Trong đó, bằng những dẫn chứng cụ thể, Luận văn này đã làm sáng tỏ đưọc chính sách xuyên suốt của thực dân đối với các tôn giáo là ưu ái, nâng đõ' Công giáo, các tôn giáo còn lại thì tìm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN VĂN KHẢI
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA THỰC DÂN PHÁP
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐÉN NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHAN VĂN KHẢI
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA THỰC DÂN PHÁP
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐÉN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN DUY PHƯƠNG
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM Đ O A N iii
LỜI CẢM Ơ N iv
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC S Ĩ v
INFORMATION PAGE OF RESEARCH RESU LTS vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp cơ bản của luận văn 5
7 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA THỰC d â n PHÁP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐÉN NĂM 1945 6
1.1 Vài nét về tình hình chính trị, tôn giáo ở nước Pháp từ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ X X 6
1.2 Tinh hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ X X 9
1.3 Tổng quan chính sách của các triều đại phong kiến độc lập tự chủ đối với tôn giáo (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX) 15
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐÉN NĂM 1945 25
2.1 Đối với Công giáo 25
2.1.1 Thời kỳ từ sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đến những năm 90 của thế kỷ XIX 25
2.1.2 Thời kỳ từ những năm 90 của thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ X X 30
2.1.3 Thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 39
2.2 Đối với Phật giáo 41
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1884 đến năm 1930 41
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1930 đến năm 1945 44
2.3 Một số tôn giáo khác 50
Tiểu kết chương 2 57
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM, TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TỪ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦ0A THỰC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM (1884 - 1945) 60
3.1 Đặc điểm 60
3.2 Tác động từ chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam (1884 - 1945) 66
3.2.1 Tác động đối với công cuộc đô hộ của chế độ thực dân Pháp 66
Trang 43.2.2 Tác động đối với chính trị, văn hóa, xã hội Việt N am 68
3.3 Bài học lịch s ử 73
Tiểu kết chương 3 77
KẾT L U Ậ N 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM K H Ả O 81 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trĩnh nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong Lận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những tài liệu tham khảo sử dụng cho Luận văn có nguồn gốc rõ ràng Neu có điều gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Đà Nang, tháng 02 năm 2020
Ngiròi cam đoai
Phan Văn Khải
J
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Đe hoàn thành được Luận văn này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi xin gửi lời chân thành cảm on sâu sắc nhất đến quý cô TS Nguyễn Duy Phương - Trường Đại học Sư phạm Đà Nang đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn cho ý kiến và động viên tác giả luận văn này trong suốt quá trình học tập cũng như tiến hành triển khai thực hiện đề tài
Xin được trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo Khoa Lịch
sử - Đại học Sư phạm Đà Nang và các thầy cô giáo thỉnh giảng đã tận tình giảng dạy
để tôi hoàn thành được khóa học của mình, đồng thời cũng đã trang bị những kiến thức nâng cao trong quá trình học tập
Qua đây cũng xin trân quý những tình cảm và sự tạo điều kiện của cơ quan đang công tác trường Trung học phổ thông Phan Thành Tài đã ủng hộ tôi hoàn thành khóa học
Xin cảm ơn chân thành đến sự giúp đỡ, tạo điều kiện cung cấp cho bản thân tôi những tài liệu liên quan quý giá từ phía Học giả Phạm Ngô Minh và TS Dương Thanh Mừng
Cuối cùng xin dành những lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè là những người luôn bên cạnh động viên, quan tâm, chia sẻ, cảm thông và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Trang 7TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC s ĩ
Đề tài: CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA TH ựC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1945
Ngành: Lịch sử Việt Nam
Họ tên học viên: Phan Văn Khải
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Duy Phương
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Đà Nang
Tóm tắ t: Đề tài “Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam từ năm 1884 đến năm 1945” đã góp phần trình bày một cách khái quát chính sách tổng thể về tôn giáo của thực dân Pháp trong thời kỳ đô hộ nước ta Qua đó, về mặt khoa học, Luận văn góp phần làm rõ thêm mối quan hệ giữa chế độ thuộc địa Pháp với các tôn giáo ỏ' Việt Nam thời kỳ Pháp đô hộ, cung cấp thêm một số dẫn chứng về mức độ của giới cầm quyền Pháp ỏ' Việt Nam đối với Công giáo nói riêng và các tôn giáo khác nói chung do chịu ảnh hưởng từ thái độ của giới cầm quyền ỏ' nước Pháp đối vói tôn giáo Trong đó, bằng những dẫn chứng cụ thể, Luận văn này đã làm sáng tỏ đưọc chính sách xuyên suốt của thực dân đối với các tôn giáo là ưu ái, nâng đõ' Công giáo, các tôn giáo còn lại thì tìm cách kiểm soát, hạn chế phát triển Mặt khác, nổi bật nhất trong chính sách tôn giáo của chế độ thực dân ở Việt Nam là lợi dụng các tôn giáo đê phục vụ lợi ích chính trị của thực dân v ề ý nghĩa thực tiễn góp phần nhìn nhận đánh giá một cách chân thực, sáng tỏ về thái độ của thực dân Pháp đối với các tôn giáo ở Việt Nam (1884 - 1945), giúp cho mọi ngưòi thấy được sự thâm hiểm, tác hại khôn lường khi vấn đề tôn giáo bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc lợi dụng đê phục vụ mưu đồ chính trị.
Hưóng nghiên cứu tiếp theo của đề tài này là tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam thời Pháp thuộc (1884 - 1945) bằng phương pháp sưu tầm và sử dụng các nguồn tư liệu có giá trị là các văn bản của chính phủ Pháp đưong thời liên quan đến tôn giáo Qua
đó, đánh giá một cách toàn diện về thủ đoạn, mục đích và tác động của các chính sách tôn giáo của thực dân ở Việt Nam.
T ừ khóa: Chính sách tôn giáo, Thực dân Pháp, Việt Nam, Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo /
TS Nguyễn Duy Phương Phan Văn Khải
Trang 8INFORMATION PAGE OF RESEARCH RESULTS
Name of thesis: RELIGION POLỈCY OF THE LEGAL ERENCH IN VIET NAM FROM 1884 TO 1945
Major: Vietnamese History
Full name of Master student: Phan Van Khai
Science instructor: Dr Nguyên Duy Phuong
Training intitution: Da Nang University o f Education
Abstract: The topic "The religious policy of the French colonialists in Vietnam from 1884 to 1945" has contributed to an overview o f the overall policy of religion of French colonialism during the period o f colonization of our country Thereby, scientiTically, the tliesis contributes to further clariíying the reỉationship between the French colonial regime and the religions in Vietnam during the French colonial period, providing some additional evidence of the level of the world French rights in Vietnam with regard to Catholicism in particular and other religions in general are iníluenced by the attitude o f the ruling authorities in France towards religion In particular, with speciTic evidence, this thesis clariTies the thorough policy o f colonialism for the religions o f íavoring and supporting Catholicism, the remaining religions seek to control, development restrictions On the other hand, the most prorainent íeature of the colonial regime's religious policy in Vietnam is taking advantage of religions to serve its colonial political interests In terms of practical meaning, it helps to recognize and assess honestly and clearly about the attitude of the French colonialism to the religions in Vietnam (1884 - 1945), helping people to see the proíound and dangerous unpredictable damage when religious issues were colonized by colonialists for political ploy.
The next research direction of this topic is to íurther study the religious policies o f the French colonialists in Vietnam during the French colonial period (1884 - 1945) by collecting and using valuable sources The ruling is docụments of the contemporary French govenunent related to religion Thereby, a comprehensive assessment of the tactics, goals and impacts of religious policies of colonialists in Vietnam.
Key words: Religious policy, French colonialism, Vietnam, Cathoĩicism, Buddhism, Protestantism, Cao Dai and Hoa Hao.
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỉ XXI, tín ngưỡng tôn giáo trở thành một vấn đề cấp thiết có tác động to lớn không chỉ đến các quốc gia, vùng lãnh thổ mà cả trong quan hệ quốc tế Tôn giáo trở thành một lĩnh vực được giới nghiên cứu quan tâm về cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn Lĩnh vực này không chỉ đơn thuần là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảo nhân dân, mà còn có tác động to lớn trên mọi mặt của xã hội từ văn hóa, đạo đức, kinh tế, chính trị, an ninh và quốc phòng Hơn nữa, trong bình diện quốc tế, tôn giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc, chủ nghĩa khủng bố và cả chính sách của các nước lớn
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo Trong những năm trở lại đây, song song với xu hướng phát triển, tôn giáo nước ta lại tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, đôi khi trở thành điểm nóng gây mất trật tự an ninh xã hội và ảnh hưởng không nhỏ đến khối đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch can thiệp, kích động, chống phá nội bộ Nhà nước Việt Nam Từ thực tiễn phức tạp đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải luôn có quan điểm, nhận thức mới với vấn đề tôn giáo một cách phù hợp với thời đại Qua đó, có những chủ trương, sách lược đúng đắn để duy trì, hài hòa sự phát triển của tôn giáo trong thời đại mới, góp phần đảm bảo lợi ích của dân tộc Với những nguyên nhân trên, đòi hỏi các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà nghiên cứu tôn giáo phải có một nhận thức thấu đáo và khoa học về các vấn đề lịch sử tôn giáo để rút ra được những kết luận hữu ích góp phần định hướng xã hội cho những chính sách, chủ trương của Nhà nước
Lịch sử Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945) đánh dấu sự chuyển biển to lớn trong hoạt động các tôn giáo dưới tác động của chính sách thực dân Trong
đó, chính sách tôn giáo của chính quyền thực dân Pháp có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển của các tôn giáo đã xuất hiện trước đó ở nước ta, đặc biệt là Công giáo
và Phật giáo Ngoài ra, trong thời kỳ này còn hình thành thêm một vài tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo Chính sách và thái độ của thực dân đối với từng tôn giáo
là không giống nhau, nhưng đều chung một mục đích là phục vụ cho nhu cầu cai trị thuộc địa Do đó, cần nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện, thấu đáo các chính sách tôn giáo thời Pháp thuộc để hiểu được mục đích, sự ảnh hưởng của nó đến các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Đồng thời, có thể vẽ lại bức tranh tổng thể các chính sách tôn giáo thời kỳ này Qua đó rút ra được những đặc điểm, tác động của chính sách tôn giáo của thực dân và bài học thấu đáo về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân là điều cần thiết
“Chính sách tôn giáo ” theo nghĩa hiện đại chính là các văn bản, chủ trương của
