Trước năm 1945, một số công trình nghiên cứu, sưu tầm về ca dao, dân ca nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng qua các xuất bản quốc ngữ đã nói lên sự thành công của các nhà nghiên cứu trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ GIANG
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo nhận xét và góp ý của hội đồng ngày 5/01/2015 XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
………
………
………
………
………
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ………
………
………
………
………
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Lê Thị Ngọc Hạnh, học viên Cao học ngành Văn học Việt Nam,
Khóa 2012- 2014 (Đợt 1) Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ: “Ca dao dân ca
Nam Bộ qua các sưu tập quốc ngữ xuất bản trước năm 1945” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thống kê, kết quả trong luận văn là trung thực
và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả Luận văn
Lê Thị Ngọc Hạnh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Bất kì sự thành công của một cá nhân nào cũng cần có những người trợ giúp bên cạnh Tôi cũng vậy Để có được Luận văn tốt nghiệp Cao học của mình với đề
tài: ““Ca dao dân ca Nam Bộ qua các sưu tập quốc ngữ xuất bản trước năm
1945”, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau
Đại học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, đặc biệt nhất là PGS.TS Lê Giang, người đã
trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu thực hiện, hoàn thành đề tài này
Xin gửi đến thư viện Trung ương (Thư viện Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội), thư viện Khoa học Xã hội, thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, cùng thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi có được những tài liệu nghiên cứu vô cùng quý giá liên quan đến đề tài này
Xin ghi nhận công sức đóng góp của tất cả quý thầy, cô đã giảng dạy nhiệt tình trong chương trình Cao học ngành Văn học Việt Nam khóa 2012- 2014, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích, cùng những lời góp ý chân thành, bổ ích của các anh chị, các bạn học viên làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Một lần nữa, tác giả tôi xin gửi lời cảm ơn đến các quý thầy cô, nhất là PGS
TS Lê Giang và các bạn, các đơn vị và cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để
tôi hoàn thành Luận văn này Mặc dù đã có nhiều cố gắng để Luận văn được hoàn chỉnh nhất nhưng nghiên cứu của tác giả sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả Luận văn rất mong sự góp ý từ quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp
để Luận văn được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Học viên
Lê Thị Ngọc Hạnh
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Nxb: Nhà xuất bản
2 SG: Sài Gòn
3 TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7CHƯƠNG 1: VĂN BẢN CÁC SÁCH SƯU TẬP QUỐC NGỮ XUẤT
BẢN TRƯỚC NĂM 1945 VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI CA DAO
1.1.1 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Bắc Bộ và Trung Bộ 11
1.1.2 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ 17
1.1.2.1 Sưu tập của Trương Vĩnh Ký
1.1.2.2 Sưu tập của Huỳnh Tịnh Của
1.1.2.3 Sưu tập của Đặng Lễ Nghi 1.1.2.4 Sưu tập của Nguyễn Bá Thời
1.1.2.5 Sưu tập của Khấu Võ Nghi
1.1.2.6 Sưu tập của Nguyễn Công Chánh
1.2 Vấn đề sắp xếp và phân loại ca dao dân ca Nam Bộ 23
1.2.1 Vấn đề sắp xếp ca dao ca dao dân ca Nam Bộ 23
1.2 2 Vấn đề phân loại ca dao ca dao dân ca Nam Bộ 27
1.2.2.1 Định nghĩa ca dao dân ca Nam Bộ 27
1.2.2.2 Vấn đề phân loại ca dao 30
CHƯƠNG 2: ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM BỘ QUA CÁC BỘ SƯU TẬP
CA DAO DÂN CA QUỐC NGỮ TRƯỚC NĂM
37
Trang 82.1.3 Văn hóa vùng Nam Bộ
2.2 Con người Nam Bộ
2.2.3.1 Những mộng ước lứa đôi 69 2.2.3.2 Tình duyên trắc trở 74 2.2.3.3 Hạnh phúc đơn sơ 78
CHƯƠNG 3: THI PHÁP CA DAO DÂN CA NAM BỘ QUA CÁC
SƯU TẬP QUỐC NGỮ TRƯỚC 1945
83
3.1 Thể thơ và làn điệu trong ca dao dân ca Nam Bộ trước năm 1945 83
3.1.1 1 Thể thơ lục bát 83 3.1.1 2 Thể song thất lục bát 90 3.1.1.3 Thể hỗn hợp
3.1.2 Làn điệu
93
96
3.2 Biểu trưng trong ca dao dân ca Nam Bộ trước năm 1945 100
3.2.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thực vật 101
Trang 93.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật 114 3.2.3 Ý nghĩa các biểu trưng khác 107
3.3.3 Cách nói giàu tính so sánh và cường điệu, khuếch đại 119
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học dân gian là một bộ phận quan trọng của nền văn học nước ta Văn học dân gian có nhiều dị bản khác nhau bởi chúng được lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng Sau này, khi chữ viết ra đời, văn học dân gian mới được ghi chép lại, lưu giữ và bảo tồn đến ngày nay Vì thế, trước đó, chúng bị thất truyền với số lượng không ít Chính vì thế, việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian là rất cần thiết để hoàn chỉnh lại diện mạo của nền văn học dân tộc
Hiện nay, nghiên cứu văn học dân gian gắn chặt với môi trường sản sinh ra
nó là hướng đi quan trọng mà folklore học đã chỉ dẫn Việc tìm hiểu văn học dân gian ở các vùng, miền và nhất là ở mảng ca dao, dân ca trở thành đối tượng quan tâm chủ yếu của các nhà nghiên cứu Trong đó, vùng đất Nam Bộ vẫn được ưu ái hơn cả bởi đây là vùng đất mới, vừa mang những nét đặc thù về thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, vừa mang đậm dấu ấn tâm hồn của con người Việt, nhân cách Việt Đến với ca dao, dân ca Nam Bộ cũng là đến với cội nguồn của dân tộc, đến với những bản tình ca bất diệt đượm màu thế tục của tình yêu, tình đời, những bài học nhân sinh được cha ông truyền lại cho bao thế hệ con cháu mai sau
Tiếp cận với những công trình nghiên cứu về ca dao, dân ca Nam Bộ, chúng tôi thấy những bài viết, sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá về ca dao, dân ca Nam Bộ ở hầu hết các sách, báo, tạp chí,…xuất bản từ sau cách mạng tháng Tám đến nay chiếm số lượng khá lớn Và giai đoạn từ những năm 1945 trở về trước cũng có một
số công trình nghiên cứu, các sưu tập quốc ngữ về ca dao, dân ca Nam Bộ nhưng vẫn còn ít ỏi Mảng ca dao, dân ca Nam Bộ qua các xuất bản từ những năm 1945 về sau được nhiều người quan tâm hơn mảng ca dao, dân ca Nam Bộ trước giai đoạn
đó Chúng tôi thấy các tiểu luận, luận văn, luận án của các sinh viên, học viên ở các trường trong cả nước chưa tập trung đi sâu khai thác, viết về nó trong quá trình nghiên cứu Hơn nữa, cảm hứng về vùng đất phương Nam với những đặc sắc riêng
về ngôn ngữ, màu sắc địa phương, màu sắc dân gian với từng lời ru, câu hò, điệu
Trang 11nhạc luôn là điều hấp dẫn trong tôi từ lâu Chính vì thế, chúng tôi đã quyết định
chọn đề tài: “Ca dao dân ca Nam Bộ qua các sưu tập quốc ngữ xuất bản trước năm 1945” nhằm tìm hiểu thêm về thể loại ca dao, dân ca cũng như hiểu thêm tâm
hồn, suy nghĩ, cách sống của cha ông ta ngày xưa Và quan trọng hơn hết là nó giúp tôi biết thêm nhiều nét văn hóa, phong tục, con người vùng đất Nam Bộ Đồng thời,
đề tài này còn góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy ca dao, dân ca trong nhà trường và đóng góp một phần nhỏ trong việc lưu giữ và bảo tồn nền văn học nước nhà
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Việc sưu tầm, nghiên cứu về ca dao, dân ca Nam Bộ là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết Trước năm 1945, một số công trình nghiên cứu, sưu tầm về ca dao, dân ca nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng qua các xuất bản quốc ngữ đã nói lên sự thành công của các nhà nghiên cứu trong việc sưu tầm, ghi chép, tổng hợp và đánh giá tài liệu cũng như góp phần quan trọng vào việc bước đầu tìm hiểu nền văn học dân gian vùng Nam Bộ
