngợi ca tinh thần đấu tranh kiên cường của nhân dân, thì sự nghiệp sáng tác của Tú Mỡ được coi là tấm gương tiêu biểu, xứng đáng đứng ở vị trí hàng đầu Hòa nhập vào cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc, Tú Mỡ thật sự trở thành nhà thơ bình dân, ở trong lòng nhân dân
Bút chiến đấu-Tú Mỡ không nề hà công tác diễn ca những chủ trương chính sách của nhà nước Ông vẫn cần mẫn viết bằng tinh thần trách nhiệm cao, với hy vọng có thể vận động nhân dân đóng góp sức người sức của vào cuộc kháng chiến trường kỳ Nhiều bài diễn ca của ông như: Cần kiệm liêm chính diễn ca, Địch vận diễn ca, Thuế nông nghiệp diễn ca, Cách mạng tháng tám diễn ca, đã tác động sâu rộng trong lòng quần chúng
Ngoài sáng tác thơ, Tú Mỡ còn viết chèo và diễn chèo rất thành công Không ít vở chèo (Nhà sư giết giặc, Giết giặc trừ gian, Tổ ba nhà, Ba cái sống,
ba cái chết, Lưu Bình Dương Lễ tân thời, Tổng động viên, ) được ông sáng tác dàn dựng công phu Khi công diễn thu hút được sự quan tâm của quần chúng Cũng chính vì muốn đi thâm nhập thực tế, năm 1949 Tú Mỡ theo đoàn chèo Quyết Thắng đi lưu diễn để hiểu thêm thực tế Chẳng may , ông bị lọt vào vòng vây của giặc Pháp Sau hai tháng 17 ngày bị Pháp bắt giam, Tú Mỡ đã tìm cách vượt khỏi sự giam giữ của giặc để trở về với kháng chiến, tiếp tục sự nghiệp bút chiến đấu
Trang 33Bằng nhiệt tình yêu nước và lòng đam mê nghệ thuật, Tú Mỡ đã đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc nhiều sáng tác có nội dung tư tưởng yêu nước sâu sắc Với hai tập thơ “Nụ cười kháng chiến”, “Anh hùng vô tận”, và hơn chục vở chèo, vè, đã mang lại nhiều danh hiệu cao quý cho Tú Mỡ Ông được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất (năm 1955), hạng nhì (năm 1951) Phần thưởng vinh dự còn là danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc lần đầu tiên tổ chức vào năm 1952 Đặc biệt Tú Mỡ đã hai lần hạnh ngộ với Hồ Chủ Tịch, người đã đáp lại lời chào của Tú Mỡ bằng câu nói thân mật: “Tú Mỡ, nhà thơ bình dân” Trong lớp chỉnh huấn tư tưởng Đảng năm
1953, Tú Mỡ được Người động viên nhẹ nhàng mà thật sâu sắc:”Tú Mỡ này! Có chèo thì chèo cho vững nhé!” Chính lời nhắc nhở ân cần của vị lãnh tụ và sự quan tâm sâu sắc của nhà nước là nguồn động viên lớn giúp Tú Mỡ chắc tay bút trên trận tuyến văn nghệ phục vụ kháng chiến
Năm 1954, hòa bình lập lại, Tú Mỡ vẫn dẻo dai, sắc sảo trong những vần trào phúng đánh Mĩ – Diệm Năm đời tổng thống Mỹ, ba đời cụ kỵ của Ngô Đình Diệm bị Tú Mỡ đả kích không thương tiếc Không ít bài thơ Tú Mỡ viết trong “Nụ cười chính nghĩa” và “Đòn bút” như: Ngô Đình Diệm khóc Mắc Xay Xay, Phú gian Xơn Xit Ty, “Bố mìn” Ngô Đình Diệm, Xịtpenman đến miền nam, Taylơ cùng với “quay lơ” một vần, Đuổi quỷ Mỹ, Độc lập chi bay rách váy bà, đã trở thành bia miệng để lưu tội danh kẻ thù Suốt
những năm kháng Pháp, chống Mỹ, thơ Tú Mỡ “phục vụ rất đúng đường và kịp
thời” Bên cạnh những vần thơ trào phúng, Tú Mỡ còn viết những vần thơ trữ
