1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

DE CUONG CHO HS VAO 10 2019

97 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 700,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nàngmang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻđẹp của nàng được tác giả tập trung t

Trang 1

CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

I “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ:

* Kiến thức cơ bản:

- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân,nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Ông sống ở thế kỉ XVI - thời kìtriều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê,Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dứ là Truyên kì mạn lục, gồm 20

truyện viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyệnthườgn có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tácgiả

- Truyện Người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương của tác

giả đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống củacủa người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến

- Chỉ vì nghe lời một đứa trẻ, Trương Sinh đã một mực đổ cho vợ tộithất tiết, khiến Vũ Nương chỉ còn cách nhảy xuống sông tự vẫn Kết cục bithảm ấy vừa thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả đối với số phậnngười phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, vừa là lời khẳng địnhphẩm chát cao đẹp của họ

- Chuyện người con gái Nam Xương là một áng văn độc đáo bởi

phương thức kết hợp tự sự với trữ tình, lối dựng chuyện lớp lang và cảmđộng của tác giả

Suy nghĩ về nhân vật Vũ Nương “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

Trong văn học Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kỳhoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là “ thiên cổ kỳ bút” thì chođến nay chỉ có một “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ “Chuyện ngườicon gái Nam Xương” được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó Nhânvật chính của tác phẩm là Vũ Nương đã để lại trong lòng người đọc niềmcảm thương sâu sắc

Tác phẩm là tiếng nói đồng cảm,trân trọng,ngợi ca của tác giả đối với conngười đặc biệt là người phụ nữ Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời

và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp,nết na tên là Vũ Thị Thiếtquê ở Nam Xương Phải nói rằng Nguyễn Dữ không có ý định cho VũNương mang đức tính của một phụ nữ yêu nước hay một mỹ nhân nơi gáctía lầu son Vũ Nương là người phụ nữ bình dân vốn con kẻ khó có mộtkhát khao bao trùm cả cuộc đời-Đó là thú vui nghi gia nghi thất Nàngmang đầy đủ vẻ đẹp của một người phụ nữ lý tưởng “tính đã thuỳ mỵ nết

na lại thêm có tư dung tốt đẹp ”.Càng đi sâu vào câu chuyện ta càng thấy vẻđẹp của nàng được tác giả tập trung thể hiện rõ nét.Trong những ngày đoànviên ít ỏi,dù Trương Sinh con nhà hào phú tính vốn đa nghi, đối với vợthường phòng ngừa quá sức nhưng nàng khéo léo cư xử, giữ gìn khuânphép nên gia đình không khi nào phải thất hoà Khi tiễn chồng đi lính,mong ước lớn nhất của nàng không phải là công danh phú quí mà là khao

Trang 2

khát ngày chồng về “mang theo hai chữ bình yên thế là đủ rồi” Nhữngngày chồng đi xa, nàng thực sự là một người mẹ hiền,dâu thảo,chăm sócthuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu, ma chay tế lễ chu tất khi mẹchồng qua đời.

Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệngcủa chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa “sau này trờixét lòng lành ban cho phúc đức , giống dòng tươi tốt con cháu đôngđàn,xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.Ngườithiếu phụ tận tuỵ ,hiếu nghiã ấy còn là một người vợ thuỷ chung đối vớichồng Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến,người thiếu phụ trẻ trungxinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng,nuôi con:“cách biệt ba năm giữ gìnmột tiết,tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng ,ngõ liễu tường hoa chưa hềbén gót”.Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ,Vũ Nương được mọi người yêumến bằng tính tình,phẩm hạnh của nàng.Trong cái nhìn nâng niu trân trọngcủa ông,Vũ Nương là con người của gia đình,đức hạnh của nàng là đứchạnh của một người vợ hiền,dâu thảo,một người yêu mến cuộc sống giađình và làm mọi việc để giữ gìn,vun vén cho hạnh phúc

Người phụ nữ dịu dàng ,hiếu nghĩa ,tận tuỵ và chung tình đó đáng ra phảiđược đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm, phúc lộc đề huề Nhưngtai ác thay ,một ngày kia chồng nàng đi chinh chiến trở về,nghe lời con trẻđinh ninh là vợ hư,mắng nhiếc,đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự canngăn của xóm giềng và lời than rớm máu của người vợ trẻ.Không có cơ hội

để thanh minh,trái tim tan nát,tuyệt vọng bởi “bình rơi,trâm gãy,mâytạnh,mưa tan,sen rũ trong ao,liễu tàn trước gió ”.Đến bến HoàngGiang,người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng:“Kẻ bạc mệnh này duyên phậnhẩm hiu chồng con rẫy bỏ,điều đâu bay buộc tiếng chịu nhuốc nhơ,thầnsông có linh xin ngài chứng giám,thiếp nếu đoan trang giữ tiết,trinh bạchgìn lòng,xuống nước xin làm ngọc Mỵ Nương,vào đất xin làm cỏ NguMĩ…” Với nàng ,cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có đểbảo toàn danh dự Nhịp văn dồn dập ,lời văn thống thiết như cực tả nỗiniềm đồng cảm,xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình

mà bạc mệnh! Thương nàng ông sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềmtrong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên Phải chăng đó cũng chính là dụng ý của tác giả:người tốt sẽ được đượcđền bù xứng đáng, ở hiền ắt sẽ gặp lành?