Nhà nước đối với các tôn giáo Từ cách hiểu như vậy, ta thấy rằng so với các thời kỳ phong kiến của nước ta trước đó thì thời Pháp thuộc chính sách tôn giáo đã rõ ràng
Trang 10hơn Chính sách đó không những thể hiện thái độ của thực dân đối với từng tôn giáo,
mà còn thể hiện mối quan hệ giữa chế độ thuộc địa với các tổ chức tôn giáo bằng các định chế pháp luật như Nghị định, Sắc lệnh Tuy nhiên, sẽ không như chính sách tôn giáo như hiện nay là một hệ thống luật rõ ràng, chi tiết thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo Do đặc trưng là chế độ thuộc địa nên các chính sách này
sẽ ảnh hưởng trực tiếp từ các quy định riêng của chính quyền thuộc địa cũng như các chính sách về tôn giáo của chính quốc, vì vậy nó chưa thực sự trở thành một chỉnh thể thống nhất
Nghiên cứu chính sách tôn giáo của thực dân Pháp có ý nghĩa thực tiễn to lớn là vậy, tuy nhiên trong thực tế hiện nay, vẫn chưa có các công trình chuyên sâu về đề tài này, nếu có vẫn còn nhiều điều chưa đề cập đến, hoặc chỉ tiếp cận một cách khái quát hoặc là đối với từng tôn giáo riêng lẽ
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Chính sách tôn giáo của thực dân
Pháp ở Việt Nam từ năm 1884 đến năm 1945 ” để làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc
sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Vấn đề tôn giáo là một vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu, trong đó có nhiều công trình chuyên khảo, đề tài phong phú với từng tôn giáo cụ thể như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài Trong đó, đề tài về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước cũng khá nhiều Tuy nhiên, đối với mảng chính sách tôn giáo của thực dân Pháp trong quá trình xâm lược và đô hộ hiện nay còn khá khiêm tốn Chưa có một công trình cụ thể chuyên sâu, bao quát về vấn đề nghiên cứu này Phần lớn các công trình tập trung vào nghiên cứu lịch sử phát triển của các tôn giáo Nếu có thì chủ yếu tập trung vào từng tôn giáo cụ thể mà chủ yếu là Công giáo như các công
trình của tác giả Patrick J.N Tuck, Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách của đế
quốc tại Việt Nam 1857-1914: Một sưu tập tư liệu Nxb Đại học Liverpool, 1987
Hoặc Luận văn Tiến sĩ của tác giả Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách
thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857 - 1914), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002 Hai tác
phẩm trên là nguồn tư liệu quý giá trong vấn đề nghiên cứu chính sách của Pháp đối với Công giáo ở nước ta trong thời kì mở đầu can thiệp và xâm lược Ngược lại, làm sáng tỏ được vai trò của Giáo sĩ Thừa sai nói riêng và Công giáo nói chung trong công cuộc xâm lược, bình định và cai trị ở Việt Nam Đặc biệt trong đó, tác giả Patrick J.N Tuck đã để lại một công trình nghiên cứu về chính sách của thực dân về tôn giáo bằng một hệ thống tư liệu đồ sộ, rõ ràng và quý báu Qua tập hợp các tư liệu từ nhiều nguồn đáng tin cậy khác nhau đặc biệt là Thư khố của Hội thừa sai Hải ngoại Paris, đây là một công trình đáng giá, hữu ích và không thể thiếu khi nghiên cứu chính sách tôn giáo của thực dân Pháp đặc biệt là đối với Công giáo
Đối với Phật giáo, cũng chưa xuất hiện một công trình cụ thể nào nghiên cứu trực tiếp vấn đề này Tuy nhiên, qua nhiều tài liệu liên quan đến Phật giáo cũng có đề cập
Trang 11đến thái độ của thực dân Pháp đến tôn giáo này Trong đó, công trình Luận án Tiến sĩ sau đó được xuất bản thành sách của tác giả Dương Thanh Mừng cũng là một tài liệu
đáng quí khi nghiên cứu vấn đề này Sách “Phong trào chấn hưng Phật giáo miền
Trung Việt Nam” (1932 - 1951) của tác giả Dương Thanh Mừng do Nhà Xuất bản Đà
Nẵng ấn hành vào năm 2018, trong nội dung cũng có nhiều đoạn đề cập đến chính sách của thực dân Pháp với Phật giáo Đây cũng là tài liệu khi nghiên cứu chính sách tôn giáo của thực dân Pháp thời Pháp thuộc chúng ta cần tìm hiểu Ngoài ra, tác giả
này còn có bài viết: Thực dân Pháp với vấn đề chấn hưng PGVN trong nửa đầu thế kỷ
X X đăng trên Tạp chí Phật học số 1 năm 2015 hoặc cổng thông tin của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam https://phatgiao.org.vn
Về bài viết trên các tạp chí, tiêu biểu có bài Khái quát về chính sách tôn giáo của
chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam (1858-1954) của tác giả TS Lê Tâm Đắc trên
cổng thông tin của Ban Tôn giáo chính phủ http://btgcp.gov.vn Bài viết trên đã khái quát được về cơ bản những chính sách của thực dân Pháp đối với tôn giáo ở Việt Nam trong quá trình xâm lược và đô hộ Qua bài viết của TS Lê Tâm Đắc ta thấy rõ được
chính sách xuyên suốt của thực dân Pháp là “ưu tiên Công giáo, cưỡng chế Phật giáo
theo ý định và không khuyến khích những tôn giáo nào không có lợi cho sự cai trị ”,
đồng thời cũng qua bài viết này ta khẳng định được chính sách tôn giáo ở thuộc địa phụ thuộc trực tiếp từ chính sách tôn giáo của từng thời kì khác nhau, từng chính phủ cầm quyền khác nhau ở Chính quốc
Ngoài ra, khi nhắc đến vấn đề tư tưởng, tôn giáo không thể không kể đến Giáo sư
Trần Văn Giàu với tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh là Sự phát triển của
tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, gồm 3 tập do Nhà xuất
bản Khoa học xã hội ấn hành Tác phẩm này đã bàn đến các tôn giáo trong mối quan
hệ với thực dân khá rõ ràng Đây cũng là một tác phẩm giá trị để nghiên cứu chính sách tôn giáo của chế độ thực dân
Đối với đạo Tin Lành, một số Luận án Tiến sỹ đã dành một mục nhỏ để đề cập đến nội dung chính quyền thực dân với đạo Tin Lành Qua đó, thấy rõ được chính sách
và thái độ của thực dân Pháp với tôn giáo này Cụ thể có hai Luận án như: Vũ Thị Thu
Hà (2014), Hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc (từ
khởi đầu đến đổi mới - cải cách mở cửa), Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam và Nguyễn Xuân Hùng (2017), Quá trình truyền giáo đạo
Tin Lành tại Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975, Luận án Tiến sĩ sử học, Viện Hàn
lâm khoa học xã hội Việt Nam
Như vậy, mối quan hệ giữa thực dân và các tôn giáo đã được xem xét đến trong các tác phẩm, công trình sử học Tuy nhiên vẫn chưa có một công trình cụ thể chuyên sâu về chính sách tôn giáo của thực dân Do đó, việc nghiên cứu có tính chất tổng quát vấn đề lịch sử về chính sách tôn giáo của thực dân Pháp là khá thiết thiết thực và có ý nghĩa về mặt khoa học Nhưng trong điều kiện hạn chế về tư liệu gốc và các văn bản
Trang 12của chính phủ Pháp đương thời cũng gây ra những khó khăn lớn cho đề tài.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ chính sách tôn giáo của thực dân Pháp đối với Việt Nam từ năm 1884 - 1945 Trên cơ sở đó, đánh giá tác động, đặc điểm của những chính sách trên và rút ra những bài học cần thiết cho chủ trương, chính sách đối với vấn đề tôn giáo hiện nay
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất, tìm hiểu chính sách của thực dân Pháp đối với từng tôn giáo như
Công giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, trong thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1884 đến năm 1945
Thứ hai, rút ra được những nhận xét về tác động, đặc điểm của chính sách tôn
giáo của thực dân Pháp Qua đó, đề xuất được những bài học quý báu cho những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo và nâng cao khối đại đoàn kết toàn dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam giai
đoạn năm 1884 đến năm 1945 Trong đó, tập trung chủ yếu vào việc thực hiện chính sách đối với Công giáo, Phật giáo là hai tôn giáo lớn lúc bấy giờ
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam.+ Thời gian nghiên cứu: Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp từ khi căn bản hoàn thành xâm lược Việt Nam bằng Hiệp ước Patơnốt năm 1884 cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận là lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu Đồng thời, vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng nghiên cứu lịch sử như sưu tầm, so sánh, đối chiếu, phân tích, t ổng h ợ p đ ể xử lý tư liệu trước khi hoàn thành nội dung đề tài
Cụ thể, hiểu được tầm quan trọng của tư liệu có vai trò quyết định đến chất lượng của Luận văn, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm, xử lý các tài liệu mang tính giá trị liên quan đến đề tài Qua đó, đã chuẩn bị được một nguồn tài liệu khá phong phú và chất lượng Ngoài ra, xác định nghiên cứu chính sách tôn giáo cần có những văn bản liên quan đến Nghị định, sắc lệnh của thực dân trong thời kỳ đô hộ, chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu các văn bản cần thiết để phân tích, nghiên cứu vấn đề Trong đó, không những sách chuyên khảo, mà còn cả báo chí trong giai đoạn này
Mặt khác khi nghiên cứu chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam từ năm 1884 - 1945, chúng tôi nhận ra sự cần thiết khi tìm hiểu chính sách từng tôn giáo
Trang 13đều sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với các tôn giáo khác để rút ra kết luận cần thiết và đảm bảo tính logic, khoa học cao
6 Những đóng góp cơ bản của luận văn
Thứ nhất, góp phần làm sáng tỏ các chính sách của thực dân Pháp đối với tôn
giáo ở nước ta thời kì xâm lược và đô hộ Từ đó, có thể rút ra những nhận xét chung về chính sách xuyên suốt của thực dân Pháp đối với tôn giáo ở Việt Nam và chính sách cụ thể đối với từng tôn giáo
Thứ hai, góp phần cung cấp thêm một nguồn sử liệu cho người nghiên cứu quan
tâm đến vấn đề
Thứ ba, thông qua việc phân tích các đặc điểm, tác động tiêu cực từ chính sách
tôn giáo của thực dân Pháp để rút ra được những bài học lịch sử quý giá trong công tác củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được cấu tạo thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở hình thành chính sách tôn giáo của thực dân Pháp tại Việt Nam từ năm 1884 đến năm 1945
Chương 2 Chính quyền thực dân Pháp đối với các tôn giáo ở Việt Nam từ năm
1884 đến năm 1945
Chương 3 Đặc điểm, tác động và bài học lịch sử từ chính sách tôn giáo của thực dân Pháp ở Việt Nam (1884 - 1945)
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA THỰC DÂN
PHÁP Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1945
1.1 Vài nét về tình hình chính trị, tôn giáo ở nước Pháp từ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Thời kỳ cuối thế kỷ XIX đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa dưới tác động vượt bậc của những tiến bộ về kĩ thuật Với việc sử dụng các kĩ thuật mới đã đánh dấu một bước cách mạng trong lĩnh vực luyện kim, nhờ đó sản lượng thép tăng nhanh đã kéo theo ngành chế tạo máy, đường ray, tàu biển và các công trình xây d ựng có điều kiện phát triển Ngoài ra, sự xuất hiện của loại động cơ nổ bên cạnh động cơ hơi nước đã được dùng rộng rãi trong kĩ thuật vận tải, quân sự, cơ giới hóa nông nghiệp Điều đó đã dẫn đến nhu cầu về nhiên liệu lỏng ngày càng cao Ngành giao thông vận tải cũng tiến bộ nhanh chóng,
hệ thống đường sắt trên thế giới phát triển mạnh với chiều dài tăng gấp 4 lần Tàu biển chạy bằng động cơ hơi nước hoặc động cơ nổ thay thế cho thuyền buồm Các phương tiện thông tin liên lạc như điện báo, điện thoại ngày càng hoàn thiện Sự phát triển vượt bậc đó về kĩ thuật vào cuối thế kỷ XIX đã thúc đẩy mạnh mẽ nền sản xuất, tỉ trọng các ngành thay đổi nhanh chóng, trong đó công nghiệp trở thành lĩnh vực mấu chốt trong nền kinh tế của các nước tư bản phương Tây nói chung và nước Pháp nói riêng
Dưới tác động của sự phát triển vượt bậc về kinh tế kéo theo sự ra đời của các tổ chức lũng đoạn, chuyển chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn chủ nghĩa tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản với đặc trưng nổi bật là quá trình hoàn thành xâm lược thuộc địa và phân chia nhau thị trường thế giới Trong quá trình đó, Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp
Sự cạnh tranh khốc liệt giữa các cường quốc trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc được thể hiện qua sự thay đổi về vị trí của các nước trong thế giới tư bản Cụ thể, đến năm 1870, nước Pháp vẫn là cường quốc đứng thứ hai sau thực dân Anh trong nền kinh tế thế giới, nhưng trong các năm tiếp theo đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã tụt xuống đứng thứ tư sau cả Đức và Mĩ Trong thời kì này các tổ chức lũng đoạn cũng hình thành ở nước Pháp Các công ty này không những kiểm soát các ngành sản xuất trong nước mà còn vươn vòi đến cả các thuộc địa của Pháp,
Trang 15trong đó, ở Đông Dương chính là các công ty kinh doanh đồn điền trồng cao su, lúa
và đay
v ề tình hình chính trị và tôn giáo của nước Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX có những chuyển biến lớn Sau khi đàn áp phong trào Công xã Pari, ở nước Pháp đã dấy lên cuộc đấu tranh để thiết lập nền Cộng hòa Đây là vấn đề hàng đầu trong sinh hoạt chính trị trong suốt 30 năm cuối của thế kỷ XIX của nước Pháp Cuộc đấu tranh giằng co giữa các thế lực tư sản phản động muốn phục hồi thể chế quân chủ với đại đa số quần chúng nhân dân với bộ phận của giới tư sản tiến bộ muốn thành lập nền Cộng hòa ngày càng diễn ra gay gắt Kết quả nền Cộng hòa thứ
ba được thành lập thông qua Hiến pháp năm 1875 kéo dài cho đến năm 1940 - khi phát xít Đức xâm chiếm nước Pháp Tuy nhiên nền cộng hòa này bất ổn định với tình trạng thường xuyên khủng hoảng nội các, chỉ 17 năm từ 1873 đến 1890 đã có đến 34 lần thay đổi
Đối với vấn đề tôn giáo từ những năm đầu sau thập niên 70 của thế kỉ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, thái độ và chính sách của các chính quyền ở nước Pháp thay đổi liên tục, không nhất quán Trong đó, ban đầu ngay sau khi thành lập nền Cộng hòa thứ ba có thái độ thân hữu với đạo Công giáo và Tòa thánh, vì những ảnh hưởng nặng nề từ thời công xã Pari vẫn còn tác động từ chính sách giết hại người Công giáo Tuy nhiên sau đó lại thay đổi thái độ với Công giáo với khẩu
hiệu “Giáo sĩ - đó là kẻ thù” Nhiều hoạt động bài Công giáo diễn ra như Sắc lệnh
tháng 3 năm 1880 bãi bỏ các cơ sở giáo dục của Dòng Tên, còn những dòng tu khác chưa được chính quyền thừa nhận, phải làm đơn xin điều chỉnh, trong vòng 3 tháng: 261 nam tu viện bị giải tán Nhiều đạo luật khác (1880-1883) buộc hàng giáo sĩ phải thi hành nghĩa vụ quân sự, bãi bỏ chức vụ tuyên úy trong các binh chủng và bệnh viện Chính sách giáo dục “vô tôn giáo” miễn phí và cưỡng bách được áp dụng: cấm dạy giáo lý trong các trường, loại bỏ các giáo sĩ, tu sĩ ra khỏi ngành giáo dục (1882-1886)
Đỉnh điểm cho các chính sách bài Công giáo xuất hiện khi phe Cấp tiến lên nắm quyền vào đầu thế kỷ XX Trong đó, nhiều đạo luật đã đi đến tách giáo hội ra khỏi các hoạt động của nhà nước được tiến hành Theo Giám mục Bùi Đức Sinh:
“Đạo luật 1.7.1901 về các đoàn thể cấm các hội dòng không có giấy phép; rồi cấm cả những dòng tu trước kia đã được chính quyền nhìn nhận, sau cùng cấm luôn mọi hội dòng hoạt động giáo dục: trên 10.000 trường tư thục bị đóng cửa (1903-04), tài sản của các dòng tu bị tịch thâu, cả “tỉ bạc của các dòng tu ” được
Trang 16phân tán trong tay những người cầm quyền và các kẻ thừa hành ”[84] Đến năm
1905, dưới thời của Thủ tướng Combes “Đạo luật phân ly ” hay còn gọi là đạo luật “tách biệt đạo đ ờ i” chính thức được thông qua bởi hạ viện chấp thuận (341
phiếu thắng 233) ngày 03 - 7 - 1905, và Thượng viện (179 phiếu thắng 103) ngày
6.10.1905 Với nguyên tắc thế tục, “đã loại bỏ vai trò của Giáo hội công giáo
khỏi hoạt động của Chính phủ Pháp: Nhà nước Cộng hòa bảo đảm quyền tự do ý thức Nhà nước bảo hộ quyền tự do tôn giáo Nhà nước không thừa nhận, trả lương hay trợ cấp cho tôn giáo nào (ngoại lệ: tỉnh Alsace-Moselle) ” [112] Đây
là một cú giáng mạnh mẽ của Chính phủ Pháp vào vai trò và quyền hành của Công giáo Những thay đổi trong thái độ của chính phủ Pháp ở chính quốc có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ và chính sách của các chính quyền đế quốc ở thuộc địa, trong đó có Việt Nam
Cũng như các nước tư bản khác, nước Pháp cũng bị kéo vào vòng xoáy của sự phát triển không đồng đều về kinh tế và vấn đề thuộc địa, dẫn đến hệ quả tất yếu là tham gia hai cuộc thế chiến khốc liệt Kết quả trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới, nước Pháp đều nằm trong phe thắng trận, tuy nhiên tình hình kinh tế, chính trị nước Pháp bị ảnh hưởng nghiêm trọng Chính sự ảnh hưởng nặng nề của hậu quả chiến tranh đã tác động trực tiếp đến chính sách thuộc địa của thực dân Trong đó, chính quốc Pháp đã ra sức vơ vét, bóc lột nhân dân trong nước và cả thuộc địa để bù đắp những tổn thất, dẫn đến các chính sách thuộc địa bị ảnh hưởng, trong đó có cả vấn đề tôn giáo
Thái độ của chính phủ Pháp trong thời kỳ bùng nổ chiến tranh thế giới đối với Công giáo có những chuyển biến so với các giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nếu như chính sách bài Công giáo diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn trước chiến tranh, mối quan hệ giữa nước Pháp với Tòa Thánh Vatican có những lục đục, trở ngại, thậm chí cắt đứt quan hệ thì giữa hai cuộc chiến vấn đề đó có bước tiến triển Năm 1921, mối bang giao với Tòa thánh chính thức tái lập Mặc dầu việc thiết lập tòa đại sứ Pháp tại Vatican năm 1925 bị hạ viện chống đối rất dữ dội, nhưng thượng viện đã ngăn cản được sự đổ vỡ
Tóm lại, tình hình chính trị - xã hội nước Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đã tác động trực tiếp đến chính sách thuộc địa nói chung và ở Việt Nam nói riêng Trong đó, chính sách và thái độ của chính quốc với tôn giáo có tác động đến những chính sách tôn giáo ở thuộc địa, nếu như chính phủ Pháp ưu ái đối với tôn giáo thì chính sách nổi bật ở thuộc địa sẽ tạo điều kiện cho hoạt động
Trang 17tôn giáo và ngược lại Dù có thay đổi thì mục đích cuối cùng của các chính sách, thái độ của chính phủ đối với các tôn giáo vẫn là phục vụ quyền lợi cho giai cấp thống trị Mục đích của chính sách tôn giáo của Chính phủ Pháp cũng chính là cơ
sở để chế độ thực dân ở thuộc địa căn cứ thi hành các đối sách với các tôn giáo ở bản xứ Trong đó, mục đích thi hành chính sách tôn giáo ở thuộc địa bao gồm cả Việt Nam là:
Thứ nhất, mặc dù đối với mỗi đối tượng tôn giáo khác nhau dẫn đến chế độ thực dân cũng thi hành các đối sách và thái độ khác nhau, nhưng cuối cùng là làm thế nào
để phục vụ hiệu quả nhất cho lợi ích chính trị của kẻ xâm lược là ổn định xã hội xứ thuộc địa nhằm dễ dàng cai trị Trong đó, sử dụng các tôn giáo như một công cụ để lợi dụng nhằm nô dịch, đô hộ dân thuộc địa Ngoài ra, muốn biến các tôn giáo như một liều thuốc ru ngủ tinh thần của người dân bản xứ, làm cho họ mất hết sự phản kháng, nhu nhược và tự ti, hòng xa rời thực tại cũng như các phong trào cách mạng dân tộc dân chủ trong thực tế
Thứ hai, tiếp tục các chính sách truyền thống của chế độ thực dân Pháp trong việc “đồng hóa” dân bản xứ Chính sách của của thực dân Pháp không phải là mới mẽ,
nó đã được thực thi từ các thời kỳ xâm lược trước đó Trong đó, tôn giáo như một công
cụ được xem la đắc lực trong việc truyền bá nền văn hóa Đại Pháp, nhằm đồng hóa dân thuộc địa Chắc hẳn rằng không có một vũ khí nào tuyệt vời hơn, hiệu quả hơn nhằm dễ bề cai trị xứ thuộc địa chính là sử dụng tôn giáo, cụ thể là Công giáo để biến
thuộc địa thành một "xứ Gia-tô hóa để dễ bề cai trị ”
Thứ ba, về mặt chủ quan bất kỳ một quốc gia dân tộc nào cũng có đời sống tinh thần và tín ngưỡng tôn giáo, dù cho đó là dân tộc thống trị hay bị trị Chế độ thực dân Pháp ở thuộc địa thi hành các chính sách tôn giáo cũng còn nhằm phục vụ cho một bộ phận giới chức Pháp nói riêng và người Pháp nói chung ở thuộc địa nhu cầu về mặt tinh thần, đời sống tâm linh
Ngoài ra, tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể ở mỗi thuộc địa khác nhau mà thực dân Pháp thi hành các chính sách tôn giáo cũng khác nhau Trong đó, với mục đích trên, trong quá trình đô hộ Việt Nam, chính quyền thực dân cũng đã tiến hành các chính sách tôn giáo nhằm phục vụ lợi ích tối thiểu cho công cuộc cai trị thuộc địa
1.2 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trải qua những biến cố lịch sử to lớn của dân tộc bởi tình trạng cát cứ, phân tán, tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến trong suốt nhiều thế kỷ, cuối cùng nước ta đã được thống nhất dưới một triều đại phong kiến nhà Nguyễn - Vương triều
Trang 18cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Hình thành trong một điều kiện lịch sử khi thế giới có những biến chuyển to lớn cộng với những hậu quả của thời kỳ xung đột để tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến đã ảnh hưởng to lớn đến công cuộc trị vì đất nước của triều đại này Trong lịch sử tồn tại của mình, vương triều Nguyễn là triều đại phong kiến để lại nhiều vấn đề lịch sử gây tranh cãi lớn đối với các nhận định của các nhà nghiên cứu lịch sử Là triều đại phong kiến cuối cùng, gắn liền với trách nhiệm để mất nước ta vào tay thực dân xâm lược nhưng triều Nguyễn cũng đã để lại những đóng góp không nhỏ mà đến nay giới sử học đã công nhận Một số công lao to lớn của vương triều Nguyễn như thống nhất hoàn toàn đất nước sau tình trạng đất nước
bị chia cắt lâu dài, ý thức về chủ quyền biển đảo được nâng cao cùng với việc khẳng định chủ quyền biển đảo, để lại những di sản văn hóa to lớn cho dân tộc ngày nay bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Cũng giống như các triều đại phong kiến khác, dưới tác động của quy luật thịnh suy nhà Nguyễn có những bước thăng trầm trong quá trình hình thành và phát triển Tuy nhiên, trong bước đường tồn tại của mình, triều Nguyễn phải đối diện với thực tại rất mới mẻ, đa chiều dưới tác động của một thời đại mới, thời đại mà chủ nghĩa tư bản đang tiến một bước dài trong lịch sử của nó để thành chủ nghĩa đế quốc với đặc điểm nổi bật là xâm lược thuộc địa Trong thời kỳ tình hình chính trị thế giới có những biến đổi sâu sắc, chủ nghĩa tư bản thắng thế và bành trướng, ý thức hệ phong kiến ngày càng lỗi thời, lạc hậu thì “sự va chạm giữa các nền văn minh” xảy ra sẽ là một tất yếu đối với nước ta thời Nguyễn Cụ thể là sự xung đột giữa nền văn minh nông nghiệp phương Đông nặng tính chất duy tình với một nền văn minh phương Tây công thương nghiệp duy lý Đây là thách thức lớn đặt ra cho giới lãnh đạo phong kiến triều Nguyễn trong quá trình xây dựng và củng cố nền độc lập
Không chỉ đối phó với một thế lực lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc bởi một đối tượng hoàn toàn chiếm ưu thế về cả kinh tế, quân sự và đặc biệt là một sự chênh lệch về trình độ sản xuất Nhà Nguyễn còn phải đối phó với một thực tại không mấy khả quan là đất nước vừa bước ra khỏi thời loạn lạc, ly tán bởi cuộc chiến tranh tương tàn giữa các thế lực phong kiến Đứng trước những thách thức to lớn đó đòi hỏi phải có một bước đi mới, táo bạo và hợp thời Đáng tiếc trong giới hạn về tầm nhìn thời đại các vương triều Nguyễn tiếp tục duy trì ý thức hệ phong kiến với một hệ tư tưởng Nho giáo đã lỗi thời, càng trở nên phản động hơn khi cố gắng giữ gìn chế độ chuyên chế cuối mùa Kết cục tất yếu xảy ra
từ chỗ mất nước không phải là một tất yếu, Việt Nam đã rơi vào ách độ hộ của thực
Trang 19dân ngót gần một thế kỷ xâm lược Tuy nhiên, nói như vậy không đồng nghĩa với việc phủ định sạch trơn những thành quả mà vương triều Nguyễn đã làm được trong thời kỳ phát triển của họ.