tình mang đậm tính sử thi qua từng thời kỳ sử Trong sáng tác của Tú Mỡ còn có những trang hồi ký chân chất, mộc mạc và những bài tiểu luận viết bằng văn phong giản dị, giàu sắc thái, mà cũng sâu sắc đã làm nên một khía cạnh khảo luận văn chương trong sự nghiệp sáng tác của Tú Mỡ
Trang 34Ngoài hoạt động sáng tác văn chương, Tú Mỡ còn tham gia công tác lãnh đạo trong hội liên hiệp văn học Việt Nam Ông từng là đại biểu Quốc hội khóa II và khóa III Rời nhiệm vụ, Tú Mỡ về hưu ở tuổi 62 Từ năm 62 đến năm Tú Mỡ về nơi cực lạc với Bà Tú: 13-7-1976, ông vẫn giữ được nét hóm của một “tín đồ” trung thành với chủ nghĩa lạc quan Nghỉ hưu đối với không ít người là những bước ngoặt biến động về tâm lý, nhưng với Tú Mỡ, chất lạc quan vẫn nhịp nhàng tuôn chảy:
Cái cảnh về hưu sướng sướng rơn Làm thơ mệt óc lại làm vườn Ngắm đàn cháu bé đùa như Ngụy Tiếp bạn làm thơ chuyện “chúa ơn”
Phong thái hóm này là chất men xúc tác giúp tuổi già của Tú Mỡ luôn viết được những vần thơ vui về con cháu và bè bạn Ngôi nhà ở Láng của ông được nhóm thơ trào phúng chọn làm nơi hội họp, trao đổi quan điểm sáng tác Khi đó, Tú Mỡ vẫn là “bà chị của nhóm” Ông vẫn giữ được vai trò đầu tàu trong phong trào sáng tác thơ trào phúng sau nửa thế kỉ XX
Qua hai chặng đường sáng tác văn học trước và sau năm 1945, Tú Mỡ có nhữøng đóng góp to lớn cho phong trào phát triển thơ trào phúng Việt Nam hiện đại về mặt nội dung và cả mặt nghệ thuật Ông xứng đáng là cây bút kế tục xuất sắc dòng cười của nền văn học dân tộc, kể từ Hồ Xuân Hương, Nguyễn khuyến đến Tú Xương.Và, phát triển nó lên đỉnh cao mới mang trong nội dung và hình thức nghệ thuật đặc sắc
1.2 Nội dung trào phúng trong thơ Tú Mỡ
Sinh vào đầu thế kỷ XX , Tú Mỡ trưởng thành trong hoàn cảnh xã hội mà mâu thuẫn giữa dân tộc và thực dân Pháp ngày càng trở nên gay gắt Bộ
Trang 35mặt mị dân của bọn thực dân xâm lược cũng bộc lộ rõ nét theo chiều hướng mâu thuẫn đó Chúng hô hào “bảo hộ”, “ khai hoá” văn minh, nhưng thực chất là: “khai” mòn sản vật, “hoá” tận dân tình ( GNN – Ngoại tập ), làm kiệt quệ kinh tế tài nguyên các nước thuộc địa
Sau những đoàn bình định đẫm máu, bộ máy cai trị tay sai của Pháp nhanh chóng được thiết lập, và tỏ ra hoạt động rất hiệu quả Chúng tăng tốc bóc lột khắp nông thôn, thành thị Việt Nam Trong khi cuộc sống ở nông thôn
bị cướp đoạt đến tiêu điều thì ở thành thị chúng phát động phong trào “vui vẻ trẻ trung” để cám dỗ đại bộ phận tầng lớp tư sản và thanh niên đắm chìm trong con đường ăn chơi trụy lạc như : cờ bạc, rượu chè, đào đĩ, Những cảnh tượng trái tai gai mắt đó đã làm cho các cây bút hiện thực có tư tưởng cấp tiến như Tú Mỡ khó có thể chấp nhận Tú Mỡ đã bày tỏ thái độ phủ nhận nó bằng những tiếng cười giàu sắc thái trào phúng qua hàng loạt các thi phẩm của ông như: Hà Nội ăn chơi, Văn chầu quan tướng đổ bát, Văn chầu thuốc phiện, Hội nghị cô đầu, Cô bán cười, Lỡm cô Ngọc Hồ,