Điều gì đã khiến người phụ nữ đẹp người,đẹp nết đó phải tìm đến cái chết

bi thảm?Đó chính là do chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã làm cho giađình phải li tán Đó còn là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng namquyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình Để ngànđời trên bến Hoàng Giang, khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng

về một người thiếu phụ trẻ trung,xinh đẹp , hiếu nghĩa, chung tình mà bạcmệnh !

Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình, cămghét xã hội phong kiến bất lương, vô nhân đạo thì còn mãi.Có lẽ vì thế mà

em càng yêu mến, trân trọng xã hội tốt đẹp mà em đang sống hôm nay

Trang 3

II Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh

Nhắc tới Phạm Đình Hổ (1768 - 1839), người đời nhớ tới tác phẩm Vũtrung tùy bút của ông Một bút pháp nghệ thuật tinh tế, tài hoa, một phongthái thư nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối thời LêTrịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trang tùy bút đặc sắc, rút trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ.

Tùy hứng mà viết, tùy bút mà viết, cảm hứng dào dạt, dâng trào, cảnh ănchơi xa hoa của chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị,cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trịnh Quốc nơi HồTây giữa thế kỉ XVIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dângian đã được tác giả Vũ trung tùy bút chấm phá qua một vài nét, thế mà

ta chỉ đọc qua một lần là có thể nhớ mãi

"Chuyện cũ " đã xảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ - Ất Mùi (1774 - 1775), đó làlúc Đàng Ngoài “vô sự", là những năm tháng hoàng kim của Trịnh Vương(Trịnh Sâm); khi mà người ngọc Đặng Thị Huệ được Chúa sủng ái trởthành nguyên phi Trịnh Sâm sống trong xa hoa: thích đi chơi ngắm cảnhđẹp, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy.Chúa ra chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ mỗi tháng ba bốn lần Cảnhđón tiếp với các thứ nghi lễ thật tưng bừng độc đáo Có "binh lính đến hầuvòng quanh bốn mặt hồ” Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang

"bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán”.Thuyền ngự đi tới đâu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ muabán các thứ Gác chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hòa nhạc của bọnnhạc công cung đình Đình đài, cung điện được xây dựng "liên tục" nhằmthỏa mãn cuộc sống ăn chơi của vua chúa và bọn quan lại thời Lê Trịnh.Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nước mắt mồ hôi của nhân dân bịbòn vét đến kiệt cùng Phạm Đình Hổ đã được mắt thấy tai nghe nhữngchuyện cũ trong phủ chúa Trịnh nên cách kể, cách tả của ông rất sống

Để được sống trong xa hoa, hưởng lạc đế vương, từ chúa đến quan đều trởthành bọn cướp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê Chúathì "sức thu lấy" trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh

ở chốn dân gian "không thiếu một thứ gì" Có những cây cảnh "cành lárườm rà như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vàitrượng" phải dùng đến một cơ binh mới khiêng nổi, từ bên bắc chở quasông đem về Trong phủ chúa "điểm xuyết" bao núi non bộ trông lạ mắtnhư "bến bể đầu non" Vườn ngự uyển, trong những đêm thanh cảnh vắng,tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm "ồn ào như trậnmưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn'' Nếu như trong Thượng kinh kí sự Lê HữuTrác ngạc nhiên viết:

Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,

Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen

Quê mùa cung cấm chưa quen,

Khúc gì ngư phủ đào nguyên thuở nào,

Trang 4

thì ở đây, Phạm Đình Hổ ái ngại nghĩ: "kẻ thức giả biết đó kì triệu bấtthường” Cuộc sống cực kì xa hoa ấy là nguyên nhân cho sự sụp đổ ngaivàng ngày một ngày hai sẽ nổ ra Đó là năm 1782, Trịnh Sâm qua đời, loạnkiêu binh nổ ra, kinh thành Thăng Long bị đốt phá tan hoang; năm 1786,Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp họ Trịnh tan tànhtrong nháy mắt!

