Cả hai nhà thơ cùng lựa chọn thể thơ thất ngôn bát cú, thấtngôn tứ tuyệt để sáng tác thơ Nôm trào phúng và đều vừa truyềnthống vừa phá cách với kết cấu thường thấy của hai thể thơ này.Kế
Trang 1NGHỆ THUẬT TRÀO PHÚNG
TRONG THƠ NÔM TÚ
XƯƠNG VÀ KÉP TRÀ
Trang 2Nghệ thuật trào phúng của Tú Xương và Kép Trà cũng cónhiều điểm tương đồng và khác biệt Để làm rõ sự tương đồng
và khác biệt đó chúng tôi sẽ đi khảo sát và phân tích trongnhững yếu tố nghệ thuật về thể thơ, các thủ pháp ngôn ngữ tràophúng và cách vận dụng ngôn ngữ dân gian
- Thể thơ
Trong thơ Nôm trào phúng, Tú Xương và Kép Trà đã vậndụng đa dạng, linh hoạt các thể thơ khác nhau Tuy là giai đoạncuối cùng của thời kì văn học trung đại, văn học chính thốngmất dần địa vị nhưng các nhà thơ giai đoạn này vẫn ưa chuộng
sử dụng những thể thơ Đường luật thường thấy như thất ngônbát cú, thất ngôn tứ tuyệt, bên cạnh đó còn có lục bát, songthất lục bát, tự do Không nằm ngoài hướng đi chung đó, TúXương và Kép Trà cũng sử dụng chủ yếu thể thất ngôn bát cú
và thất ngôn tứ tuyệt Trong quá trình khả sát thơ Nôm tràophúng của hai nhà thơ (Tú Xương 98 bài Kép Trà 38 bài),chúng tôi thống kê được như sau:
Trang 3ổngsốtácphâm
Thấtngôn bát cúĐường luật
Thất ngôn tứtuyệt
Đường luật
Các thểthơ khác
S
ố bài
Tỷ lệ %
Sốbài
Tú
Xương
98
54
55
26,5
18
18,4
Kép
Trà
38
30
Tú Xương có khoảng 54/98 bài làm theo thể thất ngôn bát
cú và khoảng 26/98 bài làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt, 18 bàicòn lại làm theo các thể thơ khác Tú Xương vận dụng chủ yếu
cả hai thể thơ trong đó thể thơ thất ngôn bát cú chiếm quá nửatổng số bài thơ Kép Trà có 30/38 bài làm theo thể thất ngôn bát
cú và 4/38 bài theo thể thất ngôn tứ tuyệt, 4 bài còn lại làm theocác thể thơ khác Như vậy, Kép Trà chủ yếu sử dụng thể thơ thấtngôn bát cú
Trang 4Cả hai nhà thơ cùng lựa chọn thể thơ thất ngôn bát cú, thấtngôn tứ tuyệt để sáng tác thơ Nôm trào phúng và đều vừa truyềnthống vừa phá cách với kết cấu thường thấy của hai thể thơ này.Kết cấu thường thấy của một bài thơ thất ngôn bát cú Đườngluật là Đề, Thực, Luận, Kết và của thất ngôn tứ tuyệt Đườngluật là Khai, Thừa, Chuyển, Hợp nhưng trong những bài thơNôm trào phúng, Tú Xương và Kép Trà đều có dấu hiệu giảiquy phạm rất rõ nét Thể thơ Đường luật thường quy định rấtchặt chẽ về niêm luật, vần đối, kết cấu và hình ảnh thơ phảimang tính quy phạm vốn có Nhưng ở những bài thơ của TúXương và Kép Trà, ta thấy việc thực hiện những quy định đóđều khá lỏng lẻo tạo nên tứ thơ thoải mái với hình ảnh giản dịđời thường Vậy sự biến đổi kết cấu, thể thơ ở hai nhà thơ là dodụng ý nghệ thuật hay do “sơ tài”? Có lẽ đó không phải ngẫunhiên hay do “sơ tài” mà là một dụng ý, một thủ pháp nghệthuật để thể hiện tiếng cười trào phúng Mỗi tác giả lại có biếnđổi kết cấu bài thơ khác nhau Từ kết cấu đó tạo nên mâu thuẫn
và bật ra tiếng cười trào phúng
Tú Xương thường đi theo kết cấu 2-4-2/6- 2 hoặc 7-1 vớithơ thất ngôn bát cú và 2- 2 hoặc 3-1 với thơ thất ngôn tứ tuyệt
Trang 5Cái tài của ông là thường nhập đề và kết luận một cách “bất ngờ, đột ngột” Đọc thơ Tú Xương chúng ta không thể biết kết
thúc sẽ như thế nào Và chính cách nhập đề và kết luận bất ngờnhư vậy đã khiến tiếng cười trong thơ ông bật lên một cách giòngiã, mỉa mai, đả kích gay gắt vào đối tượng Những câu thơ mởđầu của Tú Xương thường cụ thể, đi ngay vào đề một cách
thẳng thắn, tự nhiên, mạnh mẽ “Tú Xương nhập đề thẳng ngay vào việc, không quanh co, úp mở” Giới thiệu một ông Cử Tú Xương nói luôn sự dốt nát: “Sơ khảo khoa này bác Cử Nhu/ Văn như hũ nút, chữ như mù” Ông đi thẳng vào vấn đề, giới thiệu ngay nhân vật: “Cử Thăng, Huấn Mỹ, Tú Tây Hồ…”
Cái đặc biệt hơn trong thơ Tú Xương chính là câu kết bấtngờ với kết cấu 6-2/7-1 và 2-2/3-1 Đọc thơ Tú Xương tathường thấy sáu câu thơ trên rất đỗi hiền lành, nhưng rồi ông hạbút một câu kết đầy bất ngờ, thú vị hoặc tàn nhẫn Nó như mộtđòn đánh thẳng tay vào đối tượng, mạnh mẽ quất thẳng vào mặt