Cùng với các sáng tác “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng , “Thơ ngang” của
Đồ phồn, “Xã hội ba đào ký” của Nguyễn Công Hoan, … Giòng nước ngược
của Tú Mỡ đã góp phần tô đậm chân dung cuộc sống đen tối của xã hội Việt Nam thời kỳ trước cách mạng tháng Tám Xã hội thời Tú Mỡ cầm bút đã tiến sâu vào con đường Âu hoá, nó kéo theo bao biến đổi lớn về giá trị đạo đức và lối sống Nếu ở thời Nguyễn Khuyến, Tú Xương làn sóng mưa Âu gió Mĩ vừa chóm dậy thì đến thời Tú Mỡ nó đã hoành hành bạo liệt trong xã hội Việt Nam Chính cơ sở hiện thực này là nguồn đề tài phong phú cho tiếng cười của thơ Tú Mỡ, và nhiều cây bút hiện thực cùng thời Nhà thơ Vũ Quần Phương
khi nghiên cứu Tú Mỡ đã cho rằng:“ ., hôm nay đọc Giòng nước ngược như
Trang 36bước vào một viện bảo tàng có đủ các chân dung sinh động của nhân, của vật, và của thời cuộc” Và “Tính chất hiện thực là một cống hiến đặc sắc của Tú Mỡ trong nền thơ công khai hồi ấy.Thiếu ông, phong trào thơ thời ấy chỉ cho ta thấy được những tâm trạng (qua thơ lãng mạn) chứ không nói được những cảnh đời” [ 33 _ 77 ] Quả vậy, hai tập thơ Giòng nước ngược của Tú Mỡ có nhiều
cảnh đời hiện thực, tươi rói, sống động Từ cái thế giới ô trọc của bọn háo danh, háo sắc ở thành thị đến những chuyện đời nhiêu khê ở nông thôn Từ các ông nghị trong hội đồng dân biểu do bọn thực dân Pháp lập ra đến các “cô bán cười” ở nhà chứa Từ những cảnh nghèo đói của lớp cùng đinh, khố rách đến cảnh ăn chơi trát tán của bọn Âu hoá lố lăng; rồi những cảnh sinh hoạt lén lút, thậm thục của bọn tăng ni tu mu, tu hú,… Tất cả đều hiện lên dưới ngòi bút của Tú Mỡ rất kệch cỡm, lố bịch, và hài hước Có thể nói nội dung hai tập
Giòng nước ngược của Tú Mỡ tập trung phản ánh những vấn đề sau:
- Phê phán bọn thực dân, quan lại, nghị viên
- Những lối sống, kiểu người hổ lốn, lố lăng, kệch cỡm, Âu hoá nửa mùa
- Những hủ tục xấu xa, dị đoan quái gở
- Tự cười mình, hạng người như mình
* Đối với bọn thực dân Tú Mỡ (vạch trần bộ mặt mị dân, giả nhân giả nghĩa, miệng nói một đàng, tay làm một nẻo, hống hách, hô to miệng “Khai hoá” với “bảo hộ” mà thực chất là vơ vét, bóc lột, đầu độc; kiểm duyệt khắt khe mà hô hào dân chủ với tự do Nói bác ái nhưng lại yêu súc vật hơn con người
Đây là chân dung tên công sứ Ecker, đại diện cho những ông quan mẫu quốc:
Trang 37Đầu tỉnh nọ có ông hống hách Sinh cái rườm kiểu cách làm oai
Tuy làm quan ở thế kỷ hai mươi, Ông vẫn tưởng sống về đờ phong kiến Ông ấy hách , hách hơn quan thủ hiến , Khiến cả tỉnh đều khét tiếng gồm oai
(…) Kiêu căng có ích ích không?
(Bông xua quan lớn – GNN.II) Quan lớn đi ô tô sang trọng nhưng vẫn bắt mấy thằng bản địa “dở người dở ngợm” chạy theo che lộng Đúng là nỗi khổ này không của riêng ai Nỗi khổ nửa Aù nửa Âu chỉ có các nhà khai hoá Pháp mới nghĩ ra:
Ngày xưa đi lọng là sang Đời nay đi lọng nghênh ngang rõ rườm ! Đám ma rước phật rong đường Nhà chùa đi lọng nõn nường sư mô!