Bọn hoạn quan trong phủ chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, như dân gian

đã khinh bỉ chửi vào mặt: "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan" Chúngdùng thủ đoạn "nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm" Chỉ bằng hai chữ “phụng thủ" biên ngay vào chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu hay của bất cứnhà nào là chúng cướp Chúng còn lập mưu "đêm đến" cho tay chân sailính lẻn vào "lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng đểdọa lấy tiền" Chúng ngang ngược "phá nhà hủy tường" của dân để khiênghòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cướp được! Đối với nhà giàu thì chúnglập mưu vu cho là "giấu vật cung phụng" để hành hạ, để làm tiền, nhiềungười phải "bỏ của ra kêu van chí chết", có gia đình "phải đập bể núi non

bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ"

Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê Trịnh Trước sự nhũngnhiễu hoành hành, mẹ Phạm Đình Hổ là bà cung nhân phải sai người nhàchặt cây lê "cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng", hai câylựu trắng, lựu đỏ “lúc ra quả trông rất đẹp" Chi tiết này, tình tiết này rấtsống, rất thực Tác giả đã kể lại một chuyện có thật của gia đình mình ởphường Hà Khẩu để vừa tạo nên niềm tin cho người đọc mai hậu, vừa phêphán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê Trịnh, vạch trần

sự thối tha trong phủ chúa

Trang tùy bút Chuyện cũ trong phu chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ có giá trịlịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con người, cuộc sống xa hoa

ăn chơi của vua chúa, hành động ăn cướp, làm tiền trắng trợn của bọn quanlại trong phủ chúa

Ngòi bút của Phạm Đình Hổ rất trầm tĩnh và sâu sắc Mọi cảm xúc, ý nghĩcủa ông về nhân tình thế sự được gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩuchuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà, nhã thú

III HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ – HỒI THỨ MƯỜI BỐN – NGÔ GIA VĂN PHÁI.

Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội đẫmmáu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà (1868

- 1802) như: loạn kiêu binh, triều Lê Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại pháquân Thanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn

Hòang Lê nhất thống chí là cuốn lịch sử chương hồi của một số tác giảtrong Ngô gia văn phái Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử vớibao biến cố dữ dội đẫm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa đến khi GiaLong chiếm Bắc Hà (1868 - 1802) như: loạn kiêu binh, triều Lê Trịnh sụp

đổ, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn

Sự sụp đổ không thể cưỡng nổi của triều đại Lê Trịnh và khí thế sấm sétcủa phong trào nông dân Tây Sơn là hai nội dung lớn được phản ánh qua

Trang 5

Hoàng Lê nhất thống chí Đặc biệt Hồi thứ mười bốn đã thể hiện một cáchhào hùng sức mạnh quật khởi của dân tộc trước thù trong giặc ngoài vàkhắc họa hình tượng Nguyễn Huệ, người anh hùng dân tộc đã làm nênchiến công Đống Đa bất tử.

Ta như được sống lại những giờ phút lịch sử nghiêm trang và hào hùng củadân tộc vào cuối năm Mậu Thân (1788), đầu năm Kỉ Dậu (1789) khi LêChiêu Thống đã rước 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu, kéosang xâm lược nước ta Tác giả Hoàng Lê nhất thông chí mở đầu hồi mườibốn đã viết:

Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận,

Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

Vị cứu tinh của dân tộc thuở ấy là Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đấtTây Sơn Ngày 22 tháng 11 năm Mậu Thân, Tôn Sĩ Nghị chiếm ThăngLong Tướng Ngô Văn Sở lui binh về án ngữ tại Tam Điệp Ngày 24,Nguyễn Huệ được tin cấp báo, và ngày 25 lên ngôi hoàng đế "tế cáo trờiđất cùng các thần sông, thần núi", lấy niên hiệu là Quang Trung, NguyễnHuệ đốc xuất đại binh ra Bắc Ngày 29 đến Nghệ An tuyển thêm một vạnquân tinh nhuệ Nguyễn Huệ tổ chức duyệt binh truyền hịch đánh quânThanh, vạch trần âm mưu xâm lược của bọn chúng "mưu đồ lấy nước Nam

ta đặt làm quận huyện ; kêu gọi tướng sĩ "đồng tâm, hiệp lực, để dựng nêncông đức” Nhà vua chia quân làm 5 doanh (tiền, hậu, tả, hữu, trung quân)rồi thần tốc ra Tam Điệp hội quân với cánh quân Ngô Văn Sở QuangTrung chia đại quân làm 5 đạo, cho quân ăn tết Nguyên đán trước, "bảokín" với các tướng soái đến tối 30 thần tốc đánh quân Thanh, hẹn đến ngàymồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long "mở tiệc ăn mừng" Qua đó, tathấy rõ Quang Trung có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sáng suốt, giàu mưulược, nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng lũ xâm lăng Các sự kiệnnhư lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân, tuyển quân và truyền hịch ở Nghệ An,cho quân sĩ ăn Tết Nguyên đán trước; đặc biệt, nhà vua đã lạo nên yếu tốbất ngờ, đánh quân Thanh vào đúng dịp tết khi chúng "chỉ chăm chú vàoviệc vến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc' đã thể hiện tinhthần quyết đoán của một thiên tài quân sự khi Tổ quốc lâm nguy

