Đặc biệt, nghiên cứu vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết cải cách ruộng đất năm 1957 để có thể tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Na
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-
NGUYỄN THỊ YẾN
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊNTỪ NĂM 1945 ĐẾN
NĂM 1957
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo khoa Lịch Sử đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Với lòng biết ơn em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th S Trần Thị Thu Hà đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Văn phòng tỉnh uỷ Thái Nguyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm học liệu tỉnh Thái Nguyên, Ban Tuyên giáo huyện Phú Bình, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, III… đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Do điều kiện thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957” là một công trình nghiên cứu của
riêng tôi Những số liệu và kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cục của khóa luận 6
Chương 1 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 7
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
1.2 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 11
1.2.1 Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp và sự thành lập các đồn điền 11
1.2.2 Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ người Việt 14
1.2.3 Chiếm hữu ruộng đất của tầng lớp phú nông 16
1.2.4 Sở hữu ruộng đất của các tầng lớp nông dân 16
1.2.5 Ruộng đất công của làng xã 17
1.2.6 Ruộng nhà thờ thiên chúa giáo 18
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957 20
2.1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TỪNG PHẦN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1948 20
Trang 62.1.1 Một số chủ trương của Đảng về cải cách ruộng đất từng phần từ năm 1945 đến năm 1948 20 2.1.2 Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất từng phần ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1948 22 2.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM TRIỆT ĐỂ GIẢM TÔ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1953 25 2.2.1.Một số chủ trương của Đảng về thực hiện triệt để giảm tô của Đảng từ năm 1948 đến năm 1953……… 25 2.2.2.Quá trình thực hiện thí điểm triệt để giảm tô ở tỉnh Thái Nguyên từ năm
1948 đến năm1953……… 27 2.3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT VÀ HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1953 ĐẾN NĂM 1957 34 2.3.1 Thí điểm cải cách ruộng đất ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 35 2.3.2 Mở rộng cải cách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên 40 2.3.3 Công tác sửa sai và hoàn thành cải cách ruộng đất thí điểm ở tỉnh Thái Nguyên 43 Chương 3 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 48 3.1 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957 48 3.1.1 Thành tựu 48 3.1.2 Hạn chế 54 3.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐẢNG RÚT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957 60 3.2.1 Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề ruộng đất, mối quan hệ giữa cách mạng ruộng đất và cách mạng giải phóng dân tộc, sáng tạo, độc lập, tự chủ về đường lối 60
Trang 73.2.2 Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, giữ đúng nguyên tắc
của Đảng khi giải quyết vấn đề ruộng đất 62
3.2.3 Thực sự tin tưởng và tôn trọng vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng và chính quyền cơ sở khi giải quyết vấn đề ruộng đất, nông dân, nông thôn 63
3.2.4 Đánh giá đúng tình hình ruộng đất và giai cấp ở từng địa phương để đưa ra chính sách ruộng đất đúng đắn, phù hợp phải đảm bảo sự ổn định về tình hình chính trị, xã hội ở nông thôn 63
3.2.5 Thực hiện chính sách ruộng đất phải tuân theo pháp luật, phải bảo vệ những nhân tố phát triển sản xuất, tôn trọng quyền dân chủ của nhân dân 64
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC……… 89
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng, là tài sản quý giá của cư dân nông nghiệp và là chìa khóa để mở cánh cửa phương Đông Ở Việt Nam nơi mà đa số cư dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước vì vậy ruộng đất càng trở nên quan trọng và quý giá
Về lý luận; việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc tìm hiểu làng xã nói riêng và lịch sử chế độ ruộng đất nói chung
Đặc biệt, nghiên cứu vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết cải cách ruộng đất năm 1957 để có thể tìm hiểu lịch sử cách mạng Việt Nam, đường lối ruộng đất của Đảng và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu của Đảng và Nhà nước ta để giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân trong đó có tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một trong các tỉnh ở miền núi phía Bắc Việt Nam có vị trí rất quan trọng, một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của vùng Đông Bắc Bắc
Bộ, là vùng nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với đồng bằng châu thổ sông Hồng Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Thái Nguyên sớm tiếp nhận ánh sáng cách mạng của Đảng Một số xã của tỉnh được chọn để xây dựng ATK (An toàn khu) của Trung ương Trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, Thái Nguyên là tỉnh tự do, một trong những địa điểm cơ quan đầu não của Trung ương Đảng và Chính phủ Đến tháng 11/1952, tại hai xã Đồng Bẩm và Dân chủ thuộc huyện Đồng
Hỷ (Thái Nguyên) được Trung ương chọn làm nơi nghiêm cứu thí điểm mở đầu chủ trương phóng tay phát động quần chúng nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ Từ kết quả của đợt thí điểm giảm tô này, Đảng đã rút ra được những kinh nghiệm để chỉ đạo giảm tô và cải cách ruộng đất toàn miền Bắc ở giai đoạn sau
Về thực tiễn; nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Thái
Nguyên góp phần tìm hiểu quá trình vận động của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và việc giải quyết nhiệm vụ dân tộc và dân chủ ở nước ta
Trang 9Qua đó nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm của việc thực hiện chính sách ruộng đất ở Thái Nguyên trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1957 để thấy được sự chỉ đạo, vận dụng sáng tạo của Đảng ta về vấn đề ruộng đất Đồng thời đây cũng là một nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất ở địa phương trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Như vậy, xuất phát từ những lí do trên em chọn đề tài:“Đảng lãnh đạo thực
hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957” để làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, vấn đề ruộng đất đã được trình bày trong nhiều tác phẩm của các nhà lãnh đạo Đảng ta và các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội
Cuốn sách “Vấn đề dân cày”, xuất bản năm 1937 của đồng chí Trường Chinh
và Võ Nguyên Giáp Tác phẩm vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng và thực tiễn khảo sát đời sống nông thôn, các tác giả đặt vấn đề nghiên cứu thực trạng nông thôn Việt Nam dưới ách áp bức thực dân và phong kiến, đề cập đến vấn đề ruộng đất và dân cày đồng thời phê phán quan điểm sai lầm đối với dân cày và vạch rõ vị trí của người dân cày trong cách mạng Việt Nam Cuốn sách lên tiếng tố cáo chính sách phản động của đế quốc phong kiến về ruộng đất, tô thuế, nạn vay lãi nặng và nêu lên yêu sách của dân cày Đông Dương trước Mặt trận nhân dân Pháp
Về lịch sử chế độ ruộng đất thời kỳ cổ trung đại và cận đại có các chuyên
khảo của các tác giả như: Phan Huy Lê: “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
thời Lê Sơ”, NXB Văn - Sử - Địa, Hà Nội, 1959 Tác giả đã thể hiện rất rõ mọi mặt