Có khi đón các ông to, Các ngài ấy ngự ô tô tân thời, Bốn thằng nửa ngợm nửa người, Chạy theo vác lọng che ngoài mui xe
Con trâu đi chọi trở về, Linh đình cũng có lọng che rợp trời!
Cưới xin, đệ nhất buồi cười, Lợn quay đi lọng, cha đời lố lăng,
Trang 38Tây Tàu thời buổi lăng nhăng, Lọng không đi nửa, chi bằng bo.û (Đi lọng – GNN.II) Người đại diện cho tự do ngôn luận thì:
Tay cầm bút chì xanh xù xụ, những lâm le gạt dọc xoá
ngang Mắt đeo đôi kính trắng tò mò, chỉ xoi mói bới lông tìm
vết Lời thẳng thắn bà chơi khăm vặn ý thành queo, Sự thật trần truồng bà che đậy cấm ai nhòm biết Thơ tìm được vận còn thấp tha thấp thỏm, Bà bẻ hành bẻ tỏi, khách làng văn lắm bận phờ râu
Bốc xếp lên khuôn, vẫn nơm nớp gườm gườm Bà xén thủ xén đuôi, ông chủ báo nhiều phen lộn
(Tống tiễn bà Kiểm – GNN.II) Tú Mỡ dành cho đàn em, bọn ăn theo thực dân những đòn “chí mạng” bằng cách lột trần bản chất “giá áo túi cơm” của các quan lớn, quan bé, quan nghị, nghị viên An Nam, các ngài trung thành với quốc thể, các ngài vì dân vì nước đến muốn moi cả gan ruột để trên bàn mà thực chất là mưu cầu danh lợi cho bản thân:
Nghị mhà báo: Tôi đây chỉ hết sức thỉnh cầu,
Cho báo tân văn được sống lâu giàu bền
Nghị thầu phán: Tôi một phu công nhật những một hào,
Kiếm việc cho đồng bào đủ bát cơm ăn
Trang 39Nghị chủ thuyền: Cũng như tôi xin giảm thuế thuyền chài
Há phải vì tôi có dăm mươi chiếc thuyền Tôi xin thề,trên có hoàng thiên,
Tôi chỉ vì dân thuỷ thủ kiếm ăn miền biển,sông Việc nhỏ nhen nào dám tân công,
Nhưng phải nói ra cho hả tấm lòng … dân vì dân Công lênh của các vị với dân như thế nên chỉ đáng ghi vào “bia miệng để lưu danh muôn đời”
* Xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến với những kiểu sống hổ lốn, lố lăng, kệch cởm, Âu hoá nửa mùa làm nhà thơ khó chịu Ông cảm thấy chướng tai gai mắt, bọn này chỉ có thể “chửi thẳng” vào mũi, để mua cái danh hão, có kẻ đã phát mại cả gia tài đồ sộ để cuối cùng:
“ Bây giờ cơ nghiệp đi đời Thẻ ngà, giấy sắc đem mài mà ăn”
(Hư danh – GNN.I) Kẻ thì học đòi không phải cách Trẻ ranh lại muốn tỏ ra già để ngao ngán cho thế sự nhân tình:
Trước mắt long lanh đôi kính trắng, Dười cằm lún phún sợi râu xanh
(…) Động hé môi ra là… thở hắt,
Than cho thế thái với nhân tình
( Ông trẻ già _ GNN.II )
“Và ông già” lại muốn “chơi bời”, muốn quay ngược thời gian, muốn tuyên chiến với tạo hoá để hưởng thụ cho nhiều:
Trang 40Đầu tóc nhuộm đen hòng trẻ lại Râu ria cạo trụi rõ … trai lơ (…) Thấy gái y như mèo thấy mỡ
Năm thê bảy thiếp vẫn không vừa (Và ông già trẻ – GNN.II ) Thì rõ là “Trời làm một trận lăng nhăng/ Ông hoá ra thằng, thằng hoá
ra ông”
Trước những trò đời lố lăng, nghịch đời đo, Tú Mỡ có lời chúc tết thật “ tội nghiệp” cho những kẻ tham sống: