Để hiểu khái niệm này, ta có thể tham khảo một số định nghĩa như sau: Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học được định nghĩa là: “Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
-
PHẠM THỊ HOA
TRUYỆN KIỀU Ở VIỆT NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1945 – NHÌN TỪ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
-
PHẠM THỊ HOA
TRUYỆN KIỀU Ở VIỆT NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1945 – NHÌN TỪ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn tốt nghiệp Cao học này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học thuận lợi
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban chủ nhiệm cùng quý Thầy cô Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm truyền đạt kiến thức, kỹ năng nghiên cứu cho tôi trong suốt những năm tháng Cao học
Đặc biệt, tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Giang - Người Thầy
đã tận tụy truyền đạt kiến thức, tận tâm hướng dẫn, trực tiếp dìu dắt, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn với đề tài: “Truyện Kiều ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 –
nhìn từ lý thuyết tiếp nhận”
Cuối cùng, tôi vô cùng cảm ơn gia đình và các bạn học viên Cao học Việt Nam khóa 2012 -2014 đã không ngừng động viên cả về mặt tinh thần lẫn vật chất khi tôi gặp khó khăn nhất trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Cao học
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Học viên
Phạm Thị Hoa
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hoa
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU - 1
1 Lý do chọn đề tài - 1
2 Lịch sử nghiên cứu - 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 5
4 Phương pháp nghiên cứu - 5
5 Đóng góp của luận văn - 6
6 Kết cấu của luận văn - 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX - 7
1.1 Giới thuyết về lý thuyết tiếp nhận - 7
1.1.1 Khái niệm tiếp nhận văn học - 7
1.1.2 Ý nghĩa, vai trò của tiếp nhận đối với hoạt động sáng tạo và thưởng thức văn học - 10
1.1.3 Tính tích cực, sáng tạo của chủ thể tiếp nhận văn học - 12
1.2 Bối cảnh xã hội những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945 và việc tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX - 18
1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945 - 18
1.2.2 Tình hình xuất bản, phê bình Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XX -
- 20
CHƯƠNG 2: TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC - 28
2.1 Nghiên cứu về Nguyễn Du và văn bản Truyện Kiều - 28
2.1.1 Nghiên cứu về Nguyễn Du - 28
2.1.2 Văn bản Truyện Kiều - 31
2.2 Phê bình Truyện Kiều về phương diện tư tưởng: Phật giáo, Nho giáo (Phê bình cổ điển) - 33
2.2.1 Phê bình Truyện Kiều từ tư tưởng Phật giáo - 33
2.2.2 Phê bình Truyện Kiều từ tư tưởng Nho giáo - 38
Trang 62.3.1 Một vài quan niệm về Phê bình Tu từ ở Việt Nam - 41
2.3.2 Tiếp nhận Truyện Kiều theo những quan niệm phê bình cổ điển nửa đầu thế kỉ XX - 43
2.4 Đề cao Truyện Kiều như một phương diện của quốc ngữ, quốc học, quốc hồn (nhóm Nam phong tạp chí) - 50
2.5 Phê bình Truyện Kiều của các nhà Tây học (Phê bình Giáo khoa) -
- 55
2.5.1 Lý thuyết về Phê bình Giáo khoa và Phê bình Giáo khoa ở Việt Nam -
- 55
2.5.2 Tiếp nhận Truyện Kiều theo khuynh hướng phê bình Giáo khoa nửa đầu thế kỉ XX - 57
2.6 Phê bình Truyện Kiều từ góc nhìn phân tâm học - 61
Tiểu kết - 65
CHƯƠNG 3: TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU NHÌN TỪ CÁC CUỘC TRANH LUẬN VĂN HỌC - 66
3.1 Cuộc tranh luận “Chánh học và tà thuyết” - 66
3.1.1 Từ bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh - 67
3.1.2 Đến cuộc tranh luận với phe Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng -
- 69
3.1.3 Và góc nhìn của người đời sau - 76
3.2 Cuộc tranh luận “Kiều nên khen hay nên chê” (Báo Phụ nữ Tân văn) -
- 78
3.2.1 Vài nét sơ lược về báo Phụ nữ Tân văn - 78
3.2.2 Nội dung cuộc tranh luận về Truyện Kiều trên Phụ nữ Tân văn -
- 80
3.3 Cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh”
- 85
3.3.1 Tiếp nhận Truyện Kiều dưới góc nhìn “Nghệ thuật vị nghệ thuật” -
- 86
Trang 7- 89
Tiểu kết - 92
CHƯƠNG 4:TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU CỦA GIỚI VĂN NGHỆ SĨ - 93
4.1 Truyện Kiều qua thơ ca - 93
4.1.1 Sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Truyện Kiều đối với đời sống tinh thần của giới văn sĩ - 93
4.1.2 Những vần thơ thấm đẫm phong vị Truyện Kiều - 94
4.2 Truyện Kiều qua nghệ thuật sân khấu - 100
4.2.1 Chèo Kiều - 100
4.2.2 Cải lương Kiều - 105
4.3 Truyện Kiều qua nghệ thuật điện ảnh - 109
4.3.1 hất điện ảnh trong văn học - 110
4.3.2 ối quan hệ giữa văn học và điện ảnh - 112
4.3.3 T c ph m điện ảnh Kim Vân Kiều - 115
4.4 Truyện Kiều qua nghệ thuật nhạc, họa - 117
4.4.1 hất nhạc, họa trong văn học - 117
4.4.2 ối quan hệ giữa văn, nhạc, họa - 119
4.4.3 Truyện Kiều qua nhạc, họa - 120
Tiểu kết - 127
KẾT LUẬN - 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 130
PHỤ LỤC - 137
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Du với “con mắt nhìn xuyên sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời”
(Mộng Liên Đường chủ nhân) đã tạo ra một Truyện Kiều bất hủ Truyện Kiều từ
một cốt truyện vay mượn đã trở thành một tác phẩm vô giá của nền văn học dân tộc
và nhân loại Truyện Kiều không chỉ kết tinh vẻ đẹp của thời đại Nguyễn Du mà còn
kết tinh cho vẻ đẹp của hồn thơ dân tộc Mỗi thời đại đến với nó đều rút ra những bài học nhân sinh bổ ích, tạo nên sự cộng hưởng thẩm mỹ nối liền quá khứ với hiện tại Đó cũng là lý do khiến cho mỗi người Việt Nam đều thuộc dăm bảy câu Kiều
Truyện Kiều đã trở thành tác phẩm văn học được phổ biến nhất, truyền tụng nhiều
nhất trong tiến trình tiếp nhận văn học dân tộc
Nhìn lại quá trình phát triển của nền lý luận phê bình văn học Việt Nam, ta có thể nhận thấy trong những năm gần đây giới nghiên cứu lý luận phê bình đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm hiểu và giới thiệu những lý thuyết văn học từ nước ngoài, đặc biệt là phương Tây vào nước ta Từ đó tiêu chuẩn đánh giá một tác phẩm văn học không còn bị bó hẹp như trước mà đã mở rộng, cho phép nhà văn cũng như người đọc tự tìm lấy cho mình những giới hạn phản ánh sâu rộng, đa dạng và phức tạp hơn Sự thay đổi này không chỉ xuất hiện trong quá trình sáng tác mà còn ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn học Tiếp nhận văn học có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của văn học nói chung và số phận của từng tác phẩm nói riêng
Có thể làm nên sức sống của một tác phẩm văn học, ngoài tài năng của tác giả, còn phụ thuộc rất nhiều vào độc giả Song, sự tiếp nhận văn học không chỉ một lần là xong và cũng không ổn định Giá trị của một tác phẩm văn học thay đổi với mỗi chủ thể, mỗi thời kì lịch sử, mỗi thời gian tiếp nhận, mỗi không gian tiếp nhận và mỗi vùng miền khác nhau
Từ khi Truyện Kiều ra đời đã có rất nhiều ý kiến xung quanh tác phẩm này đến
từ các độc giả cả trong và ngoài nước Thậm chí đôi khi những ý kiến này mâu
thuẫn, đối lập với nhau Việc tìm hiểu Truyện Kiều ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX
Trang 9tới năm 1945 giúp chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện của Truyện Kiều trong đời
sống tinh thần của dân tộc Đồng thời cũng là tấm lòng chân thành tưởng nhớ tới Nguyễn Du - một thi hào lớn của dân tộc Việt Nam chúng ta, đặc biệt trong không khí của lễ kỉ niệm 250 năm sinh đại thi hào dân tộc
Luận văn tìm hiểu Truyện Kiều ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
– nhìn dưới lý thuyết tiếp nhận, có thể giúp hiểu thêm về môi trường văn học, đặc
thù của việc tiếp nhận văn học từ thời trung đại cho tới khi khoa học về lý luận văn học phương Tây được truyền bá vào Việt Nam Bên cạnh đó, cũng có thể củng cố được tri thức của chính người viết về lý luận tiếp nhận văn học Đây cũng là một lý
do nữa thúc đẩy chúng tôi thực hiện đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, đã
có nhiều bài báo, bài phê bình, nghiên cứu cụ thể sau đây:
Nguyễn Lộc trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ
XX, trong phần viết về Truyện Kiều, tập đại thành của văn học cổ Việt Nam,
Nguyễn Lộc đã chia thành 7 vấn đề nghiên cứu đó là: Lai lịch Truyện Kiều; Truyện
Kiều và Kim Vân Kiều truyện; bản kinh và bản phường; cảm hứng chủ đạo của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều; nội dung xã hội của Truyện Kiều; Những mâu thuẫn trong thế giới quan của Nguyễn Du phản ánh trong Truyện Kiều; Điển hình hoá trong Truyện Kiều; Ngôn ngữ trong Truyện Kiều; Lịch sử vấn đề nghiên cứu Truyện
Kiều - phê phán những quan điểm sai lầm
Tác giả chia lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều ra làm bốn giai đoạn: Từ khi
Truyện Kiều ra đời đến hết thế kỉ XIX, tác giả đưa ra những nhận xét đánh giá sau
khi điểm qua những quan điểm đánh giá Truyện Kiều của Mộng Liên Đường, Phạm
Quý Thích, Tự Đức, Nguyễn Văn Thắng,… Nguyễn Lộc cho rằng những luồng ý
kiến đánh giá Truyện Kiều trên hai quan điểm: thứ nhất là quan điểm đạo đức phong
kiến, đứng trên quan điểm này có hai luồng ý kiến khen chê rõ rệt Thứ hai là đứng trên quan điểm nhân sinh, quan điểm xã hội, đã chú ý tới vấn đề nội dung và nghệ
Trang 10thuật tác phẩm nhưng: "Việc bình luận Truyện Kiều theo khuynh hướng này mới có
tính chất cảm hứng chứ chưa phải là việc phê bình khoa học" [41, tr.469]
Giai đoạn thứ hai: Từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1930, tác giả chỉ ra rằng:
"Việc bình luận Truyện Kiều bị thu hút theo một chiều hướng khác" [41, tr.469], lúc này Truyện Kiều đã được sử dụng vào mục đích chính trị trong cuộc tranh luận giữa Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế Vì vậy việc đánh giá Truyện Kiều giai đoạn này
không khách quan
Giai đoạn thứ ba: Từ đầu những năm 1930 đến năm 1945 Giai đoạn này
Nguyễn Lộc chỉ ra việc phê bình Truyện Kiều trong giai đoạn này khá phức tạp
“Có người vẫn tiếp tục đánh giá Truyện Kiều trên khuynh hướng tư tưởng đạo đức
phong kiến như giai đoạn trước Có người đi vào chi tiết tỉ mẩn vô bổ, rồi tán tụng bừa bãi theo lối suy diễn chủ quan Có người nặng về mặt khảo cứu, có người nặng
về mặt diễn giảng Nhưng nổi bật hơn hết là khuynh hướng thiên về nghệ thuật
thuần tuý và khuynh hướng dung tục, thô bạo, mệnh danh là nghiên cứu Truyện
Kiều theo “phương pháp khoa học”, kỳ thực là máy móc, chủ quan, phản khoa học”
[41, tr.473]
Giai đoạn thứ tư: Từ cách mạng tháng tám đến nay Nguyễn Lộc chỉ ra giai
đoạn này đặc điểm nổi bật trong việc nghiên cứu phê bình Truyện Kiều từ sau cách
mạng tháng tám là các nghiên cứu phê bình không đặt ra vấn đề luân lý, đạo đức,
không đi vào chi tiết tản mạn, vô bổ, không tuyệt đối hoá văn chương Truyện Kiều,
không thần bí hoá thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du” [41, tr.481] Dưới ánh sáng quan điểm mĩ học của chủ nghĩa Mac-Lênin và dưới sự lãnh đạo của Đảng, các nhà
nghiên cứu phê bình đã hiểu đúng, hiểu sâu về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nguyễn Lộc đã hệ thống khá đầy đủ những quan điểm đánh giá về Truyện
Kiều của các độc giả qua các thời kì khác nhau Những nhận xét, đánh giá ông đưa
ra hết sức thấu đáo và sâu sắc, nó là cơ sở để chúng tôi phân chia, đưa ra cách đánh
giá tiếp nhận Truyện Kiều giai đoạn trước 1945
Khảo luận về Kim Vân Kiều truyện của Đào Duy Anh Ông đã có 7 chương để
nói về Nguyễn Du và Truyện Kiều Đặc biệt trong chương thứ 7 “Địa vị sách Đoạn
Trang 11trường tân thanh trong tư tưởng của văn học Việt Nam”, Đào Duy Anh đã điểm lại
các ý kiến phê bình Truyện Kiều từ những ý kiến phê phán cho đến việc khen Kiều
để khẳng định một điều dẫu những người chê Kiều cũng phải công nhận đó là:
"Đoạn trường tân thanh là một mỹ thuật phẩm tuyệt diệu" [2, tr.408] Từ đó nhằm khẳng định vị trí của Truyện Kiều trong lòng mỗi người dân Việt Nam và cả trong
nền văn học và sự phát triển của tiếng Việt: "Nguyễn Du đã gieo vào lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hi vọng với tiếng nói của ta"
Trong cuốn Truyện Kiều và các nhà nho thế kỉ XIX, Phạm Đan Quế đã sưu
tầm, tuyển chọn và giới thiệu một cách tương đối toàn diện, hệ thống các bài bình Kiều, vịnh Kiều đã có từ thế kỉ XIX Tập sách được chia ra làm 3 phần: bình Kiều,
vịnh Kiều, tập Kiều – bói Kiều Phần thứ 4 là Tuồng Kim Vân Kiều và một số tư
liệu khác Trong phần này tác giả có trích giới thiệu trong phần phụ lục của cuốn
sách tác phẩm Đào hoa mộng lý – tục Đoạn trường tân thanh Cuốn sách cung cấp
cho chúng tôi tư liệu khá đầy đủ các bài bình, vịnh Kiều của nhiều tác giả với nhiều bản dịch khác nhau Cuốn sách là nguồn tư liệu quan trọng của luận văn
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, phần lớn
nội dung của cuốn sách Phan Ngọc đi tìm hiểu về ngôn ngữ của Truyện Kiều
Nghiên cứu chi tiết và đưa ra những luận điểm mới về phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều Trong phần mở đầu Phan Ngọc nhận xét các công trình nghiên cứu về
nội dung của Truyện Kiều đều sâu sắc và thú vị nhưng hầu như các công trình ấy
đều giống nhau ở việc đưa ra những khen chê về tác phẩm dựa vào nhận thức riêng của mình Tác giả đặt ra câu hỏi: “Trong tình trạng chống đối gay gắt như vậy, làm sao rút ra được những nhận định thực sự khách quan, mọi người đều có thể chấp nhận?” [48, tr.8] Để giải quyết vấn đề này Phan Ngọc đã xây dựng một lý luận phong cách học khách quan, chủ trương: “Phải tìm những cống hiến nghệ thuật riêng của nhà thơ Nguyễn Du mà trước đó không ai làm được, và sau đó cũng khó
ai làm được” [48, tr.9] Công trình này một lần nữa khẳng định giá trị và sự đóng góp của thiên tài Nguyễn Du, đồng thời cũng gợi mở cho chúng ta nhiều vấn đề và giúp ta có cái nhìn khách quan khi nghiên cứu đề tài
Trang 12200 năm nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều của Lê Xuân Lít, đây là cuốn
sách tham khảo đặc biệt Cuốn sách là công trình đặc biệt tuyển chọn 208 bài viết
của 158 tác giả về Truyện Kiều trong gần 200 năm qua Qua hơn 200 bài viết của
các tác giả đã phản ánh được những cách tiếp cận, đánh giá độc đáo của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Cuốn sách cũng là nguồn tư liệu hết sức quan trọng cho chúng tôi tham khảo để hoàn thành luận văn của mình
Năm 2001, Phạm Công Khanh trong luận án Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều đã
hệ thống một cách khá đầy đủ và toàn diện các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều, bước đầu khảo sát sự tiếp nhận Truyện Kiều của ca dao, tục ngữ và Truyện Kiều trong cảm hứng sáng tác của các nhà thơ Tác giả phân thành hai phần: Truyện Kiều trong sự tiếp nhận của các nhà nghiên cứu phê bình xưa và nay; Truyện Kiều trong
sự tiếp nhận của dân gian và của văn học viết Công trình có những nhận xét sâu sắc, rút ra những kết luận có ý nghĩa Bước đầu khái quát được mối quan hệ giữa sự tiếp nhận của người đọc và sự vận động của ý nghĩa tác phẩm Từ đó rút ra kết luận
có tính quy luật về tiếp nhận tác phẩm
Ở trên chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợp những tư liệu với quy mô lớn, nhỏ khác nhau Những phát hiện của các công trình đã gợi mở
rất nhiều cho chúng tôi nghiên cứu đề tài Truyện Kiều ở Việt Nam từ đầu thế kỷ
XX đến năm 1945 – nhìn từ lý thuyết tiếp nhận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chính của đề tài là những bài nghiên cứu, phê bình về Truyện Kiều
ở Việt Nam trong những năm 1900 – 1945 Bên cạnh đó còn có các sáng tác thuộc các thể loại như thơ ca, nhạc, họa, các tác phẩm điện ảnh và sân khấu được chuyển
thể từ Truyện Kiều hoặc viết về Truyện Kiều
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện đề tài, người viết đã sử những phương pháp cơ bản sau:
Trang 13- Phương pháp lịch sử: là phương pháp cơ bản và xuyên suốt của luận văn, với
phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn toàn cảnh về việc tiếp nhận Truyện
Kiều của các thế hệ độc giả từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945
- Phương pháp hệ thống: đặt các bài viết trong mối quan hệ tương quan với ý tưởng, chủ đề lớn để đưa ra nhận định chính xác và toàn diện
- Phương pháp so sánh: cụ thể là so sánh cách đọc, cách tiếp nhận tác phẩm
Truyện Kiều của các tác giả nhằm xác định các quan điểm, đánh giá về Truyện Kiều
để từ đó tìm ra nguyên nhân của sự khác biệt và có nhận định đúng đắn về Truyện
Kiều từ lý thuyết tiếp nhận
- Phương pháp phân tích tổng hợp: là phương pháp hết sức cần thiết, với phương pháp này chúng tôi có thể tìm hiểu và nhìn nhận vấn đề một cách tường tận sâu sắc cũng như có thể có một cái nhìn bao quát về các vấn đề của đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận, thông qua việc tìm hiểu Truyện Kiều ở Việt Nam những năm
đầu thế kỷ XX đến năm 1945 từ lý thuyết tiếp nhận, luận văn góp phần làm rõ mối
quan hệ giữa độc giả với tác phẩm và sự tiếp nhận Truyện Kiều những năm đầu thế
kỷ XX
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu Truyện Kiều ở Việt Nam những năm đầu
thế kỷ XX đến năm 1945 từ lý thuyết tiếp nhận đóng góp một góc nhìn cụ thể về
việc tiếp nhận Truyện Kiều từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, có thể xem như một phần tư liệu tham khảo cho việc học và dạy Truyện Kiều ở Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn chia làm 4 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lý thuyết tiếp nhận và tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 2: Tiếp nhận Truyện Kiều của giới nghiên cứu phê bình văn học Chương 3 : Tiếp nhận Truyện Kiều nhìn từ các cuộc tranh luận văn học
Chương 4: Tiếp nhận Truyện Kiều của giới văn nghệ sĩ
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ TIẾP NHẬN
TRUYỆN KIỀU Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1 Giới thuyết về lý thuyết tiếp nhận
1.1.1 Khái niệm tiếp nhận văn học
Văn học là một cấu trúc ngôn từ động, một trung tâm tạo nghĩa Vì thế cho nên mỗi người đọc khác nhau sẽ tìm thấy ở văn bản những ý nghĩa khác nhau Chính điều này đã tạo ra mối tương tác giữa văn bản văn học và độc giả Đi tìm mối quan hệ giữa văn bản văn học và độc giả, lý luận văn học từng bước chuyển dịch trọng tâm nghiên cứu từ khâu sáng tác hoặc sáng tác tách rời quy luật tiếp nhận sang nghiên cứu tiếp nhận Các nhà phê bình cho rằng văn học không chỉ có lịch sử sáng tác mà còn có lịch sử tiếp nhận Chính điều này đã mở đường cho mĩ học tiếp nhận khám phá tác phẩm văn học như là một hình thức đọc đặc trưng Có thể nói một tác phẩm thực sự có giá trị chỉ khi nào nó được nhìn nhận, xem xét trong sự tiếp nhận Hay nói cách khác, chính sự tiếp nhận là thước đo giá trị của một tác phẩm văn học, thông qua quá trình tiếp nhận ấy mà tác phẩm văn học có thể được