Theo nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy nghiên cứu về ca dao, dân ca nước ta
đã khẳng định “vào cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chân lên đất nước ta, trong công việc bình định của chúng, chúng rất chú ý sưu tập văn học dân gian” vì “tinh thần yêu nước đã thể hiện ở những sáng tác dân gian” [67, tr.14 ] Riêng ở Nam Bộ, ca dao, dân ca vùng này xuất hiện khoảng năm 1658
từ “cuộc hành quân Nam chinh để bảo vệ lưu dân” [35, tr.18], khi người Việt khai hoang vùng đất mới, tức Nam Bộ ngày nay Lúc ấy, ca dao, dân ca không được ghi chép lại mà chủ yếu lưu truyền bằng con đường truyền miệng Vì thế, công việc sưu tầm và nghiên cứu về nó rất quan trọng nhưng không ai có sự ghi chép lại
Đến những năm cuối thế kỉ XIX, các sưu tập quốc ngữ về ca dao, dân ca xuất
hiện Trong cuốn: “Văn học quốc ngữ Nam Kì”, tác giả Bằng Giang đã liệt kê tất cả
những công trình sưu tầm ca dao, dân ca Nam Bộ, trong đó có nhắc đến bộ sưu tập
của Trương Vĩnh Ký Phần mở đầu của sách, Bằng Giang đã khẳng định: “Câu hát
An Nam” của Trương Minh (Ký?) xuất bản ở Sài Gòn năm 1886 có thể coi là sưu
Trang 12tập ca dao- dân ca Nam Bộ đầu tiên” Thế nhưng, trong: “Một nhận thức về văn học
dân gian”, tác giả Nguyễn Xuân Kính lại đưa ra khẳng định: “ Sách quốc ngữ biên
soạn ca dao được xuất bản sớm nhất là Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của (in
năm1897 tại Sài Gòn)” [46, tr.67-68 ] Mặt khác, Bằng Giang cũng nhắc đến tập Câu hát An Nam là: “không có chi tiết xuất bản nào khác Cả nơi xuất bản và năm xuất bản cũng không Chúng tôi không được thấy cuốn này” [30, tr.121] Vì thế,
cho đến bây giờ, chúng ta vẫn không chắc chắn sự tồn tại cuốn “Câu hát An Nam”
cuả Trương Minh Ký là có thật hay không Thế nhưng, theo nhiều nguồn tư liệu đáng tin cậy của các nhà nghiên cứu, chúng tôi tin chắc rằng Câu hát An Nam của Trương Minh Ký là có thật và đây là công trình sưu tập ca dao, dân ca bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở nước ta Có thể vì một vài lí do nào đó về mặt lịch sử, xã hội nên cuốn sách ấy đã bị mất đi và đến tận ngày nay, chúng ta không thể thấy chúng
Trương Vĩnh Ký cũng để lại cho đời nhiều sưu tập, công trình nghiên cứu
lớn về ca dao, dân ca Nam Bộ như: “Hát, lý, hò An Nam” được viết bản thạch bằng chữ quốc ngữ năm 1886 và “sáu câu hát được Trương Vĩnh Ký công bố ngay trên
số đầu tiên của bộ Miscellanées (Imprimerie Commerciale Rey Curiol, 1888) có thể coi là cái mốc khởi đầu của công việc sưu tầm về ca dao, dân ca Nam bộ” [102, tr.5]
Tiếp bước công việc sưu tầm, biên soạn về ca dao, dân ca, đầu thế kỉ XX, hàng loạt những cuốn sách viết bằng chữ quốc ngữ của các nhà nghiên cứu ở cả ba miền đã được xuất bản như bộ sưu tập của Đặng Lễ Nghi, Đặng Tấn Tài, Đinh Thái Sơn, Đặng Công Thành, Nguyễn Chánh Sắt, Cử Hoành Sơn, Khấu Võ Nghi,…đã khẳng định được vị thế của ca dao, dân ca trong đời sống của người dân nước ta nói chung và ở các vùng, miền nói riêng
Từ những năm 1945 trở về sau, công việc sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu về
ca dao Nam Bộ được chú ý nhiều hơn và gặt hái nhiều thành công rực rỡ Điều này
được thể hiện ở hàng loạt các công trình nghiên cứu như: “Hò miền Nam” của Lê
Thị Năm, một trong những loại sách “văn chương bình dân” độc đáo (Nxb Phạm Văn Tươi, 1956) Năm 1984, nhóm tác giả Bảo Định Giang, Bùi Mạnh Nhị, Huỳnh
Trang 13Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh đã cho ra mắt bạn đọc cuốn: “Ca dao dân ca Nam Bộ”,
trong đó, ở Phần I, có bài Tiểu luận dài 117 trang trình bày những vấn đề về miền đất Nam Bộ , những nội dung, nghệ thuật và những biểu hiện sắc thái địa phương
của ca dao Nam Bộ hết sức độc đáo Bằng Giang với cuốn: “Văn học quốc ngữ ở
Nam Kỳ 1865-1930”, (1992), Nxb Trẻ và Huỳnh Ngọc Trảng với cuốn: “ Ca dao
dân ca Nam Kỳ lục tỉnh”, Phân viện nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật TPHCM, Nxb Đồng Nai (1998), đây là những tư liệu bổ ích đã góp phần tái hiện lại diện mạo của
ca dao, dân ca Nam Bộ
Gần đây có thêm một số công trình nghiên cứu về ca dao, dân ca Nam Bộ ở các trường Đại học lớn trong nước như Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có luận văn thạc sĩ của Trần Thị Diễm Thúy với đề tài: “Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ” (2002) Ở luận văn này, tác giả đã cho chúng ta thấy thiên nhiên gắn chặt với đời sống, tình cảm của người dân Nam Bộ, thể hiện qua những bài ca dao nhẹ nhàng, thấm thía và sâu sắc về nội dung Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Trần Văn Nam với đề tài: “Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ” (2004) (khảo sát dưới góc độ thi pháp) thì đi sâu khai thác vào một khía cạnh của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao Nam Bộ là vấn đề biểu trưng, đặt nghiên cứu văn học dân gian trong môi trường văn hóa dân gian Luận văn Thạc sĩ của Huỳnh Thị Kim Liên với đề tài:
“Truyền thống và biến đổi trong ca dao dân ca Nam Bộ” (2006) lại chỉ rõ ảnh hưởng của ca dao dân ca truyền thống và những biến đổi trong ca dao, dân ca Nam
Bộ cũng như ý nghĩa của nó trong đời sống, tiếp nhận Đến năm 2007, luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Lê Thu Trang với đề tài: “ Tìm hiểu những công trình nghiên cứu ca dao dân ca Nam Bộ từ năm 1975- 2005” đã tổng hợp lại các công trình nghiên cứu về ca dao, dân ca Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2005 và đã có đề cập
sơ lược đến tình hình nghiên cứu ca dao, dân ca Nam Bộ trước năm 1945 , trong đó,
tác giả khẳng định: “Câu hát huê tình” của Đinh Thái Sơn sáng tác vào năm
1928…là chưa chính xác, mà là quyển tái bản và có thể tác giả Đinh Thái Sơn
không ghi bổn cũ soạn lại nên độc giả nhầm chăng? Ở đây chúng tôi khẳng định rằng câu hát huê tình của Đinh Thái Sơn là quyển sưu tập xuất bản lần đầu vào năm
Trang 141915” [101, tr.5] Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Thùy Trang với đề tài: “Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ” (2010) đã nhấn mạnh vấn đề triết lý nhân sinh- khía cạnh quan trọng trong nội dung ca dao, dân ca Nam Bộ và sự thấm nhuần lời dạy của cha ông ta ngày xưa vọng về
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều tập trung nghiên cứu đến mảng ca dao, dân ca ở một khía cạnh nhất định Ta rất ít thấy những công trình tập trung đi sâu vào nghiên cứu mảng ca dao, dân ca Nam Bộ qua các sưu tập quốc ngữ xuất bản trước năm 1945 Vì thế, tuy cũng nói về ca dao, dân ca Nam Bộ nhưng đề tài của chúng tôi còn khá mới mẻ so với hướng nghiên cứu trước đó
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những bài ca dao, dân ca Nam Bộ đã được các tác giả biên soạn, sưu tầm bằng chữ quốc ngữ và được xuất bản trước năm
1945
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là những công trình quốc ngữ xuất bản thành sách trước năm 1945 (các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ xuất bản trước năm 1945) Ngoài ra, trong phạm vi đề tài nêu trên, chúng tôi còn tìm hiểu một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có liên quan đến đề tài làm nguồn tư liệu quý giá cho chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ lần lượt tham khảo các sách viết về lịch sử, văn hóa Việt Nam nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng để tìm hiểu thêm về hoàn cảnh ra đời của môi trường xã hội tác động đến nội dung, nghệ thuật của ca dao, dân ca qua các sưu tập quốc ngữ trước cách mạng tháng Tám