Tác giả mượn lời người cung nhân cũ để làm nổi bật tính cách anh hùngphi thường của Nguyễn Huệ khi trận Ngọc Hồi chưa xảy ra:

"Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnhvà có tài cầm quân Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không

ai có thể lường biết Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậmnhư giết con lợn không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn Thấyhắn trỏ tay đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sấm sét"

Nguyễn Huệ là một anh hùng có tài điều binh khiển tướng, trù hoạch quânmưu như thần Ra quân đánh thắng như chẻ tre Bắt sống toàn bộ toán quânThanh đi do thám tại Phú Xuyên, dùng mưu gọi loa, vây kín làng Hà Hồi,quân Thanh "rụng rời sợ hãi" phải đầu hàng Dùng kì mưu kết ba tấm vánthành một bức bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là 20 bức; mỗibức có 20 dũng sĩ, lưng dắt dao ngắn dàn thành trận chữ "nhất" xông thẳng

Trang 6

vào đồn Ngọc Hồi Súng quân Thanh bắn ra đều vô hiệu Vua Quang Trungcưỡi voi đốc chiến Sáng mồng 5, đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, Sầm NghiĐống phải thắt cổ tự tử, hàng vạn giặc bị giết "thây nằm đầy đồng, máuchảy thành suối, quân Thanh đại bại" Vua đã đặt phục binh tại đê YênDuyên và Đại Áng, hợp vây quân Thanh tại Quỳnh Đô, giặc trốn xuốngđầm Mực bị quân Tây Sơn "lùa voi cho giày đạp, chết đến hàng vạnngười" Thừa thắng, vua Quang Trung tiến vào giải phóng kinh thànhThăng Long đúng trưa mồng 5 tháng giêng năm Kỉ Dậu, trước kế hoạch 2ngày Có tài thao lược vô song, có tin vào sức mạnh chiến đấu và tinh thầnyêu nước của tướng sĩ, của nhân dân ta mới có niềm tin tất thắng ấy Chiếnthắng Đống Đa 1789 đã làm cho tên tuổi người anh hùng dân tộc NguyễnHuệ sáng ngời mãi ngàn thu.

Các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã từng ăn lộc của nhà Lê, vốn có cảmtình với vua Lê nhưng trước họa xâm lăng và chiến công Đống Đa oanhliệt, họ đã đứng trên lập trường dân tộc, đã viết nên những trang văn đẹpnhất, dựng lên một tượng đài kì vĩ ,tráng lệ về người anh hùng NguyễnHuệ Chỉ mấy năm sau, trong bài Ai tư vãn khóc vua Quang Trung qua đời,Ngọc Hân công chúa đã viết:

Mà nay áo vải cờ đào,

Giúp dân dựng nước xiết bao công trình

Đó là hình tượng người anh hùng Quang Trung trong văn học mà ta cảmnhận được với bao ngưỡng mộ

Bằng biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập, các tác giả Hoàng Lê nhấtthống chí đã miêu tả và nêu bật sự thảm bại của quân Thanh xâm lược và

số phận nhục nhã, bi đát của bọn vua quan phản nước hại dân

Chỉ huy 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta là Tôn Sĩ Nghị Sau khichiếm được Thăng Long "không mất một mũi tên, như vào chỗ khôngngười" hắn vô cùng "kiêu căng buông tuồng" Bọn tướng tá chỉ biết "chơibời tiệc tùng, không hề đề ý gì đến việc quân" Chúng huênh hoang tuyên

bố là đầu xuân sẽ kéo quân thẳng đến sào huyệt của Tây Sơn để "bắt sốngkhông một tên nào lọt lưới!"

Thế nhưng, trước sức tiến công như vũ bão của Nguyễn Huệ, bao đồn giặc

bị đánh tơi bời Đồn Hà Hồi phải đầu hàng Đồn Ngọc Hồi bị đập nát, SầmNghi Đống phải tự tử Hàng vạn giặc phải bỏ mạng ở đầm Mực, Tôn SĩNghị "sợ mất mật, ngựa không kịp chói yên, người không kịp mặc giáp nhằm hướng Bác mà chạy" Quân tướng "hoảng hồn, tan tác bỏ chạy".Chúng tranh nhau chạy, xô đẩy nhau rơi xuống sông, cầu phao đứt, hàngvạn giặc bị rơi xuống nước mà chết, đến nỗi nước sông Nhị Hà bị tắcnghẽn Bọn sống sót chạy tháo thân về nước!