Về chính trị, sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long (1802) đã thiết lập trở lại một chế độ trung ương tập quyền, với quyền lực tập trung tối cao vào tay nhà vua, vua nắm cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và là tổng chỉ huy về quân đội Tư tưởng Nho giáo dưới thời nhà Nguyễn được sử dụng một cách tối đa, là công cụ về mặt tư tưởng để nhấn mạnh vai trò tuyệt đối của giới phong kiến cầm quyền Với học thuyết “Tam cương” “Ngũ thường”, trung quân ái quốc, Thiên tử thay trời trị dân trở thành một vũ khí sắc bén để cai trị nhân dân Nho giáo dưới thời kỳ nhà Nguyễn đã được phát triển và vận dụng một cách toàn diện, nó được các nho sĩ nghiềm ngẫm, luận giải một cách sâu sắc, trở thành một ngọn cờ tinh thần thống nhất toàn xã hội trong một nền tảng đạo lý, lễ nghi, tâm lý, nếp sống và là diện mạo của một nền văn hóa Không những vậy, Nho học còn được sử dụng vào hệ thống giáo dục, thi cử, tuyển chọn quan lại, nhân tài cho đất nước Nó góp phần củng cố hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Đặc biệt, giá trị của tư tưởng, tôn giáo này được phát huy tối đa dưới cuộc cải cách của Minh Mạng Nhưng Nho giáo thời kỳ này là ý thức hệ tư tưởng cuối mùa nên đã bảo thủ, trì trệ và mất hết sinh khí, là lực cản cho sự phát triển của xã hội khi bộ máy cai trị đã từng bước rơi vào cảnh suy tàn
Về kinh tế, ở thời kỳ đầu sau một giai đoạn đất nước bị chia cắt nay thống nhất đã tạo ra điều kiện cho nền kinh tế phát triển ở một mức độ nhất định Trong
đó, nền kinh tế dưới tác động của một chính thể chính trị với chính sách thống nhất
đã định hướng cho một nền kinh tế phát triển ổn định Các vua Nguyễn đều có ý thức trong việc phát triển kinh tế, tạo ra sự ổn định xã hội Tuy nhiên, chế độ phong kiến với ý thức hệ Nho giáo đã lỗi thời tạo ra sự kìm hảm cho sự phát triển đất nước nói chung và hệ thống kinh tế nói riêng Với chính sách trọng nông ức thương trong thời kỳ nền kinh tế thương nghiệp mạnh mẽ, cộng với những hạn chế, tồn tại trong chế độ ruộng đất của chế độ phong kiến giai đoạn cuối đã làm cho nền kinh tế thời Nguyễn suy yếu
Vấn đề cốt lõi của nền kinh tế phong kiến chính là vấn đề ruộng đất Nhà nước phong kiến có mạnh hay không chính là việc kiểm soát ruộng đất công, đây chính là
cơ sở nền tảng về kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của chế độ phong kiến Tuy nhiên, dưới thời kỳ nhà Nguyễn vấn đề ruộng đất đã trở nan giải khi tình trạng ruộng
Trang 20tư ngày càng mở rộng, trong khi ruộng công ngày càng bị thu hẹp Tình trạng kiêm tính đất đai, chiếm công vi tư biến ruộng đất làng xã thành ruộng đất tư của bọn địa chủ ngày càng trầm trọng Đến năm 1840, khi nhà nước tiến hành đo đạc ruộng đất
có tổng diện tích là 4.063.892 mẫu (khoảng 2 triệu hécta), trong đó tổng ruộng đất thực canh là 3.396.584 mẫu, gồm ruộng tư 2.816.221 mẫu (chiếm 83%), ruộng công
là 583.363 mẫu (chiếm 17%) [4, tr.928] Với số liệu này, ta thấy được tình trạng khốn đốn của triều đình nhà Nguyễn trong việc kiểm soát ruộng đất công Điều này cũng giải thích cho sự suy yếu của triều đình phong kiến cuối cùng này Một nhà nước phong kiến khi trong tay không nắm được cơ sở về kinh tế thì chắc chắn khó
mà xây dựng được một đất nước hùng mạnh để đương đầu với ngoại xâm được Nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng này không chỉ xuất phát từ yếu kém trong việc kiểm soát ruộng đất, mà sâu xa là hậu quả của một tình trạng chia cắt đất nước lâu dài trước đó
Những vị vua đầu triều như Gia Long, Minh Mạng đã cố tìm cách để giải quyết vấn đề ruộng đất như ban hành phép quân điền mới hoặc cả tiến hành thử nghiệm cải cách điền địa ở Bình Định Tuy nhiên, với số lượng ruộng đất công ít ỏi không thể giải quyết vấn đề gì Trước vấn nạn đó, nhiều chính sách khai hoang lập làng qua chính sách doanh điền của triều Nguyễn, dẫn đến công cuộc khẩn hoang được khuyến khích Diện tích đất canh tác được mở rộng, nhưng không thể giải quyết vấn đề nhân dân phiêu tán vì ruộng đất vẫn tập trung vào tay địa chủ Mâu thuẫn xã hội ngày càng lên cao là nguyên nhân ch ứng minh cho “trong giai đoạn bốn vị vua đầu triều Nguyễn (1802 - 1883) đã có gần 400 cuộc khởi nghĩa chống triều đình, trong đó chỉ riêng thời Gia Long, Minh Mạng đã chiếm 2/3 với gần 300 cuộc” [32, tr.38]
Trong nông nghiệp, với chính sách “trọng nông” nhà nước phong kiến triều Nguyễn luôn quan tâm đến sự phát triển của nông nghiệp, trong đó đã chú trọng vấn
đề giống lúa, đê điều, thủy lợi nhằm góp phần mang lại năng suất cao Thời Minh Mạng Nha đê chính được thành lập, nhiều con sông đào và đê điều được xây dựng Nhưng tính hiệu quả chưa cao, dẫn đến tình trạng lụt lội, vỡ đê vẫn thường xảy ra càng làm trầm trọng hơn nền kinh tế nông nghiệp Theo tác giả Huỳnh Công Bá chỉ trong
50 năm đầu thế kỉ XIX đã có đến 16 lần vỡ đê kéo theo tình trạng mất mùa, đói khổ liên miên Nhất là tại phủ Khoái Châu ở Hưng Yên, nên đã ra đời câu tục ngữ: “Nhoai nhoái như phủ Khoái xin cơm!” [4, tr.930]
Tóm lại, nông nghiệp là nền kinh tế then chốt của nền kinh tế phong kiến nhưng
Trang 21không thể vượt ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền Tình trạng nổi bật là nông dân
bị cướp đoạt ruộng đất, tình trạng “chiếm công vi tư” xảy ra thường xuyên dẫn đến nhà nước phong kiến mất đi chỗ dựa của mình về kinh tế Trong khi đó, thiên tai, mất mùa diễn ra thường xuyên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân Từ đây, mâu thuẫn xã hội ngày càng gia tăng là nguyên nhân để dẫn đến các phong trào nông dân mạnh mẽ trong suốt thế kỷ XIX
Về thủ công nghiệp, cùng với sự chú trọng của nhà nước phong kiến cũng như những tác động to lớn từ yếu tố kỹ thuật của nền văn minh phương Tây thông qua quá trình giao thương, buôn bán và truyền đạo là điều kiện cho sự phát triển mạnh của nền thủ công nghiệp nước ta thời kỳ này Gia Long sau khi lên ngôi đã chú trọng cho lập các Ty để phụ trách các lĩnh vực thủ công nghiệp như Ty thuyền,
Ty doanh kiến, Ty tu tạo, Ty thương bác hỏa d ư ợ c Với bàn tay khéo léo của các thợ thủ công cùng với việc tiếp xúc kỹ nghệ phương Tây, nền thủ công nghiệp đã
có những bước tiến tạo ra những sản phẩm chất lượng Điển hình quan xưởng triều Nguyễn đã chế tạo được cả thuyền máy “chạy bằng hơi nước”, đem chạy thử trên sông Hương Tuy nhiên, đáng buồn là những thành tựu trong thủ công nghiệp vẫn chỉ dừng lại ở mức độ “để thỏa mãn sự hiếu kỳ” chứ chưa được đưa vào ứng dụng
để phát triển sản xuất
Ngoài ra, thủ công nghiệp khai mỏ cũng phát triển và thủ công nghiệp trong nhân dân được chú trọng, tạo ra các sản phẩm rất phong phú và đa dạng Nhưng sản phẩm làm ra chưa có môi trường thuận lợi để trao đổi buôn bán, cộng với chính sách thuế khóa của nhà nước khá nặng nề dẫn đến thủ công nghiệp cũng dần kém hiệu quả
Với chính sách “ức thương” đã kìm hãm sự phát triển của nền thương nghiệp của nước ta diễn ra mạnh mẽ vài thế kỷ trước đó Nội thương bị chính sách thuế khóa quá nặng nề và sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, có lúc Minh Mạng còn ra lệnh cấm họp chợ do lo sợ các cuộc khởi nghĩa của nông dân Về ngoại thương, những thương cảng nổi tiếng thời kỳ trước ngày càng mai một như Phố Hiến, Hội
An, Thanh H à bởi chính sách hạn chế giao thương với phương Tây của triều Nguyễn Triều Nguyễn độc quyền về ngoại thương, dẫn đến không có cơ hội để các
tư thương phát triển Chính sách “ức thương” vô tình đã làm cản trở sự phát triển của nền kinh tế, không tạo ra được những điều kiện cần thiết để phát triển xã hội, làm mất đi những cơ hội tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại đạt được trong thời kỳ này
Trang 22v ề văn hóa - xã hội, được hình thành sau một thời kỳ loạn lạc, ly tán kéo dài đến suốt ba thế kỷ bởi các cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực phong kiến, cộng với sự tác động của nhà nước phong kiến thời kỳ cuối đã bước vào thời
kỳ khủng hoảng với ý thức hệ Nho giáo đã lỗi thời phản động, đã làm cho tình trạng xã hội dưới triều Nguyễn hết sức bất ổn Tình trạng nổi bật của xã hội triều Nguyễn ngay từ khi hình thành đã gắn liền với các cuộc khởi nghĩa nông dân Vua Gia Long mới lên nắm chính quyền mấy năm thì nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, đặc biệt là vùng đồng bằng Bắc Bộ Đến thời Minh Mạng, phong trào nông dân tiếp tục dấy lên mạnh mẽ, với hơn 250 cuộc khởi nghĩa Các đời vua tiếp theo cũng chịu cảnh ngộ tương tự Theo các nhà nghiên cứu, tuy số liệu chưa hoàn toàn chính xác nhưng trong khoảng hơn nửa đầu thế kỷ XIX, đã có từ 400 đến 500 cuộc khởi nghĩa Con số đó đã chứng minh cho một thực trạng đáng báo động về đời sống cơ cực mà mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến đã lên đỉnh điểm Chưa có triều đại nào trong lịch sử dân tộc mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn trong tầm 50 năm lại có nhiều cuộc khởi nghĩa đến như vậy Do đó, thế kỉ XIX được xem như thế kỷ của các cuộc khởi nghĩa nông dân
Bên cạnh đời sống của nhân dân khó khăn, cực khổ thì tình trạng bóc lột nông dân của quan lại triều đình bằng các chế độ thuế khóa, lao dịch cưỡng bức và hà khắc Với các hoạt động lao dịch, xây dựng cung điện, lăng tẩm dưới thời Nguyễn đã đẩy người nông dân, đặc biệt là dân nghèo vào con đường cùng bức bí, càng làm tăng mâu thuẫn trong xã hội lên cao
Mặc dù đã có những chính sách nhằm phục hồi kinh tế, ổn định xã hội tuy nhiên nhà Nguyễn cũng trở nên bất lực trước các vấn đề xã hội Sự bất lực đó chính là thực tại của chế độ phong kiến Việt Nam cuối mùa dưới thời Nguyễn Cơ sở của chế độ phong kiến thông qua sở hữu ruộng đất đã thất bại trước nạn kiêm tính mạnh mẽ diễn
ra từ trước đến đây càng nghiêm trọng Ngoài ra, sự thủ cựu trong tư tưởng của giai cấp phong kiến chấp nhận dưới vỏ bọc của hệ tư tưởng Nho giáo đã không còn phù hợp càng làm trầm trọng thêm sự khủng hoảng của chế độ phong kiến
Nhìn tổng thể, xã hội triều Nguyễn chứa đựng những yếu tố phực tạp chịu chi phối bởi tác động to lớn từ mối quan hệ giữa nông dân, thợ thủ công và một bộ phận thị dân với giai cấp phong kiến thống trị ngày càng lún sâu trên con đường chuyên chế, quan liêu cực độ bởi tư tưởng hủ Nho đã không còn hợp thời Mối quan hệ đó được đẩy lên cao trào bằng các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra liên tục, rộng khắp dưới triều Nguyễn Điều đó, đã làm cho tình hình chính trị dưới thời kỳ triều Nguyễn gặp
Trang 23phải những thách thức to lớn cho sự tồn tại của mình Trong khi, bên ngoài các thế lực thực dân đang nhòm ngó với mưu đồ xâm lược và đô hộ càng làm cho tình hình chính trị, xã hội dưới triều đại này trở nên rối ren.
Về văn hóa, triều Nguyễn từ khi thành lập đã rất chú trọng đến chế độ khoa cử và giáo dục Các kỳ thi Hương, thi Hội được tổ chức liên tục Dưới thời Nguyễn, nhiều bộ Quốc sử đã được biên soạn, để lại những giá trị khoa học cao cho giới nghiên cứu lịch
sử sau này Trong lĩnh vực công trình kiến trúc cũng góp phần để lại nhiều thành tựu tiêu biểu cho đến ngay, chính là hệ thống kinh thành, cung điện, lăng tẩm của thời kỳ này Ngoài những giá trị văn hóa vật thể, không thể không kể đến những giá trị văn hóa phi vật thể thời kì này như các lĩnh vực nghệ thuật: nhã nhạc cung đình huế, các lễ hội, các nghệ thuật như múa rối, diễn tuồng, chèo được ghi nhận, góp phần để lại những giá trị to lớn và phong phú trong nền văn hóa dân tộc
Nhìn chung, tình hình nước ta bước vào thời đại phong kiến cuối cùng dưới thời triều Nguyễn, bên cạnh một số mặt đạt được như đất nước thống nhất về chính trị và lãnh thổ, văn h ó a n ổ i bật vẫn là những dấu hiệu bất ổn, khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến xã hội Đặt dưới thời điểm giao thời giữa cái cũ và cái mới về hình thái kinh tế - xã hội, sự giao thoa giữa nền văn minh nông nghiệp truyền thống và nền văn minh công nghiệp hiện đại hay phương Đông - phương Tây xuất hiện những yêu cầu cấp thiết buộc nhà nước phải canh tân, cải cách Tuy nhiên, do những điều kiện về tầm nhìn và yếu tố nhạy bén mang tính thời đại, các vị vua triều Nguyễn đã tiến hành các chính sách chưa tích cực dẫn đến sự thất bại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Nguy hiểm hơn, trong bước đường bảo vệ quyền lợi giai cấp và dân tộc, triều Nguyễn đã thi hành một số chính sách về tôn giáo chưa phù hợp, để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của vấn đề tín, ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Đó chính là trọng Nho giáo, hạn chế rồi đi đến tiến hành chính sách cấm đạo và giết đạo với Công giáo Điều này vô tình tạo ra cơ hội cho các thế lực chính trị lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn về tôn giáo để thực hiện mưu đồ xâm lược và
đô hộ sau này
1.3 Tổng quan chính sách của các triều đại phong kiến độc lập tự chủ đối với tôn giáo (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX)
Thế kỷ X đánh dấu đất nước ta bước vào một thời kỳ độc lập tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ một nghìn năm Bắc thuộc Với chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã tạo ra những điều kiện thuận lợi căn bản để nhân dân ta tiến lên xây dựng đất nước Bước vào thời kỳ độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiến hành một chính sách
Trang 24xây dựng đất nước toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, xã hội và cả vấn đề tôn giáo Bên cạnh đời sống vật chất với hình thái phương thức sản xuất châu Á là một bức tranh đời sống tinh thần, tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú của người Việt.