đề cao hoặc bị đào thải
Vậy thế nào là tiếp nhận văn học? Để hiểu khái niệm này, ta có thể tham khảo một số định nghĩa như sau:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học được định nghĩa là:
“Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu
từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể… Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc
mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực thụ cảm, tư duy” [25, tr.275] Qua định nghĩa này, ta có thể
Trang 15thấy tiếp nhận văn học trước hết là hoạt động của người đọc trong quá trình tiếp xúc với tác phẩm Tiếp nhận ở đây đóng vai trò là quá trình làm đầy nghĩa cho tác phẩm đồng thời nâng cao vốn sống cho người đọc
Trong Từ điển văn học (bộ mới), định nghĩa tiếp nhận thẩm mỹ là: “một
dạng thức hoạt động thẩm mỹ, được thực hiện ở việc tiếp nhận (thưởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ thuật với tư cách một giá trị thẩm mỹ, sự tiếp nhận này luôn luôn đi kèm với sự nảy sinh tình cảm (trải nghiệm) thẩm mỹ Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp: quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận Khác với hoạt động thẩm mỹ của nghệ sĩ – người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, tiếp nhận thẩm mỹ không mang tính công nghệ và nó vận hành theo hướng ngược: từ việc tiếp nhận kết quả (tác phẩm nghệ thuật nói chung) đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong đó” [29, tr.1715] Ở đây, có thể thấy định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh phương thức tiếp nhận một tác phẩm nghệ thuật như là “một quá trình phức tạp” mà trong đó người tiếp nhận đóng vai trò đồng sáng tạo
Giáo trình Lý luận văn học tập 1 (Văn học, nhà văn, bạn đọc), khi bàn đến
tiếp nhận văn học, đã cho rằng đây là một quá trình “diễn ra từ một cơ chế nhất định, kinh qua hệ thống tín hiệu thứ hai trong đại não, bạn đọc đã chuyển hóa được những ký hiệu của văn bản tác phẩm thành những ý tưởng, từ đó thể nghiệm được những tình cảm tư tưởng trong tác phẩm, có tác dụng gây xúc động và nâng cao tâm hồn của chính mình” [42, tr.349]
Phương Lựu trong cuốn Lý luận văn học đã phân biệt giữa sử dụng sản phẩm
vật chất và tiếp nhận sản phẩm tinh thần Ông cho rằng trong sản xuất vật chất, con ngời chiếm lĩnh vật liệu tự nhiên dưới một hình thức xã hội và dưới hình thức đó, con người lại sử dụng chính các thuộc tính có sẵn của tự nhiên Nhưng ở trong tác phẩm nghệ thuật, các thuộc tính của tự nhiên lại được sử dụng ở ý nghĩa tinh thần
Vì vậy người tiếp nhận khi đến với một tác phẩm văn chương phải biết “khắc phục” tính vật chất, biết “giải mã” để tiếp xúc với thế giới tinh thần
Trang 16Trong công trình Lý luận tiếp nhận văn học nhập môn, Huỳnh Như Phương
định nghĩa: “Tiếp nhận văn học là sự tiếp xúc và tri nhận của người đọc đối với một hiện tượng văn học, chủ yếu là tác phẩm Tiếp nhận văn học xuất hiện gần như là đồng thời với sáng tạo văn học, hay nói cách khác, khi con người có ý thức về sự sáng tạo văn học cũng là lúc con người có ý thức về tiếp nhận văn học”.[50, tr.187] Tác phẩm văn học hình thành trong quá trình sáng tác, nhưng tác phẩm văn học không phải một cái gì nhất thành bất biến, khi nhà văn hoàn thành tác phẩm, khi đó tác phẩm bắt đầu vòng đời mới của mình, nó bắt đầu mở ra về phía đời sống Cuộc đời của tác phẩm luôn ẩn chứa những khả năng mới sẽ bộc lộ khi nó viễn du qua không gian và thời gian Nếu tác phẩm đi trước thời đại ra đời của nó, tức là nó hàm
ẩn một câu trả lời cho thời đại sau Huỳnh Như Phương gọi đây là “cuộc đối thoại” giữa con người hiện tại với một văn bản quá khứ Tác phẩm không chứa đựng những giá trị và ý nghĩa cố định mà luôn luôn biến đổi trong đối thoại không ngừng nghỉ giữa văn bản và thế hệ độc giả kế tiếp
Còn Trần Đình Sử ông lại coi tiếp nhận văn học là một quá trình tồn tại của hình tượng nghệ thuật, là một khâu không thể thiếu được của sáng tạo nghệ thuật
Trong cuốn Lý luận và phê bình văn học ông cho rằng: “ Tiếp nhận văn học là giai
đoạn hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế văn học”[52, tr.125]
Qua các định nghĩa trên ta có thể rút ra cách hiểu về tiếp nhận văn học như sau: Tiếp nhận văn học là một phạm trù bao quát, gồm tổng hợp các khái niệm: cảm thụ, phân tích, lí giải, bình giải… tác phẩm văn học, với nhiều yêu cầu, sắc thái và cấp độ khác nhau: tri giác, cảm tính, tiếp xúc với ý đồ nghệ thuật, thể nghiệm và đồng cảm, lí giải và đánh giá… theo ý nghĩa hiện đại thì có thể xem hoạt động tiếp nhận bao gồm toàn bộ quá trình biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học trong cảm nhận của người đọc Cách cảm nhận của người đọc có thể là giống hay không giống với ý đồ ban đầu của tác giả, nhưng thông qua quá trình làm đầy nghĩa cho tác phẩm, ý nghĩa tác phẩm ngày càng được hoàn thiện và người đọc cũng ngày càng nâng cao nhận thức và hiểu biết của mình
Trang 171.1.2 Ý nghĩa, vai trò của tiếp nhận đối với hoạt động sáng tạo và thưởng thức văn học
Nếu như trước đây tác phẩm văn học được hiểu đơn giản là kết quả từ quá trình lao động nghệ thuật và sáng tạo của nhà văn, thì đến hôm nay, dưới ảnh hưởng của lý thuyết tiếp nhận, xoay quanh khái niệm này đã có những đổi mới quan trọng Hoạt động tiếp nhận vừa là một hoạt động mang tính xã hội, lại vừa là một dạng hoạt động rất cá thể của con người Trong đời sống văn học, luôn có mối quan hệ qua lại giữa sáng tạo truyền bá và tiếp nhận Nếu tác giả là người sáng tác thì tác phẩm là phương tiện truyền bá văn học và người đọc là chủ thể tiếp nhận văn học Tiếp nhận văn học chính là quá trình được hòa mình vào tác phẩm, rung động với
nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo
Từ đó ta thấy tiếp nhận văn chương có ý nghĩa vô cùng to lớn Mô hình đời sống của tiếp nhận văn chương là: đời sống – nhà văn – tác phẩm – tâm thức xã hội – người đọc Trong đó tất cả các yếu tố đều có ý nghĩa quan trọng Nếu chỉ nhấn mạnh vào yếu tố nào trong đó cũng đều khó tránh khỏi phiến diện, lệch lạc
Ý nghĩa của tác phẩm văn học trên thực tế không hề tĩnh mà luôn biến động, phong phú thêm theo tiến trình lịch sử tiếp nhận văn học Tác phẩm văn học là một quá trình chuyển biến của ngôn ngữ được nhà văn tổ chức, sắp xếp đặc biệt Khi nhà văn sáng tạo ra văn bản văn học, đó là một hệ thống kí hiệu khách quan Thông qua quá trình đọc, hệ thống kí hiệu ấy mới hiện lên trong tâm trí người đọc những
sự việc, những hình tượng nhân vật, những suy nghĩ vui buồn của con người, cuộc đời Đây là lúc vai trò thẩm mĩ, kinh nghiệm đọc được phát huy với người đọc Người đọc càng trải nghiệm sâu sắc cuộc sống, càng hiểu biết thấu đáo quy luật nghệ thuật, nội dung tác phẩm càng hiện lên đầy đủ, phong phú hơn trong tâm trí
Tiếp nhận văn học có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với quá trình sáng tạo và thưởng thức văn học Trước hết đối với nhà văn, hoạt động tiếp nhận làm thay đổi quan niệm về nhà văn Có thể thấy mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm – người đọc đã có sự thay đổi Nếu như trước đây quan niệm nhà văn mới là người chủ động
Trang 18tác động đến người đọc thông qua tác phẩm Thì bây giờ mối quan hệ này bây giờ được nhìn nhận theo hướng người đọc chính là người chủ động tạo nghĩa cho văn bản Như vậy có nghĩa là người đọc đã hoàn toàn thoát ra khỏi sự áp đặt và ràng buộc của nhà văn, chủ động mang đến cho tác phẩm những ý nghĩa mới khác với tư tưởng lúc đầu của nhà văn Tiếp nhận văn học đã làm thay đổi vai trò và ý nghĩa của tác phẩm cũng như của người đọc trong đời sống văn học
Một trong những đóng góp quan trọng của lý thuyết tiếp nhận là nó khẳng định tác phẩm tồn tại một cách độc lập Nhà văn sau khi sáng tác xong một tác phẩm, đứa con tinh thần ấy khi đến với người đọc lại có số phận riêng, nhà văn không thể quyết định được số phận của nó theo ý muốn của mình Và khi đến với người đọc, nhà văn cũng không thể quy định được mọi người phải hiểu tác phẩm theo ý nghĩa ban đầu mà trong ý đồ nghệ thuật mình định gửi gắm mà lúc này, với tính đa dạng phong phú của người đọc, tác phẩm văn chương biến đổi và sản sinh ra những nghĩa mới không giới hạn
Giá trị của một tác phẩm tùy thuộc vào thiên hướng và năng lực tiếp nhận của người đọc Vai trò cá nhân của người đọc được nâng cao Họ có thể hiểu tác phẩm một cách tự do dựa trên lứa tuổi, dựa trên những trải nghiệm, kinh nghiệm và trình độ văn hóa của mình, họ không bị chi phối bởi cách hiểu của số đông Người đọc trở thành yếu tố quan trọng của đời sống nghệ thuật Như vậy, về cơ bản, lý thuyết tiếp nhận không chỉ thay đổi một vài nhân tố trong đời sống văn học, mà nó còn thay đổi cách nhận thức về văn học và lịch sử văn học nói chung
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần theo phương thức cá thể, cho nên tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn đã mang nặng đẻ đau, vì vậy khi thai nghén tác phẩm, nhà văn viết tác phẩm theo ý đồ của mình R Ingarden gọi đó là “khách thể mang tính chủ ý” Vì là một “khách thể mang tính chủ ý” nên quá trình sáng tác nhà văn cũng luôn hướng tới đối tượng tiếp nhận tác phẩm của mình Vì bất cứ nhà văn nào cũng cần quan tâm tới “tác động của điều viết ra” do đó hình dung ra một “kiểu độc giả của mình” Tác phẩm sẽ được hiện ra đúng diện mạo của nó, ý đồ của nhà văn được cụ thể nếu như tác phẩm