bọn quan lại hay kẻ rởm đời, đĩ bợm “Có thể nói những câu kết thường là những câu “thần” trong thơ Tú Xương Nó kết tinh cái tinh túy, cái chủ đề toàn bài Nó thể hiện dụng công, tài năng của tác giả” [70.tr,560] Kết cấu đó ta có thể thấy ở những
Trang 6bài thơ như Hương thí tự trào, Than nghèo, Sắm tết, Hà Nam tức sự, Ngày xuân bỡn làng thơ, Hỏi ông Tiến sĩ, Ông cử thứ Năm, Đùa ông Phủ…
Ví dụ như, trong bài thơ Hà Nam tức sự, sáu câu thơ đầu
Tú Xương nói về sự danh giá của ông Cò, với những lời vuốt
ve, mơn trớn khiến ông ta như một người có uy, ai ai cũng nể
sợ: “Hà Nam danh giá nhất ông Cò/ Trông thấy, ai ai chẳng dám ho/ Hai mái trống toang, đành chịu dột/ Tám giờ chuông đánh, phải nằm co/ Người quên mất thẻ âu trời cãi/ Chó chạy
ra đường có chủ lo” Cuối cùng ông hạ một câu kết, chửi thẳng
vào mặt ông Cò, cho ông Cò ăn c… chó mà điều ấy chẳng aingờ thấy được:
“Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to”
Tiêu biểu cho lối kết cấu phá cách 3/1 là bài thơ Ngày xuân bỡn làng thơ Ba câu thơ đầu ông Tú nói về việc làm thơ
vào ngày xuân Đó là một nét đẹp văn phong nho nhã đầu năm
mới: “Ngày ba tháng tám thấy đâu mà/ Sao đến ngày xuân lắm thế a/ Ý hẳn xôi thịt lèn chặt dạ” Câu thơ thứ ba đã hé lộ việc
Trang 7bọn dốt nát nhân ngày xuân, cùng họp nhau làm thơ ngâm vịnh
để che mắt thiên hạ và để phè phỡn chè chén với nhau Đến câukết mới đậm ý mỉa mai đầy bất ngờ, đột ngột, ghê gớm khi ông
Tú ví von việc sáng tác văn chương của các nhà thơ này như
chuyện tiêu hóa “Cho nên con tự mới thòi ra” qua các từ “lèn”,
“thòi” hết sức mộc mạc nhưng đầy táo tợn, hài hước Hóa ra
văn chương nho nhã của “làng thơ” như một thứ chất thải Đâychính là biệt tài đả kích một đòn chết tươi đối tượng của TúXương
Như vậy, có thể nói cách biến đổi kết cấu này là một thủpháp đắc lực để bộc lộ tiếng cười, châm biếm đả kích đối tượng
trong thơ Nôm Tú Xương Lối kết thúc bất ngờ chính “là sở trường của Tú Xương nó góp phần tăng cường giá trị châm biếm của thô ông; nó như ngọn kiếm của người múa kiếm có tài, nó đâm vào đích lúc nào không ai biết, nhưng đâm rất trúng, rất ngọt, không thể nào tránh được nó” [70, tr.738].
Kép Trà cũng biến đổi kết cấu nhưng ngược lại với TúXương Trong thơ Kép Trà, xuất hiện nhiều nhất với lối kết cấu2-6 hoặc 1-7 với thể thất ngôn bát cú Đường luật và 2-2 hoặc 1-
3 với thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Tiêu biểu như Quan
Trang 8công…tài, Gửi các quan tỉnh Hà Nam mới nhận chức, Vịnh các quan tỉnh Hà Nam, Vịnh tri huyện Nguyễn Hữu Hậu, Nhắn trợ
tá Giảng, Vịnh viên quản đề lao, Nha, lệ thương dân, Vịnh mụ Chánh kỳ, Gái ngoan…Không như kết cấu 6-2/ 7-1 với câu kết
bất ngờ như Tú Xương mà Kép Trà sử dụng kết cấu 2-6/ 1-7 với
cách “nâng giả đánh thật” Ở hai câu đề bao giờ ông cũng nâng
đối tượng lên bằng những lời khen ngợi bóng bây nhưng sáucâu thơ tiếp theo lại giáng cho đối tượng những đòn mạnh mẽkhông ngờ tới Chính điều đó đã góp phần quan trọng tạo nêntiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích đối tượng
Chẳng hạn như trong bài thơ Vịnh các quan tỉnh Hà Nam, hai câu thơ đề tác giả ca ngợi sự “nhân từ” và dân tình có phúc
lớn khi có các quan về làm việc:
“Năm quan phủ huyện rất nhân từ
Dân đất Hà Nam đội phúc dư”
Nhưng hóa ra cái sự “nhân từ” và “phúc dư” ấy lại được nhà thơ phanh phui, vạch mặt không thương tiếc ở sáu câu tiếp:
“Miệng chửi chú Đoàn nghe ráo hoảnh/ Ngón chim cu Phụng đọc trơn lừ/ Đừng khinh Kim Bảng tay non choẹt/ Cũng gớm
Trang 9Thanh Liêm mặt chín dừ/ Nuốt búa to gan, ai đó tá/ Duy Tiên hơn hẳn các me xừ”.
Tiêu biểu cho lối kết cấu phá cách 1/3 của thể thơ thất
ngôn tứ tuyệt trong thơ Kép Trà là bài Vịnh viên quản đề lao,
nhà thơ mở đầu bằng câu ngợi ca công lao của tên cai ngục:
“Nhà nước khen cho có quản công” nhưng đến ba câu cuối ông
chẳng ngại ngần mà chỉ rõ cái công lao ấy là đánh đập, tham
tiền của tù nhân- thật là nhục nhã: “Lọ là dẹp bắc với chinh đông/ Cứ thằng tù xác lèn cho kỹ/ Rồi cũng mề - đay cũng sắc rồng”.