Đời sống tôn giáo của nước ta dưới thời phong kiến tự chủ cũng hết sức phong phú, trong đó nổi bật là sự xuất hiện của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo cùng với các tín ngưỡng truyền thống Tùy theo mỗi triều đại phong kiến khác nhau mà thái
độ của họ đối với các tôn giáo cũng khác nhau Tuy nhiên, một đặc điểm nổi bật gắn liền với sự phát triển của các tôn giáo là khi đất nước vừa mới giành được độc lập, nhà nước phong kiến vừa mới được củng cố thì Phật giáo được chú trọng và phát triển, thậm chí trở thành quốc giáo Còn đến khi nhà nước phong kiến đã đạt đến đỉnh cao của chế độ quân chủ trung ương tập quyền thì Nho giáo lại được chú trọng và hoán đổi vị trí cho Phật giáo Song nhìn chung dưới các triều đại phong kiến của Việt Nam, cả ba tôn giáo Phật, Khổng, Đạo đều có những điều kiện để phát triển trong nhân dân
Thời kỳ đầu dưới các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê, bên cạnh tín ngưỡng cổ
truyền của dân tộc gắn liền với văn hóa làng xã, là các hoạt động tôn giáo tiếp tục được duy trì và phát triển Tiếp nối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo vẫn là tôn giáo chiếm ưu thế trong xã hội Đặc biệt thời Đinh, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh và trở thành quốc giáo của nước ta Chính quyền phong kiến hết sức quan tâm, gần gũi và coi trọng Phật giáo, trong bộ máy nhà nước bên cạnh quan văn, quan võ là Tăng ban Trong điều kiện giáo dục chưa phát triển, phần lớn những người có học thức là các nhà sư Nhà nước phong kiến đã chú trọng đến đội ngũ này để sử dụng họ làm đội ngũ cố vấn chính trị và ngoại giao, hình thành nên một ngạch quan riêng gọi là tăng quan, với các chức Tăng thống, Tăng lục, Tăng chính Điển hình là nhà sư Ngô Chân Lưu, được vua Đinh ban tặng danh hiệu là Khuông Việt đại sư, đã có nhiều công trạng to lớn trong vai trò cố vấn cho nhà vua
và cả hoạt động ngoại giao
Bên cạnh Phật giáo được chú trọng, Đạo giáo cũng được Nhà nước quan tâm, trọng dụng dẫn đến tôn giáo này cũng khá phát triển Riêng Nho giáo thời kỳ này vẫn còn hạn chế, vì vai trò của tôn giáo này chưa được các triều đại chú ý Tuy nhiên, không bị bài trừ mà Nho giáo vẫn có điều kiện khởi phát cùng Phật giáo và Đạo giáo
Tiếp đến là thời kỳ Nhà Lý, các tôn giáo tiếp tục có điều kiện phát triển sâu rộng
Trang 25trong cả triều đình lẫn nhân dân Trong đó, Phật giáo được chú trọng nâng lên thành vai trò quốc giáo Chiếm ưu thế trong đời sống chính trị và tư tưởng của đất nước Đây
là thời kỳ thịnh đạt của Phật giáo Việt Nam Tầng lớp vua quan phong kiến tôn sùng
và sử dụng trong cai trị nhân dân Thời Nhà Lý, dấu ấn lên ngôi của Vua Lý Công Uẩn gắn liền với Phật giáo thông qua nhà sư Vạn Hạnh, vì vậy Phật giáo rất được quan tâm, tạo điều kiện để phát triển
Khi vừa mới lên ngôi Lý Công Uẩn đã phát 2 vạn quan tiền để thuê thợ xây dựng
8 ngôi chùa ở quê hương mình, lại phát hàng vạn quan tiền dựng nhiều chùa chiền ở kinh đô, sửa chữa chùa quán ở các lộ, cấp giấy phép cho hơn 1000 người ở kinh đô làm sư [4, tr.451] Ngoài ra, nhiều vị vua Lý cũng đã từng đi tu (như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông) Còn trong nhân dân, tỷ lệ sư sải và tín đồ phật tử khá đông Nhà sử học Lê Văn Hưu đã nhận định “nhân dân quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa” Ngoài ra, trong thời kỳ này, bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo đều có điều kiện để phát triển mạnh, đồng thời thâm nhập lẫn
nhau trong tinh thần “Tam giáo đồng nguyên”.
Đối với Nhà Trần, sau khi giành thắng lợi của cuộc chiến chống ngoại xâm,
nhân dân ta ngày càng được vun đắp thêm tinh thần yêu nước sâu sắc, tinh thần đoàn kết và lối sống cộng đồng được đề cao Cũng như ở thời Lý, thời Trần, Phật giáo được vua quan và dân chúng tôn sùng Các cơ sở thờ tự, chùa chiền được mọc lên khắp nơi Một điểm đặc biệt dưới thời Trần là “giai cấp lãnh đạo quốc gia đã tiến một bước dài trong việc dân tộc hóa và phong kiến hóa Phật giáo” [4, tr.519]
Do đó, tinh thần nhập thế của Phật giáo càng có điều kiện để phát triển mạnh, giáo
lý nhà Phật được phổ quát trong dân chúng, gắn liền giữa đạo và đời Dưới thời kỳ nhà Trần, Thiền tông rất được phát triển, đậm chất bản xứ người Việt Trong đó, Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã trở thành người sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm - Yên Tử
Tuy nhiên, nửa sau thời Trần, ưu thế của Phật giáo bắt đầu giảm sút Nguyên nhân chính là nhu cầu xây dựng một chính thể nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền cần một tư tưởng khác phù hợp hơn, đó chính là Nho giáo Trong lúc này, giáo dục Nho học đã phát triển, tạo ra một bộ phận quan lại có vai trò trong đời sống chính trị của quốc gia Vì vậy, chính lúc này cuộc xung đột giữa Nho và Phật cũng diễn ra Dẫn đến, trong cuộc xung đột này, hệ tư tưởng Nho giáo dần khẳng định
và chiếm được ưu thế của mình
Bên cạnh Phật giáo và Nho giáo, mặc dù không chiếm ưu thế bằng nhưng Đạo
Trang 26giáo thời kỳ này cũng được chú trọng và phát triển Năm 1427, vua Trần Thái Tông tiếp tục cho tổ chức kỳ thi Tam giáo Nhà nước cũng bỏ tiền của để trùng tu, xây dựng các đạo quán.
Đối với thời Lê sơ, nếu như dưới thời Trần, Nho giáo bắt đầu lấn át Phật giáo
thì sang thời Lê sơ, Nho giáo giành được vị trí độc tôn và trở thành hệ tư tưởng chính trị quan trọng của nhà nước phong kiến Nho giáo thời Lê chịu ảnh hưởng to lớn từ tư tưởng Tống nho Về phương diện chính trị, Tống nho cổ vũ cho chế độ chuyên chế và bênh vực trật tự phong kiến Các vua Lê rất sùng bái Nho giáo, điều
đó được minh chứng qua nội dung ở Bia Văn Miếu có ghi: “Sùng Nho trọng đạo làm việc hàng đầu”
Trong việc học hành thi cử, nhà Lê đều lấy các sách kinh điển của Nho gia do các học giả đời Tống chú giải để làm tài liệu học tập Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn cho nghiên cứu ban hành “24 điều giáo hóa” là những nguyên tắc cơ bản về đạo đức
và luân lý Nho giáo để giảng giải, truyền bá cho dân chúng ở làng xã thực hành
Cùng với việc đề cao Nho giáo, triều đại phong kiến nhà Lê đã đồng thời thi hành nhiều biện pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo Vua Lê Thái Tổ đặt lệ thi tăng nhân, buộc các nhà sư phải là những người trên 50 tuổi, thông hiểu kinh phật và phải qua một kỳ thi khảo hạch của nhà nước mới được công nhận cho làm sư, ngoài ra đều phải hoàn tục Đến thời Lê Thánh Tông còn tiến hành chính sách hạn chế hơn nữa đối với Phật giáo và Đạo giáo Năm 1461, vua cấm quan lại và nhân dân xây thêm cơ sở chùa quán mới, đúc chuông, tô tượng Tuy nhiên, trước sự cấm đoán của triều đình, Phật giáo và Đạo giáo vẫn phát triển và ảnh hưởng nhân dân.Trên thực tế triều đình nhà Lê chỉ hạn chế sự phát triển bừa bãi của Phật giáo
và Đạo giáo, ở những phương diện mà nó vi phạm đến trật tự xã hội và lễ giáo phong kiến, còn những lợi ích mà hai tôn giáo này mang lại thì vẫn được công nhận Trong triều đình vẫn có các chức quan cai quản các vấn đề tôn giáo này như chức Tăng thống và Đạo thống đứng đầu các ty Tăng lục và Đạo lục Thậm chí vua
Lê Thánh Tông một vị vua sùng Nho giáo “lại là người nhiều lần đi thăm viếng các chùa chiền, cho dựng lầu “vọng tiên” ở trong kinh thành và dựng Bích Câu đạo quán ở bên ngoài kinh thành Trong tác phẩm Thánh Tông di thảo cho biết nhiều lần nhà vua đã mơ gặp thấy tiên.” [4; 633]
Qua đây, có thể nhận định rằng Lê sơ là giai đoạn thịnh đạt nhất của Nho giáo ở Việt Nam và hệ tư tưởng này đã chi phối sâu sắc, toàn diện lên xã hội Đại Việt ở thế
kỷ XV
Trang 27Giai đoạn từ thời kỳ nhà Mạc đến thời Tây Sơn, đây là thời kỳ đất nước rối
ren, phân ly, cát c ứ bởi các thế lực phong kiến Chính cảnh binh đao, loạn lạc diễn
ra bởi các cuộc tranh hùng giữa Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn đã làm ảnh hưởng trầm trọng không những đến đời sống mà cả mặt tư tưởng của cả triều đình lẫn nhân dân Vai trò rường cột trong ý thức hệ phong kiến của Nho giáo bị ảnh hưởng nghiêm trọng và lung lay Hệ tư tưởng của Phật giáo lại trở nên gần gũi là chỗ dựa vững chãi về tinh thần cho con người trong lúc đau khổ Cả chính quyền phong kiến cũng vậy, vì thế Phật giáo có điều kiện để hưng khởi trở lại tuy không bằng thời Lý, Trần
Dưới thời kỳ nhà Mạc, chùa chiền được xây dựng và trùng tu khắp nơi, càng về cuối triều Mạc thì càng được xây mới nhiều Có thể khẳng định rằng, trong sự phát triển của các tôn giáo dưới thời Mạc thì Phật giáo phát triển mạnh nhất, đúng như Văn bia chùa Phúc Lâm Hoằng Thệ (Sơn Tây) năm 1589 đã viết: “May được thấy Hoàng triều chấn hưng phật giáo” Hơn nữa, các vua và Thái hậu triều Mạc còn cúng cho chùa chiền rất nhiều vàng bạc và ruộng đất để làm công đức và đặt hậu Bên cạnh đó, với việc con đường lên ngôi không chính thống cho nên khi vừa mới thành lập, triều Mạc đã tìm cách giành lấy thế chính thống bằng việc đề cao Nho học, tổ chức thi cử một cách điều đặn Năm 1536, Mạc Đăng Dung còn sai tu sửa lại trường Quốc Tử giám
Đồng thời, dưới thời Mạc lần đầu tiên trong lịch sử, Công giáo đã xuất hiện ở
nước ta Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: Vào năm Nguyên Hòa
thứ 1 (1533) đời vua Lê Trang Tông, có một vị giáo sĩ người phương Tây là I-nê-Khu
đã đem đạo Thiên Chúa vào rao giảng tại các làng chài ven biển Ninh Bình và Nam Định của Việt Nam
Còn đối với các Chúa Nguyễn trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh rất coi trọng Phật giáo Chính trong bối cảnh mở đất khai hoang một vùng đất mới, cộng với đứng trước hoàn cảnh chống chọi với thế lực họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã rất xem trọng Phật giáo, xem đây là chỗ dựa về mặt tinh thần Ở Đàng Trong chùa chiền được trùng tu và xây mới “Không chỉ nhiệt tâm xây cất nhiều chùa mới, trùng hưng nhiều chùa cũ, đúc chuông, tô tượng, thỉnh kinh các chúa Nguyễn còn khuyến khích các vị sư trong nước cũng như từ Trung Hoa đến hoằng pháp tại Đàng Trong Nhờ đó, một số thiền phái mới đã được du nhập và truyền bá vào nước ta như phái Lâm Tế, Tào Động, trong khi đó phái Trúc Lâm cũng được phục hồi, góp phần tạo nên tính đa dạng cho Phật giáo ở Đàng Trong.” [78, tr.30]
Trang 28Cũng dưới thời kỳ Trịnh - Nguyễn, lúc đầu để nhằm tranh thủ người phương Tây, cả chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đều tỏ ra thân thiện với các nhà truyền giáo, tuy nhiên về sau khi nhận ra được sự nguy hiểm từ hậu quả của những chính sách truyền đạo Thiên chúa, cả chính quyền Lê - Trịnh và Nguyễn đều thi hành chính sách cấm đạo Theo Linh mục Trương Bá Cần: ở Đàng Trong, Công giáo chỉ thực sự được tự do và được giai cấp thượng lưu đón nhận trong bảy, tám năm đầu khi các Thừa sai Dòng Tên mới đến Năm 1625, tức khoảng 10 năm sau khi đạo được truyền giảng, Sãi vương ra lệnh cấm các giáo hữu không được tụ họp, không được đeo ảnh tượng trên mình và tàng trữ ảnh tượng trong nhà Ở Đàng Ngoài, các Thừa sai Dòng Tên cũng chỉ được tự do trong khoảng hơn một năm đầu Ngày 18 tháng 6 năm 1628, Chúa Trịnh cũng ra lệnh cấm dân chúng không được đến nghe giảng đạo và theo đạo [12, tr 566] Chính sách cấm đạo Thiên chúa của thời kỳ Trịnh - Nguyễn mở màn cho cả một quá trình cấm đạo và giết đạo về sau này, đỉnh điểm là vương triều Nguyễn.