Trang 19gặp được những người đọc như lúc đầu nhà văn hướng đến, đó là người đọc lí tưởng Nhưng không phải người đọc nào cũng hiểu nhà văn, vì vậy không phải tác phẩm nào cũng làm vừa lòng tất cả mọi người Chính vì vậy có hiện tượng cùng một tác phẩm nhưng có những đánh giá trái ngược nhau
Như vậy có thể nói tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với tình cảm, thị hiếu của mỗi người Ngày xưa Lưu Hiệp nhận định rằng: “Người khẳng khái nghe điệu hiên ngang liền gõ nhịp, người kín đáo thấy văn hàm súc liền đi theo, kẻ sáng ý thấy văn đẹp thì động lòng, kẻ chuộng lạ thấy chuyện khác thường thì mê đắm, những người khảng khái thấy âm thanh hùng tráng thì vỗ tay Những người hàm súc thấy lời lẽ tinh tế chặt chẽ thì khoái trá Những người trí tuệ nông cạn, thấy câu văn đẹp thì đã sướng mê Những người thích cái lạ và mới, đối với những việc quái lại thì nghe sửng sốt Cái gì hợp với ý thích của mình thì khen ngợi, không hợp thì vứt bỏ xem thường” [28, tr.170] Thông qua hoạt động đọc, từ thời đại này qua thời đại khác, những con mắt khác nhau sẽ nới rộng không gian thẩm mĩ của tác phẩm Tác phẩm mở ra vô tận những cái nhìn Bởi vậy có người nói rằng lịch sử văn học là lịch sử của những cách đọc
Như vậy, tiếp nhận văn học là một hoạt động rất quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tạo văn học Nó giúp nhà văn nâng cao chất lượng sáng tạo để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ luôn luôn khác biệt và luôn luôn thay đổi ở người đọc Nó làm cho hoạt động nghệ thuật trở nên có ý nghĩa, có mục đích và tác phẩm trở nên sống động và hoàn chỉnh
1.1.3 Tính tích cực, sáng tạo của chủ thể tiếp nhận văn học
Các nhà nghiên cứu cho rằng sự tồn tại của một tác phẩm văn học phụ thuộc rất nhiều vào cách hiểu, cách lý giải và cách đánh giá của người đọc đối với tác phẩm: “tác phẩm văn học, nghệ thuật gồm một phần có thực, khách quan, và một phần khác, do người đọc phát hiện ra, cấu tạo ra” [53, tr.128].Hoặc: “Tác phẩm văn học không đồng nhất với văn bản ban đầu mà nhà văn viết ra Tác phẩm lúc đó là một sự hợp thành của văn bản và hệ số mới do thời gian và công chúng quy định
Trang 20(…) khi đi vào thế giới tinh thần của người đọc, văn bản không còn nguyên vẹn mà trở thành một siêu văn bản”[53, tr.128]
Tác phẩm văn học, đối với lý thuyết tiếp nhận, tồn tại qua sự tiếp nhận của người đọc nhưng điều đó không có nghĩa là người đọc có quyền năng vô hạn trong việc cắt nghĩa tác phẩm Bản thân tác phẩm vẫn lưu giữ những giá trị khách quan riêng biệt của bản thân nó: “không thể xem văn bản là con số không được Mọi sự cắt nghĩa đều bị cái được cắt nghĩa qui định: ngôn từ, thể loại, cấu trúc, bộ phận và chỉnh thể (…) Rõ ràng văn bản có những ranh giới không cho phép sự cắt nghĩa sáng tạo tùy tiện vượt qua Một sự cắt nghĩa có cơ sở trong các dữ kiện của tác phẩm, phù hợp với cấu trúc biểu hiện của tác phẩm là cách cắt nghĩa có sức thuyết phục” [89] Như vậy, tác phẩm văn học chỉ thực sự tồn tại khi văn bản của nó được người đọc tiếp nhận và sự tồn tại của tác phẩm văn học là một quá trình, trong quá trình đó, ý nghĩa cũng như hình thức của nó không ngừng thay đổi qua những thời
kỳ khác nhau với những lớp người đọc khác nhau
Vai trò của người đọc trong tư duy lý luận văn học truyền thống coi người đọc là nhân tố bị động, là đối tượng cần được nhà văn giáo dục, bồi dưỡng thêm về
tư tưởng và tình cảm thẩm mỹ Nhưng đến lý luận văn học hiện đại, người đọc trở thành quyền lực tạo nghĩa cho văn bản, trở thành chủ thể tiếp nhận văn học quyết định sự tồn tại của tác phẩm văn học Người đọc được nhắc đến nhiều hơn trong lý luận văn học và trở thành một nhân tố không thể thiếu trong đời sống văn học
Trong cách quan niệm về vai trò của người đọc, các nhà nghiên cứu đã khẳng định người đọc không còn là nhân tố bị động trong đời sống văn học, người đọc đã xuất hiện ngay chính trong quá trình sáng tác của tác giả Theo các nhà lý luận, không tác giả nào có thể sáng tác mà không hình dung trước ai sẽ đọc tác phẩm của mình, cũng không có tác giả nào sáng tác mà không nhằm hướng đến một đối tượng nào đó, kể cả khi viết cho mình, thì chính bản thân tác giả cũng là một đối tượng giao tiếp, nghĩa là trong trường hợp này, tác giả cũng trở thành một độc giả đọc chính tác phẩm của mình Nhân tố này không chỉ xuất hiện từ sau khi văn bản văn học được hoàn tất mà còn có cả trước đó, trong ý đồ sáng tạo và trong hoạt
Trang 21động lao động nghệ thuật của tác giả Trong bài viết Sự tương tác giữa người đọc
và văn bản trong hoạt động sáng tạo văn học (tạp chí Nghiên cứu văn học), nhà
nghiên cứu Lê Thị Hồng Vân đã chỉ ra hai vai trò quan trọng của người đọc từ hai phương diện sáng tạo và tiếp nhận văn học Theo tác giả, “với vai trò là điểm tựa cho sáng tạo, người đọc đã cùng tham gia thiết kế thông điệp nghệ thuật với nhà văn, giúp nhà văn định hướng ý đồ, mục đích của sáng tác, từ đó để điều chỉnh cấu
tứ, chi phối việc xây dựng kết cấu văn bản (…) một sự tương tác đã thực sự diễn ra giữa người đọc với văn bản ngay từ trong quá trình sáng tạo, khi họ đã tham gia cùng với nhà văn trong việc thiết kế thông điệp nghệ thuật cho văn bản” [94] Còn
“với vai trò là môi giới cho tiếp nhận, nhu cầu và tầm đón nhận của người đọc tiềm
ẩn (là sự chuyển hóa từ người đọc có thực ngoài đời), sẽ tạo ra một sự kết nối giữa văn bản với người đọc thực tế, khiến cho văn bản dù có ra đời ở một thời điểm cách
xa người đọc thì giữa hai “đối tác” này vẫn tiềm ẩn một mối quan hệ giao tiếp, đối thoại” [94] Những ý kiến nêu trên của Lê Thị Hồng Vân cho thấy vai trò quan trọng trên nhiều phương diện của người đọc trong đời sống văn học, trong mối quan
hệ tương tác với tác giả và tác phẩm Từ đó, người đọc được các nhà nghiên cứu quan niệm là “kẻ đồng sáng tạo ra tác phẩm không phải chỉ với tư cách làm sống dậy tác phẩm trong cảm thụ (như bù đắp, chắp nối, liên tưởng, cụ thể hóa ) mà còn phát hiện ý nghĩa mới và mối liên hệ chỉnh thể tương ứng với nó” [94] Việc tìm hiểu quá trình tiếp nhận của người đọc cho phép nhà nghiên cứu mở rộng giới hạn ý nghĩa của tác phẩm cũng như tôn trọng những khác biệt trong cách lý giải và đánh giá tác phẩm Có thể thấy, sự khác biệt trong tiếp nhận tác phẩm văn học của người đọc lại là yếu tố mang lại màu sắc tươi mới cho lý luận và phê bình văn học Lúc này, vai trò của người đọc không chỉ dừng lại ở việc mở rộng ý nghĩa văn bản văn học mà còn mở rộng quyền học thuật, mở rộng chân trời của những ý kiến xoay quanh tác phẩm
Như vậy, từ những gì vừa nêu, có thể thấy, vai trò của người đọc đã có những thay đổi đáng kể như sau: thứ nhất, người đọc là nhân tố mang lại ý nghĩa cho văn bản văn học, làm nên sự tồn tại mang tính quá trình của tác phẩm; thứ hai,
Trang 22người đọc tác động trực tiếp đến quá trình sáng tác của nhà văn; thứ ba, sự tiếp nhận
đa dạng của người đọc làm đầy bức tranh đời sống văn học cũng như dân chủ hóa nền văn học bằng sự tiếp nhận của mình Cùng với sự thay đổi trong quan niệm về người đọc và tác phẩm, xoay quanh khái niệm tác giả, văn học cũng có những thay đổi đáng kể Tác giả không còn là ông chủ kiến tạo nên tác phẩm và chi phối cách hiểu của người đọc
Tác phẩm văn chương ra đời được bắt đầu từ ý đồ sáng tác của nhà văn Nhà văn bằng tài năng của mình đã vật chất hóa ý đồ ban đầu bằng chất liệu ngôn từ, tác phẩm văn học ra đời Và cuối cùng là giai đoạn tiếp nhận của bạn đọc Trong mối quan hệ tác giả – tác phẩm – người đọc, hoạt động tiếp nhận là hoạt động cuối cùng của quá trình sáng tạo văn chương Nó là hoạt động cuối cùng quyết định chu trình của văn học
Bởi tác phẩm văn chương được hình thành từ chất liệu ngôn từ, nên ý nghĩa của tác phẩm tồn tại trong văn bản ngôn từ, nhờ vào vai trò của độc giả, tác phẩm trở nên có giá trị, có sức sống mãi với thời gian Như vậy, người đọc trở thành nhân
tố không thể thiếu của quá trình tiếp nhận văn học
Tính năng động sáng tạo của người đọc còn được thể hiện ở chỗ: Nhà văn sáng tạo xong một tác phẩm văn học, đây là giai đoạn tác phẩm thoát li khỏi nhà văn để tồn tại một cách độc lập trong xã hội, với từng người đọc Thông qua việc đọc, người đọc xâm nhập vào tác phẩm, lấp đầy những chỗ trống trong tác phẩm, chính vì vậy, đòi hỏi người đọc phải chủ động, tích cực Tính tích cực chủ động của người đọc trước hết thể hiện ở sự lĩnh hội ý nghĩa văn bản Đầu tiên, người đọc cần phải hiểu được nghĩa của từng câu, từng chỗ tưởng như phi lí trong văn bản, tiếp đó hiểu mối quan hệ các phần và cấu trúc toàn văn bản, khái quát hơn là hiểu được chủ
đề, ý nghĩa của văn bản Nhưng không phải tác phẩm luôn mang một ý nghĩa cố định mà khi tìm hiểu nó, mọi người đọc đều có thể lấy về mình những ý nghĩa, những bài học, những nhận thức khác nhau về cùng một hiện tượng trong tác phẩm
Trang 23Khi nhà văn hoàn thành tác phẩm, lúc này, tác phẩm được xem là một bộ xương, thông qua quá trình đọc, người đọc “lấp đầy” ý nghĩa cho văn bản, trở thành người đồng sáng tạo với tác giả
