Cũng giống nh hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phơng diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và
Trang 1Lời tựaXuân Quỳnh (1942-1988) là nhà thơ nữ tiêu biêu của thế hệ nhà thơ sinh ở thập
Đối với họ, các thi nhân thời tiền chiến và thời kỳ khánh chiến chống Pháp là những bậc thầy, những ngời anh, ngời chị Nhng có lẽ không một ai trong số họ
có ý tởng "giẫm vào vết chân" của các bậc tiền bối đáng kính ấy Mặt khác, do
đầu óc họ còn quá trong trẻo, trí tuệ của họ lại đợc mở mang tơng đối toàn diện,
họ không trở thành những nhà thơ "minh hoạ" Trái lại, một số lớn thơ của họ viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, ra đời trong cảnh đạn bom khốc liệt, lại đầy ắp rung cảm chân thực, đầy ắp tính nhân bản mà rất ít tính chấtt giáo điều.
Tựa nh "những mạch nớc ngầm sục sôi", họ thầm lặng dồn sức lực cho một cuộc cách tân thơ trong giai đoạn mới Trên thực tế, những sáng tạo và cống hiến của các nhà thơ thuộc thế hệ những năm 60 này là không thể phủ nhận Đã xuất hiện những tài năng thơ thực thụ mà Xuân Quỳnh không phải là gơng mặt duy nhất Đã có những dịch giả thơ cự phách Đã có những tác phẩm thơ u tú.
Có thể nói thế hệ các nhà thơ nhà văn trẻ này là lực lợng sáng tác quan trọng của văn học Việt Nam suốt bốn thập kỉ qua.
Một vài ngời trong số họ đã là nguyên nhân gây nên "những cơn sóng gió" trên diễn đàn văn học, làm tốn khá nhiều giâý mực và hơi sức của các nhà phê bình văn học Chúng ta tin rằng tất cả những điều đó sẽ đợc lịch sử văn học tổng kết
đánh giá một cách thoả đáng trong một tơng lai không xa.
Tuy nhiên thế hệ các nhà thơ này cũng đã phải trải qua những bớc đi dò dẫm, cũng mang trong mình không ít nhợc điểm, cũng đã từng nếm mùi thất bại Một số ngời, trên thực tế chỉ đợc vài ba bớc đầu tiên rồi chững lại, hụt hững và mất hớng.
Tại sao vậy? Bởi vì họ cha biết khơi "một dòng thông" giữa "ào chuôm thơ" của họ với bể nguồn vô tận của thi ca: đó là số phận hàm chứa cái đẹp của con ngời thời đại, của dân tộc và nhân loại.
Một số nhà thơ "nhiếp ảnh" thờng chỉ phù du trên bề mặt của một cuộc sống nhỏ hẹp, đến lúc nào đó bỗng cảm thấy bị cạn kiệt cả về đề tài và lẫn "hồn thơ".
Trang 2Một số khá đông khác không hiểu thấu rằng một bài thơ hay đợc quyết định bởi cái "linh hồn chất đọng" trong đó Thiếu hụt cả ý lẫn tình, họ sa vào bệnh hình thức chủ nghĩa, thích "gây cảm giác lạ" bằng cách dùng nhiều câu chữ kì cục Một số ngời bất cập với sự sáng tạo, quay về mô phỏng thơ xa, nhiều nhất là mô phỏng thơ Nguyễn Bính Thơ lục bát nở rộ ở giai đoạn mới, tuy nhiên nội dung cha đợc phong phú Những bài thơ lục bát diễn tả "những nỗi buồn chán" và nỗi "thất tình" chiếm tỷ lệ hơi nhiều.
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy một "căn bệnh nặng" của thơ giai đoạn này là: rất nhiều bài thơ không hề đợc xây dựng trên một hình tợng văn học mang chất thơ, một dòng ý tởng đậm đặc hoặc một luồng cảm xúc tập trung nào Trái lại cả bài thơ chỉ là một cuộc kể lể dài dòng những suy nghĩ tản mạn,
đôi khi ngoắt ngoéo, khiến ngời đọc dù kiên nhẫn đến mấy cũng phải mệt mỏi Chính vì vậy một yêu cầu bức xúc "nâng cao thơ" đang đợc đặt ra, và các nhà thơ "trẻ" cũng đang không ngừng tu dỡng, tự điều chỉnh, để có những bài thơ thực sự có gía trị.
Xuân Quỳnh, một cô gái mồ côi nghèo khổ lớn lên giữa một thời kỳ đất nớc phải đơng đầu với vô vàn khó khăn về kinh tế, về chiến tranh nhng Xuân Quỳnh, khác nào một cây xơng rồng kiên cờng và kì diệu trên sa mạc, đã vắt kiệt mình để nở những bông hoa tuyệt quí cho cuộc đời.
Cũng giống nh hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phơng diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một ngời phụ nữ Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ chữ tình Đất nớc, thiên nhiên, thời đại đều đợc phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính chữ tình đó Thơ Xuân Quỳnh khác nào một cuốn nhật ký bỏ ngỏ và ai ngờ, chính vì vậy mà thơ chị đợc đông
đảo quần chúng - nam, phụ, lão, ấu và cả lính nữa -ân uvà nồng nhiệt đón nhận Họ bị thu hút bởi những gì rất "Hồ Xuân Hơng" nơi chị: Một ngời phụ nữ xinh đẹp, chân thật, đôn hậu, rất mực yêu đời và vui tính nhng cũng rất mực sắc sảo và "đáo để", còn thơ thì thật là "cực kì"!
Léc môntốp, văn hào Nga thế kỉ XIX, đã hóm hỉnh chia đàn bà ra làm hai hạng Thứ nhất là hạng đàn bà "man rợ", tức là những đàn bà "hồn nhiên, chỉ có tình cảm mà thiếu hụt về trí tuệ Thứ hai là hạng đàn bà "trí tuệ", tức là những đan
Trang 3bà khôn ngoan, trí xảo, nhng lại thiếu hụt về tình cảm Nhà văn hào Nga đã vô cùng thất vọng vì không kiếm đâu ra một ngời đàn bà nào có đủ cả hai phẩm chất tình cảm và trí tuệ.
Xuân Quỳnh của chúng ta, đáng quí thay, là mẫu phụ nữ viên mãn cả về tình cảm lẫn trí tuệ Và không chỉ thế, chị còn là mẫu mực của ngời phụ nữ đức hạnh, điều mà văn hào Lécmôntốp hình nh "không dám" đòi hỏi ở phụ nữ quí tộc Nga thời đại ông.
Với bản chất thông minh, với trí tuệ phát triển cap, Xuân Quỳnh đã ứng xử và giải quyết, Xuân Quỳnh đã ứng xử và giải quyết mọi vấn đề phức tạp mà cuộc sống đặt ra Chị đã định hớng dứt khoát cho con đờng sự nghiệp của mình: đó
là nghiệp thơ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết là mình
đã lạ lẫm Chị quyết định xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lu Quang Vũ mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnh phúc đích thực.