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khi nghiên cứu bất kì lĩnh vực nào, người viết phải có phương pháp Phương pháp nghiên cứu văn học là cách giúp cho người viết thực hiện công việc nghiên cứu văn học có khoa học, đạt hiệu quả, thành công trong quá trình nghiên cứu Và trong nghiên cứu văn học cũng vậy, để có những nhận xét tương đối chính xác và
Trang 15nêu lên những vấn đề còn bỏ ngỏ, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp sưu tầm thư tịch và điều tra trực tiếp
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, bước đầu tiên, chúng tôi sưu tầm các tư liệu, văn bản ở Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM, Thư viện Khoa học Xã hội có liên quan đến mảng đề tài này, tìm đọc những tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu Sau
đó, chúng tôi tìm hỏi các Thầy, Cô, các nhà nghiên cứu và bạn bè để có thêm nhiều nguồn tư liệu, thông tin chính xác của nội dung vấn đề
4.2 Phương pháp thống kê và phân loại
Sau khi có được nguồn tư liệu hữu ích của đề tài đã được sưu tầm, chúng tôi sắp xếp những tư liệu ấy theo một trình tự hợp lý (thời gian) và phân loại chúng theo từng loại hình mà các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ Điều này giúp cho việc nghiên cứu khoa học và đạt hiệu quả hơn
4.3 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
Để nắm bắt nội dung của vấn đề, chúng tôi tiến hành phân tích các tư liệu đã được sưu tầm và sắp xếp Sau đó, chúng tôi đối chiếu, so sánh các tư liệu có nội dung liên quan để có cái nhìn tổng quát của vấn đề nghiên cứu Cuối cùng, chúng tôi tổng hợp các vấn đề ấy theo loại hình để từ đó hình thành nên những nhận xét, đánh giá khoa học
4.4 Phương pháp miêu tả
Trong quá trình nghiên cứu, trước nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu xoay quanh một vấn đề, ngoài so sánh, phân tích, tổng hợp, chúng tôi còn tiến hành kết hợp với miêu tả lại những ý kiến, nhận định ấy Từ đó, nó giúp cho việc nghiên cứu
có cơ sở khoa học hơn
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Đây là một đề tài mới trong lĩnh vực nghiên cứu văn học nhưng đối tượng khảo sát là ca dao, dân ca vùng Nam Bộ, mang tính truyền thống nên đã tạo sự hấp dẫn cho chúng tôi khi nghiên cứu Đề tài cũng góp phần lí giải những ảnh hưởng ca
Trang 16dao, dân ca vùng Nam Bộ đối với ca dao, dân ca Việt Nam nói chung và các vùng miền khác nói riêng Đề tài còn chỉ rõ nguốn gốc và sự tác động của hoàn cảnh lịch
sử, văn hóa xã hội đất nước đối với sự phát triển của văn học dân gian nói chung và mảng ca dao, dân ca truyền thống nói riêng Từ việc phân tích, so sánh, đối chiếu với các bộ sưu tập ca dao, dân ca Nam Bộ so với các miền Bắc và Trung, luận văn
sẽ giúp ta dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu ca dao, dân ca ở nhiều góc độ và mọi khía cạnh khác nhau của vấn đề Mặt khác, các bộ sưu tập về ca dao, dân ca ở các vùng, miền, nhất là Nam Bộ sẽ góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển nền văn hóa của dân tộc nước nhà
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn này gồm có ba chương chính:
CHƯƠNG 1: VĂN BẢN CÁC SÁCH SƯU TẬP QUỐC NGỮ XUẤT BẢN TRƯỚC NĂM 1945 VÀ VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI CA DAO DÂN CA NAM
BỘ
1.1 Tình hình sưu tập, nghiên cứu ca dao, dân ca Việt Nam trước năm
1945
1.1.1 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Bắc Bộ và Trung Bộ
1.1.2 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ:
1.1.2.1 Sưu tập của Trương Vĩnh Ký
1.1.2.2 Sưu tập của Huỳnh Tịnh Của
1.1.2.3 Sưu tập của Đặng Lễ Nghi
1.1.2.4 Sưu tập của Nguyễn Bá Thời
1.1.2.5 Sưu tập của Khấu Võ Nghi
1.1.2.6 Sưu tập của Nguyễn Công Chánh
1.1.2.7 Các bộ sưu tập khác
1.2 Vấn đề sắp xếp, phân loại ca dao dân ca Nam Bộ
1.2.1 Vấn đề sắp xếp ca dao dân ca Nam Bộ
1.2.2 Vấn đề phân loại ca dao dân ca Nam Bộ
Trang 17CHƯƠNG 2: ĐẤT VÀ NGƯỜI NAM BỘ QUA CÁC SƯU TẬP CA DAO DÂN CA QUỐC NGỮ TRƯỚC NĂM 1945
2.1 Vùng đất Nam Bộ
2.1.1 Địa danh Nam Bộ
2.1.2 Thiên nhiên Nam Bộ
2.1.2.1 Miền hoang vu
2.1.2.2.Vùng trù phú
2.1.3 Văn hóa vùng Nam Bộ
2.2 Con người Nam Bộ
2.2.1 Thân phận người nông dân
Trang 18Truyện dân gian như truyện truyền thuyết, truyện thần thoại, truyện cổ tích,…được các nhà nghiên cứu sưu tập sớm hơn so với tục ngữ và ca dao Khoảng
từ thế kỉ thứ X đến XIII, người ta đã thấy có sách ghi chép về truyền thuyết như
“Báo cực truyện” (chưa rõ tác giả); “Ngoại sử kí” của Đỗ Thiện Hầu; “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên, “Lĩnh Nam chích quái” của Trần Thế Pháp,…thì mãi đến nửa cuối thế kỉ XVIII, công việc sưu tập ca dao, dân ca mới chỉ bắt đầu
Hầu như các sưu tập về thể loại trữ tình dân gian từ thế kỉ XIX trở về trước thường được viết bằng chữ Hán và Nôm, còn chữ quốc ngữ rất ít Mãi đến những năm đầu thế kỉ XIX trở về sau thì nhiều bộ sưu tập ca dao, dân ca bằng chữ quốc ngữ mới xuất hiện Riêng về ca dao, dân ca thì có cuốn “Nam Phong giải trào”
(diễn giải những trào lộng trong phong dao nước Nam) của Trần Danh Án, Ngô
Hạo Phu (Ngô Thế Mỹ) và Trần Doãn Giác biên soạn được xem là cuốn sách sưu tập ca dao sớm nhất của người Việt Cuốn sách chia thành 68 chương là công trình
tập hợp 68 lời ca dao với cách viết“đem ca dao diễn giải thành thơ chữ Hán, theo
lối Kinh Thi của Trung Quốc Như vậy, người soạn không quan tâm đến việc sưu
Trang 19tầm, chỉ cốt thưởng thức những phần đặc sắc của thơ chữ Hán, của một lối mô
phỏng” [47, tr.28] Đây cũng là cuốn sách sưu tập ca dao, dân ca viết bằng chữ
Nôm lớn nhất lúc bấy giờ và ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình sưu tập ca dao sau này Theo lời của Giáo sư Kiều Thu Hoạch thì đây là cuốn sách đã ghi lại rất nhiều bài ca dao cổ truyền tuyệt hay, nhưng cũng có một số bài quá tầm thường Sự pha lẫn những bài ca dao tầm thường một phần có thể là do những người biên soạn quá tập trung vào việc diễn giải thơ chữ Hán từ ca dao cũng như những đặc sắc của thơ chữ Hán mà chưa xem xét những đặc sắc ấy theo hướng kết hợp cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện cũng như sự thống nhất với tư tưởng, truyền thống đạo lý của người Việt Mặt khác, cuốn sách được hoàn thành cũng trải qua thời gian khá xa, tập hợp số lượng người biên soạn không ít Người biên soạn sau muốn tiếp tục công việc của người đi trước thì phải xem lại công trình sưu tầm của họ, tìm ra những những hạn chế cũng như tiếp bước con đường đi của họ để khắc phục hạn chế và hoàn thành công việc còn dở dang Tuy nhiên, cũng có thể những người sưu tầm sau này lại tập trung quá nhiều vào việc hoàn thành hơn là khắc phục một số hạn chế trước đó và khoảng cách thời gian lại khá xa nên vấn đề thống nhất trong việc biên soạn chưa được đảm bảo
Khi chữ Nôm đã phát triển và trở thành tiếng nói chuyển tải tâm tình cơ bản của lớp bình dân, các nhà nho như Trần Danh Án, Ngô Hạo Phu (Ngô Thế Mỹ) và Trần Doãn Giác đã sử dụng chữ Nôm là chủ yếu để biên soạn ca dao Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính đã liệt kê các bộ sưu tập lớn viết bằng chữ Nôm như:
Thanh Hóa quan phong (Vương Duy Trinh, soạn năm 1903), Đại Nam quốc túy
(Ngô Giáp Đậu soạn năm 1908), Việt Nam phong sử (Nguyễn Văn Mại, soạn năm
1914, gồm 100 chương), Nam Âm sự loại (Vũ Công Thành, soạn năm 1925) Đặc biệt, các sách được biên soạn trước đó nay được xuất bản lại như: Nam phong giải
trào (Nhà in Liễu văn đường khắc in năm 1910), Quốc phong thi tập hợp thái (Nhà
in Quan văn đường khắc in năm 1910) Điểm gặp gỡ giữa các bộ sưu tập nói trên chính là nội dung của nó hướng đến những tình cảm, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt nhất là việc đề cao tình yêu quê hương, đất nước, con người, tình cảm giữa
