1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã long mỹ, tỉnh hậu giang

167 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 341,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Thị Tố Oanh, người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, động viên và chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn.Xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Phòng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

LƯƠNG THỊ HỒNG ĐÀO

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ

XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số:

8.14.01.14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHAN THỊ TỐ OANH

ĐỒNG THÁP – NĂM 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện từ

tháng 12 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019 Luận văn sử dụng những thông tin

từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đãđược phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn đúng quy định

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực nếu sai tôi hoàn chịutrách nhiệm

Tác giả luận văn

Lương Thị Hồng Đào

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Lãnh đạo TrườngĐại học Đồng Tháp, đặc biệt là Phòng Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiệnthuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ đáp ứngyêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ mới

Tôi xin được bày tỏ lời tri ân sâu sắc và xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Thị Tố Oanh, người đã luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, động viên và chia

sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện luận văn.Xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Long

Mỹ cùng toàn thể CBQL, quý thầy cô và các em học sinh của 7 trường Trunghọc cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi đểgiúp tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè và đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn

Tôi hy vọng luận văn này sẽ đóng góp tích cực vào việc quản lý hoạtđộng giáo dục giới tính ở các trường THCS thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.Mặc dù rất cố gắng, nhưng do thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không thểtránh khỏi thiếu sót Rất mong sự góp ý và giúp đỡ của Hội đồng Khoa học để

đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Đồng Tháp, ngày 29 tháng 9 năm 2019

Tác giả

Lương Thị Hồng Đào

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

3.1 Khách thể nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở. 3

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. 3

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

6.3 Phương pháp thống kê toán học 4

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của luận văn 4

8.1 Về mặt lý luận 4

8.2 Về mặt thực tiễn 5

9 Cấu trúc luận văn 5

Trang 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1.Những nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2.Những nghiên cứu ở trong nước 9

1.2 Các khái niệm cơ bản 14

1.3 Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 21

1.3.1 Một vài nét về đặc điểm tâm lý học sinh THCS 21

1.3.2 Mục tiêu, nội dung, nguyên tắc giáo dục giới tính cho học sinh THCS 21 1.3.3 Phương pháp và hình thức giáo dục giới tính cho học sinh THCS 23

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS 29

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS 37

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG 43

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục đào tạo trên địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang 43

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 48

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang 50

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ tỉnh Hậu Giang 59

2.4.1 Về công tác lập kế hoạch giáo dục giới tính 59

2.4.2 Về công tác tổ chức để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính 60

2.4.3 Về chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính 61

2.4.4 Về kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh 64

Tiểu kết chương 2 71

Trang 6

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI

TÍNH CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ

LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG 72

3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 72

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang 73

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên nhà trường về hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 73

3.2.2 Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục giới tính cho đội ngũ cán bộ, giáo viên 75

3.2.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên tích hợp nội dung giáo dục giới tính thông qua dạy học các môn học 77

3.2.4 Tăng cường chỉ đạo tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tích hợp nội dung giáo dục giới tính 87

3.2.5 Tổ chức tốt việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 91

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp đề xuất 96

3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104

1 Kết luận 104

2 Khuyến nghị 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 111

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

1 Bảng 2.1 Nhận thức về mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh 50các trường THCS thị xã Long Mỹ

2 Bảng 2.2 Nguyên tắc GDGT cho học sinh THCS thị xã Long Mỹ, P1tỉnh Hậu Giang

3 Bảng 2.3 Nội dung GDGT cho học sinh ở trường THCS thị xã 52Long Mỹ

4 Bảng 2.4 Nội dung GDGT được lồng ghép trong chương trình 53môn GDCD

5 Bảng 2.5 Nội dung GDGT được lồng ghép trong chương trình môn 54Sinh học ở các trường THCS thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

6 Bảng 2.6 Nội dung GDGT được lồng ghép thông qua hoạt động 55giáo dục ngoài giờ lên lớp

7 Bảng 2.7 Các hình thức giáo dục giới tính đã được triển khai ở 57trường THCS thị xã Long Mỹ

8 Bảng 2.8 Các phương pháp giáo dục giới tính ở các trường THCS 58thị xã Long Mỹ

9 Bảng 2.9 Công tác lập kế hoạch GDGT cho học sinh ở trường 59THCS thị xã Long Mỹ

10 Bảng 2.10 Tổ chức các nguồn lực để thực hiện kế hoạch hoạt 60động GDGT cho học sinh ở trường THCS thị xã Long Mỹ

11 Bảng 2.11 Chỉ đạo thực hiện hoạt động GDGT cho học sinh ở 61trường THCS thị xã Long Mỹ

Trang 9

13 Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động 66GDGT ở trường THCS thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

14 Bảng 2.14 Những tồn tại, khó khăn của trường THCS thị xã 67Long Mỹ

Bảng 3.1 Mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt động

GDGT cho học sinh THCS thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động

GDGT cho học sinh THCS thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Nguyên tắc GDGT cho học sinh THCS thị xã Long Mỹ

Biểu đồ 3.1 Mối tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi các

biện pháp quản lý hoạt động GDGT

99

100

51

102

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua công cuộc xây dựng đất nước cùng với nhiều chínhsách của Đảng và Nhà nước, sự hội nhập giao lưu kinh tế thế giới ngày càngsâu rộng đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội của đất nước nhằm xây dựng một xã hội có nền văn hóa đậm đàbản sắc dân tộc, khơi dậy và phát huy những tiềm năng của dân tộc Vì thế đờisống của nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần Tuynhiên xã hội phát triển cũng kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển,đặc biệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập Nền văn hóa tácđộng nhiều mặt đến sự phát triển của con người nói chung và học sinh nóiriêng Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đềđang được xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa phương Tây có ảnhhưởng tới học sinh THCS – Lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thể chấtcũng như giới tính Vì vậy vấn đề giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục giớitính cho học sinh đang được ngành giáo dục quan tâm

Nhằm tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong thờigian qua, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 28-6-2000 của Bộ Chínhtrị khoá VIII về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở cơ sở đối vớicông tác bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em Chỉ thị số Số 20-CT/TW, ngày 05tháng 11 năm 2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chămsóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới với nội dung: “Chăm sóc, giáodục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, góp phần quan trọngcho việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế…”

Xã hội ngày càng phát triển, học sinh được tiếp cận với các phương tiệnthông tin hiện đại Những thông tin, bài viết, bàn luận và phim ảnh đề cập