kinh tế, chính trị, xã hội thời Lê sơ, qua đó với những chính sách ruộng đất dưới triều đại này là minh chứng cho vai trò của Nhà nước phong kiến Việt Nam đối với người nông dân Việt Nam
Về vấn đề ruộng đất trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, trước hết phải
kể đến tác phẩm: “Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt
Trang 10Nam”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1965 của đồng chí Lê Duẩn đánh giá cao vai trò của
giai cấp vô sản trong tiến trình cách mạng dân tộc, đặc biệt là vấn đề “ruộng đất cho dân cày”
Cuốn sách “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, NXB Sự Thật, Hà Nội,
1975 của đồng chí Trường Chinh nhằm góp phần làm sáng tỏ đường lối chiến lược
và sách lược cách mạng của Đảng ta trên những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản như: tiếp tục thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xác lập đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới; luận điểm về sử dụng sức mạnh tổng hợp, vấn đề xây dựng Đảng và công tác tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới; vấn đề tư duy văn hoá sáng tạo
Tác giả Trương Hữu Quýnh: “Chế độ ruộng đất ở Việt Nam thế kỷ XI –
XVII”, NXB Khoa học xã hội, Tập 1, Hà Nội, 1982, Tập II, Hà Nội, tác phẩm này
chia làm 4 phần nói về chế độ ruộng đất và khung cảnh xã hội ở Việt Nam qua các thời kỳ phong kiến chia làm 2 giai đoạn lịch sử: từ thế kỷ XI-XV và giai đoạn từ thế
kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII;
Về vấn đề “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Thái
Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957” được trình bày một cách sơ lược ở các cuốn
sách như: “Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam” của Hoàng Ước, Trần Phương, Lê Đức Bình, một số bài viết liên quan như: Cải cách ruộng đất thành quả và sai lầm
của Văn Tạo đã góp phần đánh giá, nhìn nhận lại những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, sai lầm, nguyên nhân của sai lầm đó trong cuộc cách mạng ruộng đất “long trời nở đất”
Đáng lưu ý là một số công trình: “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng
đất ở Đại Từ, Thái Nguyên 1945-1954 của Nguyễn Trọng Cẩn, mặc dù trong một
phạm vi nhỏ bé, huyện Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên nhưng với vai trò được Trung ương Đảng chọn là huyện thí điểm giảm tô - cải cách ruộng đất, huyện có vị trí vô cùng quan trọng, với sự thành công của công trình này tác giả Nguyễn Trọng Cẩn
đã tìm hiểu rất chi tiết, cụ thể, đây cũng là một nguồn tài liệu quý báu cho các công
Trang 11trình nghiên cứu sau này về vấn đề ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên
Bổ sung thêm cho đề tài nghiên cứu này là cuốn sách “Quá trình thực hiện
quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân ở tỉnh Thái Nguyên từ 1945 đến năm 1957 ”
của T.S Nguyễn Duy Tiến Gần đây nhất là đề tài “Sở hữu và sử dụng ruộng đất ở
tỉnh Thái Nguyên (1988-2005) của Phí Văn Liệu năm 2009, đề tài đã tìm hiểu thực
trạng về tình hình sở hữu và sử dụng ruộng đất ở tỉnhThái Nguyên, đồng thời nêu lên được một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân Thái Nguyên
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã phác họa được toàn cảnh
về vấn đề ruộng đất ở nước ta và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ thời phong kiến đến hiện nay Mỗi công trình lại khai thác vấn đề ở những khía cạnh khác nhau, đây là những cơ sở giúp em về nguồn tư liệu, phương pháp, phương hướng để đi
sâu tìm hiểu đề tài của mình là: “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá các nguồn tư liệu về ruộng đất ở Thái Nguyên từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết cải cách ruộng đất năm 1957
Góp phần phác họa lên bức tranh về tình hình ruộng đất trên địa bàn tỉnh
Trang 12Thái Nguyên từ sau năm 1945 đến năm 1957
Tìm hiểu thêm về những thành quả và sai lầm trong cải cách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên, để từ đó Đảng ta đưa ra được những bài học kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân trong cả nước giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1957
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa bàn được nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ tỉnh Thái Nguyên trong đó tập trung ở 4 huyện được Đảng chọn thực hiện thí điểm giảm tô và cải cách ruộng đất là Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình
Phạm vi thời gian được khóa luận nghiên cứu là từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết cải cách ruộng đất năm 1957
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Khóa luận đã tham khảo các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu chuyên khảo: Giáo trình Lịch sử Việt Nam tập I, II, III; Các tác phẩm thông sử đã được công bố và xuất bản; Các Tạp chí chuyên ngành; Báo; Tạp chí địa phương
Tài liệu lưu trữ: Các Báo cáo về tình hình ruộng đất, Niên giám thống kê, Tổng kiểm kê đất đai hiện đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I, III,
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thái Nguyên, Chi cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và môi trường Thái Nguyên Đây là những tư liệu gốc đáng tin cậy
Tài liệu điền dã: Để tìm hiểu thực tế các vấn đề có liên quan đến ruộng đất trong thời kỳ này cũng như để nắm được một số vấn đề mà các tài liệu lưu trữ không nói rõ, hoặc các tư liệu mâu thuẫn, em đã về quê hương mình là huyện Phú Bình, gặp gỡ một số cụ già cao tuổi, nhân chứng lịch sử để vừa bổ sung, vừa thẩm định các tài liệu lưu trữ
Khóa luận còn kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn từ trước đến nay
Trang 134.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sử dụng phương pháp nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Khóa luận sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu Ngoài ra có phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh lịch sử
5 Đóng góp của đề tài
Khóa luận làm rõ các phương diện:
Tình hình ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên, góp phần phác họa lên bức tranh về tình hình ruộng đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ sau năm 1945 đến năm 1957
Nêu lên một cách khái quát việc thực hiện các chủ trương, chính sách ruộng đất của Đảng, Nhà nước ta ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1957
Giúp chúng ta tìm hiểu thêm về những thành quả, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong cải cách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên, từ đó giúp hiểu hơn cuộc cách mạng ruộng đất ở Thái Nguyên trong tiến trình lịch sử chung của dân tộc
6 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Tình hình ruộng đất ở Thái Nguyên trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Chương 2: Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở tỉnh Thái Nguyên
từ năm 1945 đến năm 1957
Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 14Chương 1 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, có diện tích tự nhiên
là 3541,5 km2, cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc Thái Nguyên có toạ độ địa
lý là: 20o20’ đến 22o25’ vĩ bắc và 105o22’ đến 106o16’ kinh Đông Đây là một vùng đệm nối các tỉnh trung du miền núi phía Bắc với đồng bằng sông Hồng Với một vị trí như vậy, Thái Nguyên xứng đáng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị của vùng Đông Bắc