Trang 20người và người trong xã hội Nhưng đối với thể loại dân ca thì phần lề lối diễn xướng cũng như âm điệu thể hiện chưa được tập trung quan tâm sâu sắc Và những hạn chế của nó đã được các nhà sưu tầm, nghiên cứu sau này khắc phục, bổ sung
1.1.1 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Bắc Bộ và Trung Bộ
So với truyện dân gian thì tục ngữ, ca dao được sưu tầm muộn hơn Ca dao, dân ca miền Bắc và Trung Bộ được tìm thấy sớm hơn so với Nam Bộ, làm cơ sở để
ca dao, dân ca Nam Bộ ngày càng phát triển nhờ những lưu dân các vùng vào Nam mang theo vốn văn hóa của mình Khi nói đến các bộ sưu tập ca dao dân ca Bắc và Trung Bộ, ta không thể không nhắc đến những gương mặt quen thuộc như: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Can Mộng,…Họ là những người sưu tầm, nghiên cứu, đã đem tiếng nói tâm tình của lớp bình dân trước năm
1945 đến với người đời sau
Sưu tập của Phạm Quỳnh
Nói đến quá trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, không thể không nói đến vai trò quan trọng của nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh Ông sinh năm 1892, mất năm 1945, quê ở tỉnh Hải Dương Ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong nổi tiếng thời bấy giờ (1917) và từng làm chức Thượng thư Bộ học, Thượng thư Bộ lại dưới thời vua Bảo Đại (1932) Dưới sự trợ cấp tài chính của người Pháp, ông đã khẳng định tài năng của mình trên nhiều lĩnh vực: dịch thuật, bút kí, biên khảo, phê bình văn học,
Trang 21Ông để lại cho đời khối lượng tác phẩm trên nhiều lĩnh vực rất đồ sộ Đáng
chú ý nhất là quyển “Tục ngữ ca dao” (xuất bản năm 1932) tại Hà Nội Đây là
cuốn sách ghi chép về ca dao, tục ngữ còn được lưu giữ lại của tác giả tại Thư viện Quốc gia, mang kí hiệu P14116 Giáo sư Đinh Gia Khánh nhận định: “Phạm Quỳnh là sản phẩm của chính sách văn hóa của thực dân Pháp” và “Trước Cách mạng tháng Tám, trong Nhà Văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan khẳng định Phạm Quỳnh
là nhà phê bình văn học hiện đại Trong Việt Nam văn học sử yếu (1941), Dương
Quảng Hàm đánh giá rất cao công lao của Phạm Quỳnh đối với quốc văn” [46, tr.132]
Sưu tập của Nguyễn Văn Vĩnh
Nguyễn Văn Vĩnh (1882- 1936), có biệt hiệu là Tân Nam Tử, quê ở làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) Ông từng làm thư kí tòa sứ Lào Kay Sau khi tham dự hội chợ đấu xảo tại Marseille, Pháp, ông chuyển qua viết văn, làm báo và hoạt động chính trị Nguyễn Văn Vĩnh là một trong số những người đã đấu tranh cực liệt với Pháp đòi thả cụ Phan Chu Trinh, yêu cầu mở cửa lại trường học khi Pháp lo ngại đường lối hoạt động của phong trào Đông Kinh nghĩa thục đang lên cao Đến ngày 1 tháng 5 năm 1936, trong một cuộc đi tìm vàng để trả nợ ở Sê Pôn (Lào), ông đã tử nạn Người ta tìm thấy ông trên con thuyền độc mộc, tay cầm bút, tay kia cầm cuốn sổ, trôi giữa dòng sông Sê Băng Hiêng Đến nay, cái chết của ông vẫn là một bí mật chưa có lời giải đáp đối với người đương thời lúc ấy và bây giờ
Sưu tập ca dao dân ca mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại cho đời là bộ sưu tập Trẻ
con hát trẻ con chơi được in ở Tứ dân văn uyển số 1 năm 1935 và sau đó được in
thành sách năm 1943 với tên nhà xuất bản Alexandre de Rhodes tại Hà Nội Bản in này hiện lưu trữ ở Thư viện quốc gia, phòng microfim So với bản in năm 1935 thì bản in năm 1943 chẳng khác nhau bao nhiêu, được vẽ minh họa phần hình ảnh bởi
nhà họa sĩ Mạnh Quỳnh và hầu hết được chép lại từ bản trước đó trong tạp chí Tứ
dân văn uyển số 1 năm 1935
Trang 22 Sưu tập của Nguyễn Văn Ngọc
Nguyễn Văn Ngọc (1890- 1942), quê ở làng Hoạch Trạch (làng Vạc), xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, là nhà văn, nhà giáo và là nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng Thuở nhỏ, ông học cả Hán học lẫn Tây học nên kiến thức và vốn ngôn ngữ của ông rất tốt Ông tốt nghiệp trường Thông ngôn năm mười bảy tuổi và bắt đầu cuộc đời dạy học của mình ở một trường tiểu học tại Hà Nội Trong suốt hơn ba mươi năm làm công việc “gõ đầu trẻ”, ông đã có công sưu tầm, biên soạn nhiều cuốn sách có giá trị thời ấy như các cuốn sách giáo khoa, sách nghiên cứu văn học Đặc biệt, trong lĩnh vực văn hóa dân gian, nhờ vốn kiến thức và lòng say mê với công việc, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn sân khấu dân gian với việc lập rạp hát chèo, phục vụ nhu cầu thưởng thức chèo trong các tầng lớp nhân dân Ông còn là đã lập ra hiệu sách có tên là Vĩnh Hưng Long quán nhằm lưu trữ những “đứa con tinh thần” mà nhân loại cần Hầu hết những “đứa con ấy” là do người cha Nguyễn Văn Ngọc “thai nghén” và
“sinh” ra
Một trong những “đứa con” được nói đến trên chính là bộ sưu tập Tục ngữ,
phong dao rất nổi tiếng Tác phẩm gồm 2 tập được xuất bản năm 1928 với Nhà
xuất bản Vĩnh Hưng Long và được in lần đầu tại Hà Nội Sau đó đến năm 1957, quyển này được tái bản với nhà xuất bản Minh Đức, Hà Nội và được nhiều soạn giả quan tâm
Bộ sưu tập này được Nguyễn Văn Ngọc sắp xếp theo trật tự chữ cái và chia thành hai tập với cách sắp xếp theo số lượng tiếng ở mỗi dòng Ở tập 1, tác giả tập hợp những bài ca dao có từ “ba chữ” (tức ba tiếng) đến hai mươi chữ Còn tập 2 là tập hợp những bài ca dao có từ bốn câu (tức bốn dòng) trở lên
Như vậy, bộ sưu tập này đã kết hợp hai tiêu chuẩn: độ dài (số tiếng) ở mỗi dòng và trật tự chữ cái của tiếng đầu tiên khi sắp xếp ca dao Đây là điểm tiến bộ của Nguyễn Văn Ngọc so với các nhà nghiên cứu khác cùng thời Điều này cũng giúp cho những nhà nghiên cứu, sưu tầm sau đó kế thừa và phát huy
Trang 23Tục ngữ, phong dao của Nguyễn Văn Ngọc được tác giả chia thành hai phần
rõ rệt như đúng tên gọi của nó Phần đầu nói về tục ngữ, phần sau nói về phong dao Theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì bộ sưu tập này “gồm 6500 câu tục ngữ, thành ngữ và 850 bài ca dao, 350 câu đố” [43, tr.56 ] Nội dung chủ yếu của
bộ sưu tập thể hiện tinh thần dân tộc cao quý của nhân dân ta Trong phần bài tựa
của cuốn sách Tục ngữ, phong dao, tác giả đã khẳng định mục đích của việc sưu
tầm là để bảo tồn kho tàng văn hóa dân tộc trước phong trào sùng bái Tây học lúc
ấy Ông sợ phong trào “có mới nới cũ” khiến một số tầng lớp trong nhân dân coi
khinh quốc học nên có ý định đề xướng quốc học Cuốn sách đã khẳng định vai trò quan trọng của tác giả trong việc gìn giữ tiếng nói dân tộc, làm phong phú thêm di sản tinh thần của dân tộc ta
Sưu tập của Nguyễn Can Mộng
Ngạn ngữ phong dao là bộ sưu tập nổi tiếng của Nguyễn Can Mộng, được
in lần thứ nhất trong tạp chí Tứ dân văn uyển số 16, 18, 20, 22 năm 1936 tại Hà Nội Đến năm 1941, bộ sưu tập này được in thành sách với tên nhà xuất bản Alexandre de Rhodes, Hà Nội Để có bộ sách này, tác giả nhờ rất nhiều vào công
của cụ Nguyễn Khắc Xuyên trong việc sưu tập và ghi chép lại
Nguyễn Can Mộng cho rằng: “văn vần nước ta phôi thai từ ngạn ngữ, rồi tiến đến phong dao thì thành điệu thành chương, có thể ngâm nga được Văn lục bát hay song thất đều ở đấy mà ra cả” [43, tr.55 ] Điều này có nghĩa là tác giả đã phát hiện ra mối quan hệ mật thiết giữa ngạn ngữ và phong dao và đã tổng hợp nó
thành bộ sưu tập của mình
Trong bài tựa sách Ngạn ngữ phong dao, ông thể hiện lòng yêu mến thơ ca
dân gian khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó cả về hình thức lẫn nội dung: “ Ngạn ngữ phong dao là một áng văn vần thiên lãi (sáo trời), phát ra tự miệng kẻ điền phu dã lão hay phụ nhụ tầm thường, cảm tưởng xúc động buộc miệng nói ra,
tự nhiên hợp với tiết tấu âm luật, chẳng khác gì luồng gió đưa qua khóm trúc, ngành thông, sườn non, mặt biển, thành tiếng ra như hót, như reo, như đàn sáo rộn rịp, đó là xuất khẩu thành chương Nào là phải nhà văn sĩ thôi xao trên mảnh giấy,
Trang 24bùi tai nghe lọt, truyền khẩu lẫn nhau Đã cách bao nhiêu thế đại, mà vẫn văng vẳng mãi ở tai chúng ta Thế mới biết văn hay vô cùng”