Trang 11

hoặc có liên quan đến các vấn đề giới tính có thể được tìm thấy một cách dễdàng tại các nhà sách, trên mạng internet hoặc chương trình truyền hình Thếnhưng công tác giáo dục giới tính lại còn khá mới mẻ, mặc dù đã được đưa vàomột số nội dung học tập ở từng cấp học, các trường THCS trong thị xã Long

Mỹ có lồng ghép vào tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp về nội dung giới tínhnhưng cũng chưa thật sự trở nên quen thuộc và gần gũi Những năm gần đây,lứa tuổi THCS ở thị xã Long Mỹ có không ít học sinh phải bỏ học giữa chừng

vì nhận thức chưa đúng về giới tính, về tình cảm lứa đôi dẫn đến có thai khi

tuổi còn quá nhỏ (Hai trường hợp của 02 trường), trong đó cũng có một số học sinh nhận dạng sai lệch về giới tính của bản thân (6 nữ và 4 nam) Điều này

cho thấy, công tác giáo dục giới tính chưa đạt kết quả như mong muốn Có rấtnhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này trong đó có nguyên nhân từ công tácquản lý của hiệu trưởng Vì vậy, để học sinh THCS phát triển bình thường,lành mạnh và toàn diện về nhân cách, cần có những nghiên cứu cụ thể về giáodục giới tính nói chung và quản lý hoạt động giáo dục giới tính nói riêng trênđịa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và đến nay chưa có công trình nàonghiên cứu về vấn đề này ở thị xã Long Mỹ nói riêng và tỉnh Hậu Giang nóichung

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Long

Mỹ, tỉnh Hậu Giang” làm luận văn tốt nghiệp cao học quản lý giáo dục.

Trang 12

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh các trườngTHCS ở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh các trường THCS ở thị

xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trong những năm gần đây đã được quan tâm,song vẫn còn một số hạn chế Nếu tìm ra được những biện pháp quản lý phùhợp, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện tốt, kiểm tra đánh giá chính xác thì sẽkhắc phục được các tồn tại và nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính, góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh THCS ở thị xã Long Mỹ,tỉnh Hậu Giang

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính

cho học sinh ở trường trung học cơ sở

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các

trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho

học sinh ở trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đọc và phân tích nghiên cứu những công trình trong và ngoài nước, cácvăn bản pháp quy, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngànhgiáo dục có liên quan đến đề tài giáo dục giới tính nói chung và quản lý hoạtđộng giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở nói riêng

Trang 13

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

giáo dục công dân, sinh hoạt ngoại khóa có liên quan đến giáo dục giới tính ở các trườngTHCS trên địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nhằm quan sát tinh thần và thái độhọc tập của học sinh về vấn đề này, phương pháp giáo dục của giáo viên đối với chuyên

đề giáo dục giới tính

Ban giám hiệu, giáo viên đang trực tiếp giảng dạy các môn học liên quan đến giáo dụcgiới tính ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; cán bộ chuyênmôn Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Long Mỹ

- Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến: Sử dụng phiếu thăm

dò ý kiến đối với một số cán bộ, giáo viên trực tiếp làm công tác này, một số phụ huynh, họcsinh học tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về thực trạnggiáo dục giới tính và quản lý giáo dục giới tính

phân tích, tổng hợp, so sánh Từ đó rút ra những kết luận chủ yếu mang tính sự kiện có ýnghĩa

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học tính tỷ lệ phần trăm, tính điểm trung bình và xếp thứ bậc, nhằm rút ra kết luận khoa học của đề tài

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu ở 07 trường trung học cơ sở ở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thời gian năm học 2018 - 2019

Xác định những cơ sở có tính khoa học về sự cần thiết phải quản lýhoạt động giáo dục giới tính ở các trường trung học cơ sở

Trang 14

8.2 Về mặt thực tiễn

Dựa trên cơ sở thực trạng giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáodục giới tính, đề tài đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcgiới tính ở các trường THCS ở thị xã Long Mỹ và các huyện, thị xã khác cóđiều kiện tương tự như tại thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho họcsinh ở trường trung học cơ sở

- Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh

ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

- Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh

ở các trường trung học cơ sở thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính đã được xem xét từ lâu Vào thời

kỳ tiền khoa học người ta xem xét giới tính và GDGT theo quan điểm tôn giáo

và đạo đức thời đó Vào thời kỳ này, việc GDGT cho trẻ em ít nhiều đượcchính thức hóa, người ta đã chú ý dạy dỗ cho các em gái theo mô hình giống bà

và mẹ, còn dạy dỗ các em trai theo mô hình của ông và bố Ở các nước phươngĐông như Trung Quốc và Nhật Bản, người ta dạy trẻ em gái phải phục tùng bố

mẹ trong hôn nhân theo kiểu “áo mặc sao qua khỏi đầu”, phải giữ gìn trinh tiết,quan hệ nam nữ tuân thủ nghiêm nghặt theo lời dạy “nam nữ thụ thụ bấtthân”… Ở các nước phương Đông, người lớn hoàn toàn không nói đến cuộcsống tình dục với trẻ em

Tác giả J.P MA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề vềgiới tính cho rằng: ''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cáiphải tự lần mò tìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tácđộng, không biết khi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khácrất xa thế hệ chúng ta Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác.”; “Mục đích củatoàn bộ chương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thànhkhông chỉ là trang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng làxây dựng những quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đànông và phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội'' [25]

Anh: Trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn mầm non.

Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học vềgiới tính một cách bắt buộc Chương trình với tên gọi “Khóa học Nhà nước

Trang 16

yêu cầu” được áp dụng cho tất cả học sinh tại các trường công lập hay tư thụccho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở Chương trình học được chia làm 4phần tương ứng với 4 độ tuổi Ngoài ra, Vương quốc Anh còn đang áp dụngphương pháp “giáo dục đồng cấp” Thông qua sự phát triển của việc giáo dụcgiới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp nàyđược áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thànhniên.

Thuỵ Điển: Giáo dục giới tính qua truyền hình

Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dụcgiới tính cho trẻ em Những chương trình giáo dục giới tính cho học sinh đãđược Thuỵ Điển triển khai từ năm 1942 Một trong số đó là “Giáo dục phòngtránh thai” - chương trình giáo dục giới tính đầu tiên được công nhận tại mộttrường học “Giáo dục phòng tránh thai” được đưa vào giảng dạy cho trẻ em từ

7 tuổi trở lên nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về mang thai

và sinh con Khi lên bậc trung học, các học sinh sẽ được học về đặc tính sinh

lý của nam và nữ

Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dục phòng tránh thai”

và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá vỡ sự ngạingùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này “Giáo dụcphòng tránh thai” cung cấp đầy đủ kiến thức về phòng tránh thai cho các emngay từ khi còn nhỏ Từ đó, các em sẽ biết cách tự bảo vệ mình để không bịlạm dụng về tình dục cũng như mang thai ngoài ý muốn

Mỹ: Giáo dục giới tính được phân theo các cấp học.