Bọn Việt gian bán nước cầu vinh như Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, TrịnhHiến trên đường tháo chạy trở thành lũ ăn cướp Chúng bạt vía kinh hồnchạy đến Nghi Tàm, "thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướplấy rồi chèo sang bờ bắc"

Tại cửa ải, Lê Chiêu Thống và bọn cận thần "than thở, oán giận chảy nướcmắt" trông thật bi đát, nhục nhã Còn Tôn Sĩ Nghị "cũng lấy làm xấu hổ"

Trang 7

Chết nhưng nết không chừa! Lê Chiêu Thống hứa “xin sang hầu tướngquân", nghĩa là tiếp tục rước voi về giày mả tổ! Còn Tôn Sĩ Nghị vẫn khoáclác: “ Nguyễn Quang Trung chưa diệt,việc này còn chưa thôi!".

Có thể nói, hình ảnh lũ xâm lược và bọn bán nước được miêu tả bằng nhiềuchi tiết châm biếm, thể hiện một thái độ khinh bỉ sâu sắc

Đọc Hồi thứ mười bốn (Hoàng Lê nhất thống chí) ta càng thấu rõ tim đenquân xâm lược phương Bắc, âm mưu của thiên triều, và bộ mặt dơ bẩn củabọn Việt gian bán nước Ta càng thêm tự hào về truyền thống yêu nước, anhhùng của dân tộc ta, vô cùng kính phục và biết ơn Nguyễn Huệ, nhà quân

sự thiên tài của Đại Việt

Nghệ thuật kể chuyện, bút pháp miêu tả nhân vật lịch sử (Nguyễn Huệ, LêChiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị) rất chân thực và sinh động tạo nên những trangvăn hào hùng tuyệt đẹp vừa giàu giá trị văn chương, vừa mang tính lịch sửsâu sắc

Cảm nhận về người anh hùng áo vải Quang Trung

Hoàng Lê nhất thống chí là văn bản viết về những sự kiện lịch sử, mà nhânvật chính tiêu biểu – anh hùng Quang Trung ( Nguyễn Huệ) Ông có mộtnét đẹp của vị anh hùng dân tộc trong chiến công đại phá quân thanh, với

sự dũng mãnh, tài trí , tầm nhìn xa trông rộng thì Quang Trung quả là mộthình ảnh đẹp trong lòng dân tộc Việt Nam

Một con người có hành động mạnh mẽ và quyết đoán: từ đàu đến cuối đoạntrích , Nguyễn Huệ luôn luôn là người hành động một cách xông xáo mạnh

mẽ, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết nghe tin giặc đã chiếm thànhThăng Long, mất cả một vùng đất đai roongjmaf ông không hề nao núng, “định thân chinh cầm quân đi ngay”

Rồi trong vòng chỉ một tháng, Nguyễn Huệ đã làm bao nhiêu việc lớn: “ tếcáo trời đất”, “lên ngôi hoàng đế”, “ đốc suất đại binh’’ ra Bắc gặp gỡ

“người cống sĩ ở huyện La Sơn”, tuyển mộ quân lính và mở các cuộc duyệtbinh lớn ở Nghệ An, phủ dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc

và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

Hơn thế nữa ông còn có một trí tuệ sáng suốt, nhạy bén:

Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiếnlược giữa ta và địch Đưa ra lời phủ dụ có thể coi như bài hịch ngắn mà ý tứthật phong phú, sâu xa, có tác động kích thích lòng người yêu nước vàtruyền thống quật cường của đân tộc

Sáng suốt nhạy bén trong việc xét đoán và dùng người, thể hiện qua cách

xử tri với các tướng sĩ tại Tam Điệp, khi Sở và Lân mang gươm trên lưngchịu tội ông rất hiểu sở trường sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đềuđúng người đúng việc,…

Cùng với ý trí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng Quang Trung đã làmlên trang lịch sử hào hùng cho dân tộc chỉ mới khởi binh đánh giặc chưadành lại được tấc đất nào, vậy mà mà Quang Trung đã nói chắc như đinhđóng cột “ phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kếhoạch ngoại giao sau khi chiến thắng nước lớn gấp 10 lần nước mình, để cóthể dẹp chuyện binh đao, cho nước nhà yên ổn mà nuôi dưỡng lương thực

Trang 8

Tài dùng binh như thần: cuộc hành binh thần tốc do vua Quang Trung chỉhuy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc ngày 25 tháng chạp bắt đầuxuất binh ở phú xuân( Huế), một tuần lễ sau đã ra tận Tam Điệp cách Huế500km vậy mà đến đêm 30 tháng chạp hành quân ra Bắc vừa đi vừa đánhgiặc vậy mà ông hoạch định là mồng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở ThăngLong, trong thực tế đã vượt mức hai ngày Hành quân xa và đầy gian khổnhư vậy nhưng cờ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, răm rắp nghe theo chỉ huy.