Sưu tập của Chu Ngọc Chi
Phong dao và ca dao mới là sưu tập ca dao dân ca nổi tiếng của soạn giả
Chu Ngọc Chi Tác phẩm được xuất bản tại Phúc Văn Hiệu, 21 phố Hàng Gai, Hà Nội, 1932, được in tại nhà in Nhật Hưng (119 Route de Hue) và hiện được lưu giữ tại Thư viện Hà Nội với kí hiệu P.14424 gồm 22 trang gồm những bài thơ được tập hợp sau:
phòng không Gái trách giời 11 Hỏi thục nữ Thương người
bài)
22 Nhớ quê nhà
Trang 25Về Nam Mùa đông
Mua chồng 15 Nghĩ sự đời
5 Ngán vì chồng Thân con nhện
Hỏi ông trăng Phong tình
Hỏi ông trời 16 Tự tình
Cung trăng 17 Dại đời
Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ là công trình của cả nhóm
nghiên cứu văn học dân gian vùng Bắc Bộ, trong đó có nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Chiểu Mặc dù tên gọi của nó có phương ngôn và tục ngữ nhưng kì thực lại không có thể loại này, mà chỉ có tập hợp các bài ca dao, phong dao mà thôi Bộ sưu
Trang 26tập này được biên soạn lần đầu vào năm 1934 và có ghi tên tác giả là Nguyễn Tấn Chiểu Hiện nay, bộ sưu tập này được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia với số kí hiệu P.16218 Thế nhưng, đến năm 1936, bộ sưu tập này được tái bản và có một vài thay đổi so với bản cũ là tên tác giả được thay đổi thành Nguyễn Văn Chiểu cùng với việc chỉnh sửa một số lỗi chính tả (không nhiều lắm), còn số lượng trang vẫn giữ nguyên như ban đầu
Ngoài ra còn có các bộ sưu tập của nhóm nghiên cứu, sưu tầm Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Đình Toái, Nguyễn Trọng Thuật, Ngô Giác Đậu, Nguyễn Văn Huyên
và cả Nguyễn Hữu Tiến – tác giả cuốn “Việt Nam tổ quốc túy ngôn” cũng đóng góp cho ca dao, dân ca Nam Bộ nói riêng và văn học dân gian nước ta nói chung trong việc gìn giữ di sản tinh thần của dân tộc
1.1.2 Các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ
1.1.2.1 Sưu tập của Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký (1837-1898), hồi nhỏ có tên là Trương Chánh Kí, hiệu là
Sĩ Tải, xuất thân trong một gia đình nhà quan ở Nam Bộ, là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Chi và bà Nguyễn Thị Châu, quê ở ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre) Ông có 25 năm làm Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh nhưng rồi sau này không được thực dân trọng dụng (1863- 1888), ông lui về sống ẩn dật ở Chợ Quán Những năm cuối đời, ông sống trong cảnh túng quẫn, cơ hàn và bệnh tật
“Ông đọc và nói giỏi 15 sinh ngữ và tử ngữ của phương Tây, biết vững vàng 11 ngôn ngữ phương Đông Đương thời, ông được giới học thuật châu Âu xếp vào danh sách 18 nhà bác học trên thế giới Ông để lại cho đời 118 tác phẩm lớn nhỏ, trong đó có những sách sưu tầm văn học dân gian” [46, tr.127 ] Ông không những
là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học nổi tiếng mà còn là một trong
những nhà khảo cứu văn hóa nổi tiếng ở nước ta
Trong lời nói đầu cuốn “Ca dao, dân ca Nam kì lục tỉnh” của Huỳnh Ngọc Trảng có khẳng định rằng sáu “câu hát” được Trương Vĩnh Ký công bố ngay trên
số đầu tiên của bộ Miscellanées (Imprimerie Commerciale Rey Curiol, 1888) có
Trang 27thể coi là cái mốc khởi đầu của công việc sưu tầm về ca dao, dân ca Nam bộ Điều này cũng khẳng định rằng trong những bước đi chập chững của ca dao, dân ca vùng đất mới có công rất lớn của Trương Vĩnh Ký Và công lao ấy càng được khẳng định trong những năm 1888 đến năm 1889, Trương Vĩnh Kí còn tiếp tục cho
ra đời nhiều sưu tập khác và đã ghi lại trong cuốn Mescellanées với tất cả 18 câu
hát theo hướng tiếp cận của hai nền học thuật phương Đông và Tây
1.1.2.2 Sưu tập của Huỳnh Tịnh Của
Huỳnh Tịnh Của (1834-1897) còn gọi là Paulus Của, hiệu là Tịnh Trai, quê
ở làng Phước Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa (nay gọi là huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu) Ông là người rất tinh thông cả Hán văn lẫn Pháp văn nhưng hầu hết trong các sáng tác của mình, ông đều viết bằng chữ quốc ngữ dù loại chữ viết này không được đề cao vào thời điểm ấy Ông luôn đề cao những luân lí phong kiến cổ truyền và muốn dùng văn chương tiếng Việt để truyền bá sâu rộng nó đến mọi thành phần dân tộc đông đảo trong nhân dân, nhất là tầng lớp ít học ở miền Nam lúc bấy giờ
Ông để lại cho đời khoảng 17 tác phẩm và được xếp thành hai loại là loại biên khảo (phổ biến kiến thức hoặc sưu tầm các tác phẩm đời trước) và loại phiên
âm (những câu chuyện Nôm đời trước được chuyển sang chữ quốc ngữ) Trong đó,
“Câu hát góp” được xem là bộ sưu tập quan trọng đã đánh dấu vai trò quan trọng của ông trong việc sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn thể loại trữ tình dân gian của dân tộc
“Câu hát góp” (Recuell De Chansons Populaires) cũng là bộ sách quốc ngữ
biên soạn ca dao sớm nhất ở nước ta Tác phẩm được in năm 1897, tại Sài Gòn và được tái bản lần thứ 4 vào năm 1910 Đây là cuốn sách dày 32 trang, được đánh theo số thứ tự theo cách dòng đầu của tác phẩm (lời) dưới vần với dòng cuối của tác phẩm trên và xếp liền vần với nhau Theo giáo sư Nguyễn Xuân Kính thì “cuốn sách này gồm 1021 tác phẩm (lời) ca dao, nhưng thực ra, chỉ có 1011 lời (do soạn giả đánh số không chính xác)” [46, tr.129] Hầu hết những bài ca dao ấy đều xoay quanh đề tài về vấn đề con người, nhất là phụ nữ đòi quyền bình đẳng trong hôn
Trang 28nhân và gia đình “Sách này có thể coi là sưu tập ca dao Nam Bộ đầu tiên Nhiều
lời ca dao in trong sách này cho đến tận hôm nay, sau hơn 100 năm vẫn mang đặc trưng Nam Bộ không thấy xuất hiện ở các bộ sưu tập ca dao các vùng khác.” [13,
trang12]
Hiện nay, ở thư viện quốc gia Hà Nội vẫn còn lưu giữ tài liệu này, thuộc bản
in lần thứ 4 năm 1910, Sài Gòn Còn bản in năm 1897 thì được lưu giữ ở thư viện quốc gia Pháp, được nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xuyên đọc và chụp lại
1.1.2.3 Sưu tập của Đặng Lễ Nghi
Câu hát đối và câu hò, tuồng, truyện thơ xạo là một trong những bộ sưu tập
tiêu biểu của tác giả Đặng Lễ Nghi Đây là cuốn sách không rõ năm xuất bản
(19??) nhưng theo những nguồn tài liệu đáng tin cậy từ các bài nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan, có thể cuốn sách này được xuất bản lần đầu năm 1907 Bìa ngoài cuốn sách có ghi rất rõ những thông tin về chủ bổn, tên tác giả và cả địa chỉ nhà in Cụ
thể:
Par: Đặng Lễ Nghi
Edité par Lê Văn Thinh dit Lê Phước Thành
Halles Centrales, 44bis, Saigon & 12 Nguyễn Tấn Nhiệm, Sài Gòn
Bổn thơ này M Đinh Thái Sơn đã bán đứt cho tôi
In tại Nhà in Xưa Nay, 60-64 Boulevard Bonard, 60-64 Sài Gòn Bên cạnh đó, bên trong cuốn sách còn có phần lời tựa trình bày những suy
nghĩ của tác giả về việc lưu truyền câu hát “Đưa em bù ngủ bù nghê, Con tằm đỏ
chính con dê đỏ mùi” được tác giả khẳng định là câu hát của người ngoài Bắc hát
với câu gốc của nó là “Đưa em bù ngủ bù nghê, Con nằm dã nín con tê ngủ mùi”
và mục đích viết ra để “xin xét lại nghe coi phải chăng” [62,1] Đặc biệt, cuốn sách
này ngoài những câu hát đối theo bạn cấy ra còn có cả những câu hò tuồng, truyện, thơ, xạo Tác giả đã dành 10 trang để ghi chép về những câu hát đối theo bạn cấy
Từ trang 11 đến trang 15 là những câu hò, tuồng, truyện Trang 16 đến 18 là những câu hò thơ và từ trang 19 trở đi đến hết trang 23 là những câu hò xạo Trước phần ghi chép lời ca của mỗi loại, tác giả có những dòng thơ độc đáo về các loại riêng
Trang 29ấy Chẳng hạn, đầu câu hò, tuồng, truyện có đoạn: “Ai hò tuồng truyện hò chơi, Đông Chu liệt quốc, các đời đế vương…” Đầu câu hò thơ có đoạn: “Hò thơ một đoạn nghe chơi, cổ kim tích để, truyền đời hậu lai…” Và đầu câu hò xạo có viết:
“Ai hò hò xạo nghe chơi, tuồng thơ câu hát, truyện đời xưa ni….”