Ở tiểu học, các em nhỏ được thầy cô giới thiệu sơ lược về những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà

Ở cấp trung học cơ sở trở lên, kiến thức về giáo dục giới tính được nângcấp lên đáng kể, trực diện và hướng dẫn chi tiết Học sinh được tìm hiểu

Trang 17

về tình dục, giới tính, các căn bệnh truyền nhiễm, việc mang thai… Tuy nhiên,cách mà người Mỹ dạy cho trẻ em còn lồng ghép cả nội dung giáo dục tínhngười: Biết quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới.

Malaysia: Trẻ em sẽ học giới tính từ khi lên 4

Malaysia là một trong những quốc gia tiên phong tại khu vực Đông Nam

Á về công tác phổ cập giáo dục giới tính cho trẻ em Tương tự như Anh, Chínhphủ Malaysia khuyến cáo trẻ em nên được giáo dục giới tính từ năm 4 tuổi.Chương trình học của các bé sẽ do Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộngđồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn.Vừa qua, giáo án dự thảo dành cho môn giáo dục giới tính chung ở Malaysia

đã được Nội các Chính phủ nước này phê duyệt Điều này đồng nghĩa với việcgiáo dục giới tính sẽ trở thành một môn học chính thức ở các trường học trongvòng 2 năm tới Chương trình học này không chỉ dừng lại ở những kiến thứcsinh sản cần thiết mà các học sinh sẽ được tham gia vào những khóa học vềphát triển con người, hôn nhân và gia đình, kỹ năng giao tiếp và quan hệ tìnhdục an toàn

Hà Lan: Cả gia đình trò chuyện về giới tính trong bữa ăn

Nếu như tại nhiều quốc gia khác, cha mẹ thường cảm thấy ái ngại và bốirối, không biết phải mở lời với các con như thế nào về chủ đề giới tính thì tại

Hà Lan, chủ đề này được các gia đình đề cập đến rất thường xuyên trongnhững lúc quây quần bên nhau

Bên cạnh đó, giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy ở Hà Lan từ rấtsớm Thậm chí, trẻ em bậc tiểu học ở nước này còn được học những bài học vềtôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính Có lẽ nhờphương pháp giáo này mà Hà Lan luôn được ca ngợi là một trong những quốc gia

đi đầu về giáo dục giới tính Ngoài ra, Hà Lan còn là một trong những nước có tỉ

lệ mang thai tuổi vị thành niên thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%)

Trang 18

Ở châu Á, các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng cónhững chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học Malaysia, Philippines và TháiLan thiên về giáo dục chi tiết sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình vớimục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi.

Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu

đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh Tại Trung Quốc

và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống là đọc về giai đoạn sinh sản trongcác cuốn sách giáo khoa sinh học [9]

Như vậy các vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ngày càng có nhiềuquốc gia trên thế giới quan tâm Tuy cách thức tiến hành có khác nhau songđều hướng đến mục tiêu chung là kết hợp giáo dục những hiểu biết về giớitính, tình yêu, tình dục với giáo dục ý thức trách nhiệm đối với tình yêu, giáodục đạo đức, xây dựng gia đình tốt đẹp, lành mạnh, phòng các loại bệnh liênquan đến giới tính như A.X Makarenko đã nói: “Đạo đức xã hội đặt ra nhữngvấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên Sinh hoạt giới tính của conngười liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đìnhtức là mối quan hệ gia nam và nữ, mối quan hệ dẫn tới mục đích hạnh phúccủa con người và việc giáo dục con cái Khi giáo dục một con người không thểquên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” Ông đã đưa ra nhiều

ý kiến rất cụ thể về nội dung phương pháp giáo dục giới tính Ông nói: “Các nhàgiáo dục học Xô viết coi giáo dục giới tính và giáo dục về đời sống gia đình là một nộidung của giáo dục đạo đức chuẩn bị cho con người bước vào đời sống gia đình” [27]

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, vào khoảng năm 1980, vấn đề GDGT cho lứa tuổi vị thành niênvẫn còn bị ảnh hưởng bởi phong tục tập quán lâu đời và bị coi là điều “cấm kị” Rất nhiềungười cảm thấy “xấu hổ” khó khăn khi nói về tình dục, giới tính

Trang 19

Các thầy cô giáo, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức xã hội gần như chưađược trang bị kiến thức đầy đủ để có thể tham gia giáo dục hay tư vấn về cácvấn đề giới tính cho học sinh, thậm chí lại có quan điểm là không nên nhồinhét vào đầu óc trẻ thơ những điều không tốt Chính những quan niệm bảo thủtrên đã làm cho trẻ kém hiểu biết về giới tính, phải đối mặt với những nguy cơ,rủi ro trong quan hệ tình dục không an toàn, về sự mang thai ngoài ý muốn.

Từ năm 1984, khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyênnghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựngchương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh nhữngkiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.”; BộGiáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trongtoàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước, thì công tácGDGT cho học sinh, sinh viên được quan tâm hơn và tập trung cho đối tượngsinh viên ở các trường Đại học

Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính,

về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả ĐặngXuân Hoài, Trần Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, NguyễnThị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứunhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiềucông trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộcđiều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm

1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên

và học sinh Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đadạng về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam

Đến năm 1988, các dự án thử nghiệm VIE/ 88/P10 (giáo dục dân số ở các trường phổ thông và sư phạm) VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và

Trang 20

GDGT), rồi đến VIE/94/P01 nâng cao và hoàn chỉnh chương trình nói trên.Các chương trình thử nghiệm về giáo dục đời sống gia đình và GDGT đã đượcđại đa số học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh chấp nhận Các đề án đã đượctiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đềnhư: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáodục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh ở nhiều nơi trong cả nước, đểchuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp

12 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ nămhọc 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặc quan trọng trong việc nghiên cứu,quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các cơ

sở giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có năng lựctrình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp ứngkịp thời cho sự nghiệp ''trồng người'' Giáo dục giới tính bao hàm những trithức về mối quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinhthần của trẻ em và thanh thiếu niên thông qua các hình thức: lồng ghép vàomột số môn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, sinh hoạt ngoại khóa bằng phươngpháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm giáo dục để tìm ra nhữnggiải pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông nóichung và ở bậc THCS nói riêng [3],[4]

Tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “Việc giáo dục giới tính cần phải đượcthực hiện một cách khoa học hợp lý, có phương pháp và hình thức giảng dạythích hợp Hoạt động giáo dục này cũng phải được tiến hành bởi những người

có chuyên môn, có trình độ, được đào tạo một cách chu đáo và hệ thống, giốngnhư việc giáo dục, giảng dạy những bộ môn khoa học khác trong nhà trường”;

“Giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người (thanh thiếu niên), nhằmlàm cho họ có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn về giới tính

Trang 21

và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính, hướng hoạt động của họvào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính,giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xây dựng gia đìnhhạnh phúc, xã hội phát triển”.[27] Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức vềvấn đề giới tính, cũng giống như tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm

và có phương hại đến tâm lý và đạo đức con người.” [13]

Năm 1991, tác giả Bùi Ngọc Oánh với đề tài nghiên cứu “Những yếu tố tâm

lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên học sinh”, một lần nữakhẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính trong trường THPT, phân tích một

số yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của các em, những biểuhiện trong đời sống giới tính của lứa tuổi cũng như bước đầu vạch ra một số biệnpháp để nâng cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh THPT

Gần đây việc nghiên cứu về thái độ giáo dục giới tính đã được xã hộiquan tâm nhiều và được tiến hành một cách hệ thống khoa học Dần dần vấn đềnày ngày càng đánh giá đúng đắn và đầy đủ hơn Nhìn nhận về vấn đề này,chuyên gia tâm lý Vũ Thu Hà, trường THCS Ngô Sĩ Liên, Hà Nội cho rằng:Nội dung giáo dục giới tính chưa được tách bạch thành môn học hoặc chươngtrình chuyên biệt mà vẫn còn lồng ghép vào các bộ môn khác như “sức khỏe”hay “sinh học” Nội dung mang tính giới thiệu, phân tích sơ bộ hơn là giáo dục

cả về mặt tâm lý lẫn kỹ năng cho học sinh

Theo Phạm Mạnh Hà, cho biết: “Với những học sinh độ tuổi THCS,THPT đang có quá trình thay đổi về hormone sinh trưởng Đồng thời, với các

em có quá nhiều cám dỗ ở môi trường bên ngoài học đường Khủng hoảng ở

độ tuổi này xét ra trầm trọng hơn rất nhiều, đặc biệt trong vấn đề nhạy cảmnhư tình dục Điều đó cũng gây khó khăn cho cha mẹ định hướng, hỗ trợ concái Nếu cha mẹ kiểm soát, gò ép thì các em sẽ phản kháng Ở ngoài xã hội sẽđón các em mà bố mẹ không thể kiểm soát được”

Trang 22

Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề này như:

- Năm 1999, đề tài luận văn thạc sĩ tâm lý học: “Thực trạng nhận thức vàthái độ của học sinh THPT ở một số trường nội thành thành phố Hồ Chí Minh đối với nộidung giáo dục giới tính” của Huỳnh Văn Sơn nhằm khẳng định tầm quan trọng và sự cầnthiết về giáo dục giới tính cho học sinh THPT

- Năm 2007, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý giáo dụcgiới tính cho học sinh ở các trường THCS tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một

số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình đề cập về sự quản lý hoạt động giáo dục giới tính chohọc sinh ở cấp THCS, khẳng định việc giáo dục giới tính ảnh hưởng rất lớn đến việc hìnhthành và phát triển nhân cách của học sinh bậc THCS

- Năm 2010, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng quản lý hoạt động giáodục giới tính tại các trường THCS thuộc Quận 4 TPHCM” của Cao Thị Tuyết Mai,nghiên cứu đưa ra một số biện pháp và đề xuất góp phần ngăn chặn tình trạng trẻ emphạm tội về lĩnh vực có liên quan đến đời sống giới tính

- Năm 2015, bài báo đăng trên tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM số 6(71)/

2015 về “Giải pháp hỗ trợ giáo viên trong dạy học nội dung giáo dục giới tính cho họcsinh lớp 4 và 5” của Nguyễn Minh Giang và Phạm Tường Yến Vũ, về giải quyết nhữngkhó khăn của giáo viên trong dạy học giáo dục giới tính, giải pháp tốt nhất để hỗ trợ là sửdụng dữ liệu điện tử

- Năm 2016, bài báo đăng trên tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM số10(88)/2016 về “Thực trạng giáo dục giới tính ở một số trường tiểu học tại TPHCM” củaNguyễn Minh Giang, nghiên cứu về nội dung, phương tiện để giáo dục giới tính, qua đónhận thấy thực tế nội dung giáo dục giới tính theo nội dung bắt buộc có trong SGK củatiểu học, vì vậy nội dung rất nghèo nàn, phương tiện dạy học ít ỏi, đơn điệu Bên cạnh đó,tâm lý ngại dạy giáo dục giới tính cũng làm cho việc dạy học nội dung này trở nên kémhiệu quả

Trang 23

Nhìn chung, các công trình khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứunhững vấn đề cơ bản về giới tính cho đối tượng học sinh các cấp học, nghiêncứu nhận thức, thái độ của học sinh trong sự hình thành và phát triển nhân cách

có liên quan đến giới tính Đối với các công trình nghiên cứu khoa học có đềcập đến hỗ trợ giáo viên về dạy GDGT thì chỉ tập trung nhiều về nội dung sáchgiáo khoa, yêu cầu về thiết bị để dạy GDGT Ở thị xã Long Mỹ, tỉnh HậuGiang đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động GDGTcho học sinh THCS Vì vậy tác giả nhận thấy cần có những nghiên cứu cụ thể

về thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho học sinh ở các trường THCS thị xãLong Mỹ, tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay và đề ra các biện pháp quản

lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDGT góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện cho tỉnh nhà

1.2 Các khái niệm cơ bản

- Harol Koontz: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề

ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những ngườikhác" [18]

- Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướngdẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đềra"[9]

- "Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả vàhiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lựccủa tổ chức" [16]

Trang 24

- Trong các thuyết quản lý hiện đại thì: “Quản lý là quá trình làm việc vớinhau và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong mộtmôi trường luôn biến động”.