Đến thời Tây Sơn, những cuộc chiến tranh kéo dài dưới thời Tây Sơn đã làm cho Phật giáo bị ảnh hưởng không ít Hơn nữa với một lãnh thổ khá rộng, nhà Tây Sơn muốn sử dụng lại con đường Nho học để tăng cường tính chuyên chế cho chính quyền Quang Trung tiến hành các chính sách hạn chế và kiểm soát Phật giáo Ông cho xóa bỏ các chùa nhỏ ở các làng để tập trung về xây dựng mỗi phủ huyện một chùa lớn đặt dưới sự quản lý trực tiếp của quan phủ Đồng thời, triều Tây Sơn còn tiến hành tịch thu các đồ tế khí bằng đồng, chuông chùa để đúc vũ khí dẫn đến ảnh hưởng đến hoạt động của Phật giáo, làm cho tôn giáo này ngày càng mai một
Dưới triều Nguyễn tự chủ, sau khi đánh bại các thế lực phong kiến nhà Tây Sơn,
nhà Nguyễn đã hoàn thành việc thống nhất đất nước và bước vào khôi phục chế độ trung ương tập quyền Về tôn giáo, nhà Nguyễn hết sức đề cao Nho giáo Sau thời kỳ nhà Lê sơ đến thời Nguyễn, một lần nữa Nho giáo trở thành hệ tư tưởng, vươn lên vị trí độc tôn Phải đến thời nhà Nguyễn thì những phạm trù của Nho giáo mới thực sự mới được các Nho sĩ nghiền ngẫm, luận giải một cách sâu sắc, đã trở thành ngọn cờ tinh thần thống nhất được toàn xã hội trong một nền tảng đạo lý, nghi lễ, tâm lý, nếp sống, một diện mạo văn hóa khá điển hình [4, tr.940]
Để chấn hưng Nho giáo, vua Gia Long đã cho xây dựng Văn Miếu ở Huế và Văn Thánh, Văn từ, Văn chỉ ở các địa phương, trùng tu lại Văn Miếu ở Hà Nội, dựng Khuê Văn các tại đây Đồng thời, nhà Nguyễn chỉnh đốn lại giáo dục Nho học, đích thân Minh Mạng dựa vào “cương thường” của Nho giáo, rồi căn cứ vào
Trang 29tình hình thực tế của xã hội, để đề ra “Mười điều huấn dụ” bắt các quan lại địa phương phải đem ra giảng đọc cho nhân dân hiểu và thi hành Vua Tự Đức còn diễn
ca mười điều ấy ra thơ quốc âm (gọi là Huấn địch thập điều giải nghĩa ca) để nhân dân dễ thuộc và dễ nhớ
Đối với các tôn giáo khác, tuy có h ạn chế so với Nho giáo nhưng các vua Nguyễn vẫn tôn trọng Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác Thái
độ của giới lãnh đạo phong kiến với Phật giáo có phần mâu thuẫn Vì chú trọng xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền nên đề cao Nho giáo, dẫn đến đôi khi có phần lạnh nhạt với Phật giáo, nhưng trên thực tế lại có những việc làm tạo điều kiện để tôn giáo này hoạt động như xây dựng thêm chùa chiền, tô tượng, tổ chức lễ trai đàn Ngay từ thời Gia Long, với thái độ hoài nghi với Phật giáo, ông cho rằng: “Sách nhà phật nói có duyên Phật độ, không duyên Phật chẳng độ Lại nói “Thờ cha mẹ chẳng ra gì, tuy hàng ngày ăn chay niệm phật cũng vô ích Trung với vua mà đến thế, dẫu cúng Phật cũng không sao” Như thế thì người có duyên cần gì phải độ Phật? Mà người không duyên Phật độ làm sao được” [32, tr.34] Ngoài ra, Gia Long còn có các chi ếu dụ gây bất lợi cho Phật giáo như: “Phàm tăng độ tuổi từ 50 trở lên thì miễn lao dịch, chưa đến 50 tuổi thì phải chịu lao dich như dân, kẻ nào dám trốn tránh thì bắt tội” [35, tr.31] Tuy nhiên, trong thời kỳ trị
vì của mình, chính Gia Long l ại ban cho chùa Kim Cang ba pho tượng và bức hoành phi khắc “Kim Cang tự” ngay sau khi lên ngôi để đền ơn các ngôi chùa mà ông đã trú ngụ trong thời chạy trốn khỏi quân Tây Sơn Không những vậy, nhiều vua Nguyễn còn trung tu chùa chiền, nhất là chùa Thiên Mụ Ngay cả thời Tự Đức khi đề cao Nho giáo hơn Phật giáo cũng sắc cấp công điền cho các chùa ở kinh đô như Thiên Mụ, Diệu Đế, Thánh Duyên, Long Quang, Linh Hựu và các chùa ngoài kinh như Tam Thai, Ứng Chân (Quảng Nam), Khải Tường (Gia Định) nhà vua còn cấp các khoản chi dung như ngày Rằm, Trung Nguyên, Khánh Thọ, Vạn Thọ [12, tr.194]
Bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo cũng được triều đình chú trọng phần nào vì đây là các tôn giáo đã trở thành truyền thống và ảnh hưởng lớn đến nếp sống tín ngưỡng và tinh thần của nhân dân Nhà nước tiến hành cấp sắc phong thần cho các làng xã, cấp tự điền và cho phép trùng tu đình chùa, miếu mão Nhà Nguyễn cho trùng tu lại Đền Hùng ở Phú Thọ, đền An Dương Vương ở Cổ Loa Ngay ở Huế, nhà Nguyễn cho xây dựng một miếu lớn thờ “Lịch đại đế vương” (vua chúa các triều đại trước) và hàng năm nhà nước đứng ra tổ chức tế lễ long trọng
Trang 30Một nét đặc sắc trong chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn từ Minh Mạng đến Thiệu Trị, Tự Đức là cấm đạo Công giáo Việc cấm đạo không chỉ là cách ứng phó với một tư tưởng mới đối lập với ý thức hệ tư tưởng, mà còn là một hành động và thái độ bảo vệ nền độc lập dân tộc, khi mà quá trình truyền bá Công giáo gắn chặt với quá trình thực dân xâm lược Tuy nhiên, cách cấm đạo và cả giết đạo là một cách hành xử vụng về của triều Nguyễn, tạo ra sự rạn nứt trong khối đại đoàn kết dân tộc và trở thành cái cớ để thực dân nổ súng xâm lược.
Lịch sử phát triển về tư tưởng ở Việt Nam, từ xa xưa cho đến trước thời kỳ Công giáo được truyền bá vào nước ta, nhân dân ta đã có sự dung hòa, giao thoa tiếp nhận các tôn giáo truyền bá vào làm phong phú thêm đời sống tư tưởng, tôn giáo Các tôn giáo ngoại nhập khi truyền bá vào nước ta đã cùng chung sống với các tư tưởng, tín ngưỡng và văn hóa của người Việt Trong quá trình phát triển của các tôn giáo đã dẫn đến một quá trình bản địa hóa tôn giáo mang đậm bản sắc người Việt Dưới tác động của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước trọng tình, các tôn giáo càng làm tăng thêm lối sống cộng đồng, duy tình, mang đậm bản sắc văn hóa làng xã Sự đan xen đó đã tạo ra những giá trị lớn về tư tưởng trong đó nổi bật là hình thái “Tam giáo đồng nguyên” là sự pha trộn, hỗn hợp những yếu tố tích cực giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo
Tuy nhiên, đến thời kỳ vương triều Nguyễn, sự xuất hiện của Công giáo lại dẫn đến sự xung đột rất lớn về tư tưởng và đời sống tôn giáo ở nước ta Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự xung đột này, trong đó không chỉ đến từ yếu tố chủ quan, bản chất của tôn giáo này mà còn là các yếu tố khách quan như:
Thứ nhất, sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào nước ta không còn đơn thuần là
sự truyền bá của một tôn giáo về tư tưởng, niềm tin tín ngưỡng mà quan trọng hơn trong bối cảnh của Việt Nam thời bấy giờ là sự va chạm giữa hai nền văn minh Một nền văn minh nông nghiệp phương Đông đã có chỗ đứng từ xa xưa ở đây với một nền văn minh phương Tây công nghiệp với nhiều đặc điểm mới lạ, có khi là đối lập
Thứ hai, là cách thức truyền bá và xâm nhập của tôn giáo mới này vào nước ta
đã góp phần gây ra sự xung đột về tư tưởng Đáng tiếc rằng trong quá trình du nhập của Công giáo vào nước ta, tôn giáo này đã bị lợi dụng bởi các thế lực thực dân nhằm phục vụ mưu đồ thôn tính và đô hộ Việt Nam Đây là nguyên nhân chính gây
ra sự nghi ngờ, mất thiện cảm và cách nhìn không mấy tốt đẹp của đại đa số người dân của một nước thuộc địa Tuy nhiên, phải khách quan nhận định rằng không phải tất cả quá trình truyền bá đều phục vụ cho thực dân xâm lược, hay dòng tu nào cũng
Trang 31là một biện pháp của thực dân Nói tóm lại là sự lợi dụng của các thế lực chính trị đối với Công giáo để đạt được mục tiêu xâm lược và đô hộ đã gây ra sự đối lập về tôn giáo và văn hóa.