Thái Nguyên có hai đoạn quốc lộ chạy qua, quốc lộ số 3 chạy theo hướng Bắc Nam, từ cầu Đa Phúc đến Phú Lương lên tỉnh Bắc Kạn Bên cạnh đó, Thái Nguyên có hai tuyến đường sắt: Hà Nội - Quan Triều - Núi Hồng và tuyến đường sắt Lưu Xá (Thái Nguyên) - Uông Bí (Quảng Ninh), cùng nhiều tuyến đường giao thông nội tỉnh và liên tỉnh đã tạo ra sự giao lưu thuận tiện giữa Thái Nguyên với các tỉnh đồng bằng và miền núi phía Bắc, Thái Nguyên trở thành phên dậu thứ hai về
phương Bắc [28,tr.238]
Lịch sử địa danh Thái Nguyên xuất hiện từ đầu thời Lý, khi đó Thái Nguyên là một châu tương đương với cấp lộ Đến thời nhà Trần, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Thái Nguyên thuộc Như Nguyệt giang lộ Đến năm 1226, nhà Trần lại đổi thành trấn Thái Nguyên bao gồm phần đất của tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và một phần của tỉnh Cao Bằng ngày nay
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, năm 1428 vương triều Lê được thành lập Bấy giờ, vua Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo gồm: Tây Đạo, Bắc Đạo, Đông Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo trong đó, Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo Bấy giờ, vùng đất Thái Nguyên ngày nay được đổi thành Thái Nguyên Thừa tuyên Đến năm 1469, Thái Nguyên thừa tuyên được đổi thành Ninh Sóc thừa tuyên Cho
Trang 15đến năm 1483, Thái Nguyên ngày nay đổi thành xứ Thái Nguyên với 3 phủ, 7
huyện, 6 châu [17,tr.147]
Đến thời thuộc Pháp, sau khi hoàn thành công cuộc bình định ở tỉnh Thái Nguyên, ngày 20/10/1890, thực dân Pháp tiến hành cắt huyện Bình Xuyên (thuộc phủ Phú Bình) rồi sáp nhập và tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc Vĩnh Phúc) Các huyện còn lại của phủ Phú Bình và phủ Tòng Hoá tách khỏi tỉnh Thái Nguyên để góp phần tạo nên Tiểu khu Thái Nguyên (một trong 3 tiểu khu thuộc đạo Quan binh I Phả Lại
thành lập ngày 9/9/1891) [15,tr.356-365]
Cho đến tháng 10/1892, thực dân Pháp lập lại tỉnh Thái Nguyên gồm phủ Tòng Hoá, phủ Phú Bình, châu Bạch Thông và huyện Cảm Hoá, đặt dưới quyền cai trị của một viên công sứ [13,tr.10] Từ tháng 10/1892 đến hết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954), địa lý hành chính của tỉnh Thái Nguyên không có gì thay đổi
Sau ngày ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954), miền Bắc nước ta được giải phóng hoàn toàn và chuyển sang làm cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa với hai nhiệm vụ: cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước yêu cầu mới của cách mạng, tỉnh Thái Nguyên cũng có sự thay đổi Tháng 6/1956, Khu tự trị Việt Bắc được thành lập bao gồm 6 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên) Thái Nguyên là một trong 6 tỉnh của Khu tự trị Việt Bắc Cho đến ngày 21/4/1965, Quốc hội nước Việt Nam quyết định hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn thành tỉnh Bắc Thái
Để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội của nước ta trong thời kỳ đổi mới, ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX đã chính thức ra Nghị quyết
về việc phân lại địa giới hành chính của một số tỉnh trong cả nước Trên cơ sở đó, ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái được tách ra thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn Tỉnh Thái Nguyên sau ngày tái lập tỉnh đến nay gồm có một thành phố là thành phố Thái Nguyên, 1 thị xã Sông Công và 7 huyện bao gồm: Đại Từ, Định Hoá, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phú Lương, Phổ Yên và Võ Nhai
Về mặt địa hình của tỉnh Thái Nguyên bao gồm ba vùng rõ rệt Độ cao trung
Trang 16bình từ 30 đến 50 m, độ dốc thấp khoảng dưới 10 độ Với địa hình, địa mạo như trên đã tạo cho tỉnh Thái Nguyên có thế mạnh về quân sự, phát huy được tác dụng
hỗ trợ lẫn nhau, kết hợp giữa tấn công và phòng ngự Tuy nhiên, trong thời bình, tỉnh Thái Nguyên sẽ có thế mạnh và tiềm năng lớn để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp
Về khí hậu, tỉnh Thái Nguyên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Tài nguyên đất đai của tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng về nhiều loại đất nhưng chủ yếu là đất Ferarit, đất đá vôi và đất ruộng Khu vực đất đồi rất thích hợp với việc trồng cây công nghiệp như: cà phê, chè Vùng đồi còn thuận tiện cho việc chăn nuôi đại gia súc như: trâu, bò, dê, … Với tiềm năng đất như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập các đồn điền trồng các loại cây công nghiệp
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, cho nên trong lòng đất có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại và trữ lượng như: than, vàng, sắt, thiếc, titan,…Ở Thái Nguyên, các mỏ sắt, vàng, chì, kẽm có từ rất lâu đời, đã được nhiều nhà khai khoáng trong và ngoài nước chú ý đến
Về tài nguyên nước, tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên nước tương đối dồi dào Do Thái Nguyên có điều kiện địa hình, địa thế dốc, phân cách mạnh, mặt khác hiện nay diễn ra một thực tế là thảm thực vật rừng che phủ thấp, cho nên vào mùa mưa dòng chảy tăng mạnh, thường gây ra lũ lụt lớn Ngược lại, khi mùa khô đến, dòng chảy lại rất cạn kiệt nên thường gây ra tình trạng thiếu nước, hạn hán, nhất là thuộc địa phận các huyện: Võ Nhai, Định Hoá, Đồng Hỷ,…
Như vậy, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi trên đây đã khẳng định Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển nền nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp Trong nền nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên thế mạnh nhất vẫn là cây công nghiệp trên vùng đồi như: chè, cà phê,…Trong đó, cây chè là một loại cây rất thích hợp với thổ nhưỡng Thái Nguyên,
Trang 17trên thực tế, chè Tân Cương đã trở thành đặc sản nổi tiếng và có thương hiệu
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thái Nguyên thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, kinh tế Thái Nguyên đang dần chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần
Thái Nguyên có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữ lượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu
có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng
Thái Nguyên có tổ hợp Gang Thép được thành lập năm 1959, là nơi đầu tiên
và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép
Về tình hình dân số, theo số liệu thống kê dân số toàn tỉnh Thái Nguyên có khoảng 1095991 người với 246160 hộ gia đình (năm 2004) Trong đó, dân số thành thị là 251058 người (22,91 %), dân số nông thôn là 844933 người (77,09 %) Thái Nguyên từ lâu là địa bàn cư tụ của nhiều dân tộc Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên có 8 dân tộc gồm Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ, Sán Dìu, Hmông Trong đó,
đông nhất vẫn là dân tộc Kinh (75,47%), dân tộc Tày (10,68%), [12,tr.22] Dân tộc
Kinh là dân tộc chiếm số lượng đông nhất và mang nguồn gốc bản địa, thời Gia
Long cả tỉnh có 6700 suất đinh [17,tr.157] Tuy nhiên, do những tiềm năng nông,
lâm nghiệp, khoáng sản của tỉnh mà đã thu hút nhiều người ở các tỉnh đến Thái Nguyên
để sinh cơ lập nghiệp, làm ăn sinh sống Điều này được thể hiện rõ qua biểu 1:
Biểu 1: Số dân di cư đến Thái Nguyên từ 1930 đến 1938 [19,tr.20]
Trang 18Nhân dân Thái Nguyên có truyền thống đấu tranh anh hùng, kiên cường, là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc có những công lớn cho đất nước
Kết cấu xã hội – văn hóa của phần đông dân cư tập trung ở kết cấu làng xóm, bản làng Mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đều có những nét văn hóa riêng đặc sắc, đều hoà nhập thành một cộng đồng đoàn kết, thống nhất, cùng sống xen kẽ trên một lãnh thổ với một nền văn hoá chung, cùng với những nét văn hoá riêng biệt của từng dân tộc, tạo nên được những nét văn hoá đa dạng trong sự thống nhất trong một nền văn hoá Việt