Chúng ta hãy xem chất "trí tuệ" của Xuân Quỳnh thể hiện qua thơ nh thế nào:
Chẳng dại gì em ớc nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là ngời coi thờng của cải
Nên nếu cần, anh bán nó đi ngay .
(Tự hát).
Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm t nhng chính là để tự khẳng định mình trớc một ngời chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là hạng "gà mờ"
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ớc.
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết đợc anh yêu.
Cổ nhân nói "nhất cố khuynh nhân thành, tái cổ khuynh nhân quốc" (ngó một lần nghiêng thành ngời, ngó lần nữa đổ nớc ngời), để khẳng định cái mãnh lực bất khả kháng của sắc đẹp Riêng Xuân Quỳnh thể hiện cái mãnh lực của những lời nói sâu sắc Những lời nói nh của Xuân Quỳnh, theo cách ví von của Vônte, có thể làm cho những trái tim bằng đồng cũng phải mềm nhũn ra!
Giàu trí tuệ, nên cũng nh Hồ Xuân Hơng xa kia, Xuân Quỳnh đã đóng vai trò tham mu đắc lực, đã san sẻ "cái khôn" cho chị em cùng giới, để đối đáp và xử sự với phái mày râu:
Những cái chính chúng ta thờng chả nói
Mà bọn con gái mình hay nói xấu nhau
Bọn con trai nghe lỏm đôi câu
Họ khinh chúng ta và lời cửa miệng:
"Chuyện đàn bà"
Trang 4Ta yêu ngời con trai không phải vì mình
Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ
Đợc yêu hai lần, họ cao lên một bậc
Ta không đợc yêu cảm thấy thấp dần đi
Vì chính ra cũng chẳng yêu ta
(Thơ viết cho mình và những ngời con gái khác)
Xuân Quỳnh nhận thức đợc tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn ngủi của đời ngời Hình nh chị còn tiên lợng đợc số phận của mình: Rất có thể Xuân Quỳnh - đoá hoa quỳnh mùa xuân - sẽ chỉ nở và toả hơng đợc vài giờ trong đêm tối rồi tàn lụi Bởi thế, chị đã sống hối hả, nồng cháy, sống hết mình với cuộc đời, với thơ và tình yêu, với hạnh phúc và gia đình, nh sợ tất cả những
điều quá tốt đẹp ấy sẽ vụt qua nh ánh chớp.
Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Nh kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già
(Có một thời nh thế)
Ngoài đạo đức cao quí và tình cảm sâu sắc, chính trí tuệ sáng suốt, lành mạnh,
là ức mạnh thần kỳ đã nâng đỡ Xuân Quỳnh trong những bớc khó khăn, giúp chị tồn tại, chịu đựng đợc những chà xát của cuộc sống trần gian, làm cho tài năng của chị thăng hoa Xuân Quỳnh là ngời đã chiến thắng tất cả, vợt qua tất cả để hớng về phía hạnh phúc chói lọi và tuyệt vời của tình yêu và sự nghiệp Chị cũng là ngời biết giữ gìn và biết tận hởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa
có thể đợc hởng Xuân Quỳnh chính là đỉnh cao của những con ngời "nhân bản chủ nghĩa" thời hiện đại.
Thơ tình tôi viết cho tôi
Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều
Vẫn còn nguyên vẹn niềm yêu
Nh cây tứ quí đất nghèo nở hoa.
đợc nh thi hào Nguyễn Du mô tả:
Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình
Kh kh mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
Trang 5ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma dẫn lối, quỉ đa đờng
Lại tìm những chốn đoạn trờng mà đi
Xuân Quỳnh không giấu giếm bản chất ấy của mình:
Nếu tôi yêu đợc một ngời
Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng
Xuân Quỳnh là ngời hành động nên chị nhất định không chấp nhận kiểu sống
"đói lòng ngồi gốc cây sung" Trái lại chị đã "đi khắp chốn tìm ngời tôi yêu",
đồng thời gạt bỏ những gì chỉ là "mạo danh tình yêu" Và khi đã đạt đợc tình yêu rồi thị chị sống với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ đợc
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
(Sóng)
Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh qúa.
Mạnh đến nỗi em tởng là nghe rõ
Tiếng tim anh đang đập vì em.
Em yêu anh, yêu anh nh điên
Khác hẳn những ngời đàn bà "sống trong vơng quốc của tình yêu mà không biết đợc biên giới của vơng quốc ấy" Xuân Quỳnh là một phụ nữ không những
có khát vọng mà còn có đủ khả năng đi đến tận cùng biên giới và tận cùng đáy sâu của vơng quốc tình yêu Phải chăng ở những điểm tận cùng đó mà những câu thơ tuyệt tác đã ra đời:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhờng nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu.
Ngày nào không gặp nhau
Biển bạc đầu thơng nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
(Thuyền và biển).
Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn
đặt tình yêu ấy lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đối Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời này Tình yêu chẳng phải là điều thực sự đáng tôn thờ hay sao? Vả chăng Xuân quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con ngời mình, chị đã đạt đợc một tình yêu đáng tôn thờ Ngời chồng, trong mắt Xuân Quỳnh,
Trang 6lúc nào cũng nh một ngời tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy nh "chàng"
có thể vuột khỏi tay:
Tới thăm anh rồi em lại ra đi
Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia
Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ
Anh thuộc về những ngời ngoài cánh cửa
(Thời gian trắng)
Anh, con đờng xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió
Mà em ngời đời thờng
Biết là anh có ở!
(Anh)
Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình Thơ tình của chị đã đã đẩy tình yêu lên tầm bi kịch: Tình yêu tuyệt đích có thể sẽ kết thúc cách nào đó thật bất ngờ, trớc khi tuổi già sộc đến:
Đọc bài thơ yêu em thấy sự chia xa.
Em trở về đúng nghĩa
Là máu thịt, đời thờng ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
Và rồi cái điều bất ngờ nhất đã xảy ra với Xuân Quỳnh Chị đã đột ngột từ giã chúng ta ra đi vĩnh viễn cùng với chồng và con qua một tai nạn thảm thơng, để lại biết bao thơng tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lu Quang Vũ.
Trang 7Thế nhng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã làm Xuân Quỳnh và Thơ Xuân Quỳnh dờng nh càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoại.
Thôi đừng buồn nữa anh
Tấm rèm cửa màu xanh
Trang thơ còn viết dở
Tách nớc nóng trên bàn
Và lòng em thơng nhớ
ở ngoài kia trời gió
ở ngoài kia trời ma
Cây bàng đêm ngẩn ngơ
Nớc qua đờng chảy xiết
Tóc anh thì ớt đẫm
Lòng anh thì cô đơn
Anh cần chi nơi em
Sao mà anh chẳng nói
Anh, con đờng xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, nghìn nỗi lo âu
Anh, dòng thơ nổi gió
Mà em ngời đời thờng
Biết là anh có ở !
19-7-1973.