Hình ảnh Quang Trung lẫm liệt trong chiến trận: Hoàng đế Quang Trungthân chinh cầm quân đánh giặc không phải chỉ trên danh nghĩa Ông là mộttổng chỉ huy chiến dịch thật sự hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chứcquân sĩ, tự mình thống lĩnh mũi tên tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xôngpha trước hòn tên mũi đạn, bày mưu tính kế…

Đội quân của vua Quang Trung không phải là đội quân thiện chiến, lại vừatrải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy màdưới sự lãnh đạo tài tình của vị chỉ huy này đã đánh những trận thật đẹp,thắng áp đảo kẻ thù ( bắt sống hết quân do thám của địch ở phú Xuyên, giữđược bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hạ Hồi…) trận đánh Ngọc Hồicho ta thấy rõ tài trí về chiến lược phong thái lẫm liệt của vua Quang Trung( khói tỏa mù trời cách gang tấc không thấy gì mà chỉ nổi bật hinh ảnh củavua Quang Trung có sách ghi chép lại áo bào đỏ của ông sạm đen khóisúng )

Từ những đoạn trích trên ta thấy hiện về trong lịch sử một nhân vật xuấtchúng: lẫm liệt oai phong, văn võ song toàn đã ghi vào trang lịch sử vẻvang của dân tộc, làm sáng ngời truyền thống dân tộc, ngàn đời sau vẫnnhắc tên người anh hùng áo vải Quang Trung

IV Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của nền văn học ViệtNam, thơ văn của ông không có sự chau chuốt, cầu kì về câu từ mà lại rấtmộc mạc, dân dã gắn liền với đời sống của con người Nam Bộ Vì vậytrong nền văn học của Việt Nam, đại thi hào Nguyễn Du nổi tiếng với kiệttác truyện Kiều, đây là tác phẩm được đông đảo độc giả trong nước, cũngnhư độc giả nước ngoài đón nhận bởi câu từ mượt mà, văn phong khoa học,giàu giá trị nội dung cũng như tư tưởng thì văn chương của cụ Đồ Chiểu đãthâm nhập vào đời sống, trở thành một phần đời sống của người dân Nam

Bộ, người ta đọc Truyện Lục Vân Tiên phẩm của ông quen thuộc nhưnhững bài đồng dao dân gian Truyện Lục Vân Tiên nổi tiếng bởi chínhchất mộc mạc, gần gũi ấy, trích đoạn "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga"cũng đã thể hiện được phần nào đặc trưng thơ văn của tác phẩm này

"Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga" là một trích đoạn của tác phẩm

"Truyện Lục Vân Tiên", kể về hành động nhân nghĩa, vô tư của Lục Vân

Tiên, khi chàng bắt gặp trên đường cảnh bạo tàn, chàng đã không hề nétránh hay e ngại những tai họa sẽ đến mà hết lòng ra tay cứu giúp người bịnạn Đoạn trích thể hiện được nét đẹp trong phẩm chất cũng như tâm hồncủa Lục Vân Tiên, chàng làm việc nghĩa xuất phát từ tấm lòng mà không hềtính toán đến việc thiệt hơn, báo đáp ân nghĩa Ngoài ra, Kiều Nguyệt Nga

Trang 9

cũng là một nhân vật được xây dựng khá đặc sắc, nàng là một tiểu thư khuêcác, khi được cứu giúp bởi Lục Vân Tiên nàng đã thể hiện những phẩmchất tốt đẹp như trọng ân nghĩa, hiền thục đoan trang lại là một người con

ra bên ngoài của một tấm lòng đáng quý, đáng trân trọng

"Vân Tiên ghé lại bên đàng

Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô

Kêu rằng: "Bớ đảng hung đồ"

Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân"

Câu thơ miêu tả những hành động của Lục Vân Tiên khi gặp một sự cố ởtrên đường, đó là chứng kiến cảnh lũ cướp hoành hành, đang gây họa chongười dân, bản tính cương trực, căm ghét cái ác lại đề cao hành động nhânnghĩa đã thôi thúc Vân Tiên hành động, và hành động của chàng dường nhưcũng chỉ diễn ra trong một cái chớp mắt, chàng không hề suy nghĩ, tínhtoán thiệt mất nếu như mình can dự vào mà chàng lập tức ra tay diệt trừmối nguy hại ấy, bảo vệ người dân Và sự gấp rút của tình huống nên chàngkhông kịp chuẩn bị gì mà tiện tay bẻ luôn cành cây bên đường để làm vũkhí diệt trừ cái ác "Bẻ cây làm gậy nhằm đằng xông vô" Không chỉ nhânnghĩa trong hành động mà lời nói của chàng cũng thể hiện được tính cáchcương trực, thẳng thắn của chàng "Kêu rằng bớ đảng hung đồ/ Chớ quenlàm thói hồ đồ hại dân"