Tiêu biểu cho lối kết cấu 2/6 còn có bài Nha lệ thương dân, Kép Trà mở đầu bằng hai câu thơ ca ngợi tình thương và biểu dương công “khó nhọc” của nha, lệ khi dân bị lụt:
“Nước lụt năm nay khó nhọc to
Thương dân nha lệ dốc lòng lo”
Nhưng ở sáu câu thơ tiếp tiếng cười châm biếm, mỉa maivang lên khi sự thật về công lao khó nhọc của nha lệ được phơi
bày - “khó nhọc” vì còn mải vơ vét của cải của nhân dân:
“Chửa nhai tre hết còn nhai bạc/ Mới bắt trâu xong lại bắt bò/
Trang 10Mấy xã Bạch Sam anh Lệ nuốt/ Trăm năm Chuyên Nghiệp chú thừa no/ Còn đê, còn nước, dân còn khổ/ Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò”.
Thơ Kép Trà còn rất nhiều những câu đề kiểu “nâng giả, đánh thật” như để nói về cái sự tham lam, vơ vét, đĩ thõa của một mụ Chánh kỳ “Khéo khéo khôn khôn mụ Chánh kỳ/ Tiền nghìn, bạc vạn thoáng chi chi” (Vịnh mụ Chánh kỳ), rồi cái tính lẳng lơ của một cô gái con quan: “Cái gái nhà ai gái mới ngoan/ Chồng làm thông phán, vợ con quan” (Gái ngoan) …
Nếu như lối kết thúc bất ngờ là một “sở trường” của Tú Xương để châm biếm đả kích thì với lối mở đầu “nâng giả đánh thật” cũng là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo của Kép Trà để ông có thể vuốt ve đối tượng rồi quay lại đánh gục đối tượng một cách bất ngờ Nhà thơ giả vờ tâng bốc, vuốt ve để rồi
cuối cùng lôi tuột người ta xuống, đánh một đòn chí mạng, hạgục đối tượng
Như vậy, tuy sáng tác cùng một thể loại, chủ yếu là thấtngôn bát cú Đường luật và Tú tuyệt Đường luật nhưng TúXương và Kép Trà lại có sự biến đổi khác nhau về kết cấu TúXương thường đi theo kết cấu 6-2/ 7-1 hoặc 2-2/3-1 với câu kết
Trang 11bất ngờ đánh một đòn chết tươi đối tượng thì Kép Trà lại ưadùng kết cấu 2-6/1-7 hoặc 2-2/ 1-3 giả vờ vuốt ve sau đó hạ gụcđối tượng Cả hai nhà thơ đã vận dụng và phá cách kết cấu cácthể thơ thật tài tình để tạo nên tiếng cười châm biếm, đả kíchmạnh mẽ trong thơ Nôm trào phúng.
- Các thủ pháp trào phúng
Để tạo nên tiếng cười trong thơ Nôm trào phúng, TúXương và Kép Trà đều khéo léo vận dụng các thủ pháp ngônngữ như chơi chữ, phóng đại/ngoa dụ, nói mỉa, vật hóa Tuy cảhai nhà thơ hầu như đều dùng các thủ pháp ngôn ngữ này nhưng
ở mỗi thủ pháp mức độ và cách vận dụng lại có nhiều điểm khácnhau
- Thủ pháp ngôn ngữ
- Chơi chữ
Tú Xương và Kép Trà sử dụng khá nhiều và rất nhuầnnhuyễn lối chơi chữ đồng âm - trực dịch Hán Việt - một thủpháp ngôn ngữ của nghệ thuật trào phúng
Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được Tú Xương cókhoảng 13 bài sử dụng lối chơi chữ Ông chủ yếu chơi chữ với
Trang 12những từ ngữ liên quan đến cái danh của tầng lớp quan lại như
Đùa ông Hàn, Bỡn ông Ấm Điềm, Làm ruộng, Ngày xuân bỡn làng thơ, Cô hầu gửi quan lớn, Thành pháo, Đề Ảnh, Giễu ông
đồ Bốn ở phố Hàng Sắt, Chế ông Hàn sợ vợ bỏ…Danh vị ông
Hàn tu soạn là phâm hàm quan lại hàng thất phâm, là người làmcông việc chuyên biên soạn sách vở, văn bản thế mà một tênnấu rượu, có chút tiền đã mua luôn được chức quan đó, bằng lối
chơi chữ Tú Xương đã gán luôn cho cái danh Hàn nghĩa là “hàn nồi” cho bõ tức:
“Hàn lâm tu soạn kém gì ai
Đủ cả vung nồi cả cóng chai
Ví phỏng quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai”.
Một đồng âm khác của từ “tu soạn” nghĩa là “cỗ bàn” cho
nên ở đây Tú Xương còn chơi chữ nhằm nhạo báng phâm hàm
mà ông Hàn có được là do luồn lọt, xôi thịt mà có được
Để chế nhạo vẻ lăng xăng của một cậu Ấm Điềm con quanđồng thời nhân đó giễu cợt sự tạp nham, lôm côm của nhữngngười mang danh Ấm đương thời, tác giả đã mượn hai từ đồng
Trang 13âm: “ấm” (ấm nước, ấm trà) và “ấm” (tước hiệu của con cái
quan lại): “Ấm không ra ấm, ấm ra nồi/ Ấm chạy lăng quăng,
Ấm chẳng ngồi/ Chán cả đồ chuyên cùng chén mẫu/ Luộc giò nấu thịt lại đồ xôi” (Bỡn ông Ấm Điềm).
Lối chơi chữ tài tình hơn cả phải kể đến bài Thành pháo.
Ông Tú viết về một tên bồi bếp cho Tây may được giữ chứcphòng thành ở Nam Định tên là Pháo, người dân quen gọi làThành Pháo Bất kì ai biết đánh tam cúc, khi đọc xong bài thơnày cũng đoán ra ngay được ván bài ấy thành pháo:
“Tượng tượng xe xe xé lẻ rồi
Sĩ đen sĩ đỏ chẳng thành đôi
Đố ai biết ngỏ quân gì kết
Mã cũng chui mà tốt cũng chui”.