Trang 8Bàn tay em
Gia tài em chỉ có bàn tay
Em trao tặng cho anh từ ngày ấy
Những năm tháng cùng nhau em chỉ thấy Quá khứ dài là mái tóc em đen
Vui, buồn trong tiếng nói, nụ cời em Qua gơng mặt anh hiểu điều lo lắng
Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng Anh nghĩ gì khi nhìn xuống bàn tay ? Bàn tay em ngón chẳng thon dài
Vết chai cũ, đờng gân xanh vất vả
Em đánh chắt chơi chuyền thuở nhỏ Hái rau rền rau rệu nấu canh
Tập vá may, tết tóc một mình
Rồi úp mặt lên bàn tay khóc mẹ.
Đờng tít tắp không gian nh bể
Anh chờ em cho em vịn bàn tay
Trong tay anh, tay của em đây
Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ
Trời ma lạnh tay em khép cửa
Em phơi mền vá áo cho anh
Tay cắm hoa, tay để treo tranh
Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc Năm tháng qua đi mái đầu cực nhọc Tay em dừng trên vầng trán lo âu.
Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau
Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả
Khi anh vắng bàn tay anh biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy đợc chúng mình không chắc trở Bàn tay em, gia tài bé nhỏ
Em trao anh cùng với cuộc đời
Bao giờ ngâu nở hoa
Nắp đàn khoá sợi dây vẫn hát
Bao giờ ngâu nở hoa
Trang 9Tình yêu đến bất ngờ
Em đâu biết bao giờ
Mùa hoa ngâu ấy nở
Anh nh cây đèn khoá
Sợi dây còn âm vang
Đi qua đờng là phải trông xe
Chị biết Quỳnh rất hay vô ý
Bao giờ chị cũng dặn em thế
Chăm cho em từng việc hàng ngày
Chị trách em - khi nắm cổ tay:
- Quỳnh gầy thế chẳng chịu ăn gì cả!
Thấy em buồn chị buồn hơn nỗi buồn của chị Thấy em vui chị vui hơn nỗi vui của em
Lớn rồi mà chị chẳng tin
Chị vẫn coi em nh ngày còn bé
Em đã lớn vợt xa điều chị nghĩ
Khổ hơn nhiều cái khổ chị lo
Trang 10Vui hơn nhiều cái vui chị cho
Trên đờng đi bớc thành bớc bại
Nhng mỗi bận em buồn, chị hỏi
Em bảo rằng: "em mệt chút thôi".
Khi đi xa giữa bom đạn tơi bời
Th em viết: "nơi này yên tĩnh quá".
Em thơng chị bao lâu rồi vất vả
Đêm soạn bài, ngôi trờng gió hoang sơ Giữa tiếng bom thù và dới những báo ma Cơn sốt cháu võ vàng đôi mắt chị
Đêm tháng năm hoa phợng nở bên hè Trang giấy trắng bộn bè bao ký ức
Ngọn đèn khuya một mình anh thức Nghe tin đài báo nóng, lại thơng con Anh yêu ơi, hãy tha lỗi cho em
Nếu đôi lúc giận hờn ânh vô cớ
Những bực dọc trong ngày vất vả
Làm anh buòn mà em có vui đâu
Chỉ riêng điều đợc sống cùng nhau
Niềm sung sớng với em là lớn nhất
Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực
Giấy phút nào tim đập chẳng vì anh Một trời xanh, một biển tận cùng xanh
Và gió thổi và mây bay về núi
Trang 11Lời thơng nhớ ngàn lần em muốn nói Nhng bây giờ chỉ có sóng và em
Quảnh Ninh 5-1983
Chồi biếc
Dới hai hàng cây
Tay ấm trong tay
Cho đất thêm màu
Có mất đi đâu
Nhựa lên chồi biếc)
Này anh, em biết
Cho chồi thêm xanh
Và đời mai sau
Chuồn chuồn báo bão
Lại gặp lại cánh chuồn ngày thơ bé
Bay đan nhau dệt mảnh nắng cuối cùng Con chuồn ngô hay làm dáng
Chao mình soi mặt ao trong
Trang 12Đốt cháy lòng một nét chờ mong
Con chuồn đỏ thân ngời nh ngọn lửa
Con chuồn vằn mang những điều kì lạ Với đứa trẻ nào cha biết bơi
ơi cánh chuồn gợi những buồn vui
Cánh chuồn nào bay vào những nỗi nhớ? Ngon sào tha cánh buồm ai ngái ngủ
Những cánh buồm mỏng mảnh nh tình yêu! Gió heo may hôm nay về chăng
Mà chuồn chuồn bay về dăng dăng
Báo cơn bão phơng nào thổi tới?
Đờng sẽ vắng nếu trời bão nổi
Cánh cửa nhà sập lại trớc khi ma
Con chim tìm tránh bão sẽ về xa
Con kiến nhỏ cũng ẩn mình trong tổ
Không còn trời xanh chỉ ma và gió
Những dòng sông không nhà cửa miên man
Và mây, mây khắp chốn lang thang
Chặn bốn phía những cỏ cây tội nghiệp Cho cơn lốc dữ tợn về bẻ nát
Trái đất này sẽ nhấn chìm trong ma
Không tìm đâu một chỗ nơng nhờ!
Mỏng manh thế chịu làm sao nổi
Chuồn chuồn ơi báo làm chi bão tới
Trời bão lên rồi mày ở đâu ?
Cố đô
Với vết chân của bầy dã thú
In trên nền gạch cũ trớc lăng vua
Với dòng sông nh không chảy bao giờ
Vẫn mờ ảo ngàn năm màu sơng khói
Tà áo trắng bay về đâu vời vợi
Con thuyền khuya trăng gọi phía nguồn xa Màu nắng in trong mắt tự ngàn xa
Căn nhà cũ, mảnh vờng hơng ngày cũ
Trang 13Dẫu hiện tại mà nh quá khứ
Là quê hơng dù không phải quê hơng Dờng nh đây, tôi có nỗi buồn
Có hạnh phúc, có một thời thơ bé
Có khát vọng những năm còn rất trẻ Tôi thuộc từ ngọn cỏ đến nhành cây Tôi thơng về vời vợi những trời mây Nhịp tim đập tiếng chuông ngày nắng xế.
Đờng xa ngái cho lòng da diết thế
Con nớc nào ra bể chiều nay
Đến nao lòng là giờ phút chia tay
Con sông cũ mảnh vờn xa ngày cũ
Nh vĩnh biệt tuổi thơ và quá khứ
Bạn bè ơi dẫu tôi sẽ quay về
Nhng chắc rằng tất cả chẳng nh xa
Tôi sẽ khác, cố đô rồi cũng khác.
Huế, 11-1984
Có một thời nh thế
Có một thời vừa mới bớc ra
Mùa xuân đã gọi mời trớc cửa
Chẳng ngoái lại vết chân trên cỏ
Vờn hoa nào cũng ở phía mình đi
Đờng chẳng xa, núi không mấy cách chia Trong đáy mắt trời xanh là vĩnh viễn Trang nhật kí xé trăm lần lại viết
Tình yêu nào cũng tha thiết nh nhau
Có một thời ngay cả nỗi đau
Cùng mạnh mẽ ồn ào không giấu nổi Mơ ớc viển vông, niềm vui thơ dại
Tuổi xuân mình tởng mãi vẫn tơi xanh
Và tình yêu không ai khác ngoài anh Ngời trai mới vài lần thoáng gặp
Luôn hi vọng để rồi luôn thất vọng
Tôi đã cời đã khóc những không đâu Một vầng trăng niên thiếu ở trên đầu Một vạt đất cỏ xanh rờn trớc mặt
Mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc
Nỗi vui buồn cũng khác những ngày xa
Trang 14Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Nh kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết Hôm nay non, mai cỏ sẽ già.