Như vậy, từ những khái niệm trên theo chúng tôi khái niệm quản lý cóthể được hiểu như sau: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung

Hoạt động quản lý là hoạt động tổ chức, hoạch định, chỉ đạo, hướng dẫn,

sử dụng điều khiển, đánh giá con người để làm cho toàn thể các thành viênhoạt động theo kế hoạch chung nhằm đạt tới mục tiêu nhất định

Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý:

- Hoạt động hoạch định, xây dựng kế hoạch chung

- Tổ chức phân công phân việc, sắp xếp tổ chức con người thành một nhóm theo một hệ thống nhất định

- Hoạt động hướng dẫn, chỉ đạo con người, điều khiển con người

- Kiểm tra, đánh giá hoạt động của con người, kết quả hoạt động của đơn

vị và điều chỉnh hoạt động

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một đơn vị diễn ravới những nội dung thực hiện đa dạng, phong phú trên nền tảng chung chính là những tácđộng có tính hướng đích, nhằm thực hiện hoàn thiện mục tiêu đã được các cấp, xã hộigiao phó

1.2.2 Giới tính và giáo dục giới tính

1.2.2.1 Giới tính

Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sửdụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tínhdục Đó là quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặchiểu về một mặt nào đó của giới tính

Trang 25

Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:

- Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểm củagiới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa bao gồm nhữngthuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giới tính cũng bao gồmnhững đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội

- Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia

- Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sựkhác biệt giữa hai giới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này vàgiới kia

- Giới tính là chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ [24]

- Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôn tácđộng đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự quan hệ này bị chi phối bởinhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặc điểm về văn hoá, chínhtrị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặc điểm đặc trưng của mỗi giới Từ

đó lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiện tượng mới trong đời sống giới tính như: Sựgiao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạn khác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân…

- Đời sống giới tính của con người rất phong phú và đa dạng Đó lànhững hiện tượng tâm lí và sinh lí nảy sinh trong đời sống của mỗi người, trong mối quan

hệ giữa người này với người kia, trong cuộc sống chung của mỗi người, trong sự tồn tạicủa xã hội Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp các hiện tượng tâm lí và sinh lí

có liên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt hoạt động, mọi mối quan hệ… trongđời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người

- Đời sống giới tính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thểxuất hiện trong con người có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục),những hiện tượng tâm lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí

Trang 26

người trong mối quan hệ với người khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu),những hiện tượng trong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình… Gần đây cònxuất hiện những biểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quanđiểm yêu đương ngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình yêu của nhữngngười đồng giới, tình bạn và sự giao tiếp giữa những người khác giới…

- Trong sinh học, giới tính là khái niệm dùng để chỉ giống đực và giốngcái của sinh vật Hầu hết các loài sinh vật được phân chia thành hai giới (giống) đực vàcái như vậy, mà mỗi giới (giống) được đặc trưng bởi nhiều đặc điểm khác nhau về hìnhthái, giải phẩu, sinh lí, và nhất là cấu tạo cơ quan sinh sản, chất nội tiết (hoocmôn) vànhiễm sắc thể giới tính

- Như vậy, giới tính là những sự khác biệt về cơ thể giữa hai giới (con trai

có dương vật, con gái có âm đạo ), về chức năng sinh lý như phụ nữ có thể sinh con, nuôicon bằng sữa trong khi đó đàn ông có tinh trùng và cả nam và nữ đều có hệ hocmonriêng Các đặc điểm giới tính được quy định từ trong bào thai không thể thay đổi trừ phiphẫu thuật Tùy vào sự phát triển của hoàn cảnh lịch sử xã hội mà quan niệm về giới thayđổi theo

Tóm lại, giới tính là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới

và nữ giới Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nghĩa là giữa nam và nữ ở khắpmọi nơi trên thế giới đều có những sự khác biệt như nhau về mặt sinh học, khôngthể thay đổi được giữa nam và nữ, do các yếu tố sinh học quyết định [10]

1.2.2.2 Giáo dục giới tính

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp Có nhiều quan niệm,nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiếnhành GDGT khi các em vào thời kỳ chín muồi giới tính

Một số ý kiến nhầm lẫn GDGT với giáo dục tính dục, hoặc giáo dục tìnhdục, giáo dục tình yêu Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của giới tính Sựthu hẹp phạm vi như vậy có thể đưa đến tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệuquả của GDGT

Trang 27

Có một số người cho rằng, không nên GDGT, vì như thế là làm hoen ốtâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp với môi trường

sư phạm, là “vẽ đường cho hươu chạy”

Khoa học hiện đại đã khẳng định ý nghĩa của giáo dục, những chuẩnmực đạo lý, những kinh nghiệm cá nhân thuộc những lĩnh vực khác trong sựhình thành và phát triển của đời sống giới tính Với cách xem xét biện chứngnhư vậy, GDGT là nhằm giáo dục cho con người đạt tới mục đích xã hội chânchính với tư cách là con đường dẫn dắt tới sự nếm trải trọn vẹn của hạnh phúclàm người Ở nhiều nước trên thế giới, các hình thức GDGT đã có vị trí của nótrong trường phổ thông Nếu các hình thức đó được tiến hành tốt đẹp thì trẻ em

ở từng độ tuổi đều có được những thông tin cần thiết và lĩnh hội được mọi vấn

đề có liên quan đến đời sống tình cảm của con người

Theo A.G Khrivcova, D.V Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quátrình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưngcũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cầnthiết của con người đối với người khác” [13]

Tác giả Trần Trọng Thuỷ và Đặng Xuân Hoài cho rằng, GDGT có phạm

vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hìnhthành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín củađời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa emtrai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạođức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em”

Theo tác giả Phạm Hoàng Gia: “Giáo dục giới tính phải được xem xétnhư một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệ mậtthiết với giáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân gia đình và với cácmặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Do vậy cần phải tiến hành côngtác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tínhchất hệ thống với các mặt giáo dục khác” [27]

Trang 28

Có thể nói rằng, GDGT phải gắn liền với giáo dục đạo đức, tư tưởng vàphải tiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáo dục giới tính cũngphải gắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện.Giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằmgiáo dục cho thế hệ trẻ có nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với các vấn đềgiới tính.

Từ những quan niệm trên chúng tôi hiểu: Giáo dục giới tính cho học sinh THCS là quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên và nhà trường nhằm giúp cho học sinh có nhận thức, thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạt động của các em vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợp với giới tính và biết tổ chức cuộc sống hiện tại, tương lai.

1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: "Quản lý giáo dục là những tác động có hệthống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấpkhác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảmbảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trìnhgiáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em" [16]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động cómục đích, có kế hoạch phù hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệthống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiếnlên trạng thái mới về chất" [30]

Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý.Các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đãđưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 4 chức năng cơ bản của quản lýlà: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra

Trang 29

Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trường là thực hiệnđường lối của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm của mình, tức là đưa nhàtrường vào vận hành theo nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”.