Như vậy, tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, có vị trí rất quan trọng cả về kinh tế lẫn quân sự, nơi được đánh giá là
“tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” Đây là tỉnh đệm nối các tỉnh miền núi phía Bắc
với đồng bằng châu thổ sông Hồng Trải qua gần một thế kỷ xây dựng và đấu tranh, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã tô thắm thêm những trang sử truyền thống, vinh quang của tỉnh Thái Nguyên Đây chính là cơ sở vững chắc để nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên vững bước tiến lên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.2 TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1.2.1 Quá trình chiếm đoạt ruộng đất của thực dân Pháp và sự thành lập các đồn điền
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có rất nhiều tiềm năng, lợi thế Đây là
Trang 19một vùng có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và phòng thủ
quân sự “Đây là một tỉnh nông nghiệp, đây cũng là tỉnh giàu khoáng sản, đây lại là
một tỉnh lâm nghiệp… Khi cuộc khủng hoảng kinh tế chung hiện nay đã qua đi, thì cái tỉnh đẹp đẽ này, nơi có nhiều chỗ có phong cảnh giống như vùng Nooc- măng-
di của chúng ta nhất định sẽ thịnh vượng lên một cách không lường trước được Vì
nó có vô vàn phương tiện thuận lợi để trao vào tay những con người dũng cảm không ngần ngại truớc khó khăn gian khổ” [20,tr.59-60] Nhận thấy rõ vị trí chiến
lược quan trọng của tỉnh Thái Nguyên, vào năm 1887 thời điểm thực dân Pháp chưa hoàn thành công cuộc bình định Thái Nguyên thì chúng đã cấp giấy phép cho các điền chủ người Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập ra các đồn điền Các điền chủ người Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để tước đoạt ruộng đất của nông dân tỉnh Thái Nguyên Việc tước đoạt ruộng đất đối với nông dân của các điền chủ được thực dân Pháp ủng hộ, khuyến khích Nghị định ngày 1/5/1900 cho phép Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Thống đốc Nam Kỳ có quyền cấp cho mỗi người 300 ha trở xuống, còn Toàn quyền Đông Dương có quyền cấp ít nhất từ 300
ha trở lên [35,tr.298] Biện pháp này của các điền chủ người Pháp không khác gì
cảnh “rào đất cướp ruộng” của tư sản Anh trong thời kỳ tích luỹ tư bản nguyên
thuỷ Do đó, ngay trong những năm đầu tiên, đã có một loạt đồn điền của Pháp
được thành lập Số liệu đồn điền được thể hiện rõ qua biểu 2
Biểu 2: Các đồn điền đầu tiên của người Pháp ở Thái Nguyên [29,tr.119] STT Tên điền chủ Thời gian lập Diện tích (ha) Địa điểm (huyện)
Trang 20Tính đến năm 1918, số đồn điền của người Pháp được thiết lập ở Thái Nguyên
từ 1884 là 24 đồn điền Trong đó có ba đồn điền có diện tích dưới 50ha, 21 đồn điền
có diện tích từ 50 ha trở lên, với các ông chủ: “Dreyfus và Công ty”, “Công ty
Văn Gia”, “Reynaud, Blanc và Công ty”, “anh em Guilaume, Metman, Hermel,
Commaille, Darribe, Girard…” [29,tr.110-111] Ngoài những tên điền chủ người
Pháp và diện tích đồn điền của họ, còn xuất hiện những thành phần địa chủ người Việt Địa chủ người Việt được sự che chở, dung dưỡng của bọn thực dân cũng ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập ra các đồn điền Tính đến thời điểm năm 1945, trên phạm vi toàn tỉnh có tới 6 đồn điền của người Việt Số liệu cụ thể:
Biểu 3: Các đồn điền của người Việt ở Thái Nguyên đến năm 1945 [29,tr.120]
STT Tên điền chủ Địa điểm Diện tích
(ha) Số hộ
Năm thành lập
[29,tr.137] Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, diện tích đồn điền của người
Trang 21Pháp và người Việt có nhiều chuyển biến và bị thu hẹp Từ năm 1948 trở đi, Chính phủ ta đã tiến hành tịch thu một loạt các đồn điền vắng chủ để cấp cho nông dân Để
nắm được sơ bộ về vấn đề này có biểu 4
Biểu 4: Ruộng đất 7 đồn điền của Pháp và Việt gian phản động bỏ chạy đem
tạm cấp cho nông dân năm 1950 [2,tr.4]
Loại đồn điền Số lượng (cái) Diện tích (ha)
1.2.2 Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ người Việt
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Việt Nam địa chủ chiếm khoảng 5% dân số nhưng có trong tay tới hơn 50% diện tích ruộng đất canh tác Cũng như trong phạm vi cả nước, giai cấp địa chủ Thái Nguyên đều được sự giúp đỡ của chính quyền thực dân để ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân bằng mọi thủ đoạn khác nhau, thậm chí địa chủ còn dùng cả vũ lực Chỉ tính riêng 24 địa chủ lớn đã chiếm đoạt 8.154 mẫu 4 sào 3 thước chiếm tỷ lệ 6,7% so với diện tích toàn tỉnh Còn lại là địa chủ vừa và nhỏ mức độ chiếm hữu ruộng đất như sau:
Biểu 5: Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ tính đến năm 1945 [6,tr.12]
Loại xã Thời gian Diện tích
chiếm hữu
Tỷ lệ % (so với tổng diện tích của các xã)
Bình quân nhân khẩu
28 xã 1945 6.721m1s11th 28,85 7m6s07th
5 xã 1945 1.317m8s06th 34 3m3s09th
Trang 22Cũng dựa vào “Báo cáo điều tra 5 xã điển hình và 28 xã (thuộc 6
huyện)” đã thấy rõ được hình thức bóc lột của giai cấp địa chủ ở Thái Nguyên
Trong đó, hình thức bóc lột theo kiểu phát canh thu tô kết hợp với thuê mướn nhân công là hình thức bóc lột chủ yếu của các địa chủ ở đây Để thấy rõ được điều này
đưa ra những số liệu ở biểu 6
Biểu 6: Tỷ lệ số địa chủ phát canh thu tô và thuê mướn nhân công [14,tr.25]
Hình thức bóc lột 5 xã điển hình 28 xã của 6 huyện
Số địa chủ Tỷ lệ Số địa chủ Tỷ lệ
Thuê mướn nhân công
Kết hợp 2 hình thức và
Từ Biểu 6 cho thấy, hình thức thuê mướn nhân công là chính kết hợp với thu tô
là hình thức bóc lột chủ yếu của địa chủ ở Thái nguyên Ngoài hình thức thuê mướn nhân công và thu tô, các chủ ruộng còn làm giàu bằng cách cho vay nặng lãi theo kiểu lãi mẹ đẻ lãi con Từ sau Cách mạng Tháng tám năm 1945, ruộng đất chiếm hữu của
địa chủ cũng có sự chuyển biến lớn Biểu 7 thấy rõ được sự chuyển biến này
Biểu 7: Chiếm hữu ruộng đất của địa chủ và sự chuyển dịch ruộng đất trước
cái cách ruộng đất [6,tr.12]
Xã
chiếm hữu (S-m-th)
Diện tích chuyển dịch (S-m-th)
% diện tích chuyển dịch
(Ghi chú: Tỷ lệ % hộ, khẩu so với hộ, khẩu ở các xã; tỷ lệ % ruộng đất so với
tỷ lệ ruộng đất chiếm hữu)
Trang 231.2.3 Chiếm hữu ruộng đất của tầng lớp phú nông
Tầng lớp phú nông trên phạm vi cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng là người có tương đối nhiều ruộng đất Cách thức làm giàu của phú nông có nhiều nét tương đồng với cách làm giàu của giai cấp địa chủ như: vừa thuê mướn nhân công, vừa phát canh thu tô vừa kết hợp cho vay nặng lãi Tuy nhiên, hình thức thuê mướn nhân công vẫn là chính
Biểu 8: Chiếm hữu ruộng đất của phú nông tính đến năm 1945 [24,tr.47]
Địa bàn Diện tích chiếm
hữu
Tỷ lệ % so với tổng số diện tích
Bình quân nhân khẩu
28 xã của 6 huyện 1.883m9s12th 8,68 2m4s00th
5 xã 333m4s13th 8,53 1m8s06th
Qua bảng số liệu trên ta thấy rõ, diện tích chiếm hữu ruộng đất của phú nông trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên là không lớn chưa được 10% con số này nhỏ hơn nhiều so với diện tích chiếm hữu ruộng đất của địa chủ
1.2.4 Sở hữu ruộng đất của các tầng lớp nông dân
Nước ta là một nước nông nghiệp, cho nên nông dân chiếm một số lượng khá lớn Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, số lượng nông dân của Việt Nam chiếm tới hơn 90% dân số Mặc dù giai cấp nông dân chiếm số lượng lớn nhưng họ lại có trong tay diện tích ruộng đất khá ít ỏi, cá biệt còn có một số bộ phận trong giai cấp
nông dân “không có một tấc đất cắm dùi”, nguồn sống của họ chỉ là đi làm thuê,
làm mướn, đi ở cho gia đình địa chủ
Thái Nguyên là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp, lâm nghiệp, nhưng diện tích ruộng đất trong tay giai cấp nông dân trước năm 1945 là tương đối ít Khẳng định được điều này căn cứ vào số liệu điều tra 5 xã điển hình