Người đọc bằng sự hiểu biết, bằng kinh nghiệm xã hội của mình đã sáng tạo, khỏa lấp những chỗ trống mà nhà văn có ý thức hay không có ý thức cố tình tạo nên Trong mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc, đó là mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể Tác phẩm văn học là khách thể, chủ thể tiếp nhận phải quan sát, tri giác để làm nổi bật lên những nét mờ, khôi phục những “khoảng trống”, “bỏ lửng” trong tác phẩm Người đọc sau khi tiếp xúc với tác phẩm, hiểu được ngôn ngữ, cốt truyện, loại thể, tiếp tục đi sâu vào khám phá hình tượng trong tác phẩm Lúc đó hình tượng tác phẩm sống dậy trong lòng người đọc Ở mỗi người đọc có một hình tượng riêng
Mĩ học tiếp nhận đi vào khẳng định vai trò của quyết định của người đọc đối với sự tồn tại của tác phẩm văn chương Tác phẩm văn chương không phải là của riêng nhà văn mà nó phải được bạn đọc tiếp nhận mới trở nên hoàn chỉnh Do trình
độ thưởng thức mà nảy sinh “tầm đón nhận” W.Iser viết: “Tác phẩm văn học gồm hai cực, cực nghệ thuật là văn bản của tác giả, cực thẩm mĩ là do người đọc hoàn thành”, văn băn là một “kết cấu vẫy gọi”, nghĩa là tồn tại chờ bạn đọc bổ sung, cụ thể hóa Ý nghĩa của tác phẩm không phải là cái cố định, bất biến mà tác phẩm chỉ
là “đề án tiếp nhận” Nếu ý nghĩa của nó là một quá trình, có thể mở rộng, sâu sắc, phong phú thêm, cũng có thể tàn lụi đi, tất cả là do “tầm đón nhận” của người đọc quy định Tầm đón nhận được hiểu là vốn tri thức, hiểu biết văn chương, vốn sống
và từng trải Tầm đón nhận của người đọc làm cho họ có thể hoặc không thể đánh giá được mức độ sáng tạo và sự tiến bộ của văn học, trong đó thậm chí họ có thái độ
từ chối tác phẩm
Tính tích cực chủ động đòi hỏi người đọc phải tích lũy kiến thức, kinh nghiệm sống để có thể hiểu được những thông điệp khác nhau của văn bản một cách khoa học, toàn vẹn Tùy vào năng lực của mình, người đọc có thể tiếp nhận tác phẩm một cách sâu sắc, có thể thể nghiệm, đồng cảm với tác giả hay chỉ dừng lại ở
Trang 24việc nắm bắt được hình tượng thông qua hệ thống ngôn ngữ Như vậy, chính sự tích cực, chủ động của người đọc góp phần quyết định giá trị của một tác phẩm văn học Tác phẩm có thể trở thành kiệt tác hay chỉ là một tác phẩm mờ nhạt đều do người đọc Vì vậy, người đọc cần trau dồi tri thức để nâng tầm hiểu biết của mình Nếu tác phẩm thấp hơn tầm đón nhận thì không đáp ứng được nhu cầu của chủ thể tiếp nhận văn học, còn nếu cao hơn tầm đón nhận sẽ khiến cho chủ thể lúng túng nhưng nó có tác dụng kích thích nâng cao tầm đón nhận ở chủ thể tiếp nhận văn học
Chính vai trò năng động sáng tạo của bạn đọc đã làm cho đời sống lịch sử của nghệ thuật vô cùng phong phú Khác với tiếp nhận khoa học, tiếp nhận văn học
có một tầng lớp công chúng rộng rãi Chính vì vậy, tùy vào năng lực của cá nhân, thị hiếu thẩm mĩ, lập trường xã hội của người đọc, người đọc tiếp cận tác phẩm với những ý nghĩa khác nhau Do tuổi tác, trình độ, sở thích, tâm trạng của người đọc khác nhau dẫn đến hiện tượng cùng một tác phẩm có nhiều cách đánh giá khác nhau Người đọc xâm nhập vào bên trong tác phẩm, đem sự trải nghiệm của mình
để tiếp nhận cái tinh thần đã được khách thể hóa của nhà văn Lúc này, người đọc
đã sống trong thế giới bên trong của người khác, họ trải nghiệm cái tâm trạng, cảm xúc và thông điệp của người khác – đó chính là tác giả Như Ingarder nhà hiện tượng học người Ba Lan đã từng nói: Có bao nhiêu độc giả là có bấy nhiêu sự đọc làm đầy bằng nội dung mà nó chưa đủ Như vậy chủ thể tiếp nhận với sự đa dạng về tuổi tác, quan điểm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, thành phần giai cấp và năng lực của từng người khác nhau đã quy định tới việc tiếp nhận một tác phẩm văn học khác nhau Chính điều đó đã tạo nên tính đa dạng và đa diện của nghệ thuật Độc giả là người giữ vai trò quan trọng trong quá trình sáng tạo của văn học Họ có thể là một người cụ thể, cũng có thể là một quốc gia, một dân tộc, một giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội hậu thế, cũng có thể là một quốc gia, dân tộc, một giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội hậu thế hoặc một người không quen biết
mà tác giả hi vọng sẽ đọc tác phẩm của mình và hướng tới họ trong quá trình sáng tác
Trang 25Nói tóm lại, từ văn chương đến cuộc đời là một quá trình, quá trình đó dài hay ngắn phụ thuộc vào giá trị đích thực, vào chiều sâu chân lí nghệ thuật trong các tác phẩm Cuộc đời đôi khi khá khắt khe trong việc thẩm định giá trị của văn chương Điều đó buộc người cầm bút phải lao động nghệ thuật nghiêm túc, công phu và trách nhiệm để mang đến những những sản phẩm sáng tạo đích thực Chúng luôn luôn và mãi mãi là nguồn cổ vũ, động viên, khai sáng và thanh lọc tâm hồn cho công chúng bạn đọc, cống hiến cho cuộc đời thêm nhiều niềm vui và hi vọng mới
1.2 Bối cảnh xã hội những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945 và việc
tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
1.2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945
Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Việt Nam, chính quyền phong kiến quy hàng, xã hội Việt Nam bước sang chế độ thực dân nửa phong kiến, dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp, đặc biệt là sau hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến động mạnh mẽ trong đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị Sự phát triển kinh tế hàng hóa, giao thông là điều kiện xuất hiện các thành thị đông đúc và nhiều tầng lớp xã hội mới như tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị,
Cùng với sự thay đổi của bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa, diện mạo và tính chất văn học nước ta từ thế kỉ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX cũng có bước chuyển mình to lớn
Ở thế kỉ XVIII, văn học phát triển trong hoàn cảnh chế độ phong kiến suy thoái, lực lượng sáng tác văn học thời kỳ này chủ yếu là các nho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân Do cuộc sống gần gũi với nhân dân, những sáng tác của họ đã phần nào gần gũi với đời sống, tâm tư của người dân, họ nhận thức được những phẩm chất và khả năng to lớn của nhân dân, sáng tác của họ tập trung phản ánh những người nhỏ
bé, bất hạnh trong xã hội, đặc biệt là người phụ nữ Nền văn học chữ Nôm phát triển cho đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX xã hội Việt Nam có sự phát
Trang 26triển mạnh mẽ nhưng các nhà Nho vẫn là lực lượng sáng tác chính nên nền văn chương lúc này vẫn còn mang nặng tư tưởng giáo hoá, văn chương còn nặng về đạo
lý
Năm 1919, diễn ra khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn dưới thời vua Khải Định đã đặt dấu chấm hết cho nền Hán học nước nhà, đòi hỏi nền văn học nước ta phải thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh mới mà chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp tạo ra Nền văn học cũ với tư tưởng Nho giáo rút hẹp hơn trước nhường chỗ cho một nền văn học mới
Do chính sách áp đặt của thực dân Pháp mà nhiều trường học dạy tiếng Pháp
ra đời, những tác phẩm văn học của Pháp được truyền bá rộng rãi trong nhân dân,
nó có sức ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân đặc biệt là lớp trí thức tây học, những người trực tiếp được chính quyền Pháp đào tạo Các nhà in, nhà xuất bản ra đời ngày càng nhiều đã tạo điều kiện cho văn học được truyền bá đi khắp nơi, đặc biệt thời kỳ này chữ quốc ngữ ra đời và phát triển là công cụ giao tiếp thuận lợi và đắc lực khác hẳn với chữ Nho đã thống trị hàng nghìn năm nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học đến gần với tầng lớp nhân dân
Sự giao lưu về tư tưởng, văn hóa văn học phương Tây hiện đại đã kéo theo
sự thay đổi về thị hiếu văn học, quan niệm văn học và tư tưởng thẩm mỹ của người sáng tác cùng với đó là sự tiếp thu những tư tưởng nghiên cứu phê bình và lý luận văn học của phương Tây Nếu trước kia văn chương chú trọng đến khía cạnh giáo
lý, đạo đức thì ở thời kỳ này văn học chú trọng hơn đến con người, đòi quyền sống, quyền bình đẳng cho những tầng lớp thấp bé, những con người bất hạnh, đặc biệt là người phụ nữ Văn học cũng thể hiện mạnh mẽ nhu cầu được giải phóng con người
cá nhân
Có thể thấy từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX, nền văn học dân tộc đã có bước chuyển mình rõ rệt: từ chỗ nền văn học phong kiến bước sang quá trình hiện đại hóa, từng bước thoát khỏi tư tưởng của các nhà nho sang nền văn học hiện đại chịu ảnh hưởng của phương Tây đặc biệt là văn học Pháp
Trang 27Sự thay đổi về lực lượng sáng tác ở hai thời kỳ một là nhà nho, hai là tầng lớp trí thức Tây học cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc nhìn nhận đánh giá các tác
phẩm văn học, trong đó có tuyệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du
1.2.2 Tình hình xuất bản, phê bình Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XX
Tình hình xuất bản Truyện Kiều
Trong bài thơ Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng, nhà thơ Chế Lan Viên đã
từng cảm khái mà viết rằng: “Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn” Câu thơ súc tích trên đã thể hiện gần như trọn vẹn giá trị của một tác phẩm văn chương
mang tầm thời đại Quả thật, Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là một trong những
tác phẩm kinh điển nhất trong nền văn học dân tộc Việt Nam ta
Truyện Kiều không chỉ được lưu hành trong giới văn nhân tài tử mà ngay cả
những người dân bình thường áo vải, “ngu phu bỉ phụ” (chữ dùng trong Bài tựa Kim
Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng soạn năm 1830) cũng chuyền tay nhau để
ngâm ngợi đầy thích thú Được phổ biến rộng rãi là thế, tuy nhiên khi nói đến việc