Ngoài ra, Đặng Lễ Nghi còn nổi tiếng với cuốn Câu hát huê tình được in lần
đầu tiên năm 1917 tại S, nhà in Xưa Nay Đến năm 1928, cuốn này được tái bản
và nhìn chung về số lượng câu cũng như hình thức của nó không thay đổi mấy so với lần in thứ nhất Đây là cuốn sách của chủ bút Đặng Lễ Nghi và bìa ngoài cuốn sách, tác giả khẳng định “bổn này, M Đinh Thái Sơn nhường đứt quyền xuất bản cho tôi”, chủ bổn chính là Phạm Văn Thình Sách này gồm tất cả 23 trang Đến năm 1930 được tái bản với phần in còn 20 trang, nhỏ gọn hơn với chiều dài trang sách giảm xuống từ 25cm còn 22cm
Để khẳng định thêm sự phong phú, mượt mà của những lời ca Nam Bộ,
Đặng Lễ Nghi còn cho ra mắt độc giả những năm đầu thế kỉ XX cuốn Câu hát theo
bạn cấy, xuất bản ở Sài Gòn tại Nhà in Xưa nay năm 1929 Đây là cuốn sách ghi
lại những câu hát của những nam thanh, nữ tú trong quá trình lao động, miệt mài, chăm chỉ với niềm vui say mê của nghề nông Cuốn sách lại một lần nữa khẳng định công lao to lớn của Đặng Lễ Nghi trong việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao, dân
ca vùng Nam Bộ
1.1.2.4 Sưu tập của Nguyễn Bá Thời
Câu hát đối đáp là sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ mà Nguyễn Bá Thời đã
để lại cho đời Cuốn sách in lần thứ hai tại nhà in Đức Lưu Phương (158 Rue de’Espagne) và xuất bản năm 1933 Bìa ngoài cuốn sách có vẽ hình một đôi nam
nữ đang chèo thuyền trên sông với khung cảnh thơ mộng, hữu tình của vùng sông nước mênh mông và ghi nhà xuất bản là Phạm Đình Khương Cuốn sách gồm 14 trang chính và một trang phụ giới thiệu thơ mới, thơ hậu và các thứ tuồng khác của hiệu Phạm Đình Khương (31 Boulevard Bonhoure, Chợ Lớn, Sài Gòn) Hiện nay, cuốn sách này được lưu giữ tại thư viện Quốc gia Hà Nội với kí hiệu M.7344
Trang 301.1.2.5 Sưu tập của Khấu Võ Nghi
Khấu Võ Nghi cũng góp công sức của mình trong việc làm giàu thêm vốn di
sản tinh thần dân tộc bằng bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ có tên: Hát chèo ghe
đối đáp (in lần thứ ba), xuất bản năm 1939 bởi nhà in Xưa nay Ngoài ra, Khấu Võ
Nghi còn có bộ sưu tập nổi tiếng Hát huê tình đối đáp, hiện được lưu trữ tại Thư
viện Trung ương với kí hiệu M.7341 Cuốn sách này được xuất bản năm 1936 bởi nhà in Xưa Nay Đây là bản in lần thứ nhất gồm 18 trang chính và 3 trang phụ giới thiệu thơ mới, thơ hậu, các tiểu thuyết đã xuất bản của bổn hiệu Quới Loan Bìa ngoài cuốn sách có vẽ hình một đôi nam thanh, nữ tú trong bộ trang phục truyền thống của dân tộc: Nữ mặc áo dài, ngồi ghế dựa còn nam thì áo dài, khăn đóng, tay
vịn cành trông thật đẹp Phía dưới trang bìa có ghi câu hát thật truyền cảm: Gặp lúc
trăng thanh gió mát, thấy mặt em xinh, anh hát vài câu: Chẳng hay quê quán nơi nào, lòng anh muốn buộc mối tơ đào (có) nên chăng?
1.1.2.6 Sưu tập của Nguyễn Công Chánh
Nguyễn Công Chánh được người đời biết đến với những đóng góp riêng cho nền văn học nước nhà, trong đó sưu tập: “Câu hò xay lúa” Đây là cuốn sách đã ghi lại những câu rao, câu hò thiết tha, mộc mạc của người bình dân trong quá trình lao động gắn với công việc xay lúa quen thuộc của nghề nông Bìa ngoài cuốn sách có
vẽ hình đôi nam nữ, trong đó, người nam lưng trần đang xay lúa, tay cầm cán đẩy đều cho cối xay quay tròn bằng sức lực của mình Người nữ đứng bên cạnh, tay phải chống nạnh còn tay trái cầm thúng đang chăm chú nhìn vào chiếc cối xay tròn Cuốn sách được in tại Nhà in Xưa Nay, 60-64 Boulevard Bonard năm 1930,
có ghi chủ bổn là Phạm Văn Thình với chủ bút là Nguyễn Công Chánh cùng với phần ghi chú: “Bổn thơ này của M Đinh Thái Sơn đã bán đứt cho tôi” Cuốn sách gồm tất cả 19 trang khi in lần thứ ba và còn 18 trang khi in lần thứ tư Hiện nay, cuốn này đang được lưu giữ tại Thư viên Trung ương với kí hiệu M5.6219 (in lần thứ ba) và M10.6727 (in lần thứ tư)
Trang 31Hát đối đáp S Xưa nay, 1928
Hát đối đáp, câu hát đời nay, hát giọng chèo ghe S Xưa nay, 1931
-Cử Hoành Sơn:
Câu hò xay lúa đối đáp S Xưa nay, 1933
Câu hát và hò góp S Xưa nay, 1934
Cuốn Ca dao, dân ca Nam Kì lục tỉnh do Huỳnh Ngọc Trảng biên soạn,
Nxb Đồng Nai năm 1998 đã in 6 tập sách quan trọng trước và sau năm 1945 gồm:
Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của (Recueil De Chansons Populaires),
Mesnard, Sài Gòn, 1901
Hát và hò góp của Nguyễn Công Chánh (bổn cũ soạn lại), Thuận Hòa
XB, Chợ Lớn, 1967
Hò xay lúa của Hoàng Minh Tự do Phạm Văn Cường XB, Chợ Lớn
Câu hát đối đáp của Nguyễn Bá Thời do Phạm Văn Cường XB, Chợ Lớn, 1959
Câu hát huê tình của Đinh Thái Sơn do Thuận Hòa XB, Chợ Lớn, 1966
Hò miền Nam của Lê Thị Minh do Phạm Văn Tươi XB, Sài Gòn, 1956
Nhìn chung, các bộ sưu tập ca dao dân ca ở miền Bắc, Trung và Nam Bộ trước năm 1945 hiện còn lưu giữ từ thời phong kiến cho đến ngày nay phải trải qua quá trình gìn giữ, bảo quản cũng như khôi phục và điều chỉnh mới dùng được
Từ trước năm 1945, về mặt số lượng cũng như chất lượng và đội ngũ tham gia sưu tầm còn nhiều hạn chế Lực lượng sưu tầm, nghiên cứu ca dao dân ca phần lớn là tầng lớp trí thức với vốn hiểu biết sâu rộng, uyên thâm của mình chứ chưa thấy bóng dáng của khác thành phần khác trong xã hội Phần lớn các bộ sưu tập nói trên chưa có quan điểm và hướng nghiên cứu rõ rệt Các nhà sưu tầm chưa thể hiện
Trang 32tính khoa học cao trong quá trình nghiên cứu Họ thường sao chép lại hoặc bỏ chi phí ra để mua bản quyền in thành sách và xuất bản Thậm chí những hạn chế trong nội dung hay hình thức của những bộ sưu tập trước đó đã xuất bản vẫn không có sự điều chỉnh so với những lần xuất bản sau Người sưu tầm bị chi phối ít nhiều bởi tư tưởng thống trị của chế độ thực dân, phong kiến nên nội dung phản ánh đôi lúc mang tính áp đặt của các ý thức hệ nói trên
Ca dao dân ca sưu tầm ở Nam Bộ qua các bộ sưu tập chữ quốc ngữ xuất bản trước năm 1945 thực sự đã góp phần không nhỏ, làm nên tổng thể ca dao Việt Nam sau này Mặc dù còn nhiều hạn chế song những nội dung mà các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ trước năm 1945 để lại cho đời đến ngày nay luôn là những kho tàng tri thức nhân loại vô giá, những truyền thống đạo lý tốt đẹp tự hào của nước ta
về tinh thần yêu nước, ý thức, trách nhiệm của cá nhân trong các mối quan hệ gia đình và xã hội giúp con người làm hành trang bước vào đời Hơn nữa, nó cũng mang những nét đặc thù không thể không nhận ra ngay trong tổng thể ca dao dân
ca người Việt Sự tương đồng ấy làm nên sức hấp dẫn cũng như vai trò, sự ảnh hưởng của nó mãi sau này
1.2 Vấn đề sắp xếp và phân loại ca dao, dân ca Nam Bộ
1.2.1 Vấn đề sắp xếp ca dao dân ca Nam Bộ
Ca dao dân ca Nam Bộ là một bộ phận của ca dao dân ca Việt Nam nói chung Việc sắp xếp ca dao dân ca cũng có nhiều ý kiến với những cách sắp xếp khác nhau Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên đã xếp ca dao, dân
ca vào thể loại trữ tình dân gian Cao Huy Đỉnh lại xếp thể loại ca dao dân ca trong Văn học dân gian vào loại hình văn học phô diễn tâm tình bên cạnh vè trữ tình và
khúc ngâm Ông cho rằng đối với câu đố và các bài kể vật, kể việc thì: “những câu
nào, bài nào cơ bản có chất văn học, nghĩa là trong đó tác giả dân gian chỉ lấy việc đố, việc kể làm cái cớ để nói lên sự đời hay bộc lộ tâm trạng của mình là chính, thì một là nó đồng nhất với thể ca dao hay vè tự sự, hai là đồng nhất nó với
ca dao hay vè trữ tình và ở loại hình trữ tình” [46, tr.319]
Năm 1990, PGS Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào phương thức biểu diễn chủ yếu
và phương thức phản ánh chủ yếu đã xếp ca dao vào loại hình trữ tình và gồm sáu
Trang 33thể loại riêng của nó là: đồng dao (ca dao trẻ em), ca dao nghi lễ phong tục, ca dao lao động (gồm cả những bài ca nghề nghiệp), ca dao trào phúng bông đùa (hay ca dao vui chơi), ca dao ru con (hay ru em), ca dao trữ tình (đề tài về tình yêu lứa đôi, tình yêu xứ sở, tình cảm gia đình, đề tài xã hội, lịch sử,…) [46, tr.322]
Còn theo PGS TS Nguyễn Xuân Kính trong bộ Tổng hợp văn học Dân gian
người Việt, tập 15: Ca dao, ông đã đưa ra nhận định về việc sắp xếp ca dao theo số