Trang 24Biểu 9: Sở hữu ruộng đất của trung nông, bần nông và cố nông
Bình quân nhân khẩu 0m5s13m 0m2s02th
Từ biểu 9 ta thấy, nông dân của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên trước năm
1945 đều không có hoặc có rất ít ruộng đất Khi được lĩnh canh ruộng đất của địa
chủ, nông dân phải “ đổ mồ hôi”, để canh tác ruộng đất, rồi sau đó nộp tô cho địa chủ Sau khi được lĩnh canh, người nông dân thiếu đủ thứ, trăm thứ “bà giằng”
khiến họ phải đi vay lãi gia đình địa chủ lãi suất rất cao Với cách này, địa chủ đã
lợi lại càng lợi thêm Còn nông dân chính là người “thiệt đơn thiệt kép” Trong các
đồn điền, nông dân làm thuê ở đây cũng cơ cực chẳng kém Các đồn điền đã thành lập bộ máy cai trị riêng và rất hà khắc Chủ đồn điền coi tá điền làm thuê chẳng khác gì nô lệ của họ như: đồn điền Chã, đồn điền Thác Nhái (Phổ Yên) … [24,tr.49]
Bằng những phương thức và thủ đoạn như trên, địa chủ và chủ đồn điền đã bóc lột nông dân một cách tàn nhẫn đến tận xương tuỷ, đẩy nông dân vào cảnh đường cùng ngõ tận Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân tá điền với địa chủ và chủ đồn điền ngày càng trở nên sâu sắc
1.2.5 Ruộng đất công của làng xã
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp nên tại hầu hết các làng xã cổ truyền của người Việt tính đến thời điểm trước khi Đảng ta tiến hành cải cách ruộng đất (1953), vẫn còn tồn tại bộ phận ruộng đất công Tỉnh Thái Nguyên không năm ngoài tình trạng chung đó Số liệu ruộng đất công ở Thái Nguyên tính đến thời điểm
trước Cải cách ruộng đất được thể hịên ở biểu 10
Trang 25Biểu 10: Diện tích ruộng đất công tại 75 xã trước cải cách ruộng đất [30,tr.1]
1.2.6 Ruộng nhà thờ thiên chúa giáo
Việt Nam là một quốc gia từ rất sớm đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Thái Nguyên cũng không năm ngoài tình trạng đó Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Thái Nguyên có 5 nhà thờ xứ và 12 nhà thờ họ, có 3 nhà thờ lớn là: Nhã Lộng (Phú Bình), An Huy (Đại Từ), Túc Duyên (Đồng Hỷ) [24,tr.55] Tính đến thời điểm trước Cải cách ruộng đất, nhà thờ An Huy (Đại Từ) có 125 mẫu ruộng, chiếm 16,3% tổng số ruộng của làng xã và 20 mẫu đất Số ruộng này hoàn
toàn được nhà thờ đem phát canh thu tô cho đến Cải cách ruộng đất [1,tr.8]
Diện tích ruộng đất của nhà thờ nhìn chung vẫn còn tồn tại đến năm 1945, thậm chí đến vài năm sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công ruộng đất này vẫn
do từng nhà thờ quản lý, chính quyền cách mạng vẫn chưa đụng đến Tuy nhiên, phải đến năm 1949 chính quyền cách mạng bắt đầu can thiệp vào ruộng của nhà thờ của xã Hùng Sơn (Đại Từ) Giữa tháng 7 năm 1949, Đảng và Chính phủ ta ra sắc lệnh giảm tô 25%, thành lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh để tiến hành tịch thu ruộng
đất của Việt gian chia cho dân cày nghèo
Tiểu kết chương 1
Thái Nguyên là tỉnh “đệm” giữa miền núi và đồng bằng, giàu tài nguyên, có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế nông - lâm - công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt
Trang 26là tiềm năng về nông nghiệp Thái Nguyên là địa bàn cư tụ lâu đời của nhiều dân tộc anh em, là nơi thu hút những người từ các tỉnh khác đến sinh cơ lập nghiệp
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, tại Thái Nguyên tồn tại chế độ chiếm hữu và phương thức khai thác, bóc lột phong kiến đối với ruộng đất Giai cấp địa chủ là tầng lớp chiếm nhiều ruộng đất, bóc lột bằng địa tô và thuê mướn nhân công
Sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị ở nước ta, một trong những vùng đất Pháp nhận thấy đầy tiềm năng là Thái Nguyên, đây là miếng mồi béo bở để Pháp khai thác, bóc lột Chính sách khai thác của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên với thực dân Pháp và địa chủ phong kiến gày càng sâu sắc Cũng như trên phạm vi cả nước, vấn đề giai cấp ở Thái Nguyên đi liền với vấn đề dân tộc, phản phong đi liền với phản đế, vấn đề “người cày có ruộng” gắn liền với “độc lập dân tộc” Đó là đường lối đúng đắn, phản ánh nhiệm vụ bức thiết của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng đề ra và lãnh đạo
Trang 27Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1957
2.1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TỪNG PHẦN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1948 2.1.1 Một số chủ trương của Đảng về cải cách ruộng đất từng phần từ năm
cách mạng với tất cả các điều kiện có trong tay
Trước hoàn cảnh mới, Đảng ta đã có một chính sách để giải quyết nhiệm vụ dân chủ (vấn đề ruộng đất) và nhiệm vụ dân tộc hết sức sáng tạo, phù hợp với yêu cầu thực tế cách mạng ở nước ta, đó là tiến hành cuộc cải cách ruộng đất từng phần
để tiến tới cách mạng ruộng đất sâu rộng, triệt để theo một đường lối riêng biệt Để góp phần vào việc tìm hiểu những chủ trương chính sách của Đảng trong cuộc cải cách ruộng đất này để giải quyết các nhiệm vụ dân tộc và dân chủ ở nước ta trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
Có thể hiểu chính sách cải cách ruộng đất từng phần được Đảng ta xác định:
“Dùng phương pháp cải cách dần dần mà thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến bản xứ (ví dụ: giảm tô), đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm
vi không có hại cho mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược” “Đó cũng là một cách ta thực hiện cách mạng thổ địa bằng một đường lối riêng biệt”
[18,tr.99] Quyết định phương thức tiến hành cải cách ruộng đất từng phần trên của Đảng đã kế thừa và phát triển kinh nghiệm giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
Trang 28vấn đề chống đế quốc và phong kiến những năm vận động giải phóng dân tộc trước Cách mạng tháng Tám
Tại Hội nghị Cán bộ Bắc Kỳ (10-11/9/1945) đã xác định nhiệm vụ chính của
cách mạng và Hội nghị có thêm nội dung sau: “Việc tịch thu ruộng đất của Việt
gian hay Pháp gian (tài sản) phải thi hành cho đúng đắn” [18,tr.9].Vậy vấn đề
ruộng đất cho nông dân được Đảng ta thực hiện ngay từ khi vừa giành được chính quyền nhằm đảm bảo tốt cho việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp
Tháng 11/1945 Bộ Nội Vụ ra Thông tư quyết định giảm tô 25%, chia lại
ruộng đất công cho công bằng theo nguyên tắc dân chủ cho cả nam và nữ, tạm giao ruộng đất vắng chủ cho nông dân thiếu ruộng Đây là lần đầu tiên chính quyền cách mạng ra một văn bản pháp luật tấn công vào sự bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến để làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh của nông dân Bản Thông tư được đưa ra trong hoàn cảnh Đảng và Chính phủ đang phải gấp rút chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến
Hội nghị Trung ương mở rộng (15-17/1/1948) lần đầu tiên đề ra một cách có
hệ thống chính sách ruộng đất của Đảng trong kháng chiến gồm 17 điểm 32]
[18,tr.31-Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI (14-18/1/1949) Đảng tiếp tục nhấn mạnh các quan điểm thực hiện chính sách ruộng đất từng bước ở các Hội nghị trước
và từ đó để chuẩn bị “tiến tới thi hành một chính sách ruộng đất cao hơn”
[18,tr.58]
Quan điểm về chính sách cải cách ruộng đất từng phần của Đảng 1952) tiếp tục được khẳng định và quan tâm hơn trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951)
(1945-Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (4/1952) Đảng lại một lần nữa khẳng
định: “Chính sách ruộng đất của ta là chính sách ruộng đất của Mặt trận dân tộc
thống nhất kháng chiến, cụ thể là chính sách một mặt địa chủ giảm tô, giảm tức và một mặt tá điền phải trả tô, trả tức” [18,tr.119]