Thứ ba, chính là chính sách ứng phó của triều đình nhà Nguyễn trước nguy cơ bị
xâm lược dẫn đến cách xử lý tình huống đối với Công giáo một cách cực đoan, vụng
về và phản cảm Chính sách cấm đạo và giết đạo của các vua Nguyễn dẫn đến hậu quả nặng nề cho khối đại đoàn kết dân tộc, gây ra những hệ lụy lâu dài mà đến nay nó vẫn
là vết nứt trong tư duy của tín đồ theo tôn giáo Đồng thời, nó tác động đến chính sách của chủ nghĩa thực dân và đế quốc trên nước ta vào giai đoạn về sau khi lợi dụng vào
sự rạn nứt trong khối đại đoàn kết dân tộc để âm mưu chia để trị
Chính cách ứng phó vụng về đó của triều Nguyễn đối với Công giáo đã tạo ra cái
cớ cho việc lợi dụng Công giáo trong quá trình xâm lược và cai trị nước ta của thực dân ngày càng thâm hiểm hơn Tôn giáo được thực dân sử dụng như một công cụ hỗ trợ đắc lực cho chính sách thuộc địa của họ Dẫn đến một hệ thống các chính sách đối với tôn giáo được chính quyền thực dân xâm lược tiến hành trong quá trình cai trị khi
đã đặt được ách đô hộ đối với nước ta sau này
Trang 32Tiểu kết chương 1
Mặc dù chưa thể hình thành đúng nghĩa như một khái niệm “chính sách tôn giáo” đầy đủ theo kiểu hiện đại, nghĩa là quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức tôn giáo bằng hệ thống định chế pháp luật và các văn bản luật, tuy nhiên chính sách tôn giáo thời phong kiến có thể được xem là thái độ ứng xử của các nhà nước phong kiến đối với các tôn giáo Qua đó, các chính quyền phong kiến độc lập của nước ta đã có những quan tâm đến các hoạt động tôn giáo trong thời kỳ trị vì của mình Tôn giáo đã trở thành một lĩnh vực tư tưởng, tín ngưỡng góp phần quan trọng trong đời sống xã hội phong kiến, góp phần ổn đỉnh xã hội, tạo đà cho sự phát triển kinh tế, chính trị và cả công cuộc bảo vệ tổ quốc Mỗi thời đại phong kiến khác nhau, chính sách của nhà nước phong kiến cũng khác nhau với mỗi tôn giáo, trong đó, vai trò của hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Nho giáo được chú trọng phát triển Tùy theo đặc điểm chính trị, xã hội mà thái độ của nhà nước với 2 tôn giáo này cũng thay đổi Cụ thể, khi ở giai đoạn đỉnh cao của chế độ phong kiến, với hệ thống tư tưởng phù hợp cho chế độ chuyên chế trung ương tập quyền thì Nho giáo lại được sử dụng làm công cụ tư tưởng cho giới cầm quyền phong kiến Nhưng nhìn chung trong thời kỳ trung đại ở Việt Nam, các tôn giáo đều có điều kiện để phát triển, dẫn đến có sự dung hòa giữa ba tôn giáo lớn Phật - Nho - Đạo, tạo thành những giá trị văn hóa cho đời sống tinh thần ở nước ta
Trang 33CHƯƠNG 2
CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1945
2.1 Đối với Công giáo
2.1.1 Thời kỳ từ sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) đến những năm 90 của thế kỷ XIX
Trong chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với vấn đề tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào Thiên Chúa giáo Căn nguyên của vấn đề này không quá khó khăn để giải thích, như Giáo sư Nguyễn Văn Trung một trí thức Công giáo đã viết:
“Trước hết là một tình cờ đau đớn là việc truyền giáo song song với phong trào thực dân”[31, tr.341] Có nghĩa là ngay từ đầu quá trình xâm lược và đô hộ của
thực dân Pháp đã gắn liền với quá trình truyền đạo của Thiên Chúa giáo Một thực
tế không thể phủ nhận là các Giáo sĩ Thừa sai đã có vai trò rất lớn trong quá trình xâm lược ở Việt Nam Trong đó không thể không kể đến một vài Thừa sai mà tên tuổi của họ gắn chặt với quá trình xâm lược của thực dân Pháp như: Linh mục Huc; Linh mục Liraye; Giám mục Pellerin; đặc biệt là Giám mục địa phận Tây Đàng Ngoài Punigier
Sau khi đặt được ách đô hộ đối với Việt Nam bằng các Hiệp ước Hác-măng (1883) và Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), thực dân Pháp phải tiếp tục bước vào thời kỳ bình định nước ta bởi các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào Cần Vương (1885 - 1896) Trong thời kỳ này, dựa vào mục đích
đô hộ và cai trị thuộc địa là cơ sở để chế độ thực dân căn cứ thi hành các chính sách, trong đó có chinh sách đối với các tôn giáo, đặc biệt là Công giáo Tôn giáo này tiếp tục là một công cụ đắc lực bị lợi dụng để tiến hành công cuộc bình định và cai trị nước ta
Nhìn một cách tổng thể chính sách tôn giáo của đế quốc tại thuộc địa xây quanh vấn đề lợi ích cố hữu một kẻ xâm lược là làm thế nào để phục vụ tốt nhất mục đích thực dân, tận dụng một cách tối đa để vơ vét về kinh tế, tạo ra những
người bản xứ biết phục tùng để dễ bề cai trị qua chính sách đồng hóa ngoài ra,
còn nhiều lợi lộc khác mà vấn đề tôn giáo mang lại trong quá trình đô hộ thuộc địa Thái độ của thực dân Pháp ở Việt Nam đối với từng tôn giáo cụ thể như Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin L à n h trong từng thời điểm là không giống
Trang 34nhau hay nói cách khác là bất nhất Tùy vào thái đội của giới lãnh đạo cầm quyền ở chính quốc về tôn giáo như thế nào sẽ tác động trực tiếp đến chính sách tôn giáo ở thuộc địa Nhưng nổi bật trong chính sách tôn giáo của thực dân vẫn là sự ưu ái cho
Công giáo như một sự “trả ơn ” cho tôn giáo này với đóng góp trong quá trình xâm lược trước đó, như lời của Tổng Trú xứ Bắc Kỳ và Trung Kỳ Paul Pert: “Các Thừa
sai là các bậc tiền bối của chúng ta ở Đông Dương và vào những lúc bất ổn họ đã
là những nạn nhân đầu tiên của các phong trào nổi dậy Các Thừa sai thường giúp
đỡ chúng ta về tin tức và ý kiến Hơn nữa, dân Ki-tô giáo thường bị ngược đãi, ức hiếp, không phải chỉ vì lí do tôn giáo, mà còn vì là người bạn của Pháp Chúng ta không được phép quên món nợ ân nghĩa ấ y” [99, tr.549] Dẫn đến “Khi thực dân Pháp đã lập được đô hộ lên nước ta, đạo được dịp tự do bành trướng với tất cả sự
dễ dãi và nâng đỡ của thực dân ” [64, tr.20].
Có nhiều lí do để Thiên Chúa giáo được ưu ái, tạo điều kiện để phát triển hơn
so với nhiều tôn giáo khác Đầu tiên là phải xuất phát từ lợi ích cai trị của chế độ thuộc địa Sự ưu ái này ít nhất được thực hiện ngay từ đầu gắn liền với quá trình xâm lược cho đến mãi về sau, trừ những năm 90 của thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
bị gián đoạn bởi thái độ bài tôn giáo diễn ra mạnh mẽ của các đảng phái cấp tiến trong chính phủ Pháp Ngay từ các Hiệp ước trong thời kì xâm chiếm nước ta của thực dân Pháp kí với triều đình nhà Nguyễn đã nhận rõ sự ưu ái, quan tâm đến đạo Thiên Chúa của giới thực dân Cụ thể: Điều 2 của bản Hiệp ước Nhâm Tuất
(5/6/1862) quy định về tự do theo đạo Công giáo: “Thần dân của hai nước Pháp và
Tây Ban Nha được phép thờ phụng Chúa Kitô trong vương quốc An Nam, và thần dân của nước An Nam, bất kể là ai, có ước muốn đón nhận và tin theo đạo Chúa Kitô, đều được phép làm như vậy một cách tự do và không bị hạn chế Nhưng không một ai không muốn trở thành Kitô hữu mà lại bị bắt buộc làm như vậy ”[89, tr.569] Hoặc Điều 9 của Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874) quy
định “Đức vua An Nam thừa nhận đạo Kitô dạy cho con người làm điều thiện, hủy
bỏ và coi như không có tất cả những điều cấm đoán đối với tôn giáo Kitô và ban cho tất cả mọi người dân được phép theo đạo và hành đạo tự do ” [89, tr.585] và
sau này Hiệp ước Patơnốt (1884) tiếp tục khẳng định lại cam kết đã được quy định bởi Hiệp ước Giáp Tuất ngày 15/3/1874 Qua nội dung các văn bản trên đã chứng
tỏ Công giáo đã được những lợi lộc mang lại không kém phần quan trọng, đem lại cho tôn giáo của mình một quyền tự do tuyệt đối và không giới hạn, đôi khi đối nghịch với cả luật lệ hiện hành trong nước
Trang 35Sau khi Hiệp ước Nhâm Tuất được kí kết, Công giáo có điều kiện phát triển ở Việt Nam, nhất là ở Nam Kỳ Điều kiện này ngày càng trở nên rõ rệt khi chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ có sự hỗ trợ về mặt vật chất cho Hội Thừa sai Paris, tiêu biểu như: trả lương không những cho các thừa sai Pháp mà còn cả các linh mục và thầy giảng người Việt, chu cấp tiền bạc xây dựng các trường đào tạo thầy giảng, xây cất các nhà thờ và nhà nguyện mới, trợ giúp một số cộng đoàn Kitô hữu, hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động từ thiện xã hội do Hội Thừa sai Paris tổ
chức, “Yếu tố quan trọng nhất trong sự trợ giúp của nhà nước đối với các thừa
sai Pháp, là việc ấn định lương bổng hàng năm cho họ Trong năm 1864, 40.000 francs đã được dành cho việc này trong ngân sách thuộc địa Khoản trợ cấp đó được tăng lên tới 145.000 francs vào năm 1879 ” [99, tr.220] Không những vậy,
ngay cả đối với thầy giảng và linh mục Việt Nam cũng được trả lương, ví dụ: cũng trong năm 1879, hai mươi sáu Linh mục người Việt nhận số lương là 9 đồng hoặc
45 francs một tháng Ngoài ra, chế độ thực dân còn tạo điều kiện cho lớn cho Công giáo xây dựng Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn với kinh phí lên tới 2.500.000 francs [99, tr.223] Trên đây chỉ là một số ví dụ điển hình trong chính sách ưu ái của thực dân
ở nước ta trong thời gian đầu xâm lược
Ngay cả giai đoạn sau này, nhiều chính sách nâng đỡ khác được chính quyền thuộc địa áp dụng cho Công giáo như ở Nam Kỳ, Nghị định ngày 16-5-1903, Thống đốc Nam Kỳ quy định miễn thuế thân cho các Giáo sĩ và sư huynh các trường công giáo [101; tr.225] Tạo điều kiện cho giáo dân trong việc phân sử các cuộc tranh chấp giữa Lương - Giáo Làm ngơ để giáo dân một số nơi cướp đoạt mùa màng một cách trắng trợn của lương dân Kết quả cho sự quan tâm, tạo điều kiện phát triển của chính quyền thuộc địa đã đem đến cho Công giáo điều kiện phát triển mạnh so với thời kì khó khăn ban đầu Trong đó, một trong các minh chứng tiêu biểu là sự lớn mạnh về số
lượng giáo dân tham gia: “Trước kia, các địa phận thuộc hội Thừa sai Paris mỗi năm
chỉ thêm từ 7.000 đến 8.000 tân tòng, nhưng năm 1888 trên 10.000, năm 1889 trên 15.000, năm 1890 trên 20.000 Sau đó con số xuống dần, năm 1891 khoảng 18.000, năm 1892: 15.000” [84].
Tiếp theo, nổi bật nhất trong giai đoạn này là dựa vào Công giáo, lợi dụng Công giáo của chế độ thực dân ở nước ta để phục vụ cho công cuộc đô hộ Công giáo được thực dân Pháp sử dụng như một công cụ đắc lực để tiến hành chính sách bình định, hướng đến mục đích hoàn thành quá trình xâm lược sau khi cơ bản đã biến Việt Nam thành nước thuộc địa nửa phong kiến bằng Hiệp ước Hácmăng
Trang 36(1883) và Hiệp ước Patơnốt (1884) Trong đó, dùng các lực lượng công giáo để chống lại các cuộc khởi nghĩa như Cần Vương Thực dân Pháp triệt để sử dụng
“các xứ đạo Ki-tô giáo ở Việt Nam cũng được các giáo sĩ phiên chế tổ chức chặt chẽ để cung cấp cho quân đội Pháp, nào thông ngôn phiên dịch, nào phòng vệ dân công mang lại cho quân đội chiếm đóng một sự vô g iá ”[88, tr.438] Thực chất bên
trong sự hợp tác đến từ hai phía Chính quyền thực dân và các tín đồ Ki -tô giáo lại
là sự lợi dụng lẫn nhau một cách triệt để Về phía thực dân Pháp, ngay từ đầu khi đặt chân xâm lược Việt Nam cho đến sau này, chính sách sử dụng một lực lượng người bản xứ theo đạo Thiên Chúa để chống lại chính người bản xứ đã được thực hiện Các tín đồ Gia-tô đã được sử dụng như một lực lượng hữu ích để tiêu diệt các
cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta Chứng minh điều trên đây, “Đại úy Gosselin, một
trong những người “đuổi bắt” Hàm Nghi, kể ông ta đã được giúp đỡ như thế nào bởi những tin tức tình báo của giáo sĩ Thừa sai, những tin tức mà họ đạt được qua những lời xưng tội của những tín đồ của họ ” [91, tr.295] Thật sự hiệu quả và thâm
hiểm khi lợi dụng cả “những lời xưng tội” của tín đồ công giáo bản xứ để khai thác
thông tin tình báo phục vụ công cuộc bình định lãnh thổ Qua đó, ta mới thấy rõ
hơn bộ mặt của “sự hợp tác ” giữa thế lực chính trị và tổ chức tôn giáo - thực chất
khẳng định thêm bản chất của tôn giáo khi bị lợi dụng bởi chính trị
Ngoài ra, cũng trong giai đoạn này một trong những chính sách lợi dụng Công giáo để thực hiện mưu đồ củng cố quyền lợi của nước Pháp ở thuộc địa đó là lợi dụng Công giáo để thực hiện việc xác lập biên giới đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Cùng với sự phát triển của chế độ tư bản lên giai đoạn tột cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc là quá trình xâm chiếm thuộc địa Tham vọng bành trướng và đặt ách ảnh hưởng lên khu vực Đông Nam châu Á đã diễn ra từ rất sớm ở các thế kỉ trước đó giữa các đế quốc Pháp, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha và đến cuối thế kỉ XIX sự cạnh tranh càng khốc liệt, đặc biệt giữa Anh và Pháp với mục tiêu chung là làm sao để đặt được sự kiểm soát cho được phần lớn lãnh thổ ở Đông Nam Á
Một trong những nguyên nhân quan trọng là ở khu vực phía Tây của xứ Đông Dương đã được thực dân Anh đặt ách thống trị, cụ thể là Ân Độ và Nam Miến Điện, bên cạnh đó họ cũng đặt ra các Công sứ bên cạnh vua Mã Lai để củng cố vùng đất này Trong khi đó, Bắc Miến Điện và Xiêm La vẫn là hai quốc gia độc lập là vùng đất ngăn cắt lãnh thổ giữa Anh với các vùng đất mới chiếm của Pháp Thực dân Pháp sợ mối đe dọa tiềm tàng từ đối thủ sẽ gây ảnh hưởng được với Cao Miên và Xiêm sẽ đem đến một hệ lụy rất lớn cho quyền lợi thương mại và an ninh của mình, bởi vì hai vương
Trang 37quốc này giáp với Việt Nam và Cao Miên ở đồng bằng sông Mê Kông nhưng không
có lằn mốc biên giới rõ ràng Vì vậy, phải nhanh chóng đặt được sự ảnh hưởng lên khu vực đồng bằng sông Mê Kông Nếu không định đoạt được tầm ảnh hưởng đến vùng đất này, người Pháp sợ rằng người Anh sẽ sử dụng nó để tạo ra một tuyến đường mậu dịch thuận lợi lên phía Bắc để vào được thị trường Tây Nam Trung Hoa, một thị trường béo bở mà cả Anh lẫn Pháp đều muốn hướng đến Lúc đó việc chiếm Bắc Kỳ của Pháp trở nên mất giá trị Trong cuộc chạy đua ảnh hưởng của Pháp vào Xiêm La
và Mã Lai ít triển vọng thành công hơn đối với người Anh, vì họ thiếu hẳn những ảnh hưởng về thương mại và chính trị, lợi ích chính yếu và duy nhất của họ ở đó là các đoàn truyền giáo Hội Thừa sai hải ngoại
Vì vậy, việc lợi dụng vai trò của Công giáo vào vấn đề củng cố biên giới là điều chắc chắn Trong một đoạn gửi cho Đức cha Camelbeke đại diện Tông tòa địa phận Đông Đàng trong Huế của Thống sứ An Nam Paul Rheinart ngày 27-11-1888 như sau:
“Bản đồ chính trị ở Đông Dương cũng chẵng có một “khoảng trống” nào khác bản đồ tôn giáo do Hội Thừa sai Hải ngoại đã v ẽ ” [99, tr.586] Qua đó, ta hiểu rằng mối quan
hệ mật thiết của vai trò các giáo sĩ truyền giáo gắn chặt với việc định vị lãnh thổ biên giới như trong mưu đồ của giới cầm quyền thực dân
Cuối thế kỷ XIX, một vấn đề nếu nhìn nhận theo quan điểm của ngày nay là hết sức phi lý thì sự thật là dưới thời Pháp thuộc chữ Quốc ngữ được đẩy mạnh sử dụng, tạo ra một thứ ngôn ngữ có thể xem là thuận tiện và dễ sử dụng nhất trong
khu vực đối với ngày nay thực ra lại là một chính sách “ngu dân ” và ưu ái cho Công giáo Tại vì “theo Lanessan, các vị Thừa sai đều nhằm quần chúng, dân
quê, bần cùng nghèo khổ hoặc kẻ trộm cướp để giảng đạo Nói cách khác người Công giáo thường thuộc những giai cấp thấp hèn nhất trong xã hội Những người này thường được tập hợp thành những làng xóm riêng, tách khỏi đoàn thể dân tộc Lý do cô lập các làng theo đạo ở tại các Thừa sai sợ người theo đạo giao thiệp với người lương có thể quay lại các phong tục lễ nghi ngoại đạo Cũng vì lý
do sợ đó mà họ tạo ra chữ Quốc ngữ, thì chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại nếu như để cho họ học chữ nho, sợ họ có thể thông cảm lại với tư tưởng ngoại giáo Thành ra việc thành lập chữ Quốc ngữ phải chăng nhằm mục đích “ngu dân ” ly khai với văn hóa dân tộc?”[96, tr 116].