Và ông cũng cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý đội ngũgiáo viên, quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên, tức là làm sao đưahoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục đíchgiáo dục” hay “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạyhọc có tổ chức, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông xã hộichủ nghĩa”[8]

Như vậy “Quản lý nhà trường” là “Quản lý giáo dục” nhưng trong mộtphạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường Quản lýnhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác Những tác động củachủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượngquản lý nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Đó là hệ thống tácđộng có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau

Trong khi đó, giáo dục giới tính là một nội dung giáo dục cơ bản, trọngtâm trong nhà trường, vì vậy quản lý hoạt động GDGT đóng vai trò trọng yếutrong quản lý nhà trường, yêu cầu của quản lý hoạt động GDGT trong nhàtrường là phải quản lý các thành tố cấu trúc của quá trình GDGT bao gồmquản lý mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức

tổ chức GDGT

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính là những tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường tới quá trình giáo dục giới và những lực lượng liên đới nhằm tổ chức và điều hành có hiệu quả mục tiêu, nội dung giáo dục giới tính đề ra góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách người học.

Trang 30

1.3 Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

1.3.1 Một vài nét về đặc điểm tâm lý học sinh THCS

Bước vào bậc trung học cơ sở, các em ở độ tuổi từ 12 đến 15-16 tuổi,đây là quãng đời diễn ra những “biến cố” đặc biệt Do sự trưởng thành và tíchluỹ ở giai đoạn trước, các em đã có một vị trí xã hội mới: không hoàn toàn làtrẻ con nhưng cũng chưa phải là một người lớn Đây là giai đoạn quá độ từ trẻcon sang người lớn, là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì củanam và nữ

Đời sống xúc cảm của các em bị chi phối bởi hai yếu tố cơ bản Đó là:

Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí dẫn đến sự phát dục (dậy thì); Hoạt động giaotiếp với bạn bè cùng lứa tuổi và với người lớn của trẻ được mở rộng và cónhiều điều trẻ quan tâm

Tuổi THCS học sinh bắt đầu có sự quan tâm đến hình dáng bề ngoài,đến bạn khác giới và ở nhiều em nảy sinh những xúc cảm giới tính, nếu khôngđược giáo dục học sinh dễ mắc sai lầm từ những xúc cảm đầu đời

Như vậy, muốn giáo dục giới tính cho học sinh, giáo viên phải nắmđược các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh bậc trung học cơ sở, có sự quantâm đúng mức đến tâm tư, nguyện vọng của các em nhằm điều chỉnh kịp thờinhững hành vi lệch lạc

1.3.2 Mục tiêu, nội dung, nguyên tắc giáo dục giới tính cho học sinh THCS

1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh THCS

- Mục tiêu của GDGT cho học sinh THCS:

Hình thành cho con người các phẩm chất giới tính Giúp học sinh cónhững hiểu biết cần thiết về giới và giới tính, những kỹ năng giao tiếp, ứng xửtrong quan hệ với người khác giới, khả năng làm chủ bản thân, làm chủ quátrình sinh sản, kỹ năng lao động phù hợp với nghề nghiệp mang đặc thù giới

Giáo dục cho học sinh có thái độ tích cực, lịch sự trong quan hệ với

người khác giới và tự hoàn thiện những phẩm chất thuộc giới tính của mình

Trang 31

- Nhiệm vụ của GDGT cho học sinh THCS:

Học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về giới tính, có thái độ, hành viphù hợp với các vấn đề sinh lý học và giải phẫu cơ quan sinh dục, các giaiđoạn phát triển sinh lý giới tính của con người, tâm lý đời sống tình dục, sự thụtinh, sự phát triển của bào thai, các biện pháp phòng tránh thai, các hiện tượng

vô sinh, giáo dục nhu cầu tình dục, nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính chohọc sinh, giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản

1.3.2.2 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về giới và giới tính Giáo dục ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng của con người, biết quan tâmđến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình hoạt động chung

Giáo dục khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ vớingười khác Biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong phạm vi quan hệ khác giới

Giáo dục thái độ trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏecủa người khác, ý thức về tác hại nguy hiểm do quan hệ tình dục gây nên

Giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên

Giáo dục đạo đức giới tính và nhu cầu giới tính, giáo dục văn hóa giao tiếp với người khác giới

Giáo dục vấn đề kế hoạch hóa gia đình và gia đình hạnh phúc

Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới, định kiến về giới

và các biện pháp khắc phục hiện tượng vi phạm Luật Bình đẳng giới, vấn đề địnhkiến giới và phân biệt giới đang tồn tại hiện nay trong xã hội và trong gia đình

1.3.2.3 Nguyên tắc giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Việc giáo dục giới tính cho thanh niên học sinh là vấn đề quan trọng, cầnthiết, tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị Vì vậy, ngoài việc phảiđảm bảo những nguyên tắc chung như: tính khoa học, tính giáo dục, tính thựctiễn… như các môn học khác, cần phải chú ý thêm những vấn đề sau đây:

Trang 32

- Giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục đạo đức, giáo dục nhâncách, hình thành thế giới quan khoa học Giáo dục giới tính phải gắn liền với việc giáodục và hình thành nếp sống sinh hoạt lành mạnh, lối sống văn hoá văn minh Cần phảixác định rằng, đó là một trong những mục tiêu cơ bản của giáo dục giới tính.

- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách toàn diện cả về sinh lígiới tính, tâm lí giới tính, thẩm mĩ giới tính, xã hội giới tính Không nên chỉ tập trung vàonhững vấn đề sinh lí tính dục mà coi nhẹ các vấn đề tâm lí xã hội giới tính

- Phải kết hợp việc giảng dạy tri thức khoa học với việc hình thành thái độđúng đắn Khi giảng dạy những “vấn đề nhạy cảm”, không nên chỉ tập trung mô tả các sựkiện, hiện tượng một cách “trần trụi”, “sống sượng”, mà cần chú ý kết hợp với việc hìnhthành ý thức đạo đức, phê phán những biểu hiện sai trái

- Phải kết hợp việc truyền thụ những tri thức lí luận với những kiến thứcthực tiễn nhất là những vấn đề thực tiễn trong đời sống sinh hoạt của thanh niên, họcsinh

- Giáo dục giới tính phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểmtâm sinh lí của lứa tuổi, của lớp học, của yêu cầu giáo dục đặc trưng thích hợp với đốitượng, phải phù hợp với phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương

1.3.3 Phương pháp và hình thức giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Giáo dục giới tính được thực hiện qua các con đường: hoạt động dạy họctrên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Ngoài ra giáo dục giới tính cònđược tiến hành bằng nhiều con đường khác như giáo dục truyền thông, tổ chứchoạt động xã hội Tuy nhiên giáo dục giới tính qua con đường dạy học

Trang 33

và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là con đường cơ bản, quantrọng nhất ở trường phổ thông Hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứngvới nhau, hỗ trợ với nhau, bổ sung cho nhau Đặc biệt trong giáo dục giới tính,những giờ học chính khoá học sinh tiếp thu được những tri thức, những chuẩnmực và hành vi trong quan hệ giới tính, từ đó hình thành trong các em kỹ năngứng xử, hiểu biết về giới, thì qua những hoạt động ngoại khoá sẽ tạo điều kiệncho sự hiểu biết đó được bộc lộ thể hiện qua hành vi ứng xử và hành vi nàyđược lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ thành những thói quen …

1.3.3.1 Phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh THCS

a Phương pháp động não (Công não)

Động não là phương pháp giáo dục để cho người học trong một thờigian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.Đây là một phương pháp để “lôi ra” một danh sách thông tin và ý tưởng Cáchtiến hành thường như sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho cả lớp hoặc nhóm suy nghĩ và

trả lời;

- Khích lệ người học phát biểu ý kiến và đóng góp càng nhiều ý kiến càngtốt;

- Ghi các ý kiến lên bảng hoặc giấy;

- Làm rõ những ý kiến chưa rõ ràng;

* Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp động não là:

- Tất cả ý kiến đều được giáo viên hoan nghênh mà không phê phán, nhậnđịnh đúng sai;

- Cuối giờ thảo luận giáo viên nên nhấn mạnh kết luận này là sản phẩm chung của cả lớp, nhóm;

Trang 34

- Yêu cầu người tham gia đưa ra ý kiến ngắn gọn và chính xác, tránh dài dòng, chung chung.

Ví dụ: Để tìm hiểu quan niệm tình yêu GV có thể sử dụng phương phápđộng não, nêu câu hỏi: Tình yêu là gì? Yêu cầu HS nêu quan niệm của mìnhhoặc những quan niệm của các em biết về tình yêu Các ý kiến của HS đượcliệt kê và tìm ra điểm chung

- Cuối cùng GV kết luận và đưa ra quan niệm chính xác về tình yêu trongSGK Giáo dục công dân lớp 9

b Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là phương pháp đặt học sinh vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận…) theo các nhóm học sinh

Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp HS tham gia một cáchtích cực, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến đểgiải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài học Cách tiến hành như sau:

- GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luậncho mỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho mỗinhóm

- Các nhóm tiến hành thảo luận

- Đại diện mỗi nhóm trình bày kết quả Các nhóm khác lắng nghe, trao đổi, bổ sung ý kiến

- GV tổng kết các ý kiến c Phương pháp đóng vai

Đây là phương pháp tổ chức cho người học làm thử “đóng vai” để giảiquyết chủ đề đã đưa ra Quan trọng của phương pháp này là cách thức, là ứng

xử, là đối thoại của nhân vật Cách tiến hành như sau:

- Chọn chủ đề;

Trang 35

- Chia lớp thành nhóm, mỗi nhóm 5 – 7 người;

- Lần lượt các vai thể hiện;

- Người ngồi dưới ghi nhận xét;

- Mỗi nhóm cử đại diện thể hiện;

- Ý kiến của đại diện các nhóm khác;

- Giáo viên nhận xét và kết luận

* Yêu cầu khi thực hiện phương pháp đóng vai là:

- Chọn chủ đề phù hợp (do giáo viên gợi ý hoặc nhóm đề xuất)

- Mỗi nhóm tìm ra phương án chung nhất, hiệu quả nhất của nhóm mình trình bày

- Yêu cầu cả về nội dung và hình thức thể hiện

d Phương pháp nghiên cứu tình huống

Nghiên cứu tình huống thường xuất phát từ một câu chuyện được viết ranhằm tạo ra tình huống “thật” để minh chứng cho một hoặc một loạt vấn đề.Đôi khi có thể nghiên cứu tình huống trên một đoạn video, hay một băng cátxét, hoặc dưới dạng hình vẽ Cách tiến hành như sau:

- Chọn tình huống (có thể một hoặc nhiều tình huống);

- Chia nhóm (mỗi nhóm 1 tình huống càng tốt);

- Đọc (xem, nghe) tình huống;

- Suy nghĩ về tình huống đó (đưa ra một vài câu hỏi);

- Cả nhóm thảo luận và thống nhất ý kiến;

- Trình bày ý kiến của nhóm;

- Ý kiến của các nhóm về những vấn đề đặt ra;

* Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp tình huống là: - Yêu cầu lựa chọn tình huống

- Tìm ra được phương án tối ưu cho mỗi tình huống

Trang 36

- Động viên người học tham gia phát biểu ý kiến.

e Phương pháp tổ chức trò chơi:

Trò chơi nói chung là một loại hình giáo dục rất tốt với học sinh, nếuchúng ta biết cách tổ chức trò chơi sẽ trở nên lành mạnh, có giá trị hữu ích,ngược lại nó sẽ vô bổ có khi phản tác dụng trong khi chơi Các bước thực hiệntrò chơi như sau:

- Ổn định tổ chức: Trước khi chơi có thể cho hát tập thể, chia tổ thi đua.

- Giới thiệu trò chơi: Quản trò phải giải thích rõ ràng cách chơi, chơi

đúng, sai, nói tên trò chơi, chơi thử một vài lần tạo cho người chơi quen với trò chơi

- Chơi thật và tổng kết: Khi chơi thật, có thể góp ý cách chơi để người

chơi lần sau chơi cho đúng, phạt nhẹ nhàng, không chế diễu gây xấu hổ cho người thuacuộc và cũng không quá đề cao người hay nhóm thắng cuộc Cần tạo bầu khí vui nhộn,tạo cho người chơi luôn có cảm giác thoải mái

Chú ý: Nếu trò chơi quá quen thuộc hoặc quá dễ nên nhanh chóng

chuyển sang trò chơi khác để tránh sự nhàm chán, trò chơi mà bị sai quá nhiều

là những trường hợp có thể dùng phương pháp thuyết trình:

- Giới thiệu một chủ đề, hoạt động, hoặc nhiệm vụ mới

- Giải thích và làm sáng tỏ các thuật ngữ, khái niệm, nguyên tắc, hoặc cơ chế

Trang 37

- Cập nhật thêm các thông tin hoặc các kinh nghiệm thực tế không có trong tài liệu.