Tôi đã đi mấy chặng đờng xa
Vợt mấy núi mấy rừng qua mấy biển Niềm mơ ớc gửi vào trang viết
Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm t
Em yêu anh hơn cả thời xa
(Cái thời tởng chết vì tình ái)
Em chẳng chét vì anh, em chẳng đổi
Em cộng anh vào với cuộc đời em
Em biết quên những chuyện đáng quên
Em biết nhớ những điều em phải nhớ Hoa cúc tím trong bài hát cũ
Dẫu vẫn là cung bậc của ngày xa
Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ Nhng đâu phải là điều em luyến tiếc 11-1984.
Con chả biết đợc đâu (Thơ xuân cho con)
Tặng Quỳnh - Thơ
Mẹ đan tấm áo nhỏ
Bây giờ đang màu xuân
Mẹ thêu vào chiếc khăn
Cái áo và cái lá
Cỏ bờ đê rất lạ
Xanh nh là chiêm bao
Kìa bãi ngô, bãi dâu
Thoáng tiếng cời đâu đó.
Trang 15Từ hạt cây trong rừng
Từ cánh buồm trên biển
Thờng trong nhiều câu chuyện
Bố vẫn nhắc về con
Bố mới mua chiếc chăn
Dành riêng cho con đắp
áo con bố đã giặt
Thơ con bố viết rồi
Các anh con hỏi hoài:
- Bao giờ sinh em bé?
Cả nhà mong con thế
Con chả biết đợc đâu
Mẹ ghi lại để sau
Lớn lên rồi con đọc
1-1975
Con yêu mẹ
(Thơ xuân cho con)
- Con yêu mẹ bằng ông trời
Rộng lắm không bao giờ hết
- Thế thì làm sao con biết
Là trời ở những đâu đâu
Trời rất rộng lại rất cao
Mẹ mong bao giờ con tới!
- Con yêu mẹ bằng Hà Nội
- Con yêu mẹ bằng trờng học
Suốt ngày con ở đấy thôi
Lúc con học, lúc con chơi
Là con cũng đều có mẹ
- Nhng tối con về nhà ngủ
Thế là con lại xa trờng
Trang 16Luôn trong bao diêm con đây
Mở ra là con thấy ngay
Con yêu mẹ bằng con dế.
Dẫu em biết chắc rằng anh trở lại
Thị trấn nào anh đấn chiều nay
Mảnh tờng vắng, mùa đông giá rét
Dẫu em biết không phải là vĩnh biệt
Vẫn thấy lòng da diết lúc chia xa
Xóm nào anh sẽ đi qua
Những đồng lúa, vờn cây, bờ bãi
Dẫu em biết rằng anh trở lại
Ngọn gió buồn vẫn thổi phía không anh.
Thời gian trôi theo cánh cửa một mình
Hạt ma bụi rơi thầm trên mái ngói
Tờ lịch mỏng bay theo lòng ngóng đợi
Một con đờng vời vợi núi cùng sông
Gọi ngàn lần tên anh vẫn là không
Chỉ lá rụng dạt dào lối phố
Dẫu em biết rằng anh, anh cũng nhớ.
Nhng lòng em nào có lúc nguôi quên.
6-3-1985
Đêm cuối năm
Đã mùa hoa cúc vàng
Lại một năm sắp hết
Thời gian sao trôi nhanh
Ngổn ngang nhiều công việc
Thế là ba cái tết
Hai chúng mình có nhau
Trang 17Dù cha phải là lâu
Nhng cũng không ngắn ngủi
Hạnh phúc tính bằng năm
Cây tính bằng mùa trái
Dẫu lòng em không quên
Con đờng ga cát bụi
Bóng anh đi lầm lụi
Sông đôi bờ cách xa
Dẫu lòng em cha qua
Những hồi còi báo động
Qua bao ngày lửa đạn
Đất về với mùa xuân
Nh em về với anh
Qua những ngày sóng gió
ở ngoài kia đờng phố
Màu áo chen màu hoa
Anh có nghe: ngoài ga
Tiếng con tàu đang gọi
Đêm đầu tiên tôi trở về quê cũ
Cha thấy mặt ngời thân, cha gặp đợc xóm làng Chỉ ánh sao, mùi cỏ cháy hun thuyền
Một nhành cây đập khẽ vào cửa sổ
Có thể là ngọn gió
Lá rào rào nớc rơi
Hay một cánh chim bay
Thuỷ triều lớn đang ngập tràn khắp bãi
Trang 18Những tảng đá vôi trắng tinh nh muối
Những tảng đá xanh lấp lánh rong mềm
Tôi mở cửa ra vờn
Bốn bề xào xạc
Từ cành thấp lên cành cao
Từ cây này sang cây khác
Tiếng thì thầm lan mãi đến xa xôi
Có lẽ nào cây đã nhận ra tôi?
Chân tôi bớc trên đất và trên cỏ
Tôi nghe tiếng chim đêm, tôi chạm vào tảng đá Lòng bỗng xạc xào run rẩy nh cây
Trời sáng mau đi cho tôi gặp mặt ngời
Hai mơi năm hai mơi năm mong nhớ
Hai mơi năm tôi mới có một khung cửa sổ
Để mở ra là gặp quê nhà.
Ôi mùi thơm của những bông hoa
Những nhành cây nh bàn tay trìu mến
Của quê nhà đang ngả xuống vai tôi
Nớc mắt hoà với giọt ma vui
Gà gáy sáng, vòm xan nắng dậy!
Đà Nẵng, 1975
Chồi biếc
Dới hai hàng cây
Tay ấm trong tay
Trang 19Cho đất thêm màu
Có mất đi đâu
Nhựa lên chồi biếc)
Này anh, em biết
Cho chồi thêm xanh
Và đời mai sau
Ngày mai tôi xa rồi
Biết bao giờ trở lại
Ôi thành phố tôi yêu
Dới một trời nắng dãi
Nắng nh màu lửa cháy
Sém lòng một vết thơng
Mai dù đi tới đâu
Vẫn mang màu nắng ấy.