Để chứng minh cho nhận định trên ta biết rằng một trong những lực cản cho
sự truyền bá rộng rãi của đạo Thiên Chúa chính là truyền thống yêu nước dưới ý thức hệ tư tưởng Nho giáo, mà đại diện là tầng lớp Nho học Các giáo sĩ Thừa sai
Trang 38luôn tìm cách để xóa bỏ tầng lớp này là sự trở lực cho quá trình truyền đạo Chắc hẳn, các giáo sĩ Thừa sai nghĩ rằng việc xóa bỏ đi một loại ngôn ngữ của tầng lớp trí thức nho học, cũng là của đại đa số dân số Việt Nam thời đó sẽ làm cho thứ ngôn ngữ này biến mất, đồng nghĩa là sách sử bằng chữ nho sẽ không còn biết sử dụng thì triết học Nho giáo, nền tảng của tổ chức chính trị cũng bị chết dần chết mòn Thay vào đó là chữ Quốc ngữ, sau nữa là chữ Pháp sẽ truyền bá đạo Thiên Chúa và văn hóa Pháp để đi đến đồng hóa cả một dân tộc Giám mục Puginier,
người đi đầu trong chính sách truyền đạo đã đề nghị với thực dân Pháp “Vấn đề
này có tầm quan trọng rất lớn, và sau việc lập Gia Tô giáo, tôi xem việc phế bỏ chữ Nho và việc thay thế dần dần tiếng An Nam trước rồi kế đến bằng tiếng Pháp, là một phương cách rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên ở Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ của Viễn Đ ông” [91, tr.315] Từ đó, chúng ta thấy rằng, dù chủ
quan hay khách quan, việc tạo điều kiện cho chữ Quốc ngữ phát có điều kiện phát triển trong thời gian này ít nhiều có sự ảnh hưởng bởi mục tiêu của chính sách tôn giáo và có sự liên hệ với Công giáo
Tóm lại, trong thời kỳ bình định nước ta từ sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) cho đến khi đàn áp xong phong trào Cần Vương (1896), nổi bật trong chính sách tôn giáo của thực dân đối với Công giáo là tiếp tục ưu ái, tạo điều kiện để tôn giáo này phát triển Tuy nhiên trong giai đoạn này đã xuất hiện những trở ngại trong mối quan hệ giữa chính quyền thực dân với Công giáo với việc cắt bỏ việc trợ cấp đối với Công giáo trong việc trả lương cho các linh mục, mở ra một giai đoạn ngắn bất lợi cho sự phát triển của tôn giáo này
2.1.2 Thời kỳ từ những năm 90 của thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX
Nhìn chung, xuyên suốt trong chính sách tôn giáo của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung và nước ta nói riêng là thái độ ưu ái, quan tâm nâng đỡ, tạo điều kiện cho Công giáo hoạt động và phát triển Tuy vậy, không phải mối quan hệ giữa chính quyền thuộc địa với Công giáo luôn luôn tốt đẹp, đôi lúc cũng diễn ra những đối lập về quyền lợi của mỗi bên Mối quan hệ giữa chính quyền thực dân với
Thiên Chúa giáo thực sự là một sự hợp tác, lợi dụng lẫn nhau Nhưng “sự hợp tác giữa
các Hội truyền giáo Gia-tô tại Đông Dương với chế độ thuộc địa chưa bao giờ là một
sự hợp tác thực tình tin cậy lẫn nhau, trừ thời gian trước 1900”[89, tr.554] Thời kỳ
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX biểu hiện rõ nhất cho mối quan hệ trên giữa chế độ thực dân với Công giáo
Trang 39Trong mối quan hệ này, hai bên đều muốn tận dụng nhau để đạt được mưu đồ của mình Về phía Thiên Chúa giáo muốn thực hiện xứ mệnh cải đạo của mình đến
những “xứ ngoại đạo”, làm sao cho An Nam thành một xứ Gia Tô ở Viễn Đông
Ngược lại, như đã phân tích ở trên về mục đích của Pháp là phục vụ tối đa lợi ích chính trị, làm sao cho quá trình xâm lược, bình định và thống trị diễn ra một cách
thuận lợi nhất Đặc biệt là lợi dụng tôn giáo để khai thác thuộc địa, “về điểm này
chứng tỏ Tây chẳng tha thiết gì việc truyền giáo, chỉ lợi dụng đạo mà thôi” [96,
tr.105] Qua những phân trích ở trên ta thấy được đặc điểm nổi bật trong chính sách tôn giáo của thực dân chính là thủ đoạn thâm hiểm lợi dụng tôn giáo để mưu cầu lợi ích chính trị của giới cầm quyền
Ngoài ra, trong chính sách của chính quyền thuộc địa không những thay đổi liên tục về thái độ đối với từng tôn giáo mà chính sách đó còn không thống nhất ở từng xứ ở nước ta Trong đó, xứ Nam Kỳ là đất thuộc Pháp dễ dàng có những điều kiện để tôn giáo hóa đạo Ki-tô cho nên tổng quan chính sách tôn giáo của thực dân
ở đây khá mềm mõng, tạo điều kiện cho các hoạt động tín ngưỡng, còn Bắc Kỳ là
xứ Bảo hộ và Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ, ít nhiều vẫn còn ảnh hưởng của Triều đình nho học và các yếu tố văn hóa truyền thống ảnh hưởng sâu rộng nên sẽ phải có những chính sách phù hợp hơn về tôn giáo mà cụ thể là tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn
Nhìn chung dưới tác động của chính sách có lợi cho Công giáo phát triển, đã làm cho Công giáo ở nước ta dưới thời Pháp thuộc có điều kiện để phát triển
mạnh mẽ Trong thời kỳ này “Công giáo phát triển mạnh mẽ về cả nhân số cũng
như về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất” [13, tr.271] Tuy nhiên, sự phát triển đó
không phải không gặp những trở ngại từ mối quan hệ giữa chính quyền thực dân với hoạt động Công giáo Đến đầu thế kỷ XX, với chính sách bài Công giáo mạnh
mẽ diễn ra bởi giới lãnh đạo cầm quyền ở chính quốc đã tác động đến Công giáo ở thuộc địa
Trong mối quan hệ của thực dân với Công giáo ở nước ta, nếu ngay từ đầu những năm 80 của thể kỉ XIX, chế độ thuộc địa ở Đông Dương đã tiến hành một số
chính sách bất lợi cho Thiên Chúa giáo như: “Việc chính quyền thuộc địa cấp kinh
phí để trả lương cho giám mục và linh mục không do nhà nước bổ nhiệm, đã không tiếp tục lâu dài: ngày 23-12-1881, Hội đồng thuộc địa đã không còn chấp nhận tài khoản dành cho phụng tự trong ngân sách, nghĩa là từ 1-1-1882, tòa giám mục Sài Gòn không còn nhận được khoản tài trợ hàng năm nữa”[13, tr.311] thì chủ nghĩa
Trang 40chống giáo sĩ ở Đông Dương được đẩy lên cao trào bắt đầu từ năm 1891 trở đi gắn liền với thời kì của Toàn quyền Jean de Lanessan Khác với các thời kì tiền nhiệm trước đó, Lanessan là một nhà chính trị cấp tiến, đồng thời cũng là hội viên của Hội Tam Điểm - hội viên danh dự của Hội quán Bắc Kì Hội Tam Điểm là một hội kín xuất hiện ở châu Âu, sự tồn tại của hội này là trở ngại lớn đối với Thiên Chúa giáo
vì “Mục tiêu của hội Tam điểm là triệt hạ các tôn giáo, nhất là đạo Thiên Chúa mà
đặc biệt là Công giáo, để xây dựng một tòa nhà lý tưởng cho nhân loại Họ muốn giải phóng con người khỏi dốt nát, mê tín, nô lệ và đàn áp “Tam điểm ” của họ là
tự do bình đẳng, và huynh đệ” [84].
Trong thời kì tại vị của mình, Toàn quyền Lanessan đã có những hành động bất lợi cho Thiên Chúa giáo Ông đã đã công khai lên án ảnh hưởng của các thừa sai đối với các chính sách bình định của Paul Pert và các vị tiền nhiệm Một trong những vấn
đề thể hiện sự đối lập trong quan điểm của viên Toàn quyền này với các giáo sĩ thừa sai chính là thái độ của họ với các Nhà nho, một tầng lớp quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của người dân An Nam Đối với các Giáo sĩ thừa sai mà đại diện tiêu biểu nhất là Giám mục Puginier cho rằng chính các quan lại, sĩ phu nhà nho
là chướng ngại vật lớn nhất trong công cuộc giảng đạo của mình, nên “Phải thủ tiêu
họ đ i ! ” Hơn nữa vị Giám mục này cho rằng “Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả bởi vì lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta Còn điều nữa là chẳng một ai trong họ chịu theo đạo Kitô c ả ”[89, tr.551].
Ngược lại, khi nhậm chức Lanessan đã đẩy mạnh việc bình định bằng hòa giải chính trị Vị Toàn quyền này khuyến khích sự cộng tác của người Việt bằng cách phục hồi và củng cố thẩm quyền hành chính của các cơ quan Việt Nam Tại Bắc Kỳ, các viên chức Việt Nam được các công sứ người Pháp bớt giám sát và cho phép họ được
tự do hành động nhiều hơn cũng như có nhiều sáng kiến hơn trong việc quản lí nền hành chính tại địa phương Uy tín của ông kinh lược sứ - một ủy viên người Việt của nhà vua tại Bắc Kỳ - cũng được củng cố Nói cách khác, bằng chính sách “bảo hộ
thanh thực và nhân từ” của mình, Lanessan đã cho rằng “thay vì tiếp tục đi theo chính
sách của các giáo sĩ thừa sai đã từng mang lại cho chúng ta những phục vụ thảm thương như thế” [91, tr.374] thì cần phải sử dụng mọi lực lượng từ Vua, Triều đình,
Hội đồng cơ mật, quan lại và nho sĩ
Ngoài ra, một hành động khác chưa có tiền lệ trong giới cầm quyền ở thuộc địa
mà Lanessan đã tiến hành là việc trợ cấp của Toàn quyền cho Phật giáo và sự tham dự