- Ôn lại bài cũ trước khi vào bài mới hoặc tóm tắt bài ở cuối buổi học

1.3.3.2 Hình thức giáo dục giới tính cho học sinh THCS

a Lồng ghép nội dung giáo dục giới tính vào các môn học.

Nội dung chương trình của giáo dục giới tính cấp THCS hiện nay chủyếu thực hiện lồng ghép vào một số môn như môn: GDCD, Sinh học và NgữVăn; trong đó môn GDCD và Sinh học được xem là 2 môn chủ đạo Thôngqua việc triển khai chương trình đầy đủ, đúng chương trình các tiết thuộc 2môn GDCD và Sinh học các bài có nội dung giáo dục giới tính, cung cấp kiếnthức đồng thời giáo dục thái độ, rèn kỹ năng sống cho học sinh

Với môn Sinh học: mục tiêu lồng ghép GDGT với trọng tâm là giáo dụcsức khỏe sinh sản được xác định là: giúp học sinh có hiểu biết chính xác, khoahọc về cơ quan sinh dục nam, cơ quan sinh dục nữ, sự thụ tinh, thụ thai và pháttriển của thai, nêu được cơ sở khoa học của biện pháp tránh thai, cơ chế xácđịnh giới tính, phát sinh giao tử và thụ thai, các loại bệnh lây qua đường tìnhdục, đại dịch AIDS Từ những hiểu biết trên, học sinh có ý thức tự tìm hiểuthông tin về sức khỏe sin sản vị thành niên, có ý thức phòng tránh thai, phòngtránh bệnh lây qua đường tình dục

Với môn GDCD: các bài học lồng ghép về giáo dục pháp luật, học sinh cónhững hiểu biết về tình bạn trong sáng (nam- nữ), phòng chống tệ nạn xã hội,phòng chống nhiễm HIV-AIDS, biết được quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân,sống có đạo đức và tuân theo pháp luật Nhờ đó mà có thái độ sống đúng đắn, cótrách nhiệm với bạn bè, xây dựng tình bạn tốt đẹp, có ý thức phòng tránh các tệnạn xã hội, tránh thái độ kỳ thị với người bị nhiễm HIV và gia đình họ, có tráchnhiệm với bản thân, gia đình, xã hội trong tương lai, tuân thủ pháp luật

Từ việc học lồng ghép vào môn Sinh và môn GDCD, học sinh có nhữngkiến thức và thái độ sống đúng đắn, có sự chuẩn bị để bước vào tuổi

Trang 38

trưởng thành một cách nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc.

b Sinh hoạt chủ nhiệm cuối tuần

Lực lượng giáo viên tham gia giảng dạy các bài, các nội dung GDGTthuộc những môn Sinh học, GDCD Ngoài ra còn phải kể đến lực lượng giáoviên chủ nhiệm Khi tham gia công tác GDGT, giáo viên chủ nhiệm cần đượctập huấn (theo chuyên đề) nhằm được trang bị một cách cơ bản kiến thức vàphương pháp GDGT Việc phân công giáo viên chủ nhiệm cũng như giảng dạycần đúng trình độ đào tạo theo chuẩn, hạn chế phân công giáo viên không đúngchuyên môn đào tạo sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục

c Sinh hoạt ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm thực hiện và tổchức các chuyên đề về tình bạn, tình yêu, tuổi dậy thì, nâng cao hiểu biết về trithức giới tính, việc định hướng lối sống lành mạnh như giáo dục phòng chống

ma túy, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống xâm hại tình dục, trang bị chohọc sinh những thông tin, kiến thức, kỹ năng và phương tiện để đưa ra nhữngquyết định, quan niệm đúng đắn về giới tính, góp phần hạn chế tối đa nhữnghậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu biết

d Mời báo cáo viên

Mời những người có nhiều kinh nghiệm trong công tác GDGT như y bác

sĩ, hội phụ nữ về trường nói chuyện với giáo viên và học sinh nhằm giáo dụchọc sinh có thêm những kiến thức về giới tính và giúp giáo viên nâng cao kiếnthức và kĩ năng giáo dục cho học sinh phù hợp với lứa tuổi các em

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Trường THCS đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giáo dục toàn diệnnhân cách học sinh đó là giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục

Trang 39

lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục môi trường, giáo dụcgiới tính Các nhiệm vụ giáo dục cần được triển khai theo kế hoạch và được

tổ chức một cách khoa học và chỉ đạo sát thực, giám sát thường xuyên mớiđem lại được hiệu quả

1.4.1 Lập kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động, công việc được sắp xếp theotrình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra Lập kế hoạch là chức năngđầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo vàkiểm tra Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi

vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trongtương lai Kế hoạch, điều thách thức lớn với hầu hết các nhà quản lý

Khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh, người Hiệutrưởng cần dựa trên những cơ sở sau:

- Phân tích thực trạng giáo dục giới tính trong năm học Thực trạng nàythể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học Qua đó thấy được ưu và nhược điểm của côngtác giáo dục giới tính, những vấn đề gì còn tồn tại, từ đó xếp ưu tiên từng vấn đề cần giảiquyết Hiệu trưởng cần quan tâm đến các vấn đề đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính củahọc sinh và những hành vi văn hóa giao tiếp phù hợp với giới tính, các nội dung giáo dụcsức khỏe sinh sản cho học sinh và những nội dung giáo dục tương ứng

- Phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, từ đó xây dựng kế hoạchgiáo dục giới tính Kế hoạch này là kế hoạch cụ thể về một mặt giáo dục quan trọng củanhà trường, trong đó thể hiện sự thống nhất giáo dục giới tính với các mặt giáo dục khácphù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường

- Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương Vì quá trìnhgiáo dục giới tính thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống

Trang 40

- Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiệnnay và các hình thức giáo dục giới tính đã triển khai để xây dựng nội dung giáo dục giớitính cho học sinh.

- Xác định điều kiện giáo dục như: cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong và ngoài trường

* Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính

- Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể vàtrọng tâm trong từng thời kỳ

- Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếukém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng tích cực trong việc dạy – học giáo dụcgiới tính của giáo viên và học sinh

- Kế hoạch phản ảnh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nộidung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánhgiá

- Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể

1.4.2 Tổ chức các nguồn lực để thực hiện kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu của hệ thống, xácđịnh những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các

bộ phận cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ vàquyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao

Tổ chức thực hiện việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS có liênquan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hoá trong nhà trường.Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:

- Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục giới tính Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch

Ngày đăng: 27/12/2020, 05:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w