xuất bản của Truyện Kiều thì đây vẫn còn là một nghi vấn lớn Bởi hơn hai thế kỷ
qua, vẫn chưa có câu trả lời nào thỏa đáng cho câu hỏi tác phẩm đã được khắc in bao nhiêu lần cũng như nó được khắc ván lần đầu vào lúc nào Tuy nhiên, sau nhiều năm bỏ công nghiên cứu, sưu tầm, các bậc tiền nhân đã tìm được “ngót năm chục bản Kiều Nôm và Quốc ngữ của các nhà xuất bản khác nhau, không kể đến các bản chép tay” [23, tr.54] Như thế, ta có thể dựa vào đây làm cơ sở cho việc nghiên cứu
quá trình xuất bản của Truyện Kiều, cụ thể là trong giai đoạn những năm đầu thế kỷ
XX đến năm 1945
Bản Kiều chữ Nôm được giới nghiên cứu công nhận là khắc in công phu và
có giá trị, giúp phổ biến văn bản Truyện Kiều phải kể đến là bản Quan văn đường
Thành Thái Bính Ngọ năm 1906.Và quan trọng hơn cả là ở bản khắc in này người ta không tìm thấy dấu vết nào của bản Kinh, chứng tỏ rằng nó không chịu ảnh hưởng của bản Kinh và được xem là “bản tiêu biểu cho bản Phường” [23, tr.60] Về hình thức của bản Quan văn đường Thành Thái Bính Ngọ: “Khổ 13x13, 3254 câu, 103
tờ Bìa sách, mặt a ghi: Kim Vân Kiều tân tập – thời hiền thi tự - Quan văn đường
Trang 28tàng bản, Thành Thái Bính Ngọ trọng hạ Mặt b ghi bài thơ đề từ của Phạm Quý
Thích Từ tờ hai trở đi đánh số từ 1 đến 102 chép văn bản Truyện Kiều, hàng 8; mỗi trang chia làm ba tầng: tầng trên cùng chép toàn bộ Thanh Tâm Tài Nhân thi tập
của Chu Mạnh Trinh, một số thơ của Chu Thấp Hy và một số người khác trong dịp thi vịnh Kiều năm Ất Tỵ (1905) ở Hưng Yên Mấy chữ “Thời hiền thi tự” khắc ở sách là chỉ nhóm đó.” [23, tr.60] Bản khắc in này được các nhà nghiên cứu đánh giá cao và không tiếc lời khen tặng về hình thức tinh tế, chữ khắc đẹp cũng như nội dung không có sai biệt nhiều so với những bản Kiều Quốc ngữ có giá trị như bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim hay bản Trương Vĩnh Ký Đây quả thật là một bản khắc
in không chỉ mang giá trị khoa học về mặt văn chương mà con đem đến nhiều tư
liệu quý giá về mặt lịch sử xuất bản của các văn bản Truyện Kiều
Một bản khắc in Kiều Nôm cũng không kém phần quan trọng và cũng cần phải nhắc đến đó là bản Kiều Oánh Mậu Thành Thái Nhâm Dần năm 1902 Chữ khắc trong bản này được các nhà nghiên cứu đánh giá là sắc nét nhất trong những bản Kiều Nôm đã sưu tầm được từ trước đến nay Bản Kiều Oánh Mậu Thành Thái Nhâm Dần về hình thức có những điểm đáng chú ý sau: “Khổ 15x24, 3256 câu, 90
tờ: 8 tờ đầu đánh số từ 1 đến 8 có các phần: - Bìa sách mặt a ghi: Đoạn trường tân
thanh – Giá sơn Kiều Thị Oánh Mậu chú thích Nam: Thế Tường Nguyên Phượng,
Thế Hũ Vũ Quang, Thế Diễm Á Ngọc phụng kiểm, phụng độc – Hàn lâm kiểm thảo Ngô Thúc Dụ thư Thành Thái Nhâm Dần trung thu vọng – Mặt b ghi đôi câu đối
của Tự Đức, tên tác giả Truyện Kiều, tên người bình luận là Vũ Trinh và Nguyễn Lượng và tên người đề từ là Phạm Quý Thích Từ tờ 2a trở đi, gồm có các bài: Tân
khắc Đoạn trường tân thanh lệ ngôn thập tắc của Kiều Oánh Mậu, bài Tự của Đào
Nguyên Phổ, Nguyễn Du liệt truyện, thơ đề từ của Phạm Quý Thích Tám mươi hai
tờ còn lại đánh số từ 1 đến 82 chép văn bản Truyện Kiều 3256 câu, hàng 10; mỗi
trang kia chia làm 3 tầng: tầng trên cùng là tầng chú thích, khảo dị, bình luận; tầng giữa và tầng cuối chép câu lục trên, câu bát dưới.” [23, tr.62]
Bên cạnh các bản Kiều Nôm được khắc in từ các nhà xuất bản, chúng ta cũng cần chú ý đến những sách chép tay của các tư gia bởi nó cũng là một nguồn văn liệu
Trang 29quan trọng trong quá trình nghiên cứu Và ở đây, cần chú ý đến bản Kiều Nôm chép tay (bản Tiên Điền) của gia đình cụ Nghè Mai, cháu họ xa đời của Nguyễn Du
“Bản Tiên Điền được in khổ 14 x 15, 3.256 câu, chữ nhỏ hàng 20, viết rất công phu
Tờ đầu gần như mất hẳn không đọc được chữ nào Tờ thứ hai chép Nguyễn hầu liệt truyện, tiếp theo là bài thơ đề từ của Phạm Quý Thích 41 tờ còn lại chép văn bản
Truyện Kiều, chia làm ba tầng: tầng trên là phần chú thích, tầng giữa câu lục, tầng
dưới câu bát” [23, tr.64]
Và theo các nhà nghiên cứu, bản Nôm chép tay này có thể chính là cơ sở cho
sự ra đời bản Phạm Kim Chi bởi ở cả hai bản đều là 3.256 câu thơ Những phần chú thích của bản Phạm Kim Chi đã phiên âm và dịch ra đều đầy đủ và không hề bỏ qua bất cứ chi tiết bài có trong bản Tiên Điền Điều đáng chú ý hơn cả đó là xuyên suốt
563 chữ của bài Nguyễn Hầu liệt truyện, thì ở cả hai bản đều hoàn toàn giống nhau
Bên cạnh đó, ưu điểm mà bản Phạm Kim Chi có được đó chính là “sự thận trọng trong cách phiên âm, trong khi dịch các bản chữ Hán và các câu chú thích Dấu chấm, dấu phẩy ở đây cũng được sử dụng chắc chắn, chứng tỏ người biên soạn có một trình độ thưởng thức Kiều khá sâu sắc.” [23, tr.68]
Ở bản Phạm Kim Chi bìa sách có ghi: “Nguyễn Du – Kim túy tình từ - Texte
et notes d‟après les documents originaux avec une biographie de l‟auteur transcrits
en Quốc ngữ par Phạm Kim Chi Edité par Nguyễn Thành Điểm – Préface de M Phạm Văn Tươi, Đốc phủ sứ - Epitre de M Nguyễn Mai “Tấn sĩ” Sài Gòn, imprimerie Huỳnh Kim Danh, 1917 Trước phần văn bản có mấy bài: Lời báo dân
của Phạm Kim Chi Lời nói đầu của Phạm Văn Tươi Bài tựa Kim Túy tình từ dẫn
truyện của cụ Nghè Nguyễn Mai Tiếp theo là bản dịch của Huỳnh Thúc Mậu Tiểu
sử của Nguyễn Du được đề là Nguyễn Hầu liệt truyện Tiếp theo là bản dịch của
Huỳnh Thúc Mậu.” [23, tr.67]
Trải qua một chặng đường, cho đến Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỷ - Trần
Trọng Kim mới thật sự là bản được phổ biến sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân Đây cũng là bản được đánh giá là đẹp, số lượng phát hành rất lớn và là bản được dùng nhiều nhất trong nhà trường Bản Kiều này được in với “khổ 13.5 x 15.5,
Trang 303.254 câu.Bìa sách ghi: Nguyễn Du – Truyện Thúy Kiều (Đoạn trường tân thanh) –
Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo – Việt văn thư xã – Vĩnh hưng long thư quán
Hà Nội, in lần thứ nhất (1925) Bản này, Vĩnh hưng long thư quán tái bản lần thứ 2
và có sửa chữa đôi chỗ vào năm 1927 và sau được nhà Tân Việt Sài Gòn tái bản lần thứ VIII” [23, tr.69] Là bản in lần thứ nhất cho nên khác với những bản được tái bản về sau, bản này “chỉ có bài tựa do Trần Trọng Kim viết vào mùa hạ năm Ất Sửu (1925), và tiếp theo là in nguyên văn chữ Hán hai bài tựa của Tiên Phong Mộng liên đường chủ nhân và Phong Tuyết chủ nhân Thập thanh thị mà chưa có bản dịch kèm theo Tiếp đó là bài thơ đề từ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích” [23, tr.67] Dựa trên
cơ sở bản Kiều này sau đó cụ Bùi Kỷ đã chú thích hiệu đính lại, và được Nhà xuất bản Phổ thông xuất bản năm 1958
Đến năm 1941, Nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội cũng đã giới thiệu cuốn sách
Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với 3.254 câu,
khổ 12 x 20 Cho đến năm 1952, bản này cũng đã được nhà xuất bản Hương Sơn tái bản lại Cũng giống như bản của Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim, bản của Tản Đà cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt từ bản Kiều Oánh Mậu Ngoài ra, bản này cũng chịu ảnh hưởng của bản Kinh ở nhiều chỗ khác
Như vậy, qua quá trình xuất bản và giới thiệu Truyện Kiều của Nguyễn Du,
có thể thấy sức sống bền bỉ, mãnh liệt của một kiệt tác dân tộc, từ khi nó ra đời cho đến khi được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân, không ít những bản Kiều được chú thích và hiệu đính đồng thời Đó cũng chính là nền tảng, điều kiện thuận
lợi giúp cho những người nghiên cứu, độc giả yêu thích Truyện Kiều có thể lựa
chọn cho mình nguồn tài liệu khả tín để hiểu nội dung và ý nghĩa tác phẩm
Phê bình Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XX
Việc tiếp nhận Truyện Kiều ở thế kỷ XIX được nhìn nhận, đánh giá dựa trên
hai quan điểm ít nhiều mang tính nhân văn chủ nghĩa của các nhà nho tài tử, và quan điểm tâm lý của Nho giáo chính thống Hai quan điểm đánh giá đôi khi rất trái ngược nhau
Trang 31Bước sang thế kỷ XX, với sự hỗ trợ đắc lực của báo chí và nhà xuất bản,
nhất là báo chí, việc tiếp nhận Truyện Kiều trở nên năng động hơn, sôi nổi hơn Nhờ
có báo chí, những phản ứng về một kiểu đọc, kiểu bình luận Truyện Kiều cũng
nhanh nhạy hơn, tạo nên không khí tranh luận sôi nổi, mở rộng Thế hệ trí thức tân
học thời kì này đã có những ứng dụng khoa học vào nghiên cứu Truyện Kiều, đặt
những viên gạch đầu tiên cho những công trình nghiên cứu qui mô, theo nhiều phương pháp khác nhau nhờ có tiếp xúc từ rất sớm với các phương pháp phân tích, khảo cứu tác giả, tác phẩm văn học của Tây phương
Tiếp nhận Truyện Kiều từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945 có đặc trưng là
cách phê bình đầy cảm xúc chủ quan dần dần chuyển qua sự phân tích, nghiên cứu
khoa học Trên tạp chí Nam phong ta vẫn có thể gặp những bài viết của các nhà cựu
học chủ yếu bình giá nhân vật theo các chuẩn mực đạo đức Nho giáo, nghĩa là vẫn
đọc Truyện Kiều theo lối cũ; nhưng ta cũng có thể đọc được những bài khảo cứu
hiện đại về hệ thống vấn đề và quan điểm, những bài khảo cứu chưa từng có trong
thế kỷ XIX Chẳng hạn, Nguyễn Đôn Phục trên Nam phong năm 1922, dùng thể vấn đáp rất truyền thống để chủ yếu bình luận về từng nhân vật Truyện Kiều (mặc dù tên bài viết là Văn chương và nhân vật trong Truyện Thúy Kiều) Cách thức triển khai
về cơ bản không khác với Kim Vân Kiều án của Nguyễn Văn Thắng ở thế kỷ XIX,