Trong lối chơi bài tam cúc, một ván bài mà sĩ, tượng, xe,
mã và tốt đều bị xé lẻ thì nhất định quân kết phải là cặp pháo
Ván bài như vậy, tiếng chuyên môn của tam cúc gọi là “thành pháo” và như thế Tú Xương chơi chữ, mượn cách chơi bài tam
cúc mà mỉa mai, dù không nói tên nhưng ai cũng biết là bài thơnói đến Thành pháo Sâu xa hơn ông chơi chữ để mỉa mai, chế
Trang 14giễu nhẹ nhàng chức vụ phòng thành của Pháo do may mắn mà
có chứ không phải tài năng gì Những quân tốt (người giỏi) đều
không còn: “Tượng tượng xe xe xé lẻ rồi/ Sĩ đen sĩ đỏ chẳng thành đôi” nên pháo (Thành pháo) mới may mắn kết bài (giữ
chức phòng thành)
Đối với thầy đồ giả danh, ông Tú châm biếm: “Hỏi thăm quê quán ở nơi mô/ Không học mà sao cũng gọi là đồ?” (Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt) Ông Đồ Bốn vốn là người bán
hàng sắt nhưng lại tự xưng mình là thầy đồ vậy nên Tú Xương
đã chơi chữ “đồ” (dạy học) để bỡn cợt ông này vì trong dân
gian tiếng Bắc Bộ từ “đồ” còn cùng để chỉ “cái ấy” của người
phụ nữ
Kép Trà có khoảng sáu bài thơ sử dụng lối chơi chữ Ôngkhông chơi chữ với cái danh, chức vụ như Tú Xương mà ôngthích chơi chữ với tên của các quan huyện tỉnh nhà và địa danh
“Thơ Kép Trà ít lời nhưng nói được nhiều ý Cách chơi chữ trong thơ Kép Trà cũng đa dạng cho giọng trào phúng thêm sâu” [13, tr.23] với các bài như: Vịnh tri huyện Đoàn Ngưng, Vịnh tri huyện Nguyễn Hữu Hậu, Vịnh tri huyện Lê Hữu Tích, Vịnh tri huyện Phó Bá Thuận…
Trang 15Tri huyện Duy Tiên Nguyễn Hữu Hậu (có lòng nhân hậu)được đổi tên là Vô Hậu cũng tại quan tham lam vô độ, vơ vét
“quốc trái” Vì vậy việc làm của quan không có lòng nhân hậu
(Vô hậu):
“Quốc trái Duy Tiên bạc rất nhiều
Ai đem Hữu Hậu đến mà tiêu…
Rõ ràng hữu hậu mà vô hậu
Gia Viễn người ta gạo muối theo”
(Vịnh tri huyện Nguyễn Hữu Hậu)
Quan tri huyện Đoàn Ngưng thì được ông gọi là “huyện Đùn” để ám chỉ thói tham lam, keo bân của viên quan này:
“Kim Bảng phù hoa có huyện Đùn/ Cò kè mặc cả lối phường buôn/ Dân vào ít lễ sang mồm chửi/ Bạn đến thăm nhà giở giọng chuồn/…Núi Rồng sông Quế bao nhiêu của/ Vơ vét ra tay trấu chẳng còn” (Vịnh tri huyện Đoàn Ngưng) Ông chơi chữ
với tên vùng đất “Kim Bảng” ý chỉ vùng đất giàu có nhiều vàng
bạc, cuộc sống sung túc, nho nhã “phù hoa” mà lại có một tên
quan “huyện Đùn” thì thật là nhục nhã
Trang 16Tri huyện Phó Bá Thuận:
“Ai ơi sẵn suối liêm tuyền đó
Thuận uống hay là uống nước khe”.
Ông Kép chơi chữ với địa danh quê hương “Liêm Tuyền”
và từ “khe” (có thể hiểu là “khe rãnh” hoặc “khe suối”) để hỏi
rằng Thuận bằng lòng uống nước trong suối hay uống nướckhe, nước rãnh? Ông mỉa mai tên tri huyện liệu sẽ lựa chọn conđường làm quan như nào: tốt đẹp hay xấu xa? Ông đặt câu hỏinhưng với một kẻ bỏ tiền ra mua quan mà lại còn cờ bạc, thamlam như Phó Bá Thuận thì sao có thể trong sạch được? Với lốichơi chữ địa danh hóm hính nhưng đầy sâu cay, ông hỏi nhưngthực ra là khẳng định tên quan huyện ấy đã làm ô danh quêhương Liêm Tuyền
Kép Trà cũng có chơi chữ với danh vị như Tú Xương
nhưng chỉ có chơi chữ đồng âm giữa hai từ “hàn vá” (chắp vá)
và “hàn lâm” (Chức quan làm công việc liên quan đến sách vở)
của “Cụ lớn Hàn” - một kẻ chuyên nghề bán thuốc nhưng khônghiểu gì về thuốc, nhằm mỉa mai cái chức quan mà hắn ta có
được là do giỏi luồn lách, dùng tiền mua được: “Chỗ nào sứt
Trang 17mẻ hay hàn lại/ Kẻo nữa khi lăn nó lại mòn” (Quan lớn được ban…đòn).