Lời nói của Lục Vân Tiên là hướng đến chỉ trích, phê phán lũ giặc cướpnhưng cũng là tuyên ngôn sống đầy cao đẹp của chàng, sống là phải hướngđến bảo vệ cuộc sống của những người dân lành, chứ không phải mang đếnnhững đau khổ cho họ Và những hành động bạo tàn, "hồ đồ" chàng càngkhông cho phép nó xâm hại đến những con người lương thiện ấy Vân Tiênkhông chỉ là một con người có tình thương với con người, mang trongmình tinh thần chính nghĩa cao đẹp mà chàng còn là một chàng trai khỏemạnh, tài giỏi, điều này được thể hiện ra trong những hành động chàngchống lại những tên cướp:

"Vân Tiên tả đột hữu xông

Bị Tiên một gậy thác rày thân vong"

Những động tác của Vân Tiên đều rất dứt khoát, nhanh nhẹn "tả đột hữuxung", và những hành động anh hùng này được nhà thơ Nguyễn ĐìnhChiểu so sánh với hình ảnh người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng ĐươngDang Trước sức mạnh của Lục Vân Tiên thì băng cướp bị đánh tan "Lâu labốn phía vỡ tan", chúng hoảng loạn bỏ lại gươm giáo mà tìm đường thoátthân Và cầm đầu của băng đản này là Phong Lai thì bị Tiên cho một gậy

"thác rày thân vong" Đây là sự trừng phạt thích đáng cho những kẻ lấyviệc hại người làm niềm vui, làm mục đích kiếm sống Đối với những tên

Trang 10

cướp ngày Lục Vân Tiên tuyệt đối không khoan nhượng,lời nói và hànhđộng đều hết sức quyết liệt nhưng khi hỏi thăm người bị nạn thì chàng lạitrở nên vô cùng dịu dàng, phải phép:

"Dẹp rồi lũ kiến chòm ong

Hỏi: "Ai than khóc ở trong xe này"

Không chỉ ra tay cứu giúp người bị nạn mà chàng còn hết lòng quan tâmđến họ, thể hiện ngay qua lời hỏi thăm ân cần, và động viên, giúp người bịnạn trấn tĩnh lại tinh thần sau cơn hoảng loạn bằng việc thông báo cho họbiết tình hình bên ngoài, rằng những lũ "kiến chòm ong" đã bị tiêu diệt,cũng tức không còn bất cứ sự nguy hiểm nào có thể đe dọa nữa Và phẩmchất tốt đpẹ của Lục Vân Tiên cũng tiếp tục được bộc lộ khi chàng có cuộcđối thoại với người bị hại, cũng tức Kiều Nguyệt Nga Khi Kiều NguyệtNga có ý định bước ra khỏi kiệu để cúi lậy Lục Vân Tiên vì công cứu mạngthì chàng nhất quyết không chịu nhận:

"Khoan khoan ngồi đó chớ ra

Nàng là phận gái ta là phận trai"

Chỉ thông qua vài câu nói thôi nhưng ta có thể nhận thấy Lục Vân Tiên làmột con người trọng đạo lí, cũng như những khuôn phép trong xã hội xưa.Chàng không muốn Kiều Nguyệt Nga ra ngoài cúi lạy mình vì không muốn

sự gặp mặt này ảnh hưởng đến phẩm tiết của nàng, vì trong quan niệm của

xã hội phong kiến xưa, thì "nam nữ thụ thụ bất thân", tức là giữa con trai vàcon gái cần phải có những khoảng cách nhất định, không được tùy tiện gặpmặt hay có những hành động thân thiết Lời nói của Lục Vân Tiên cũng thểhiện chàng là một con người có học thức, còn đặt lời nói ấy trong xã hộingày nay thì ta lại thấy có cái gì đấy đáng yêu ở chàng trai này Nhưng mụcđích của Lục Vân Tiên không chỉ vì lễ tiết mà chàng cũng không muốnnhận sự báo đáp của Kiều Nguyệt Nga, bởi hành động cứu giúp của chàng

là xuất phát từ tấm lòng chứ không phải vì mục đích vụ lợi gì "Làm ơn há

dễ trông người trả ơn", câu nói của chàng với Kiều Nguyệt Nga càng làmcho con người chàng trở nên đáng trân trọng hơn

"Nhớ câu kiến nghĩa bất vi

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng"

Trong quan niệm của Lục Vân Tiên thì những việc nhân nghĩa là tất yếu, vànếu làm ơn mà trông ngóng việc trả ơn thì không phải người anh hùng

"Làm người thế ấy cũng phi anh hùng"