Ngày mai tôi xa rồi
Lòng tôi còn ở lại
Một chút tình yêu tôi
Nh vệt đèn le lói
Lẫn trong triệu ánh đèn
Trang 20Lẫn trong màu áo mới
Lẫn trong những ngã t
Tiếng còi xe giục gọi
Tình yêu nh hạt bụi
Vớng lối chân ngời qua
Tình tôi nh màu hoa
Trong mảnh vờn đã tối
Nh tiếng vang hòn sỏi
Giữa biển đời mênh mông
Dẫu có cũng bằng không
Chỉ riêng mình tôi biết
Bạn bè đâu vắng hết
Cửa khoá đờng phố đông
Những chiếc cầu qua sông
Xa lộ dài tít tắp
Ôi cái thành phố nắng
Tình yêu tôi nhỏ nhoi
ở đấy chỉ cha tôi
Cuối đờng ra tới chợ
Tiếng gậy ngời âm vang
Giữa nhịp sống đua chen
Tôi vẫn còn nghe rõ:
Trang 21Trời đêm nghiêng xuống mái nhà
Biển xanh kia cũng đã mơ đất liền.
Anh mơ anh có thấy em
Thấy bông cúc nhỏ nơi triền đất quê
Chiếc mo rơi ở bờ tre
Thời gian nh gió thoảng qua
Tình yêu là cánh đồng hoa giữa trời
Tay ta nắm lấy tay ngời
Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua
Hát ru chồng những đêm khó ngủ
Anh không ngủ đợc anh?
Để em mở quạt quấn mành lên cho
Lặng sao cái gió mặt hồ
Ghét sao cái nóng đầu mùa đã ghê!
Đoàn thơng binh mới trở về
Đánh nhau trớc cửa hàng bia lúc chiều
Anh không ngủ đợc anh yêu?
Nghe chi con lũ đang chiều nớc dâng
Ngày mai cây lúa lên đòng
Lại xanh nh đã từng không mất mùa
Con sông bạn với con đò
Con ngời bạn với câu hò trên sông.
Gió không thổi nữa anh ơi yên lòng
Thơng gì ngời đói lang thang
Xin ăn trên khắp phố phờng ngoài kia
Ngủ đi anh hãy ngủ yên
Trang 22Rồi mai họ sẽ trở về quê thôi
Lòng thơng chỉ nói bằng lời
Lấy đâu ra gạo cho ngời đợc no
Khuya rồi anh hãy ngủ đi
Để em trở dậy em che bớt đèn
Đứa nào nó nói cùng anh
Cái tin chết của bạn mình vừa xong
Chắc là đờng đất khó khăn
Nên th từ chẳng thể năng gửi về
Anh ơi anh hãy ngủ đi
Thằng con ta nó nằm mê đó mà
Ngày chơi súng giả ba lô
Làm anh giải phóng hét hò suốt thôi
Mời năm sau lớn lên rồi
Sẽ quên đi những trò chơi bây giờ
Ngủ đi anh, hãy ngủ đi
1974
Hát với con tàu
Mùa xuân đất nớc mênh mông
Con tàu đi giữa muôn lòng thơng yêu
Tàu qua những sớm những chiều
Những sông, những núi, những đèo tàu qua Nơi nào cũng muốn là ga
Một bàn tay vẫy tha thiết con tàu
Một lời hát gửi theo sau
Một bình minh ở trên đầu cùng đi
Biển xanh là nỗi nhớ quê
Trời xanh nh những cách chia đã lìa
Phố xanh trong những ánh đèn
Làng xanh đang xoá những miền thép gai
Em không nói đợc nên lời
Giấu trong đáy mắt tiếng cời của em
Những rừng những núi cha quen
Những làng những phố biết em lần đầu
Mà em đã nhớ từ lâu
Mà em vẫn ớc cùng nhau trở về
Con tàu nối lại trăm quê
Những tên xa vợi nay nghe hoá gần
Trang 23"Đờng vô xứ Huế quanh quanh"
Mà sông Hơng với Ngự Bình là đây
Con tàuđi giữa biển mây
Hải Vân ta biết có ngày ta qua
Con tàu nh cũng nói lời thiết tha
Qua rồi bao nỗi cách xa
Quê anh giờ cũng đã là quê em
Cỏ cây, ngọn gió cũng quen
Vừa nghe tiếng nói đã nên mặn mà
Thơ em đã có bóng dừa
Có dòng kênh với con đò quê anh
Có bao trai gái đất mình
Ra đi, giờ cũng nh anh trở về
Này anh, em hát anh nghe
Dẫu không hay cũng đừng chê đừng cời Mùa xuân tôi hát với ngời
Với con tàu - hát những lời thơng yêu Mùa xuân 1976
Hoa cỏ may
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu
Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng nh trời biếc lúc nguyên sơ
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
áo em sơ ý cỏ găm dầy
Lời yêu mỏng mảnh nh màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
Trang 24Hoa cúc
Có thay đổi gì không cái màu hoa ấy Mùa hạ qua rồi lại đến mùa thu
Thời gian đi màu hoa cũ về đâu
Nay trở lại vẫn còn nh mới mẻ
Bao mùa thu hoa vẫn vàng nh thế Chỉ em là đã khác với em xa
Nắng nhạt vàng, ngày đã quá tra
Nào đâu những biển chờ nơi cuối đất Bao ngày tháng đi về trên mái tóc Chỉ em là đã khác với em thôi
Nhng màu hoa đâu dễ quên nguôi Thành phố ngợp ngày nao chiều gió dậy Gơng mặt ấy lời yêu thuở ấy
Màu hoa vàng vẫn cháy ở trong em 1980
Hoa cúc xanh
Hoa cúc xanh có hay là không có
Trong lầm lầy tuổi nhỏ của anh xa Một dòng sông lặng chảy từ xa
Thung lũng vắng sơng bay đầy cửa sổ Hoa cúc xanh có hay là không có
Một ngôi trờng bé nhỏ cuối ngàn xa Mơ ớc của ngời hay mơ ớc của hoa
Mà tơi mát mà dịu dàng đến thế
Cỏ mới mọc con chim rừng thơ bé
Nớc trong ngần thầm thì với ngàn lau Trái tim ta nh nắng thuở ban đầu
Cha chút gợn một lần cay đắng
Trên thềm cũ mùa thu vàng gió nắng
Đời yên bình cha có những chia xa Khắp mặt đầm xanh biếc một màu hoa Hơng thơm ngát cả một vùng xứ sở Những cô gái da mịn màng nh lụa
Những chàng trai đang đọ tuổi hai mơi Ngời yêu ngời, yêu hoa cỏ đất đai
Trang 25Những câu chuyện xoay quanh mùa hái quả Hoa cúc xanh có hay là không có
Tháng năm nào ấp ủ thuở ngây thơ
Có hay không thung lũng của ngày xa
Anh đã ở và em thờng tới đó
Châu chấu xanh, chuồn chuồn kim thắm đỏ Những ngả đờng phơ phất gió heo may
Cả một vùng vơng quốc tuổi thơ ngây
Bao mơ ớc mợt mà nh lá cỏ
Anh đã nghĩ chắc là hoa đã có
Mọc xanh đầy thung lũng của ta xa.