Ngoài ra Kép Trà còn vận dụng lối chơi chữ khi châm
biếm giới sư sã với bài “Tặng sư chùa Bầu”: “Tiếng chuông triêu mộ nghe giòn giã/ Sóng bể trầm luân giỡn nhấp nhô” Nhà thơ chơi chữ với từ “triêu mộ” vừa là để diễn tả một sự việc xảy
ra mỗi ngày đó là tiếng chuông vào hai buổi sáng tối của nhàchùa nhưng sâu xa hơn là ông ám chỉ chùa không còn là nơithanh tịnh mà là nơi đêm ngày, sớm tối diễn ra những trò traigái, nhố nhăng giữa các bậc tu hành
Có thể nói, nhờ thủ pháp chơi chữ đồng âm tài tình, thông
minh mà Tú Xương và Kép Trà khiến cho nhiều kẻ phải “giật mình” sợ hãi, tức giận mà không làm gì được Thủ pháp này vừa
tạo nên tiếng cười hài hước, thoải mái nhưng cũng thâm trầm,sâu cay, châm biếm, đả kích mạnh mẽ như những ngọn roi vútxuống khiến đối tượng không đau ngay mà đau lâu, ngấm sâu
- Từ láy
Giống như Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, TúXương và Kép Trà cũng sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân
Trang 18tộc vào trong thơ Nôm trào phúng Đó là việc sử dụng rất nhiều
từ láy và đây cũng là một thủ pháp ngôn ngữ độc đáo trongngôn ngữ để tạo nên tiếng cười trào phúng Qua khảo sát, chúngtôi thống kê được như sau:
Tá
c gia
Tổn
g số tác phẩm
và tượng thanh (Phụ lục 2) Những từ láy đó xuất hiện trong
khoảng 45 bài thơ Nôm trào phúng như Đĩ rạc đi tu, Đi hát mất
ô, Ngẫu vịnh, Tự trào I, II, Than cùng, Than đạo học, Đi thi,
Trang 19Hương thí tự trào, Đi thi gặp bạn, Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Ngày xuân ngẫu hứng, Ông cử thứ Năm, Khen người ở phố Hàng Sắt, Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt, Già chơi trống bỏi, , Sư ông và mấy ả lên đồng v.v…
Có thể nói đến với thơ Nôm trào phúng thời kì này, TúXương chính là một trong những tác giả sử dụng từ láy thànhcông hơn cả Cùng với Nguyễn Khuyến, Tú Xương đã làmphong phú thêm kho tàng từ láy của ngôn ngữ Việt Nam Ông
sử dụng từ láy tượng hình nhiều hơn từ láy tượng thanh Nếu
so sánh Tú Xương với cụ Tam nguyên Yên Đổ thì ta thấy ông
sử dụng từ láy tượng thanh nhiều hơn Nguyễn Khuyến: ậm ờ,
eo sèo, nghêu ngao, ậm ọe, chí cha chí chát, ha hả, khì khì, bi
bô, ỳ èo, thủ thỉ, ấm ớ, xì xèo, đì đẹt, om sòm ; số lượng từ láy tượng hình sử dụng ngang bằng với Nguyễn Khuyến: tấp tểnh, dập dìu, trơ trơ, dở dở, ương ương, lơ láo, lăng nhăng, ngơ ngơ, ngẩn ngẩn, khéo khéo, lăm le, rách rưới, phe phẩy, nông nổi, ngao ngán, nhạt nhèo, san sẻ, lăng quăng, dơ dáng, tục tằn, lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh, khấp khểnh, lôi thôi, keo cú, tham lam, ngơ ngẩn, đen thủi đen thui, đông đúc, lượt là, xênh xang, tẻo tèo teo, ngấp nghé, đĩnh đạc, nhề
Trang 20nhàng, gồ gồ, hom hem, tẻo teo, thấp thoáng, thướt tha, xô bồ,
cô lô cô lốc, luẩn quẩn loanh quanh, thẹn thùng, mập mờ, long ngóng, lẩn thẩn, nghênh ngang…; không chỉ có láy đôi
Tú Xương còn sử dụng cả láy tư: toác toạc toàng toang, chí cha chí chát, cô lô cô lốc, lẩn quẩn loanh quanh…láy ba như: tẻo tèo teo…
Với từ láy tượng hình, nhà thơ sử dụng rất đắt trong việckhắc họa ngoại hình, chân dung của mọi đối tượng nhân vật đểtạo nên những tràng dài của tiếng cười châm biếm, đả kích Ông
sử dụng đồng loạt láy tượng hình, láy đôi, láy bốn “toác toạc toàng toang, chán chê, tấp tểnh, dập dìu” vạch trần bản chất thật và chân dung của những cô gái giang hồ “Cũng ra đi rạc/
Bấy lâu nay đã toác toạc toàng toang/ Chán chê rồi về đến đầu làng/ Toan tấp tểnh những đường tu lí…Dập dìu tiếng mõ tiếng
chuông” (Đĩ rạc đi tu); còn đây là chân dung của sĩ tử nho học
“lôi thôi”, “rụt rè” đến thảm hại phản ánh sự xuống cấp của nhà
Nho đương thời: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ” (Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu), “Sĩ khí rụt rè gà phải cáo” (Than đạo học).
Chân dung của bọn quan lại, tầng lớp thị dân mới đươngthời hiện lên rõ nét với những từ láy tượng hình:
Trang 21“Chí cha chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là”
(Ngày xuân ngẫu hứng)
Với việc sử dụng liên tiếp láy tư “chí cha chí chát”, Đen thủi đen thui’’ và láy đôi “lượt là”, tác giả đã làm hiện lên một
cách sinh động sự khoe khoang, hãnh tiến của bọn thị dân vàquan lại
Tú Xương còn dùng từ láy để vẽ nên một bức tranh biếmhọa về nền Nho học, sĩ tử, thi cử khoa bảng đương thời:
“Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi
Trang 22từng đối tượng Người ta chán đạo học đến mức chẳng ai buồn
mua sách nên cô nàng bán sách mới “lim dim ngủ”, không ai còn muốn đi học chữ thánh hiền nên thầy đồ “nhấp nhổm” lo mất việc, sĩ tử thì “rụt rè” sợ hãi vì cơ hội công danh sự nghiệp
cũng không còn và cố đi thi xem có ăn may hay không mà thôi
“liều lĩnh”.