nhằm mục đích tìm ý nghĩa giáo huấn của tác phẩm qua mỗi nhân vật Cũng trên tạp
chí Nam phong, năm 1924, Vũ Đình Long đã công bố loạt bài khảo cứu về Văn
chương Truyện Kiều từ quan điểm nghệ thuật kể chuyện, điều mà chúng ta ngày nay
gọi là nghệ thuật tự sự Hệ thống các vấn đề được ông chia tách ra để lần lượt xem xét: phân tích cốt truyện và kết cấu, xét về văn chương, xét về cách kể chuyện (ông gọi là văn tự sự), ngôn ngữ đối thoại (văn vấn đáp), miêu tả nhân vật (văn tả người),
miêu tả tâm lý (văn tả tình), văn tả cảnh, triết lý và luân lý Truyện Kiều Thao tác
làm việc như vậy đối với các nhà nho trước đây, quả thật là điều mới mẻ
Những năm hai mươi của thế kỷ XX cũng chứng kiến sự tham dự tích cực
của Truyện Kiều vào đời sống chính trị, văn hóa, xã hội Nhân vật trong Truyện
Kiều trước hết là Thúy Kiều, trở thành một thứ “thuốc thử” độc đáo để kiểm nghiệm
Trang 32sự thay đổi của tư tưởng văn hóa trong giai đoạn giao thời Năm 1929, trên báo Phụ
nữ Tân văn (Sài Gòn) đã có một cuộc thảo luận ở qui mô vừa phải song rất đáng
chú ý Ban biên tập báo nêu câu hỏi: “Kiều nên khen hay nên chê?” Có nhiều bài trả lời khác nhau, trong đó không ít ý kiến tỏ thái độ phê phán theo lập trường đạo đức Nho giáo rất cũ kỹ về trinh tiết Song cũng có ý kiến bênh vực Kiều trên quan điểm nữ quyền khá hiện đại
Trong giai đoạn này Phạm Quỳnh là người đặc biệt đề cao Truyện Kiều
Những năm hai mươi, văn hóa Việt Nam đang ở bước chuyển từ văn hóa phương Đông truyền thống sang nền văn hóa hiện đại với ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây, vấn đề “nền quốc học” đã được đưa ra bàn luận Nền quốc học phải được xây dựng trên những tảng nền nào? Tiếng Việt có ý nghĩa gì đối với một nền quốc học? Thế là nhiều người, nhất là thế hệ trí thức Tân học nghĩ đến vai trò của
Truyện Kiều, nghĩ đến tiếng Việt của Truyện Kiều Năm 1924, Phạm Quỳnh là
người đã khẳng định: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” [39,
tr.1803] Một số chí sĩ như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, đã phê phán lời hô hào như vậy Các cụ phê phán Phạm Quỳnh vì một số lý do khác, nhưng vì Phạm
Quỳnh đã ca ngợi Truyện Kiều nên các cụ đã phê phán luôn Truyện Kiều, bác bỏ khả năng đưa Truyện Kiều vào hàng quốc học, do vậy đã có những nhận định khắt
khe, bất công với kiệt tác này Các cụ vẫn đứng trên lập trường đạo đức nghiêm khắc để xét đoán tác phẩm, cho rằng tuy văn chương hay nhưng không thể tránh
khỏi “cái vẻ ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, văn chương Truyện Kiều “không phải là thứ văn chương chính đại” Đối với các cụ, vấn đề Truyện Kiều trước hết là
vấn đề văn hóa đạo đức, vấn đề quốc học với chủ trương nền quốc học phải gắn với Hán học, Khổng học chứ không thể đi với tác phẩm mua vui, giải trí như thế
Trong các thập niên ba mươi và bốn mươi của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu văn học được đào tạo theo truyền thống nghiên cứu Tây phương đã bắt đầu áp dụng các lý thuyết mới ở phương Tây vào nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung,
Truyện Kiều nói riêng Các hướng tiếp cận như tiếp cận văn hóa, tiếp cận xã hội
học, tiếp cận phân tâm học, tiếp cận hình thức đều có thể bắt gặp trong những trang
Trang 33viết về kiệt tác này của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau Như Đào Duy Anh viết
Khảo luận về Kim Vân Kiều, ông có thể đã vận dụng phương pháp văn hóa xã hội
thực chứng Đào Duy Anh trước khi phân tích Truyện Kiều, đã nghiên cứu các yếu
tố văn hóa quanh về tiểu sử Nguyễn Du đặc điểm văn hóa của vùng đất quê hương, của dòng họ; đã khảo sát nhân tố thời thế có liên quan đến gia đình và bản thân tác giả, mô tả hành trạng và văn nghiệp nói chung của Nguyễn Du Trước khi phân tích
Truyện Kiều, ông cũng so sánh Kim Vân Kiều truyện với Đoạn trường tân thanh,
sau đó, tìm hiểu kết cấu tác phẩm Phần nghiên cứu về nghệ thuật văn chương cũng được triển khai hệ thống, kể cả phân tích từ ngữ, thể thơ lục bát, các lối văn tả người, tả cảnh, tả tâm lý, tình cảm Đặc biệt trong chương “Tư tưởng của Nguyễn
Du” và chương “Địa vị sách Đoạn trường tân thanh trong tư tưởng và văn chương Việt Nam”, Đào Duy Anh cũng đã đặt Đoạn trường tân thanh vào không khí văn
hóa, văn học của thời đại, từ đó thấy được cả điểm chung và cái riêng Theo Đào
Duy Anh, Truyện Kiều không phải là “một sản vật ngẫu nhiên, phi thường” mà nó
là nơi hội tụ, kết tinh tài năng của Nguyễn Du
Trong những năm bốn mươi của thế kỷ XX, nhiều lý thuyết phê bình văn học thịnh hành ở phương Tây đã ảnh hưởng đến Việt Nam Có lẽ người tích cực nhất
trong việc vận dụng các lý thuyết mới đó vào nghiên cứu Truyện Kiều là Nguyễn
Bách Khoa Nguyễn Bách Khoa đã áp dụng phân tâm học để đọc tâm lí nhân vật
Truyện Kiều Theo Nguyễn Bách Khoa, ý thức đạo đức nho giáo đã lái Nguyễn Du
đến chỗ hành xử không hợp quy luật tâm lí khi miêu tả đời sống nội tâm của Kiều Nguyễn Bách Khoa cũng phê phán Nguyễn Du đã để cho Kiều từ chối tình yêu sắc dục của Kim Trọng trong cái đêm mà cả nhà đi ăn tiệc bên ngoại chưa về, coi đó là đạo đức giả mà theo chữ dùng của Nguyễn Bách Khoa là “lương tâm hương nguyện”
Vận dụng phân tâm học để nghiên cứu văn học có thể bổ sung cho các hướng tiếp cận khác đối với văn bản Nguyễn Bách Khoa lại là một trong số ít người đi tiên phong ở nước ta dùng thao tác của phân tâm học đọc văn Nhưng cách đọc của Nguyễn Bách Khoa rõ ràng là còn đơn giản và máy móc
Trang 34Tóm lại, trong hơn bốn mươi năm đầu thế kỉ XX thẩm định phê bình Kiều, các nhà nghiên cứu đã góp sức tạo nên một bức tranh toàn cảnh về lịch sử tiếp nhận tác phẩm này hết sức phong phú và thú vị Dẫu trên bức tranh ấy còn có nhiều gam màu “nóng” – “lạnh”, “trầm” – “sáng” khác nhau bởi tinh thần và tư tưởng chung vẫn còn ít nhiều mâu thuẫn, nhưng phải công nhận một điều rằng Nguyễn Du và sức
ảnh hưởng mãnh liệt của Truyện Kiều đối với mỗi người Việt là một điều hiển nhiên
không thể chối cãi được
Trang 35CHƯƠNG 2
TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU,
PHÊ BÌNH VĂN HỌC
2.1 Nghiên cứu về Nguyễn Du và văn bản Truyện Kiều
2.1.1 Nghiên cứu về Nguyễn Du
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Du là một trong những tác giả được nhiều người nghiên cứu nhất Dường như, không một phương diện nào trong tiểu sử và sáng tác của ông còn là mảnh đất “ít người đào bới” Từ những năm đầu thế kỷ XX, ta thấy các học giả đã dành một phần không nhỏ sự quan tâm đến cuộc
đời của Nguyễn Du bên cạnh những trang viết về tác phẩm Truyện Kiều Có thể kể
đến những cái tên như Nguyễn Thiện Lâu, Nguyễn Đức Tánh, Hoa Bằng… khi nghiên cứu về tác giả Nguyễn Du họ đều nhìn dưới góc độ lịch sử - văn hóa
Hoa Bằng viết về Thân thế và văn nghiệp của thi hào Nguyễn Du (1765 –
1820) đăng trên tạp chí Tri tân nhân kỷ niệm 122 năm sau khi thi hào Nguyễn Du tạ
thế Trước khi lược thuật về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Du, Hoa Bằng đã đề
cao vai trò của Truyện Kiều đối với nền quốc văn của ta và khẳng định: “Tác giả
Truyện Kiều, Nguyễn Du tiên sinh đã thành công trong cuộc thí nghiệm tiếng mẹ đẻ
ấy” “Ngày ấy đã in trên trang sử văn học Việt Nam những nét tối quan trọng, nhắc lại cho chúng ta một cái ghi nhớ sâu xa, một cái khêu gợi về tinh thần mến chuộng quốc văn, một cái quan niệm thiết tha mến chuộng tiếng mẹ đẻ và, hơn nữa, một cái hào hứng tỏ rằng tiếng Nam ta, cũng chẳng kém gì tiếng của các nước văn minh có thể diễn đạt được tư tưởng, tình tự và ý thức một cách đầy đủ thỏa đáng” [39, tr.87] Giải thích cho việc Nguyễn Du tuy nặng lòng với nhà Lê nhưng vẫn ra làm quan cho triều Nguyễn khi Gia Long thống nhất đất nước, Hoa Bằng cho rằng Nguyễn
Du đã “tự đặt mình vào địa vị một gái duyên phận dở dang, muốn “khép cửa phòng thu”, “mặc ai mưa Tần gió Sở” [39, tr.88]
Có thể thấy chỉ với 54 năm tại thế, Nguyễn Du đã tận mắt chứng kiến mấy phen “thay đổi sơn hà” Đối với Nguyễn Du, biến cố chính trị lớn đầu tiên mà ông
Trang 36chứng kiến và ảnh hưởng đến số phận của ông hẳn chưa phải là sự sụp đổ của vương triều nhà Lê mà là sự tiêu tan của cơ nghiệp chúa Trịnh Trong khoảng gần
30 năm Nguyễn Nghiễm (cha của Nguyễn Du) đã là “người nhà”, “tâm phúc” bên chúa, không chỉ có cha Nguyễn Du mà mối “thân tình” với nhà chúa còn được củng
cố bằng tình bạn khăng khít giữa Trịnh Sâm và Nguyễn Khản – con trai Nguyễn Nghiễm Trong dòng tộc họ Nguyễn Tiên Điền chỉ có Nguyễn Quýnh (con trai thứ của Nguyễn Nghiễm với người thiếp Nguyễn Thị Xuyến) là người gần như là duy nhất của họ Nguyễn Tiên Điền lựa chọn sự trung thành đến chết với vua Lê Những người khác, thậm chí có người đã sớm từ quan nhà Lê, theo Tây Sơn từ rất sớm, trước khi Nguyễn Huệ thống nhất Bắc-Nam
Như vậy, từ góc nhìn văn hóa của dòng họ mà xét, không có bất cứ lý do gì buộc Nguyễn Du phải kiên trì tín nhiệm trung thành với vương triều nhà Lê Nhưng lòng “trung” là đức tính quan trọng, là phẩm chất cao nhất của nhà Nho Dòng họ Nguyễn Tiên Điền đời đời ăn lộc triều đình nên “Tiên sinh cũng như người nhà nho