1964 - 1987
Hoa dại núi Hoàng Liên
Một ngày đờng từ miền đất trung du
Tôi chỉ gặp bụi bay và nắng gắt
Sang thu rồi gió vẫn nồng da mặt
Tiếng ve nào còn sót trong lùm cây
Nghe nhói lòng nỗi nhớ cuối tình yêu
Chợt thấy lạc giữa bốn bề vắng ngắt
Lên cao lên cao nắng nh dần nhạt
Bỗng vui mừng bắt gặp một nhành hoa
Khắp Hoàng Liên trên một ngàn thớc nuí
Hoa nép mong manh trớc tầm gió thổi
Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và bên đờng hoa nghệ dại ngẩn ngơ
Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã
Hoa lay ơn góc vờn xa còn nhớ
Mà thấy ngời cành lá khẽ lung lay
Hoa mọc dới chân ngời, hoa mọc đến chân mây (Có nhiều thứ hoa còn cha biết rõ )
Anh đừng hỏi tên hoa làm chi nữa
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi!
Không phải hoa đợc ở cùng ngời
Đợc chăm sóc những mảnh vờn sạch cỏ
Đợc khoe đến muôn màu sắc lạ
Và đợc đời chiêm ngỡng mùi hơng
Không phải hoa đợc cắm trên bàn
Trong ngày hội của những niềm vui mới
Trang 26Những hoa này lại nở cho triền núi
Lại nở cho vẻ đẹp của rừng chung
Nên ít ai để ý sắc từng bông
Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ
Đôi khi giẫm lên hoa mà chẳng nhớ
Những hoa này chỉ hoa dại mà thôi.
Hoa tờng vi
Trắng với hồng và tim tím nhạt
Tựa màu mây phiêu lãng cuối trời xa
Hoa tờng vi nh thực lại nh mơ
Cùng tôi sống suốt một thời trẻ dại
Vóc nhỏ nhắn trớc tấm gió thổi
Tôi hiểu điều trong lá nói lao xao
ở nơi nào hỡi điệu ca dao
Từng ca ngợi một loài hoa cha có
Hoa phảng phất mối tình trong chuyện cổ
Mang lỡ lầm oan ức đã xa xôi.
Hoa tòng vi thời trẻ dại của tôi
Bên mái rạ một mảnh vờn hẻo lánh
Ngày ma bụi khắp nẻo đờng vừa tạnh
Những cụm hồng, cụm tím lẫn màu xanh
Tôi có hoa bè bạn bên mình
Hoa hiểu cả những điều tôi chẳng nói.
Tôi đã qua bao thác ghềnh đá núi
Qua thời gian - tóc thoáng sợi màu ma
Hoa tờng vi của những ngày xa
Tôi vẫn nhớ một màu mây phiêu lãng
Trang 27Đối với họ, các thi nhân thời tiền chiến và thời kỳ khánh chiến chống Pháp là những bậc thầy, những ngời anh, ngời chị Nhng có lẽ không một ai trong số họ
có ý tởng "giẫm vào vết chân" của các bậc tiền bối đáng kính ấy Mặt khác, do
đầu óc họ còn quá trong trẻo, trí tuệ của họ lại đợc mở mang tơng đối toàn diện,
họ không trở thành những nhà thơ "minh hoạ" Trái lại, một số lớn thơ của họ viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, ra đời trong cảnh đạn bom khốc liệt, lại đầy ắp rung cảm chân thực, đầy ắp tính nhân bản mà rất ít tính chấtt giáo điều.
Tựa nh "những mạch nớc ngầm sục sôi", họ thầm lặng dồn sức lực cho một cuộc cách tân thơ trong giai đoạn mới Trên thực tế, những sáng tạo và cống hiến của các nhà thơ thuộc thế hệ những năm 60 này là không thể phủ nhận Đã xuất hiện những tài năng thơ thực thụ mà Xuân Quỳnh không phải là gơng mặt duy nhất Đã có những dịch giả thơ cự phách Đã có những tác phẩm thơ u tú
Có thể nói thế hệ các nhà thơ nhà văn trẻ này là lực lợng sáng tác quan trọng của văn học Việt Nam suốt bốn thập kỉ qua.
Một vài ngời trong số họ đã là nguyên nhân gây nên "những cơn sóng gió" trên diễn đàn văn học, làm tốn khá nhiều giâý mực và hơi sức của các nhà phê bình văn học Chúng ta tin rằng tất cả những điều đó sẽ đợc lịch sử văn học tổng kết
đánh giá một cách thoả đáng trong một tơng lai không xa.
Tuy nhiên thế hệ các nhà thơ này cũng đã phải trải qua những bớc đi dò dẫm, cũng mang trong mình không ít nhợc điểm, cũng đã từng nếm mùi thất bại Một số ngời, trên thực tế chỉ đợc vài ba bớc đầu tiên rồi chững lại, hụt hững và mất hớng.
Tại sao vậy? Bởi vì họ cha biết khơi "một dòng thông" giữa "ào chuôm thơ" của họ với bể nguồn vô tận của thi ca: đó là số phận hàm chứa cái đẹp của con ngời thời đại, của dân tộc và nhân loại.
Một số nhà thơ "nhiếp ảnh" thờng chỉ phù du trên bề mặt của một cuộc sống nhỏ hẹp, đến lúc nào đó bỗng cảm thấy bị cạn kiệt cả về đề tài và lẫn "hồn thơ" Một số khá đông khác không hiểu thấu rằng một bài thơ hay đợc quyết định bởi cái "linh hồn chất đọng" trong đó Thiếu hụt cả ý lẫn tình, họ sa vào bệnh hình thức chủ nghĩa, thích "gây cảm giác lạ" bằng cách dùng nhiều câu chữ kì cục Một số ngời bất cập với sự sáng tạo, quay về mô phỏng thơ xa, nhiều nhất là mô phỏng thơ Nguyễn Bính Thơ lục bát nở rộ ở giai đoạn mới, tuy nhiên nội dung cha đợc phong phú Những bài thơ lục bát diễn tả "những nỗi buồn chán" và nỗi "thất tình" chiếm tỷ lệ hơi nhiều.
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy một "căn bệnh nặng" của thơ giai đoạn này là: rất nhiều bài thơ không hề đợc xây dựng trên một hình tợng văn học mang chất thơ, một dòng ý tởng đậm đặc hoặc một luồng cảm xúc tập trung
Trang 28nào Trái lại cả bài thơ chỉ là một cuộc kể lể dài dòng những suy nghĩ tản mạn,
đôi khi ngoắt ngoéo, khiến ngời đọc dù kiên nhẫn đến mấy cũng phải mệt mỏi Chính vì vậy một yêu cầu bức xúc "nâng cao thơ" đang đợc đặt ra, và các nhà thơ "trẻ" cũng đang không ngừng tu dỡng, tự điều chỉnh, để có những bài thơ thực sự có gía trị.
Xuân Quỳnh, một cô gái mồ côi nghèo khổ lớn lên giữa một thời kỳ đất nớc phải đơng đầu với vô vàn khó khăn về kinh tế, về chiến tranh nhng Xuân Quỳnh, khác nào một cây xơng rồng kiên cờng và kì diệu trên sa mạc, đã vắt kiệt mình để nở những bông hoa tuyệt quí cho cuộc đời.