Một tên chuyên buôn bán tự nhận mình là thầy đồ cũng bị
ông vạch trần: “Áo quần đĩnh đạc trông ra cậu/ Ăn nói nhề
nhàng nhác giọng Ngô/ Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt/ Mũi nó
gồ gồ trán nó giô” (Giễu ông Đồ Bốn ở phố Hàng Sắt) Xã hội
thị dân ở Nam Định với sự suy đồi của giá trị đạo đức càng rõ
nét hơn qua những từ láy: “Keo cú, người đâu như cứt sắt/
Tham lam chuyện thở những hơi đồng” (Than đời) Với hai từ
láy “keo cú, tham lam”, ông đã lột tả được thói bần tiện, tham
lam của những kẻ chạy theo đồng tiền mà bỏ quên những giá trịđạo đức
Và thói lả lơi, ong bướm của những bậc tu hành nơi thanh
tịnh cũng chẳng giấu nổi với những từ láy “thấp thoáng, thướt tha, thủ thỉ” không khó làm người ta liên tưởng đến những trò
phóng đãng, lố lăng, đồi bại: “Thấp thoáng bên đèn lên bóng
Trang 23cậu/ Thướt tha dưới án nguýt sư ông/ Chị em thủ thỉ đêm thanh
vắng/ “Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng” (Sư ông và mấy
ả lên đồng) Tú Xương còn dùng nhiều từ láy để miêu tả cảnh
“nghèo đến cùng cực” của gia đình ông: “Vợ lăm le ở vú/ Con
tấp tểnh đi bồi” (Than cùng), “Một tuồng rách rưới con như
bố/ Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng” (Mùa nực mặc áo
bông) …
Tú Xương sử dụng rất sáng tạo với từ láy tượng thanh Ông
sử dụng từ láy tượng thanh chủ yếu để miêu tả âm thanh củanhững tiếng cười, tiếng nói của những đối tượng khác nhau nhằm
tạo nên tiếng cười châm biếm mỉa mai Đó là tiếng “ậm ờ” đầy
tình tứ của một cô đầu: “Hỏi ô, ô mất bao giờ/ Hỏi em, em cứ ậm
ờ không thưa” (Đi hát mất ô); giọng của một tên quan trường cứ
“ậm ọe” không ra tiếng mà lại không giống tiếng nói nghe như
tiếng ói mửa: “Ậm ọe quan trường miệng thét loa” (Lễ xướng
danh khoa Đinh Dậu); hay tiếng cười “ha hả, khì khì” của ông
già, bà già khi nghe tin con trai học hành dốt nát gặp may đỗ vào
hàng ông Cử thứ năm: “Nghe tin cụ cố cười ha hả” (Ông Cử thứ năm I), “Nghe tin bà cố cười khì khì” (Ông Cử thứ năm II).
Trang 24Có khi ông còn dùng từ láy tượng thanh để miêu tả cái âm
thanh tiếng pháo ngày Tết Với những từ láy “đì đẹt, om sòm”,
ông đã khắc họa đúng không khí tươi vui nhưng cũng chẳng
kém phần ảm đạm của ngày xuân: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột/ Om sòm trên vách bức tranh gà” (Ngày xuân ngẫu
hứng).
Trong thơ Kép Trà, số bài thơ sử dụng từ láy nhiều hơn TúXương và chiếm hơn 50% tống số 38 bài thơ của ông Tuynhiên số lượng từ láy ông dùng ít hơn (hơn 30 từ) và chưaphong phú, đa dạng như Tú Xương (Phụ lục 3) Nếu xét riêngtrong tổng số 38 bài thơ, ông sử dụng từ láy đến 20/38 bài thì rõ
ràng con số này không phải ít với các bài như Quan công…tài, Gửi các quan tỉnh Hà Nam mới nhậm chức, Vịnh tri huyện Đoàn Ngưng, Vịnh quan huyện mới, Nhắn trợ tá Giảng, Vịnh tri huyện Phó Bá Thuận, Vịnh tri huyện Nguyễn Hữu Hậu, Vịnh
mụ Chánh kỳ, Cậu phán cô Thông, Vịnh “cụ lớn Hàn”, Tặng sư chùa Bầu, Tặng sư chùa Điệp Sơn, Ông tơ khéo vẽ vời…
Kép Trà cũng giống Tú Xương ở chỗ sử dụng số lượng từláy tượng hình nhiều hơn từ láy tượng thanh Những từ láytượng thanh của Kép Trà xuất hiện ít hơn rất nhiều so với Tú
Trang 25Xương Ấm a ấm ớ, phì phèo, khúc khích, giòn giã Nếu Tú
Xương vận dụng cả hai loại từ láy tượng thanh và tượng hình thìKép Trà chủ yếu dùng từ láy tượng hình Nếu Tú Xương sửdụng chúng để châm biếm, đả kích hầu như mọi đối tượng thìKép Trà tập trung vào hai đối tượng chính là quan lại và sư sãi:
mênh mông, ngất ngưởng, sừng sộ, long đong, nhợt nhạt, phì phèo, bỏm bẻm, vơ vét, soi mói, lập lòe, khúm núm, nho nhe, lung tung, khôn khôn, khéo khéo, chi chi, gật gù, vênh váo, rõ ràng, thiên thung, lạ lùng, lu bù, nhấp nhô, lơ mơ, phấp phới, già giặn, thảnh thơi, tý táy, lả lơi, sung sướng, rười rượi
Từ láy tượng hình được Kép Trà sử dụng đắt giá để vạchmặt những chân dung xấu xa của bọn tri huyện vô lại, tàn nướchại dân Đó là tên những tên quan mới nhậm chức nghiện thuốc
phiện “phì phèo”, vơ vét của dân “bỏm bẻm”: “Bình Lục phì
phèo mồi thuốc vật/ Thanh Liêm bỏm bẻm miếng trầu hôi”
(Gửi quan tỉnh Hà Nam mới nhận chức).
Chỉ với hai từ láy tượng hình “soi mói” và “lập lòe”, Kép Trà đã vạch trần “ngón nghề” hạch sách dân kiếm tiền và thói
nghiện thuốc phiện đêm ngày của một tên quan huyện mới:
“Ngón tiêm văn tự ưa soi mói
Trang 26Ngọn khói phù dung thích lập lòe”
(Vịnh quan huyện mới)
Hành động “vơ vét” đến cả hạt trấu của tri huyện Kim
Bảng Đoàn Ngưng và trợ tá Giảng cũng được ông tung hê tất
cả: “Núi Rồng sông Quế bao nhiêu của/ Vơ vét ra tay trấu
chẳng còn” (Vịnh tri huyện Đoàn Ngưng), “Chợ chiều liệu đấy
mà vơ vét” (Nhắn trợ tá Giảng).