tiếng, trật tự chữ cái của tiếng đầu và theo cách dòng đầu của tác phẩm (lời) dưới vần với dòng cuối của tác phẩm trên Cách chia này dựa vào hình thức của những bài ca dao Đối với cách sắp xếp dựa vào trật tự chữ cái của tiếng đầu tiên, những bài ca dao được xếp theo kí tự A, B, C,…Nếu tiếng đầu giống nhau thì căn cứ vào
tiếng thứ hai của bài Ta có thể thấy cách sắp xếp này trong Tục ngữ phong dao của
Nguyễn Văn Ngọc Dựa vào đặc điểm về cách hiệp vần giữa mỗi lời trong một bài
và giữa các bài với nhau, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính cũng nêu rõ “Dòng
đầu của tác phẩm (lời) dưới vần với dòng cuối của tác phẩm (lời) trên” Tức là cứ
hai lời sẽ thành một bài, một bài gồm ít nhất một cặp câu xâu chuỗi với các cặp câu dưới bằng cách hiệp vần Nhờ vậy, sự liên hoàn giữa các cặp câu với nhau tạo thành một dòng chảy xuyên suốt trong bộ sưu tập Và cứ như vậy, giữa các bài ca dao dân
ca tạo sự phân cách, ranh giới với nhau Ta có thể thấy cách xếp này trong Câu hát
góp của Huỳnh Tịnh Của; Câu hò xay lúa của Nguyễn Công Chánh; Câu hát đối và câu hò, tuồng, truyện thơ xạo của Đặng Lễ Nghi
Trong cuốn “Thi pháp ca dao”, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính cũng bổ sung cách sắp xếp ca dao dân ca khi khẳng định: “Trong hoạt động diễn xướng (hát,
ngâm,…, cũng như trong khi được ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành từng khúc dài ngắn khác nhau tùy theo nội dung thông báo Khi biên soạn, tuy không trực tiếp nên định nghĩa về từng khúc này nhưng các soạn giả đều có ý thức tách biệt chúng bằng một hay nhiều cách:
+ Đánh số thứ tự
+ Gạch đầu dòng tiếng đầu
+ In cách nhau một dòng…” [45, 80]
Trang 34Và ông đã nêu một số bộ sưu tập ca dao dân ca các vùng miền khác nhau để
minh chứng điều đó nhưng ông cũng chỉ rõ mặt hạn chế của nó là “trong bài có câu
và đã có người dùng lẫn lộn cả câu và bài” [45, 81]
Như vậy, đối với dân ca, Nguyễn Xuân Kính cũng theo cách sắp xếp như trên Thông thường, trong các bài dân ca, nhất là trong đối đáp thường chia làm hai phần là phần lời nam đáp và phần lời nữ đáp xen kẽ nhau, kết hợp với những từ đệm
của nó như bớ anh (em) ơi, tạo nên sự nhịp nhàng của những lời ca, tiếng hát Có
khi những bài dân ca không ghi rõ nam đáp (hỏi) hay nữ hỏi (đáp), nhưng dựa vào nội dung trữ tình hoặc phần gạch ngang đầu dòng, đánh dấu phần lời bắt đầu của
nhân vật trữ tình Chẳng hạn, trong bộ sưu tập Câu hát góp, Huỳnh Tịnh Của đã mở
đầu tập ca dao như sau:
- Dạo chơi quán sở lầu Tề
Hữu duyên thiên lí ngộ ai ngờ gặp em
- Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc như đèn mới khêu
- Chuông già đồng điếu chuông kêu
Anh già lời nói em xiêu tấm lòng…[15, tr.1]
Ở đây, từ “em” kết thúc câu bát, mở đầu hiệp vần cho câu lục dòng tiếp theo, làm ranh giới cho hai bài ca dao đầu tiên Từ “khêu” hiệp vần với từ “kêu”,
làm ranh giới đánh dấu bài ca dao thứ hai và ba Cứ như vậy, các bài ca dao ghi chép và sắp xếp lại được tác giả đánh theo số thứ tự từ 1 đến 1020 (kể cả những bài trùng lời với nhau do sự nhầm lẫn của tác giả)
Hay: - Sông sâu sóng bủa láng cò,
Thương anh vì bởi câu hò có duyên
- Chưa chồng ở vậy cho nguyên Đặng anh dọn chiếc thuyền quyên rước về
- Trăm năm tượng rách còn thề
Lỡ duyên chịu lỡ cũng chờ đặng anh…[11, tr.1]
Trong lời bài dân ca trên, tác giả không ghi lời con gái hay con trai đối đáp
mà phân cách bằng dấu gạch ngang Từ “duyên” cuối lời 1 (lời người con gái) làm
Trang 35ranh giới cho lời 2 (lời người con trai) bởi từ hiệp vần với nó- “nguyên” Tương tự, chữ “về” và “thề” đánh dấu ranh giới lời 2 và 3 trong phần đối đáp nam, nữ Cứ như vậy, bài dân ca cứ nối tiếp nhau nhằm chuyển tải nội dung tư tưởng, tình cảm của các nhân vật trữ tình
- TRAI: Gặp phải lúc trăng trong gió mát, thú nào vui bằng thú hát huê-tình;
nầy bạn mình ôi! Trời xui hội ngộ, đôi lứa mình trời định tiền duyên
- GÁI: Nghe mấy lời anh hát, lòng em bát ngát thêm phiền, bớ anh nó ôi! Duyên đâu mà duyên lạ duyên lùng, xin chớ ước nguyền dạ ngọc uổng công… [64,
tr.1]
Có thể nói rằng hết các bộ sưu tập ca dao dân ca Nam Bộ nói riêng và ca dao dân ca Việt Nam trước năm 1945 nói chung đều được sắp xếp theo cách chia của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính dựa vào đặc điểm về hình thức Điều này cũng
có nghĩa rằng ca dao dân ca Nam Bộ trước năm 1945 ít sắp xếp theo chủ đề của từng loại như ngày nay mà lại theo cách xếp của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính
Mặt khác, các nhà sưu tầm, nghiên cứu ca dao dân ca trước năm 1945 ít quan tâm đến vấn đề dị bản của nó mà lại chú ý đến bản quyền của sách cùng việc ghi chép lại Thậm chí, trong các bài ca dao dân ca ấy, các soạn giả cũng ít để tâm đến việc chú thích ý nghĩa của các từ cổ hay các từ địa phương, địa danh kể cả việc chỉnh sửa lỗi chính tả ở những lần xuất bản sau để người tiếp nhận sau dễ hiểu cũng như hoàn chỉnh công việc sưu tầm của họ Về mặt sắp xếp các bài ca dao, các soạn giả thường thiên về cách xếp dòng đầu của tác phẩm (lời) dưới vần với dòng cuối của tác phẩm (lời) trên Điều này cũng dễ dàng hiểu bởi nó tạo nên sự nhịp nhàng trong lời ca, âm điệu nhờ cách hiệp vần giữa dòng trên và dòng dưới
Nhìn chung, vấn đề sắp xếp ca dao dân ca Nam Bộ qua các sưu tập chữ quốc ngữ từ cuối thế kỉ XIX đến những năm đầu thế kỉ XX chưa được chặt chẽ Các soạn giả đã cố gắng sưu tầm, ghi chép tỉ mỉ và sắp xếp có hệ thống nhưng do hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cũng như tính chất truyền miệng của ca dao ảnh hưởng không nhỏ đến việc sắp xếp chúng Ngoài ra, thời ấy, ca dao dân ca Nam Bộ cũng
Trang 36chưa thực sự được chú ý nên hầu như chúng vẫn được in chung với với các thể loại khác gần với nó như tục ngữ và xuất hiện rời rạc ở một số tạp chí địa phương nhất định
1.2.2 Vấn đề phân loại ca dao dân ca Nam Bộ
1.2.2.1 Định nghĩa ca dao dân ca Nam Bộ
Ca dao dân ca là một bộ phận của văn học dân gian, được sáng tác bởi quần chúng nhân dân và được lưu truyền trong dân gian bằng phương thức truyền miệng nhằm phản ánh tâm tư, tình cảm nguyện vọng của mình Ca dao có thể ví như là
một cuốn “nhật kí cuộc sống” để quần chúng nhân dân có thể ghi vào đó những gì
mà mình đã thấy, làm và mong muốn trong tương lai
Ca dao dân ca Việt Nam rất đa dạng về nội dung và đặc sắc về nghệ thuật Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, song nhìn chung vẫn chưa có sự thống nhất trong khái niệm về ca dao dân ca
Theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại thì “ca” là bài hát có hòa với nhạc, còn “dao” là lời của bài hát đó Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì ca dao là những câu hát hay bài hát ngắn được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ
khác Trong cuốn Vũ Ngọc Phan toàn tập, Vũ Ngọc Phan đã khái niệm một cách
cụ thể về ca dao như sau: ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác, cũng
như tục ngữ, ca dao không rõ tác giả là ai, được lưu truyền bằng miệng và cũng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân [72; 590] Như vậy, theo Vũ Ngọc Phan thì
ca dao là một thể thơ dân gian, được dân gian sáng tạo nên và được lưu truyền trong dân gian bằng hình thức truyền miệng, không thể xác định chính xác tác giả của những bài ca dao là ai Vũ Ngọc Phan đã căn cứ về hình thức bên ngoài để khái niệm ca dao
Các tác giả trong bộ sách Tổng hợp Văn học dân gian người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên đã nêu rõ định nghĩa thuật ngữ ca dao dân ca như sau: “Dân
ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát Ca dao được hình thành từ
Trang 37dân ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ ngay đến làn điệu và những thể thức hát nhất định.” [46, 20]
Theo Từ điển thuật ngữ Văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi chủ biên thì : “ Ca dao là những danh từ chung chỉ toàn bộ những bài
hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” và “do tác động của hoạt động sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần chuyển nghĩa.”