Trang 29Như vậy, Đảng đã chủ trương từng bước đáp ứng nhu cầu về ruộng đất cho nông dân, bằng cách đánh mạnh vào chế độ sở hữu ruộng đất của bọn đế quốc, tư bản Pháp và những kẻ phản quốc Điều đó, không những mang lại lợi ích to lớn cho dân cày mà còn có tác dụng làm phân hoá giai cấp địa chủ phong kiến theo hướng
có lợi cho cách mạng, đồng thời vẫn đảm bảo khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến, góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi
2.1.2 Quá trình thực hiện cải cách ruộng đất từng phần ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 1948
Theo tinh thần các Nghị quyết Hội Nghị và Sắc lệnh trên của Đảng từ sau cách mạng tháng Tám (1945) về chính sách ruộng đất từng phần các địa phương đã từng bước thực hiện Về giảm tô, tỉnh Thái Nguyên thành lập Hội đồng giảm tô các cấp Ở cấp xã, Hội đồng giảm tô bao gồm: Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính
xã làm chủ tịch, một đại biểu Mặt trận Liên Việt xã và 3 đại biểu cho trung, bần, cố nông làm hội viên Dưới sự chỉ đạo của Hội đồng giảm tô tỉnh và huyện, phong trào đấu tranh đòi giảm tô của nong dân diễn ra khá sôi nổi Kết quả bước đầu đã buộc giai cấp địa chủ phải giảm 25% theo sắc lệnh
Một số đại địa chủ đã giảm tô 25% như Nguyễn Thị Năm có trên 2.000 mẫu ruộng, trước thu tô bằng 8 nồi thóc nay thu 6 nồi Đồn điền Kim Loan, Kim Phượng
ở Vạn Già (Phú Bình) trước lấy 12 nồi nay lấy 6 nồi rưỡi Ông Đào Ký xã Đức Liên (Phú Bình) trước lấy 9 nồi nay lấy 7 nồi…[23,tr.74] Phần lớn các tiểu địa chủ cũng giảm nhưng chưa đúng Tuy vậy, ở một số nơi trong tỉnh, giai cấp địa chủ vẫn ngoan cố chống đối chính sách giảm tô dưới nhiều hình thức như tự ý nâng mức tô lên cao hơn trước rồi mới giảm Ví dụ như Trần Thúc Cáp ở Đồng Hỷ năm 1945 lấy
5 nồi, đầu năm 1950, bắt tá điền ký giấy giao kèo phải nộp 10 nồi, khi có sắc lệnh giảm 25% nhưng ông ta vẫn bắt nông dân nộp 7 nồi rưỡi, vẫn cao hơn 2 nồi rưỡi so với mức tô quy định Có người dùng thúng to hơn để đong thóc tô như Dương Văn
Tỵ xã Quang Trung (Đồng Hỷ) dùng thúng 24 cân chỉ tính 21 cân, Nguyễn Ngọc Tâm (Phú Bình) dùng thúng 46 cân chỉ tính 42 cân…
Trang 30Theo Báo cáo của Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên (29/1/1953) thì nhiều nơi đã thực hiện triệt để, một số nơi đã thực hiện triệt để nhưng một số nơi không tránh khỏi quá “tả” nên phú nông, địa chủ đòi lại trâu đã cho tá điền thuê, không cho tá điền vay vốn Sang năm 1952, việc vận động giảm tức lại bị coi nhẹ, dẫn đến hiện tượng một số nơi các chủ nợ đòi những món nợ lưu trữ từ xưa mà người nợ đã phải trả quá số gốc gấp 2-3 lần như ở xã Vinh Hoa, huyện Đại Từ
Về tạm cấp ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian: Uỷ ban Kháng chiến hành chính tỉnh đã tịch thu 10 đồn điền của thực dân Pháp, đem chia 68.366 mẫu ruộng cho 13.020 nhân khẩu nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng Mỗi nhân khẩu được cấp ít nhất 4 sào, nhiều nhất 1 mẫu 3 sào
Về số lượng tình hình giai cấp địa chủ so với trước năm 1945;
Biểu 11: Số lượng địa chủ ở Thái Nguyên vào 2 thời điểm trước 1945 và trước
Biểu 12: Chiếm hữu ruộng đất của các giai cấp trong cải cách
ruộng đất [23,tr.102]
Đối tượng chiếm hữu Tỷ lệ dân số (%) Tỷ lệ ruộng đất (%)
Trang 31Hóa, có nông dân nghèo đã reo lên và nói: “Từ nay mình được ruộng rồi, không nộp
tô cho địa chủ nữa”… Có người ứa nước mắt nói với con: “Chính phủ Cụ Hồ là Chính phủ của dân, trước đây có bao giờ những kẻ nghèo như mẹ con mình lại dám ước mơ được ruộng, mẹ con mình phải nghe lời Cụ dạy cố gắng tăng gia sản xuất…” Nhờ đó nông dân tích cực tăng gia sản xuất, nộp thuế nông nghiệp và hăng
hái đi dân công phục vụ tiền tuyến, sửa chữa cầu đường, tham gia vào các công tác khác của kháng chiến
Như vậy, nhìn chung các chủ trương, chính sách trên đây đã có tác dụng tích cực và trở thành chỗ dựa về pháp lý cho nông dân trong tỉnh Thái Nguyên tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh nhằm hạn chế sự bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, động viên nông dân hăng hái tăng gia sản xuất, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp bằng cách đảm bảo quyền lợi chính đáng của nông dân và đảm bảo quyền thu tô của địa chủ mục đích làm cho ai cũng phấn khởi, tham gia sản xuất,
Trang 32phục vụ kháng chiến Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đã chỉ đạo đôn đốc thu thuế nông nghiệp Nhà nước ban hành năm 1951, buộc các địa chủ lớn đóng góp đúng mức theo hoa lợi, hạn chế mức bóc lột của họ, đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân lao động và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách kháng chiến, đã đem lại những kết quả to lớn
2.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM TRIỆT ĐỂ GIẢM TÔ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1948 ĐẾN NĂM 1953
2.2.1.Một số chủ trương của Đảng về thực hiện triệt để giảm tô của Đảng từ năm 1948 đến năm 1953
Với những thành tựu đạt được trong cuộc cải cách ruộng đất từng phần Đảng
ta tiếp tục đưa ra chủ trương, chính sách thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức từ năm
1948 đến năm 1953
Tại Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ IV (1948) Đảng tiếp tục nhấn mạnh
cần “thi hành giảm tô 25% theo đúng sắc lệnh của Chính phủ, bỏ các thứ địa tô
phụ, bỏ chế độ quá điền” Hội nghị đã cụ thể hóa một số nội dung, nhiều nội dung
đã được thực hiện nghiêm túc có tác dụng củng cố nền kinh tế địa phương, thúc đẩy kháng chiến phát triển, củng cố niềm tin cho các chiến sĩ nơi tiền tuyến
Đến tháng 8/1948 Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Cán bộ lần thứ V, đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc định ra đường lối đấu tranh chống phong
kiến của Đảng Trong đó có Báo cáo Chúng ta chiến đấu cho độc lập và dân chủ đã
xác định tính chất, nhiệm vụ của cách mạng Hội nghị đã chủ trương phương thức tiến hành cuộc cách mạng ruộng đất” Hội nghị tiếp tục khẳng định các quan điểm
đã nêu từ Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ IV đó là phải giảm tô 25%, cần có Sắc lệnh thay cho Thông tư giảm tô của Bộ Nội Vụ để tăng cường tính pháp lý và hiệu lực của Nhà nước về các chính sách ruộng đất
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI (14-18/1/1949) điểm mới của Hội nghị này thể hiện Đảng đã có quan điểm về việc thực hiện chính sách ruộng đất cao hơn khi có điều kiện, đó là cải cách ruộng đất một cách sâu rộng và triệt để hơn, đây là việc cần thiết đến một lúc nào đó sẽ thực hiện
Trang 33Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 (21/1- 3/2/1950) Đảng đã đưa ra Chương trình công tác gồm 10 điểm Đặc biệt là Báo cáo chính sách ruộng đất của Đảng về vấn
đề điều tra nông thôn của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị điều tra nông thôn (2/1950)
Ngày 14/7/1949, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 78/SL ấn định việc giảm địa tô thay thế cho Thông tư giảm tô của Bộ Nội Vụ (1945) Nghị định 130/ NV ngày 24/7/1949 của Chính phủ và Thông tư Số 50 ngày 15/11/1949 của Liên Bộ Nội Vụ Tư pháp – Canh nông nêu rõ chính sách giảm tô của Đảng và Chính phủ Ngày 13/2/1950 Chính phủ ra Sắc lệnh số 25/SL quy định việc sử dụng ruộng đất vắng chủ Sắc lệnh số 26/SL (15/2/1950) thành lập Ban giảm tô
Để ngăn chặn hành động chống đối của giai cấp địa chủ, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nông dân và hạn chế một bước sự bóc lột phong kiến Ngày 22/5/1950, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 88/SL và ngày 6/6/1950 ra Thông
Tư số 4 TT/LB quy định rõ về những điểm chính trong việc lĩnh canh tối thiểu là 3 năm và quy định việc đổi ruộng của chủ điền Cùng với Sắc lệnh về thể lệ lĩnh canh