Một tên quan huyện Phó Bá Thuận bỏ tiền ra mua được cái
Tú tài rồi ra làm quan làm ô uế cả danh nhà Nho trở thành cái
“nho nhe” và tham lam đến độ ăn bớt cả phần thưởng của học sinh rồi sợ sệt, e dè trước quan lớn khiến ta cảm thấy hả hê: “Ba
đồng bán rẻ tiếng nho nhe…Khúm núm quan tri núp dưới hè”
(Vịnh tri huyện Phó Bá Thuận); với hai từ láy tượng hình “gật gù”, “vênh váo” ông đã lột xuống cái mặt nạ oai vệ, hợm hĩnh
của một tên Hàn Dài: “Gật gù vểnh bộ râu quai nón/ vênh váo
dơ khuôn mặt cán tài” (Vịnh “cụ lớn hàn”).
Cách vận dụng từ láy của Kép Trà đặc sắc hơn cả là khihướng ngòi bút vào châm biếm, đả kích tầng lớp sư sãi Với một
loạt các từ láy tượng thanh, tượng hình ở cuối các câu thơ “lu
Trang 27bù, giòn giã, nhấp nhô, gật gù”, Kép Trà đã vạch trần bản chất
của bọn sư hổ mang ngày đêm rượu chè, cờ bạc, dâm ô… cảnhthật là phong tình và người thật là lẳng lơ Không còn đâu chúttôn nghiêm của chốn cửa chùa:
“Chán cảnh vì đâu mượn cảnh tu
Vẫn tôm, vẫn chén, vẫn lu bù
Tiếng chuông triêu mộ nghe giòn giã
Sóng bể trầm luân giỡn nhấp nhô…
Thôi giấc nam mô lại gật gù”
(Tặng sư chùa Bầu)
Sư toàn “sư quái sư ranh” khi: “Lơ mơ cửa động sư say thuốc/ Phấp phới buồng hoa vãi bên quần” (Tặng sư chùa Điệp
Sơn) Hai từ láy “lơ mơ”, “phấp phới” đi liền nhau trong hai câu
thơ thật là một sự kết hợp tài tình bởi chúng khiến người ta nhìn
rõ cảnh giăng hoa trai gái, thuốc phiện đêm ngày của sư vãi
Không thể không nhắc đến khả năng sử dụng từ láy củaKép Trà trong việc khắc họa chân dung của tầng lớp mới, doảnh hưởng của xã hội thực dân khiến cho những giá trị đạo đức
Trang 28dần mai một: “Bà dâu tóc bạc xuân già giặn/ Ông rể da mồi số
thảnh thơi/ …Già còn tí táy già ngông thực/ Ma mọi già rồi
vẫn lả lơi” Tiếng cười bông lơn, hài hước pha chút mỉa mai cho
cặp đôi già “ngoài bảy mươi” còn nên duyên loan phượng với các từ láy: “già giặn, thảnh thơi, tý táy, lả lơi” lật tây thói ăn
chơi, khoe khoang, hợm mình của tầng lớp mới
Tóm lại, với số lượng khá lớn từ láy được dùng gồm cảtượng thanh, tượng hình với các kiểu láy đôi, láy ba, láy tưtrong đó láy đôi chiếm số lượng nhiều nhất, Tú Xương và KépTrà đã thành công trong việc thể hiện tiếng cười trào phúng Tuymức độ sử dụng của mỗi nhà thơ mỗi khác nhưng nhờ những từláy đó chân dung, tính cách của đối tượng trào phúng hiện lên rõnét hơn Qua đó ta cũng thấy được tài năng sử dụng ngôn ngữdân tộc điêu luyện của hai nhà thơ, đặc biệt là Tú Xương TúXương và Kép Trà vừa tuân thủ lại vừa phá vỡ truyền thống củathể thơ Nôm Đường luật và đạt tới sự cách tân cho câu thơĐường luật bằng việc sử dụng từ láy
- Từ mượn
Có hai loại từ mượn thường thấy đó là từ mượn tiếng Hán
và phiên âm tiếng Pháp Có lẽ, Tú Xương và Kép Trà là những
Trang 29nhà thơ đầu tiên đưa từ mượn tiếng Hán và phiên âm tiếng Phápvào trong thơ Nôm trào phúng để tăng thêm sự sắc nét cho tiếng
cười như hẩu lố, méc sì, cống hỉ, me xừ, mề đay…
Tú Xương sử dụng từ phiên âm tiếng Pháp và cả tiếng Hán
để nhại ngôn ngữ của me Tây, thông ngôn, kí lục…Để nói vềnỗi buồn bã, chán chường của một me Tây về già, chồng bỏ vềnước, Tú Xương đặt vào mồm mụ ta lời từ biệt nhưng đầy chếnhạo với thực dân đương thời:
“Rứt cái mề đay quẳng xuống sông
Thôi thôi tôi cũng méc-xì ông”
Và một cô nàng buôn bán giỏi, xinh đẹp nhưng kênh kiệu
nên ế chồng lên tiếng thở than: “Hẩu lố khách đà năm bảy chú /
Méc xì Tây cũng bốn năm ông” (Phòng không).
Ông còn buông lời giễu cợt, mỉa mai những “quí khách” đến
nhà hát cô đầu không phải để nghe hát mà vì “mục đích khác”:
“Méc sì bố cù cu/ Vẫn gắn như cột gạch” (Tết tặng cô đầu).
Tú Xương còn mượn phiên âm tiếng Pháp để châm biếm,mỉa mai sự suy đồi mạt vận của Nho học và sự lên ngôi của Tây
học: “Sao bằng đi học làm thầy Phán/ Tối rượu sâm banh sáng
Trang 30sữa bò” (Chữ Nho) Hay để chế nhạo tình cảnh lỡ dỡ của sĩ tử, của thi cử và cũng là của chính bản thân ông “cống hỉ”, “méc- xì” tiếng nào cũng thạo, cũng biết thế mà hỏng thi vẫn hoàn
hỏng thi: “Cống hỉ, méc xì thông mọi tiếng/ Chẳng sang Tàu tớ
cũng sang Tây” (Thi hỏng II).