Ngày xưa, ca dao còn được gọi là phong dao Người xưa gọi “ca dao là phong dao vì những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại” [69, tr.40] Còn dân ca là những bài hát hay câu hát dân gian gồm cả phần lời lẫn giai điệu, được diễn xướng trong một môi trường nhất định Như vậy, khi nói đến dân ca là nói đến những lời ca được cất lên thành điệu Chính vì thế, ranh giới giữa ca dao và dân ca ít được phân định rạch ròi
Thế nhưng, giữa ca dao và dân ca lại có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Ca dao được hình thành từ dân ca Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà còn có thể ngâm, đọc hay xem bằng mắt thường Đối với dân ca, khi diễn xướng, một lời ca lại có thể xuất hiện ở nhiều loại dân ca khác nhau Vì mối quan hệ đặc biệt này mà các nhà nghiên cứu thường dùng thuật ngữ kép ca dao dân ca đi chung nhau mà không có dấu phẩy ngăn cách hay viết nối giữa chúng như ca dao - dân
ca Mặt khác, chúng cũng có tính độc lập tương đối riêng nên nhà nghiên cứu
Hoàng Tiến Tựu trong Văn học dân gian Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục H, 1990, trang 141 đã khẳng định: “nghiên cứu riêng về ca dao như là một loại thơ dân gian
là hoàn toàn hợp lí và cần thiết” Có lẽ vì thế nên ngày nay, thuật ngữ ca dao, dân
ca được viết có dấu phẩy cũng được các nhà nghiên cứu đồng tình
Nhìn chung, có nhiều cách hiểu về ca dao dân ca Những cách hiểu đó đều phù hợp với những đặc điểm, tính chất, đặc trưng của ca dao dân ca Mỗi tác giả lại lấy một đặc điểm, một đặc trưng để nói lên khái niệm về ca dao Chúng ta thấy ở đây không có khái niệm nào sai bởi mỗi khái niệm đều dựa trên những đặc điểm
mà ca dao vốn có, vấn đề là ở mỗi tác giả sẽ nhấn mạnh ở đặc điểm này hay đặc
Trang 38điểm kia để định nghĩa ca dao dân ca cũng như thấy được ranh giới dù chỉ rất mỏng giữa ca dao và dân ca Trong những cách định nghĩa ấy, ta có thể tựu trung
hiểu về ca dao như sau: Ca dao là những bài hát ngắn bằng văn vần, được nhân
dân sáng tác và tồn tại chủ yếu bằng phương thức truyền miệng qua nhiều thế hệ Đây là những tiếng nói tâm tình, bộc lộ thế giới tinh thần phong phú của nhân dân lao động về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, về những quan hệ xã hội, về những mối quan hệ của nhân dân với môi trường tự nhiên Ca dao mang tính cộng đồng
có nghĩa là không có tác giả, không biết cụ thể do ai tạo nên, không của riêng ai là
sở hữu chung của toàn thể cộng đồng và mang tính tập thể
Trong giới nghiên cứu và các sách sưu tầm, so với ca dao thì thuật ngữ dân
ca xuất hiện muộn hơn Mãi đến những năm 50 thì thuật ngữ dân ca mới được
chính thức sử dụng với sự xuất hiện của cuốn sách giá trị Tục ngữ và dân ca Việt
Nam do Vũ Ngọc Phan biên soạn và được in lần đầu tiên năm 1956
M Gorki- đại thi hào của nước Nga đã từng nói: “Con người không thể sống mà không vui sướng được Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhảy múa” Đây chính là cơ sở để xuất hiện ca dao Ca dao là sản phẩm tinh thần của con người giúp giãi bày tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, mơ ước chính đáng của tầng lớp nhân dân lao động Ca dao được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng nên có nhiều dị bản khác nhau Chính vì thế, những bộ sưu tập
ca dao dân ca người Việt nói chung và Nam Bộ nói riêng cũng là cơ sở để đối chiếu với các dị bản sau này với những chủ đề như: ca dao về tình yêu quê hương, đất nước; ca dao về tình yêu đôi lứa, hôn nhân, gia đình,…
Trên cơ sở của định nghĩa ca dao dân ca, ta có thể đưa ra định nghĩa ca dao dân ca Nam Bộ như sau: Ca dao dân ca Nam Bộ là những bài hát (có thể gọi là thơ dân gian) ngắn, bằng văn vần, được nhân dân Nam Bộ sáng tác và lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác Ca dao dân ca Nam Bộ phản ánh con người, vùng đất Nam Bộ cả hai phương diện vật chất và tinh thần và trong đó có những bài ca dao được sáng tác ngay trên vùng đất Nam Bộ và
cả những bài ca dao được tiếp thu, kế thừa từ những vùng miền khác nhau của đất
Trang 39nước ta Song, chiếm số lượng nhiều và quan trọng hơn hết là những bài ca dao được sáng tác tại vùng đất Nam Bộ, vì nó phản ánh một cách chân thực, phong phú
về con người, văn hóa, vùng đất Nam Bộ
1.2.2.2 Phân loại ca dao dân ca Nam Bộ
“Trước Cách mạng tháng Tám, vấn đề phân loại văn học dân gian người Việt chưa được đặt ra” [46, tr 310] Các nhà nghiên cứu trong giai đoạn này chủ
yếu sưu tầm vốn ca dao dân ca qua hình thức truyền miệng, ghi chép nó và cho xuất bản để lưu giữ Vấn đề phân loại văn học dân gian, nhất là mảng ca dao dân ca Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng mãi đến những năm 1945 về sau mới được chú ý đến
Ca dao gồm đồng dao, ca dao lao động, ca dao nghi lễ phong tục, ca dao trào phúng, bông đùa và ca dao trữ tình Đây là cách chia chung của các nhà nghiên cứu khi dựa vào mục đích của nó Đồng dao là loại thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em, gồm hai loại là loại gắn với công việc và loại gắn với trò chơi trẻ em Đây
là những bài ca thể hiện cảm xúc ngây thơ và một cách ngẫu nhiên của trẻ Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi không đi sâu vào loại đồng dao Còn ca dao lao động là phần lời cốt lõi của quá trình lao động trong đó yếu tố trữ tình, biểu cảm được xem là phương thức chủ yếu để truyền tải tư tưởng, tình cảm của người bình dân Ca dao ru con thực hiện chức năng thực hành xã hội của mình Lời của những bài ca dao này thường thể hiện phương ngữ độc đáo của từng vùng, miền nói chung và nó cũng biểu hiện cho nét đẹp đặc trưng văn hóa của vùng đất mới- Nam
Bộ Còn ca dao nghi lễ, phong tục chính là phần lời của những bài ca tế thần trong các sinh hoạt văn hóa tôn giáo, thể hiện đời sống tâm linh tinh thần phong phú của nhân dân lao động
Xét về nội dung phản ánh, ca dao được chia theo từng chủ đề riêng của nó như: những bài ca dao về tình yêu quê hương, đất nước con người; những bài ca dao về thiên nhiên, lao động sản xuất; những bài ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa,…
Trang 40Đối với dân ca thì việc phân loại nó phải căn cứ vào lời ca, giai điệu và cả hình thức sinh hoạt hay lề lối diễn xướng của nó PGS Đỗ Bình Trị đã chia ca dao, dân ca làm sáu thể loại: bài ca nghi lễ lao động, bài ca nghi lễ sinh hoạt, bài ca tế thần, bài
ca lao động (hò), bài ca sinh hoạt (gia đình, xã hội) và bài ca giao duyên dựa trên nội dung phản ánh của nó Đây cũng là cách chia được nhiều giới nghiên cứu đồng tình Dân ca Việt Nam nói chung và vùng Nam Bộ nói riêng được chia thành ba thể điệu là: hò, hát, lý Ở mỗi thể điệu lại chia thành những loại nhỏ khác nhau gọi là chi điệu Còn đối với thể loại vè, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất khi xếp chúng vào dân ca nên trong phần này, chúng tôi không đề cập đến
Ở điệu hò, có người dựa vào môi trường diễn xướng kết hợp đề tài mà phân loại
hò ra làm nhiều loại khác nhau như hò trao đổi tình cảm (hò giao duyên, hò huê tình), hò trong mai táng (hò đưa linh), hò trong lao động, sản xuất (hò cấy lúa, hò chèo ghe ) Mặt khác, dựa vào môi trường diễn xướng (lối xướng- xô trong các hình thức lao động tập thể, giúp cho những công việc nặng nhọc được tiến hành dễ dàng
và đạt hiệu quả cao hơn), người ta chia điệu hò làm hai loại là hò trên cạn và hò dưới nước Trong Luận án Tiến sĩ của Lê Văn Chưởng thì ông đã chia cụ thể ra từng điệu
hò trên cạn và dưới nước Theo cách chia ấy, trong ca dao dân ca Nam Bộ qua các
bộ sưu tập bằng chữ quốc ngữ trước năm 1945, ta có thể phân loại như sau:
Loại hò Tên loại hò
3 Hò mái đoản
4 Hò mái trường