Cũng giống nh hầu hết các nữ sĩ Đông Tây Kim Cổ, Xuân Quỳnh làm thơ cốt để diễn tả cuộc sống của chính mình về tất cả mọi phơng diện: những khát khao, những tình cảm, những suy nghĩ, và "sự sống" của một ngời phụ nữ Vì lẽ đó hầu hết thơ của chị đều là thơ chữ tình Đất nớc, thiên nhiên, thời đại đều đợc phản ánh vào thơ chị thông qua cái lăng kính chữ tình đó Thơ Xuân Quỳnh khác nào một cuốn nhật ký bỏ ngỏ và ai ngờ, chính vì vậy mà thơ chị đợc đông
đảo quần chúng - nam, phụ, lão, ấu và cả lính nữa -ân uvà nồng nhiệt đón nhận Họ bị thu hút bởi những gì rất "Hồ Xuân Hơng" nơi chị: Một ngời phụ nữ xinh đẹp, chân thật, đôn hậu, rất mực yêu đời và vui tính nhng cũng rất mực sắc sảo và "đáo để", còn thơ thì thật là "cực kì"!
Léc môntốp, văn hào Nga thế kỉ XIX, đã hóm hỉnh chia đàn bà ra làm hai hạng Thứ nhất là hạng đàn bà "man rợ", tức là những đàn bà "hồn nhiên, chỉ có tình cảm mà thiếu hụt về trí tuệ Thứ hai là hạng đàn bà "trí tuệ", tức là những đan
bà khôn ngoan, trí xảo, nhng lại thiếu hụt về tình cảm Nhà văn hào Nga đã vô cùng thất vọng vì không kiếm đâu ra một ngời đàn bà nào có đủ cả hai phẩm chất tình cảm và trí tuệ.
Xuân Quỳnh của chúng ta, đáng quí thay, là mẫu phụ nữ viên mãn cả về tình cảm lẫn trí tuệ Và không chỉ thế, chị còn là mẫu mực của ngời phụ nữ đức hạnh, điều mà văn hào Lécmôntốp hình nh "không dám" đòi hỏi ở phụ nữ quí tộc Nga thời đại ông.
Với bản chất thông minh, với trí tuệ phát triển cap, Xuân Quỳnh đã ứng xử và giải quyết, Xuân Quỳnh đã ứng xử và giải quyết mọi vấn đề phức tạp mà cuộc sống đặt ra Chị đã định hớng dứt khoát cho con đờng sự nghiệp của mình: đó
Trang 29là nghiệp thơ Chị quyết định chấm dứt một cuộc hôn nhân mà chị biết là mình
đã lạ lẫm Chị quyết định xây dựng tình yêu và hôn nhân với "chú đại bàng non trẻ" Lu Quang Vũ mà chị biết chắc trong đó có tình yêu và hạnh phúc đích thực.
Chúng ta hãy xem chất "trí tuệ" của Xuân Quỳnh thể hiện qua thơ nh thế nào:
Chẳng dại gì em ớc nó bằng vàng
Trái tim em, anh đã từng biết đấy
Anh là ngời coi thờng của cải
Nên nếu cần, anh bán nó đi ngay .
(Tự hát).
Với những dòng thơ sau đây, Xuân Quỳnh thổ lộ tâm t nhng chính là để tự khẳng định mình trớc một ngời chồng mà chị biết anh ta vốn không phải là hạng "gà mờ"
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Biết khao khát những điều anh mơ ớc.
Biết xúc động qua nhiều nhận thức
Biết yêu anh và biết đợc anh yêu.
Cổ nhân nói "nhất cố khuynh nhân thành, tái cổ khuynh nhân quốc" (ngó một lần nghiêng thành ngời, ngó lần nữa đổ nớc ngời), để khẳng định cái mãnh lực bất khả kháng của sắc đẹp Riêng Xuân Quỳnh thể hiện cái mãnh lực của
những lời nói sâu sắc Những lời nói nh của Xuân Quỳnh, theo cách ví von của Vônte, có thể làm cho những trái tim bằng đồng cũng phải mềm nhũn ra!
Giàu trí tuệ, nên cũng nh Hồ Xuân Hơng xa kia, Xuân Quỳnh đã đóng vai trò tham mu đắc lực, đã san sẻ "cái khôn" cho chị em cùng giới, để đối đáp và xử sự với phái mày râu:
Những cái chính chúng ta thờng chả nói
Mà bọn con gái mình hay nói xấu nhau
Bọn con trai nghe lỏm đôi câu
Họ khinh chúng ta và lời cửa miệng:
"Chuyện đàn bà"
Ta yêu ngời con trai không phải vì mình
Mà họ yêu ta vì họ yêu chính họ
Đợc yêu hai lần, họ cao lên một bậc
Ta không đợc yêu cảm thấy thấp dần đi
Vì chính ra cũng chẳng yêu ta
(Thơ viết cho mình và những ngời con gái khác)
Xuân Quỳnh nhận thức đợc tính bi kịch vĩnh cửu của cuộc sống: đó là sự ngắn ngủi của đời ngời Hình nh chị còn tiên lợng đợc số phận của mình: Rất có thể Xuân Quỳnh - đoá hoa quỳnh mùa xuân - sẽ chỉ nở và toả hơng đợc vài giờ trong đêm tối rồi tàn lụi Bởi thế, chị đã sống hối hả, nồng cháy, sống hết mình
Trang 30với cuộc đời, với thơ và tình yêu, với hạnh phúc và gia đình, nh sợ tất cả những
điều quá tốt đẹp ấy sẽ vụt qua nh ánh chớp.
Chi chút thời gian từng phút từng giờ
Nh kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già
(Có một thời nh thế)
Ngoài đạo đức cao quí và tình cảm sâu sắc, chính trí tuệ sáng suốt, lành mạnh,
là ức mạnh thần kỳ đã nâng đỡ Xuân Quỳnh trong những bớc khó khăn, giúp chị tồn tại, chịu đựng đợc những chà xát của cuộc sống trần gian, làm cho tài năng của chị thăng hoa Xuân Quỳnh là ngời đã chiến thắng tất cả, vợt qua tất cả để hớng về phía hạnh phúc chói lọi và tuyệt vời của tình yêu và sự nghiệp Chị cũng là ngời biết giữ gìn và biết tận hởng hạnh phúc cuộc sống ở mức tối đa
có thể đợc hởng Xuân Quỳnh chính là đỉnh cao của những con ngời "nhân bản chủ nghĩa" thời hiện đại.
Thơ tình tôi viết cho tôi
Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều
Vẫn còn nguyên vẹn niềm yêu
Nh cây tứ quí đất nghèo nở hoa.
đợc nh thi hào Nguyễn Du mô tả:
Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành,
Lại mang lấy một chữ tình
Kh kh mình buộc lấy mình vào trong.
Vậy nên những chốn thong dong,
ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma dẫn lối, quỉ đa đờng
Lại tìm những chốn đoạn trờng mà đi
Xuân Quỳnh không giấu giếm bản chất ấy của mình:
Nếu tôi yêu đợc một ngời
Tôi yêu anh ta hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu ngàn lần cay đắng
Xuân Quỳnh là ngời hành động nên chị nhất định không chấp nhận kiểu sống
"đói lòng ngồi gốc cây sung" Trái lại chị đã "đi khắp chốn tìm ngời tôi yêu",
Trang 31đồng thời gạt bỏ những gì chỉ là "mạo danh tình yêu" Và khi đã đạt đợc tình yêu rồi thị chị sống với tất cả chiều sâu thăm thẳm của trái tim:
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ đợc
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
(Sóng)
Khi anh nói yêu em, trái tim em đập chừng mạnh qúa.