Kép Trà tần suất sử dụng từ mượn ít hơn Tú Xương và chỉ
sử dụng từ mượn phiên âm tiếng Pháp Với Kép Trà từ mượntiếng Pháp cũng là một trong những vũ khí sắc bén để ông mỉamai, châm biếm đối tượng quan lại Ông dùng Tiếng Pháp, hoặcnhại tiếng Pháp để mỉa mai Tây hoặc những kẻ theo Tây:
“A, bê cùng loại a, bê cả
“Nớp, đít” sao đành “Nớp đít chung”
(Học vỡ lòng chữ Quốc ngữ)
Nớp, đít là phiên âm của hai từ noub, dix trong tiếng Pháp, nghĩa là chín, mười Đọc chệch, đọc nhại thành “nấp đít” Kép
Trà rất đau xót cho thực trạng suy thoái mất địa vị của chữ Nho
và tình cảnh tiến thoái lưỡng nan của nhà Nho giống Tú Xương.Cùng sử dụng từ mượn tiếng Pháp, trong khi Tú Xương chủ yếugiễu nhại, mỉa mai thực dân, me Tây thì Kép Trà thiên về nỗi
Trang 31đau mất nhân cách của nhà nho khi phải “nấp đít” Tây Các nhànho học vỡ lòng chữ quốc ngữ, người học, người dạy đều ở
trình độ “a, bê cả” nên ý nhà thơ mỉa mai rằng ai nấp đít Tây cứ
nấp! Sao bắt mọi nhà Nho cùng làm vậy?
Kép Trà châm biếm một tên quan huyện dâm ô, đồi bại:
“Cậu ấm đưa đi cậu nãi về/ “Xừ” này tiết hỏa tính hay dê”
(Vịnh quan huyện mới); rồi một tên quản đề lao bày trò hạch sách tù nhân để ăn tiền mà cũng được nước Pháp trao tặng “mề đay” (huân chương) thì cái “mề đay” ấy cũng tầm thường quá:
“Cứ thằng tù xác lèn cho kỹ/ Rồi cũng mề đay cũng sắc rồng”
(Vịnh viên quản đề lao) Hay vị quan huyện ở Duy Tiên tham lam, vơ vét to gan hơn hẳn cả các ông Tây “me xừ”: “Nuốt búa
to gan ai đó tá? /Duy Tiên hơn hẳn các “me xừ” (Vịnh các
quan tỉnh Hà Nam).
Có thể nói, với việc đưa từ mượn phiên âm tiếng Pháp vàtiếng Hán (tuy tần suất sử dụng chưa nhiều) vào thơ Nôm, hainhà thơ đã mở đầu cho việc sử dụng các loại từ mượn này đểnhững nhà thơ Phan Bội Châu, Tú Mỡ, Tú Poanh… sử dụng ồ
ạt, phong phú hơn Từ mượn là một trong những vũ khí sắc bén
để tạo nên tiếng cười mỉa mai, châm biếm, đả kích trong văn
Trang 32học trào phúng Tú Xương và Kép Trà đã bạo dạn vận dụng mộtcách tài tình từ mượn phiên âm tiếng Pháp trong thơ Nôm tràophúng Có thể nói, nếu không có sự bạo dạn và tài tình đó củahai nhà thơ thì có lẽ chúng ta cũng không thể hiểu hết được bộmặt lai căng, pha tạp về ngôn ngữ của xã hội đương thời lúc bấygiờ Với việc sử dụng linh hoạt lớp từ mượn, hai nhà thơ cũnggóp phần phá vỡ quy củ luật Đường trong thơ Nôm Đường luật
và làm cho câu thơ trở nên hiện đại, gần gũi, thoải mái hơn
- Từ thông tục, từ nói lái
Tiếp nối Hồ Xuân Hương và song song với NguyễnKhuyến, hai nhà thơ Tú Xương và Kép Trà cũng đưa nhiềungôn ngữ thông tục, từ nói lái vào trong thơ Nôm trào phúng
Tiếng chửi trong thơ Tú Xương đậm nét và phong phú hơn
so với Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến Ông dùng từ nhẹnhàng xa gần đến chửi thẳng mặt, từ tiếng chửi của tầng lớp
bình dân đến tiếng chửi của bậc tu hành sư sãi như ới khỉ ơi là khỉ, gớm cho văn mãi, chết bỏ đời, chó thế, chết bỏ bu, thây mẹ, váo đèo, bá ngọ, đù cha đù mẹ, cái củ từ, cha kiếp…
Trang 33Để mỉa mai “sự thi” đương thời, nhờ chạy chọt mà thi đỗ ông buông một câu chửi nhẹ nhàng: “Thi thế mới là thi/ Ới khỉ
ơi là khỉ” (Than sự thi) và chê bôi một ông Nghè: “Nghe văn
mà gớm cho văn mãi/ Cờ biển vua ban cũng lạ đời” (Hỏi bạn
đỗ Tiến sĩ).
Tiếng chửi chua chát, hậm hực hơn khi ông thi hỏng “chó thế”: “Tế” đổi làm “Cao” mà chó thế/ “Kiện” trông ra “Tiệp” hỡi trời ơi” (Thi hỏng I) Ông chửi “chết bỏ đời” để răn đe bọn
người hăm hở vào trường Hậu bổ mưu cầu quan tước, cam tâmlàm tay sai cho giặc chỉ chực vơ vét của nhân dân thì hãy liệu
chừng có ngày: “Hót mau kẻo nữa kinh trời dậy/ Trời dậy thì bay chết bỏ đời” (Hót của trời).
Tiếng chửi vang lên mạnh mẽ hơn, hả hê hơn khi hướngđến bọn quan lại, ông Cử, ông Đội, ông Huyện, Ông Hàn, các
cậu Ấm cô chiêu Một ông cử Nhu “vừa dốt vừa ngu” làm sơ khảo trường thi thì “chết bỏ bu”: “Văn trường nào phải đơn thuốc/ Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu” (Ông cử Nhu), một ông Đội: “Từ rầy thây mẹ quan viên hội/ Thi khảo làm chi nó chửi ông” (Giễu ông Đội), rồi một gã chuyên nấu rượu có tiền chạy
chọt được chức Hàn lâm tu soạn, Tú Xương cay cú buông tiếng