là Sắc lệnh về giảm tức của Đảng quy định về lãi suất, xóa nợ cho nông dân
Về lãi suất: mức lãi suất tối đa là 18% một năm, 20% một nếu là vay thóc, sản vật
Về xóa nợ: nợ cũ tính đến ngày 22/5/1950 đã trả lãi gấp đôi số vốn nếu lãi đã trả rồi thì nay chỉ trả vốn Nợ của dân nghèo vay trước 19/8/1945 xét đến nay không trả được thì xóa nợ Những người là Vệ quốc đoàn, bộ đội địa phương, dân quân du kích, cán bộ chính quyền hay đoàn thể được xóa tất cả các khoản nợ đã vay trước
nghị Trung ương lần thứ 3 (4/1952) Đảng lại một lần nữa khẳng định: “Chính sách
ruộng đất của ta là chính sách ruộng đất của Mặt trận dân tộc thống nhất kháng
Trang 34chiến, cụ thể là chính sách một mặt địa chủ giảm tô, giảm tức và một mặt tá điền phải trả tô, trả tức”
Đầu năm 1953 Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương “Phát động quần chúng
triệt để giảm tô, giảm tức, chuẩn bị cho cải cách ruộng đất” Tiếp đó tại Hội nghị lần
thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (25-30/1/1953) đã thông qua bản Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất quyết định về: mục đích, nội dung, phương châm, phương pháp tiến hành phát động quần chúng
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 5/3/1953, Chính
phủ ban hành “Điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn” và ngày
12/4/1953 Chính phủ ban hành 3 sắc lệnh: Sắc lệnh 149/SL về chính sách ruộng đất, sắc lệnh 150/SL về việc lập tòa án nhân dân đặc biệt, sắc lệnh 151/SL về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật Đến tháng 6/1953, Chính phủ ban hành Sắc lệnh quản chế những địa chuẩn bị đưa ra đấu tố và sau đó là những Nghị định thi hành Sắc lệnh này
Các văn bản trên nêu rõ nội dung chính của chủ trương phát động giảm tô, giảm tức cho nông dân đấu tranh từ năm 1948-1953 của Đảng
2.2.2.Quá trình thực hiện thí điểm triệt để giảm tô ở tỉnh Thái Nguyên từ năm
1948 đến năm 1953
Việc thực hiện giảm tô, tạm cấp ruộng đất từ sau tháng 8/1945 đến cuối năm
1952 đã thu được những thắng lợi to lớn, thực sự đem lại quyền lợi cho nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân nghèo Uy thế chính trị và quyền lợi kinh tế của giai cấp bóc lột tuy đã bị thu hẹp, nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ đáng kể Tính đến đầu năm 1953, giai cấp địa chủ ở Thái Nguyên còn chiếm hữu 16.572 mẫu ruộng trong tổng số 82.834 mẫu (chiếm gần 20% diện tích ruộng đất của toàn tỉnh), 3.701 con trâu, bò trên tổng số 28.800 con của toàn tỉnh Tỷ lệ chiếm hữu ruộng đất tuy không lớn nhưng bình quân nhân khẩu lại cao (từ 1m
5s09th đến 1m
7s06th), trong khi đó, mức
sở hữu của cố nông là 0m2s03th, bần nông là 0m3s06th Nông dân vẫn thiếu ruộng, phải lĩnh canh của địa chủ để cày cấy và nộp tô cho chúng, bị phụ thuộc và bị bóc lột sức lao động Trong khi đó, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã bước sang giai
Trang 35đoạn quyết liệt, nhu cầu chi viện sức người, sức của cho các chiến trường ngày càng nhiều Để bồi dưỡng sức dân, động viên tích cực tăng gia sản xuất nhiều lương thực, thực phẩm cung cấp cho các chiến trường, góp phần đẩy mạnh kháng chiến thắng lợi, Đảng ta đã chủ trương tiến hành triệt để giảm tô, đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ruộng đất
Tháng 11/1952, Trung ương chọn 2 xã Đồng Bẩm và Dân Chủ (Đổng Hỷ), làm nơi thí điểm nghiên cứu chính sách ruộng đất của Đảng Đoàn cán bộ thực
nghiệm của Trung ương về 2 xã công tác Xã Đồng Bẩm theo sách Tên làng xã Việt
Nam đầu thế kỷ XIX, thuộc tổng Huống Thượng, huyện Đồng Hỷ Xã Dân Chủ mới
được khai phá đầu thế kỷ XX, vốn là đồn điền của Commains, thời Pháp thuộc có 4 thôn là Minh Lý, Yên Lập, Hóa Trung và Hóa Thượng Hai xã nằm gần quốc lộ 3, cách thành phố Thái Nguyên chỉ khoảng hơn 1 km về phía Lạng Sơn Tổng diện tích hai xã đến đầu năm 1952 là 2.789 mẫu Số dân có 883 hộ, 4.554 nhân khẩu Cuối năm 1943 cơ sở cách mạng được hình thành tại xã Đồng Bẩm, năm 1944 thành lập đội vũ trang tuyên truyền của xã Ngày 19/8/1945 nhân dân Đồng Bẩm nổi dậy giành chính quyền và tham gia khởi nghĩa ở thị xã Đầu tháng 10/1950 Pháp đánh chiếm Thái Nguyên trong đó có xã Đồng Bẩm nhưng chỉ 12 ngày sau đó, chúng bị bộ đội và du kích ở đây đẩy lùi Phần đông nông dân trong hai xã từ nhiều đời đều làm tá điền cho các chủ đồn điền, chịu nhiều khổ cực vì tô cao, chèn ép…
Vì vậy, hai xã được chọn làm nơi nghiên cứu thí điểm phóng tay phát động quần chúng nông dân đấu tranh với giai cấp địa chủ, thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng
Sau một thời gian tìm hiểu tình hình địa phương và tiến hành tuyên truyền vận động quần chúng, bắt rễ xâu chuỗi, ngày 15/11/1952 dưới sự chỉ đạo của Đoàn thực nghiệm cải cách ruộng đất, tỉnh đã tổ chức cuộc đấu tranh Đợt I với sự tham gia của 300 đại biểu tá điền ở hai xã với mục đích đòi địa chủ Cát – Hanh – Long (Nguyễn Thị Năm) phải thi hành đúng chính sách ruộng đất của Đảng, Chính phủ
và những yêu cầu của tá điền như: Giảm tô đúng mức như tô ruộng trước khởi nghĩa
là 75 cân thì nay chỉ được lấy 45 cân và nộp theo đúng diện tích mới Giảm tức thì
Trang 36phải xóa bỏ những món nợ từ trước do thiên tai gây ra Nhưng ruộng đất hoang mà nông dân khai phá được thì nông dân được quyền cày cấy, chủ không được đòi, nếu
đã thu tô thì phải trả lại cho tá điền Phải làm quy chế lĩnh canh cho tá điền…Kết quả của cuộc vận động đấu tranh này đã thắng lợi
Được sự chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Đoàn cán bộ thực nghiệm tiếp tục Đợt II của cuộc đấu tranh ở đồn điền Nguyễn Thị Năm Đến 17h chiều ngày 20/12/1952 “đại hội tố khổ địa chủ Nguyễn Thị Năm” đã được tiến hành, hàng nghìn nông dân ở hai xã Đồng Bẩm và Dân Chủ đã tham dự Địa chủ Nguyễn Thị Năm cuối cùng đã phải nhượng bộ và hứa thi hành đúng những yêu cầu của nông dân
Ngay sau đó, Trung ương tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm thí điểm phát động quần chúng ở 2 xã Đồng Bẩm và Dân Chủ, thẳng thắn vạch ra những sai lầm trong lãnh đạo tổ chức thực hiện giảm tô Sau Hội nghị trên, Trung ương cử 2 đoàn cán bộ công tác ruộng đất về 2 xã uốn nắn sửa chữa sai lầm, khuyết điểm Qua cuộc đấu tranh thí điểm giảm tô này tư tưởng “tả” khuynh đã bộc lộ khá rõ Đoàn cán bộ thực nghiệm chính sách ruộng đất của Trung ương đã ra quyết định “đình chỉ sinh hoạt” thực chất là giải tán hai chi bộ xã do “Đảng viên hai chi bộ có nguồn gốc là phú nông, đại chủ, hào lý, cường hào trong chi bộ thì bè phái, tự tư tự lợi chống lại chính sách” Ngoài ra còn có hạn chế trong việc đấu tố quá đà “có khổ nói hết khổ” gây căng thẳng không cần thiết như ở xã Đồng Bẩm một số bần, cố nông còn phê phán cả trung nông, ở xã Dân Chủ một vài bần, cố nông đi đời nợ, đe dọa cả trung nông và điển hình là trường hợp đấu tố địa chủ Nguyễn Thị Năm Vì thế đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn ngay từ đợt thực hiện đầu tiên này đã bộc lộ những sai phạm
Thấy được từ những thắng lợi đạt được của cuộc thí điểm phát động nông dân đấu tranh với địa chủ ở hai xã Đồng Bẩm và Dân Chủ Đầu năm 1953 Trung ương
Đảng đã đề ra chủ trương “Phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, chuẩn
bị cho cải cách ruộng đất” Tiếp đó tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung
ương Đảng (25-30/1/1953) đã thông qua bản Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt
Trang 37Nam về chính sách ruộng đất quyết định: “Thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng
tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt gian, xóa bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Để tiến tới thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong năm 1953, chúng ta phải phóng tay phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức chia lại công điền, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân, chủ yếu là triệt để giảm tô,
nhằm thỏa mãn bước đầu yêu cầu chính đáng về kinh tế của nông dân” [18,tr.128]
Về mục đích, nội dung, phương châm, phương pháp tiến hành phát động quần chúng đã được xác định trong Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương, ngày 24/4/1953, về phát động quần chúng trong năm 1953 Tiếp tục thực hiện Nghị quyết
của Hội nghị Trung ương ngày 5/3/1953, Chính phủ ban hành “Điều lệ phân định
thành phần giai cấp ở nông thôn” và ngày 12/4/1953 Chính phủ ban hành 3 sắc
lệnh: Sắc lệnh 149/SL về chính sách ruộng đất, sắc lệnh 150/SL về việc lập tòa án nhân dân đặc biệt, sắc lệnh 151/SL về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật Đến tháng 6/1953, Chính phủ ban hành Sắc lệnh quản chế những địa chủ chuẩn bị đưa ra đấu tố và sau đó là những Nghị định thi hành Sắc lệnh này
Mục đích của cuộc phát động quần chúng giảm tô lần này là nhằm đánh đổ các thế lực chính trị của các giai cấp địa chủ phong kiến, thỏa mãn một phần yêu cầu kinh tế và giành ưu thế chính trị cho nông dân lao động, củng cố liên minh công nông, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân nhằm đẩy mạnh kháng chiến, chuẩn bị cải cách ruộng đất Đảng quyết định quá trình thực hiện chính sách phát động quần chúng giảm tô tiến hành theo 5 bước
Đảng chủ trương tiếp tục mở rộng thí điểm triệt để giảm tô, giảm tức chọn 6
xã ở Thái Nguyên là Đồng Bẩm, Dân Chủ (tiếp tục đợt trước), Phú Xuân (huyện Đồng Hỷ), Hùng Sơn (huyện Đại Từ), Đức Liên và Nhã Lộng (huyện Phú Bình) cùng 3 xã của tỉnh Phú Thọ làm thí điểm Khi về tới các xã, cán bộ trong Đoàn công tác đã tích cực tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ và tiến
Trang 38hành thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ xâu chuỗi, sau đó phát động quần chúng, triệu tập đại hội đấu tranh Có lúc đại hội tập họp tới 4.000-5.000 nông dân tới dự
Ở xã Đồng Bẩm và Dân Chủ tiếp tục tiến hành đấu tranh với các địa chủ trong đó có địa chủ Nguyễn Thị Năm và 5 tay chân Hơn 5.000 nông dân ở 2 xã Đồng Bẩm, Dân chủ và các xã lân cận đã tới dự Tại xã Đức Liên có 4.000 nông dân đã tham gia cuộc đấu tranh với địa chủ Đào Ký Tại xã Phúc Xuân có 500 nông dân đấu tranh với địa chủ Trần Thúc Cáp và Trần Chu Công Để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của nông dân theo Sắc lệnh 150 Tòa án nhân dân đặc biệt ở huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phú Lương được thành lập theo Quyết định 369 của
Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Thái Nguyên Ngày 7/6/1953 Tòa án nhân dân đặc biệt liên huyện Đồng Hỷ - Đại Từ đã xử 20 địa chủ ở xã Đồng Bẩm, Đồng Hỷ trong đó có 2 án tử hình, tịch thu gia sản, 1 án tù 20 năm, 1 án tù 15 năm, 1 án tù 12 năm, 2 án tù 10 năm tịch thu 2/3 gia sản, 1 án 8 năm, 3 án 7 năm, 4 án 3 năm, 1 án 2 năm [23,tr.283-284]
Sau hơn 3 tháng thực hiện, đợt thí điểm ở 6 xã đã thu được kết quả:
Về kinh tế; làm suy yếu thế lực của địa chủ, đem lại nhiều quyền lợi cho nông dân
Biểu 13: Một số kết quả thu được qua đợt thí điểm giảm tô ở 6 xã tỉnh Thái
Trang 39Về tổ chức; chỉnh đốn 6 chi bộ và khai trừ 153 đảng viên, bầu lại các ban chi
ủy mới, bần cố nông chiếm 53%, trung nông 44%, tiểu tư sản 3% Chính quyền và các đoàn thể cũng được chỉnh đốn lại, nông dân hăng hái, phấn khởi tham gia nông hội Nông hội ở 2 xã Đồng Bẩm và Dân Chủ có tới 1.300 hộ viên làm nền tảng cho mặt trận dân tộc thống nhất trong các xã, nông dân các xã đã tương trợ lẫn nhau, xây dựng các tổ đổi công, bắt tay vào việc sản xuất Ngân hàng tỉnh cũng đã cho nông dân nghèo vay tiền để mua trâu bò, nông cụ, khuyến khích sản xuất phát triển
Đi đôi với sản xuất nhân dân đã đẩy mạnh các hoạt động cho kháng chiến như đóng thuế nông nghiệp, đi dân công Chỉ trong một buổi tối thôn Đồng Tâm của xã Đồng Bẩm đã bình nghị xong thuế vụ chiêm vượt mức 1 tạ rưỡi và sáng hôm sau nhân dân tấp nập chuyển thóc tới kho Đội dân công xã Đồng Bẩm hoàn thành xong công việc trước hạn định, nhiều người xung phong đi tiếp đợt mới…
Tuy nhiên kết quả trong đợt thí điểm ở 6 xã cũng đã bộc lộ một số khuyết điểm.Ở xã Nhã Lộng có 15 địa chủ thì đem ra đấu tố 11, coi phú nông ngang với địa chủ, có nơi tố khổ cả trung nông Nhiều nơi xảy ra hiện tượng đánh đập dùng nhục hình Trình độ giác ngộ giai cấp của nông dân chưa cao còn có hiện tượng e dè, sợ
bị trả thù… Việc thanh toán và chia những thứ đã tịch thu còn nhiều điều chưa thỏa đáng
Trước những sai lầm mắc phải tại các xã thí điểm, tháng 8/1953 Bộ Chính trị
đã phê phán các cuộc thí điểm giảm tô tổ chức đấu tranh quá rộng, không có thái độ đối xử đúng với phú nông, kéo dài thời gian giảm tô khiến cho cuộc đấu tranh trở nên căng thẳng đồng thời đưa ra Nghị quyết về chỉnh đốn công tác phát động quần
chúng Nghị quyết đã nêu rõ: “… Chỗ ta nhằm tới là cải cách ruộng đất, chứ không
phải chỉ cốt giảm tô Cần phải chú trọng tổ chức, giáo dục nông dân chuẩn bị điều kiện nhanh chóng tiến lên cải cách ruộng đất Vì vậy yêu cầu đấu tranh không nên quá cao, cách làm không nên quá phiền phức, thời gian phát động không nên kéo dài” [18,tr.279]
Dưới ánh sáng của Nghị quyết Bộ Chính trị Đợt II giảm tô đã tiến hành ở 33
xã thuộc 4 huyện: Phú Bình, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương từ ngày 25/8/1953 đến
Trang 40ngày 20/10/1953 Đợt này do Liên khu ủy trực tiếp chỉ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đoàn ủy II trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang
Với nỗ lực công tác của cán bộ, sau gần 3 tháng công tác đợt II đã thu được
thắng lợi Theo Báo cáo tóm tắt tình hình phát động quần chúng tháng 12/1953,
Đoàn công tác tại Thái Nguyên – Bắc Giang thu được 849.911 kg thóc chia cho 8.682 gia đình nông dân, trong đó có 98% số gia đình cố nông, 52% số gia đình bần nông, 9,5% số gia đình trung nông gồm 29.781 nhân khẩu của 40 xã thuộc hai tỉnh (Thái Nguyên 33 xã, Bắc Giang có 7 xã) Tính trung bình mỗi gia đình cố nông được chia 93 kg, gia đình bần nông 92 kg, gia đình trung nông 68 kg Ngoài lương thực, 40 xã của hai tỉnh đã tịch thu 916 mẫu 1 sào 12 thước, 32 nhà gồm 136 gian,
136 con trâu, bò chia cho nông dân
Về mặt tổ chức, 33 xã của Thái Nguyên đã được chia lại thành 55 xã Các chi
ủy, chi bộ, nông hội, ủy ban kháng chiến hành chính, công an, du kích đã được chỉnh lại, thành phần trong sạch hơn Cán bộ được rèn luyện thêm lập trường tư tưởng và tác phong, học tập được nhiều kinh nghiệm thực tế Nhưng cũng có một số cán bộ trình độ còn non, giải thích sai, chưa tin tưởng vào khả năng của bần cố nông, không chịu đựng được gian khổ, kém ý thức tổ chức, không chịu sâu sát với công việc hoặc bao biện
Như vậy, nhìn tổng quát việc thí điểm triệt để giảm tô ở tỉnh Thái Nguyên đã làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nâng cao thêm một bước về lập trường tư tưởng về phân định ranh giới giữa nông dân lao động với giai cấp bóc lột, nông dân hiểu rõ nguồn gốc khổ cực của mình, có thái độ rõ rệt đối với giai cấp địa chủ Phong trào phát động quần chúng triệt để thực hiện giảm tô giảm tức thắng lợi chứng tỏ đường lối chung của Đảng ở nông thôn là đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nông dân, đồng thời từ thực tiễn đó rút ra được những bài học trong việc vận dụng chính sách chung của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương Đó là việc phân định đúng thành phần giai cấp để đi đúng đường lối giai cấp ở nông thôn, sử dụng các biện pháp đấu tranh phù hợp để không chỉ huy