Mạnh đến nỗi em tởng là nghe rõ
Tiếng tim anh đang đập vì em.
Em yêu anh, yêu anh nh điên
Khác hẳn những ngời đàn bà "sống trong vơng quốc của tình yêu mà không biết đợc biên giới của vơng quốc ấy" Xuân Quỳnh là một phụ nữ không những
có khát vọng mà còn có đủ khả năng đi đến tận cùng biên giới và tận cùng đáy sâu của vơng quốc tình yêu Phải chăng ở những điểm tận cùng đó mà những câu thơ tuyệt tác đã ra đời:
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhờng nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu.
Ngày nào không gặp nhau
Biển bạc đầu thơng nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
(Thuyền và biển).
Một điều nổi bật trong thơ Xuân Quỳnh là chị không chỉ yêu say đắm mà còn
đặt tình yêu ấy lên ngai vàng của sự tôn thờ tuyệt đối Xuân Quỳnh rất có lí: ở cõi đời này Tình yêu chẳng phải là điều thực sự đáng tôn thờ hay sao? Vả chăng Xuân quỳnh, bằng tất cả những phẩm chất hội tụ trong con ngời mình, chị đã đạt đợc một tình yêu đáng tôn thờ Ngời chồng, trong mắt Xuân Quỳnh, lúc nào cũng nh một ngời tình mà chị yêu đắm đuối, cũng cảm thấy nh "chàng"
có thể vuột khỏi tay:
Tới thăm anh rồi em lại ra đi
Đôi mắt lo âu, lời âu yếm xẻ chia
Lúc anh đến, anh đi thành quá khứ
Anh thuộc về những ngời ngoài cánh cửa
Trang 32Anh, dòng thơ nổi gió
Mà em ngời đời thờng
Biết là anh có ở!
(Anh)
Cũng vì tôn thờ tình yêu thái quá, có lúc Xuân Quỳnh đã có linh cảm chẳng lành về hạnh phúc của mình Thơ tình của chị đã đã đẩy tình yêu lên tầm bi kịch: Tình yêu tuyệt đích có thể sẽ kết thúc cách nào đó thật bất ngờ, trớc khi tuổi già sộc đến:
Đọc bài thơ yêu em thấy sự chia xa.
Em trở về đúng nghĩa
Là máu thịt, đời thờng ai chẳng có
Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
Và rồi cái điều bất ngờ nhất đã xảy ra với Xuân Quỳnh Chị đã đột ngột từ giã chúng ta ra đi vĩnh viễn cùng với chồng và con qua một tai nạn thảm thơng, để lại biết bao thơng tiếc cho tất cả những ai yêu thơ chị, yêu kịch Lu Quang Vũ Thế nhng chính sự kết thúc ấy đã khiến cho tình yêu mà chị tôn thờ trở thành bất tử, đã làm Xuân Quỳnh và Thơ Xuân Quỳnh dờng nh càng đẹp ngời thêm lên bởi một vừng sáng kì diệu của huyền thoại.
Trang 33trời vô cùng xán lạn của đất nớc đang bắt đầu bớc vào thời kì phục hng Họ là những "con ngời mới" của thời đại phục hng ấy.
Đối với họ, các thi nhân thời tiền chiến và thời kỳ khánh chiến chống Pháp là những bậc thầy, những ngời anh, ngời chị Nhng có lẽ không một ai trong số họ
có ý tởng "giẫm vào vết chân" của các bậc tiền bối đáng kính ấy Mặt khác, do
đầu óc họ còn quá trong trẻo, trí tuệ của họ lại đợc mở mang tơng đối toàn diện,
họ không trở thành những nhà thơ "minh hoạ" Trái lại, một số lớn thơ của họ viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, ra đời trong cảnh đạn bom khốc liệt, lại đầy ắp rung cảm chân thực, đầy ắp tính nhân bản mà rất ít tính chấtt giáo điều.
Tựa nh "những mạch nớc ngầm sục sôi", họ thầm lặng dồn sức lực cho một cuộc cách tân thơ trong giai đoạn mới Trên thực tế, những sáng tạo và cống hiến của các nhà thơ thuộc thế hệ những năm 60 này là không thể phủ nhận Đã xuất hiện những tài năng thơ thực thụ mà Xuân Quỳnh không phải là gơng mặt duy nhất Đã có những dịch giả thơ cự phách Đã có những tác phẩm thơ u tú
Có thể nói thế hệ các nhà thơ nhà văn trẻ này là lực lợng sáng tác quan trọng của văn học Việt Nam suốt bốn thập kỉ qua.
Một vài ngời trong số họ đã là nguyên nhân gây nên "những cơn sóng gió" trên diễn đàn văn học, làm tốn khá nhiều giâý mực và hơi sức của các nhà phê bình văn học Chúng ta tin rằng tất cả những điều đó sẽ đợc lịch sử văn học tổng kết
đánh giá một cách thoả đáng trong một tơng lai không xa.
Tuy nhiên thế hệ các nhà thơ này cũng đã phải trải qua những bớc đi dò dẫm, cũng mang trong mình không ít nhợc điểm, cũng đã từng nếm mùi thất bại Một số ngời, trên thực tế chỉ đợc vài ba bớc đầu tiên rồi chững lại, hụt hững và mất hớng.
Tại sao vậy? Bởi vì họ cha biết khơi "một dòng thông" giữa "ào chuôm thơ" của họ với bể nguồn vô tận của thi ca: đó là số phận hàm chứa cái đẹp của con ngời thời đại, của dân tộc và nhân loại.
Một số nhà thơ "nhiếp ảnh" thờng chỉ phù du trên bề mặt của một cuộc sống nhỏ hẹp, đến lúc nào đó bỗng cảm thấy bị cạn kiệt cả về đề tài và lẫn "hồn thơ" Một số khá đông khác không hiểu thấu rằng một bài thơ hay đợc quyết định bởi cái "linh hồn chất đọng" trong đó Thiếu hụt cả ý lẫn tình, họ sa vào bệnh hình thức chủ nghĩa, thích "gây cảm giác lạ" bằng cách dùng nhiều câu chữ kì cục Một số ngời bất cập với sự sáng tạo, quay về mô phỏng thơ xa, nhiều nhất là mô phỏng thơ Nguyễn Bính Thơ lục bát nở rộ ở giai đoạn mới, tuy nhiên nội dung cha đợc phong phú Những bài thơ lục bát diễn tả "những nỗi buồn chán" và nỗi "thất tình" chiếm tỷ lệ hơi nhiều.
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy một "căn bệnh nặng" của thơ giai đoạn này là: rất nhiều bài thơ không hề đợc xây dựng trên một hình tợng văn học