có tiết tháo khác, thường ôm cái tư tưởng trung với cá thể một triều đại, chứ không chú trọng vào toàn cục một quốc gia Đối với Tây Sơn bấy giờ, tiên sinh còn cho là nước cừu địch, hay quá nữa, là một ngụy triều nên không chịu ra giúp tân triều hay cuộc kiến thiết vì lấy cớ rằng là con nhà tướng, đời đời chịu ơn vua Lê” [39, tr.87] Nói về thái độ và lối ứng xử của Nguyễn Du trên hoạn lộ, Hoa Bằng đã lược thuật lại con đường hoạn lộ của Nguyễn Du từ khi ông ra làm quan cho triều Gia Long Nguyễn Du khởi đầu hoạn lộ của tân triều bằng chức Tri phủ Thường Tín (Hà Đông) vào năm 1802, sau đó ông lần lượt được bổ làm Đông Các Đại học sĩ, rồi làm Cai bạ Quảng Bình (1809), tới năm 1813 Nguyễn Du được thăng làm Cần chính điện học sĩ rồi đi sứ sang Tàu Sau khi trở về được thăng làm Lễ bộ Hữu tham tri Sau đó, năm 1820 được cử đi sứ Trung Quốc, ông chưa đi thì mất Như thế có thể thấy rằng con đường hoạn lộ của Nguyễn Du rất thuận lợi Không những vậy, triều đình nhà Nguyễn còn cho ông một sự sủng ái đặc biệt: “Khi Nguyễn Du mất, vua Thánh Tổ rất thương tiếc, ngài đã ban cho tang gia 20 lạng vàng , hai cây gấm Tàu, khi đám tang về, nhà vua lại còn ban cho 300 quan tiền nữa” [39, tr.88]
Trang 37Nhưng thái độ của Nguyễn Du khi ra làm quan với nhà Nguyễn lại hết sức rụt rè, ông giữ mình, ít khi tham gia bàn luận triều chính đến nỗi vua Gia Long phải nhắc nhở: “Nhà nước dùng người chỉ cốt lựa lấy người hiền, chứ không hề phân biệt Nam – Bắc Khanh và Ngô Vị đã được bề trên tri ngộ, làm đến á khanh, thì nên không cái gì đã biết mà không nói, trở sức làm đầy đủ chức vụ của mình Vậy hóa nên lén lút, rụt rè chăm chỉ vâng dạ cho có chuyện” [39, tr.88] Giải thích thái độ ấy của Nguyễn Du, Hoa Bằng cho rằng: “Trong khi giương buồm trên biển loạn, tiên sinh thường bị các quan trên làm khó dễ, nên tâm trí vẫn bực dọc không vui:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” [39, tr.88]
Nghiên cứu về con người Nguyễn Du, Nguyễn Bách Khoa cho rằng chính mảnh đất xứ Nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới tinh thần và tình cảm của Nguyễn Du Ngược lại với quan điểm của Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Thiệu Lâu lại đưa ra quan điểm đối lập “nói rằng ảnh hưởng địa dư, địa lý, lịch sử tới dân sống trong miền và thứ nhất là tới một nhà văn rất mơ hồ, khó định theo phương pháp khoa học” [39, tr.57] Nói tới mảnh đất xứ Nghệ, mảnh đất “tứ đắc” (bốn bề hiểm trở) đã từng đi vào câu ca:
Hồng Lĩnh sơn cao, Song ngư hải khoát
Nhược trị minh thời, Nhân tài tú phát
Nhắc tới xứ Nghệ, người ta sẽ nghĩ tới mảnh đất đã sản sinh ra biết bao nhiêu nhân tài làm rạng danh đất Việt như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Công Trứ,… và nhất là Nguyễn Du Nguyễn Thiệu Lâu đã bác bỏ quan điểm rằng: “Tài không ở địa lý” mà ông chú trọng ảnh hưởng của dòng họ tới Nguyễn Du Ngược dòng thời gian tìm về lịch sử dòng họ của Nguyễn Du, Nguyễn Thiệu Lâu khẳng định dòng họ Nguyễn Du vốn không phải có nguồn gốc từ xứ Nghệ mà dòng họ của tác giả cũng như các dòng họ khác ở xứ Bắc lúc bấy giờ đã chạy chốn vào xứ Nghệ xin được cư
ẩn ở làng Tiên Điền khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê (đầu thế kỷ XVI)
Trang 38Như vậy vấn đề khảo cứu về tiểu sử của Nguyễn Du giai đoạn này vẫn còn nhiều vấn đề để tranh cãi, các ý kiến đưa ra còn rất chủ quan và thiếu một phương pháp khoa học
2.1.2 Văn bản Truyện Kiều
Khi xem xét đến vấn đề văn bản của Truyện Kiều, Dương Quảng Hàm đã đi tìm nguồn gốc Truyện Kiều của Nguyễn Du để xác định xem phần nào của tác phẩm
thuộc về sáng tạo của Nguyễn Du, phần nào là Nguyễn Du mượn của người đi trước
Cũng nói về nguồn gốc Truyện Kiều, Nguyễn Kỳ Nam trong bài tựa Vịnh Kiều
đã viết: “Cuối truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nguyên vì nàng Vương Thúy Kiều gặp nghịch cảnh mà làm ra Rồi có tay tài hoa danh sĩ, nghiệp đầy thông tuệ, lòng giàu văn chương, nhìn suốt quãng đời của nàng Kiều trước sau hàng 15 năm ấy, nặng lòng thương hại một đoạn u tình của nhân gian, bèn chia đều phân mục truyện
ấy làm 20 hồi để đợi sau nghìn thu ai làm bạn chung mối ưa thích thì cùng thưởng giám Truyện ấy là truyện một khách son phấn ở bên Tàu đã được ông Thánh Thán phê bình rồi khi truyền tụng đến nước Nam, lại được cụ Tiên Điền tài chế ra bằng một âm điệu và cách luật khác” [39, tr.90] Sử dụng phương pháp so sánh, các học
giả thời kỳ này bước đầu đã so sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân với Truyện Kiều Nôm của Nguyễn Du để thấy được về đại cương thì hai tác phẩm này không có gì khác nhau nhưng để Truyện Kiều trở thành một tác phẩm phổ biến
rộng rãi đối với nhân dân thì phải kể đến tài năng của Nguyễn Du trong việc Việt
hóa Truyện Kiều: “Khi so sánh Kim Vân Kiều truyện và bản Truyện Kiều Nôm,
người ta thấy chúng giống nhau cả từ đại cương đến chi tiết, nhưng có những điều
ta phải phục là tác giả Nguyễn Du đã làm cho Việt hóa các vai trong truyện và cải thiện được những chỗ khuyết điểm của nguyên văn chữ Hán Nói tóm lại, Nguyễn
Du đã cải hóa được những món đã ăn, nên người đọc dễ nhận thấy những chỗ sáng tạo và đặc sắc của ngòi bút Tiên Điền” [39, tr.90]
Như vậy, các học giả thời kỳ này bên cạnh việc tiếp nhận những giá trị nội
dung của Truyện Kiều thì một vấn đề nữa cũng dành được không ít sự quan tâm của
Trang 39họ đó là đều đi lý giải những nguyên nhân ảnh hưởng tới cá tính của thiên tài Nguyễn Du Họ tìm nguyên nhân từ những yếu tố khách quan như địa dư, địa lý, lịch sử Tuy những lý giải này còn mang tính chủ quan nhưng bước đầu cho chúng
ta hiểu thêm về con người Nguyễn Du và Truyện Kiều Tác phẩm đã thể hiện những suy nghĩ, cá tính của con người nhà thơ Đặc biệt việc nghiên cứu văn bản Truyện
Kiều đã giúp cho các nhà khảo cứu Truyện Kiều hiện nay tránh được những cách
hiểu chưa đúng từ các bản sao khác nhau
Một hướng tiếp cận Truyện Kiều nữa trên báo chí Nam bộ là đi tìm nguồn gốc văn bản của Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến vấn đề văn bản của Truyện Kiều
Như Trực Thần, ông chú ý tới lịch sử hình thành và vấn đề văn bản của
Truyện Kiều Bàn về kết thúc Truyện Kiều, Trực Thần thuật lại những phiên bản
khác nhau của câu chuyện này Ông nhắc lại trường hợp của Phạm Quỳnh với bài
viết cho rằng Đoạn trường tân thanh được truyền cảm hứng từ truyện ngắn Ngu sơ
tân trí của Dư Hoài, trong đó truyện kết thúc ở chi tiết Kiều bị gả cho tù trưởng
Vĩnh Thuận và trầm mình ở sông Tiền Đường, còn kết thúc đoàn viên là sự sáng tạo của Nguyễn Du Sau đó Đào Duy Anh bác lại ý kiến trên của Phạm Quỳnh, cho
rằng tác phẩm được phóng tác từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và
Nguyễn Du không có công sáng tạo ra cảnh đoàn viên Sau khi dẫn ra hai ý kiến trên thì Trực Thần cho rằng dẫu có hay không Nguyễn Du là người sáng tạo ra cái
kết ấy của Truyện Kiều thì trong Truyện Kiều phải có cái cảnh đoàn viên ấy vì
Truyện Kiều chính là tâm sự của Nguyễn Du
Tác giả BT trên Phụ nữ Tân văn (1929) giới thiệu quyển Phong tình lục của Thanh Tâm Tài Nhân và đặc biệt là Tuyết Nguyệt Mai của Trần Lãng có viết về lai
lịch của Thuý Kiều và Từ Hải Tác giả kể về cái kết Từ Hải nhảy xuống sông chết còn Thuý Kiều dùng gươm tự sát chứ không trầm mình ở sông Tiền Đường và về sau được vua nhà Minh sắc phong là “nghĩa liệt cung nhân”
Đi nghiên cứu về nguồn gốc văn bản Truyện Kiều, ta thấy báo chí Nam Bộ cũng rất quan tâm tới Truyện Kiều mặc dù Truyện Kiều có thể không được độc giả
Trang 40Nam Bộ đón nhận nồng nhiệt như ở miền Bắc nhưng điều đó không có nghĩa là
Truyện Kiều không hấp dẫn những người làm văn, làm báo Nam Bộ Báo chí Nam
bộ quan tâm tới Truyện Kiều một phần là nhờ vào không khí các học giả miền Bắc
đã khởi xướng nên, cụ thể là cuộc kỉ niệm Nguyễn Du năm 1924 của hội Khai Trí
Tiến Đức và những tranh luận xung quanh bài ca ngợi Truyện Kiều của Phạm Quỳnh trên Nam phong Với các ý kiến của mình trên báo chí quốc ngữ Nam bộ, các học giả Nam bộ cũng góp thêm tiếng nói vào cuộc tranh luận Truyện Kiều và
các nhà văn, nhà báo Nam bộ có cơ hội bộc lộ quan điểm của mình về nhiều phương diện văn chương, xã hội và thời đại
2.2 Phê bình Truyện Kiều về phương diện tư tưởng: Phật giáo, Nho giáo
(Phê bình cổ điển)
2.2.1 Phê bình Truyện Kiều từ tư tưởng Phật giáo
Phê bình Truyện Kiều trên tư tưởng của Phật giáo là khuynh hướng thu hút
khá nhiều nhà nghiên cứu, học giả Mỗi người đã đi theo khuynh hướng này với
những cách khác nhau Trong những năm đầu thế kỷ XX, học giả phê bình Truyện
Kiều trên khuynh hướng Phật giáo sớm nhất phải kể đến Trần Trọng Kim, Phạm
Quỳnh, Đào Duy Anh… những nghiên cứu của các học giả đã góp phần làm cho người đọc có nhận thức sâu hơn về tâm lý nhân vật, về những quan niệm của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều Hướng nghiên cứu này khá sinh động, nó đã gợi
cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và hướng nghiên cứu này còn tiếp tục tới ngày nay
Khi nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều dưới góc độ tư tưởng của Phật giáo, các
học giả đã căn cứ vào cuộc đời của Nguyễn Du, cuộc đời của các nhân vật trong
Truyện Kiều để làm cơ sở phê bình Cuộc đời của Nguyễn Du trải qua nhiều bước
thăng trầm và ông có điều kiện tiếp xúc với Phật giáo từ sớm Ngoại trừ mười năm thơ ấu, Nguyễn Du sống yên ổn trong vòng tay của gia đình, nhưng khi những biến
cố dồn dập xảy ra: mười tuổi mất cha, mười hai tuổi mẹ qua đời Và cũng từ đó, nhà thơ nếm mùi thăng trầm khổ ải của cuộc đời Triều đại đổi thay khiến cho số phận của nhà thơ càng mong manh hơn bao giờ hết Suốt mười năm giang hồ gió bụi, lúc