Như vậy, đoạn trích "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã khắc họa mộtcách chân thực, sống động hình ảnh của người anh hùng hiệp nghĩa LụcVân Tiên, ở chàng hiện lên với biết bao phẩm chất tốt đẹp, không chỉ là conngười nhân nghĩa, thấy việc ác là ra tay diệt trừ, bảo vệ sự bình yên cho conngười mà chàng còn là một con người có học thức, trọng những lễ nghi,khuôn phép Và ở chàng trai ấy ta cũng có thể thấy được một quan niệmsống thật đẹp, đó là quan niệm về việc nghĩa và về người anh hùng Khắchọa nhân vật Lục Vân Tiên cũng là cách nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu hìnhmẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời

LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN

Trang 11

* Nội dung cơ bản:

1 Nhân vật Trịnh Hâm

- Là bạn đồng môn, bạn kết nghĩa với Lục Vân Tiên

- Hoàn cảnh của LVT thật khổ sở: tiền hết mù loà, một thầy một trò bơ vơnơi xa lạ, công danh lỡ dở….=> Trịnh Hâm phải giúp đỡ

- Nhưng y sắp xếp cả một kế hoạch tỉ mỉ và chu đáo để hãm hại VT:

+ Lừa tiểu đồng vào rừng trói lại, đưa VT lên thuyền với lời hứa sẽ đưa bạn

về quê Đông Thành

+ Thời gian, không gian: Đêm khuya lặng lẽ, mịt mờ, giữa dòng

Nghênh ngang sao mọc mịt mờ sương bay có cái gì đó không lành đượcbáo trước

- Hành động bất nhân, bất nghĩa:

+ Ra tay, xô => Hành động độc ác vì nạn nhân của hắn hoàn toàn bất ngờ,không cách chống đỡ, nạn nhân còn chính là bạn của y từng được y hứa sẽgiúp đỡ

+ Giả tiếng kêu, phui pha, giả thương xót => Để không ai biết, là hànhđộng ném đá giấu tay

- Vì sao hắn hãm hại VT:

+ Xuất phát từ tính đố kị, ghen ghét tài năng hơn mình:

Kiệm, Hâm là đứa so đo

Thấy Tiên nhường ấy âu lo trong lòng

Khoa này Tiên ắt đầu công

Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi

+ Thế nhưng giờ VT hoàn toàn vô hại, bị mù, bỏ thi còn hắn đã đỗ cử nhân.Nhưng có lẽ hắn là loại người độc ác trong bản chất, trong máu thịt Mốithù oán trong một câu chuyện văn chương đã khiến hắn làm những chuyệnđộc ác, bất nhân

=> Là kẻ độc ác, giả dối, bất nhân, bất nghĩa, xảo quyệt, ích kỷ, hèn hạ Làđại diện cho cái xấu, cái ác

2 Hình ảnh ông ngư

- Việc VT được giao long cứu là yếu tố hoang đường, kì ảo và ngẫu nhiênđược đưa vào truyện:

+ Để tiếp tục mạch truyện, để cho câu chuyện thêm li kì, hấp dẫn

+ Thể hiện quan niệm thiện ác của tác giả: ở hiền gặp lành Đó là triết lídân gian sòng phẳng, giản dị và cũng là ước muốn của nhà thơ Đồng thờicho thấy laòi ác thú còn tốt bụng hơn kẻ đố kị là con người như Hâm

- Khái quát về ông ngư:

+ Là người xa lạ, không quen biết

+ Gia đình ông ngư: Là những người lao động chài lưới bình thường, lươngthiện

+ Không cứu người chết đuối vì thờ thủy thần

- Hành động cứu người:

+ Vớt ngay, hối, vầy, ông hơ, mụ hơ => Hiện lên trước mắt người đọccảnh khẩn trương hối hả cứu người bị nạn, không tính toán, đắn đo Đó làtình người tự nhiên, hồn hậu, vô tư nhất, cảm động nhất

Trang 12

+ Hỏi han người bị nạn : Ngư ông khi ấy hỏi han

+ Mời Lục Vân Tiên ở lại cùng gia đình ông:

Ngư rằng: ngươi ở cùng ta,

Hôm mai hẩm hút với già cho vui

Từ hẩm hút thật Nam Bộ, thật ân cần, vừa nói lên cuộc sống nghèo khổ vừabộc lộ tấm lòng nghĩa khí của người dân lao động sẵn sàng cưu mang, giúp

đỡ người bất hạnh, cơ nhỡ Các từ hẩm hút, hơ, mùi thật dân dã, mộc mạc.+ Từ chối lời báo đáp của Lục Vân Tiên

Ngư rằng lòng lão chẳng mơ

Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn

=> Là người hào hiệp trọng nghĩa, khinh tài, coi thường vật chất

- Cuộc sống của gia đình ông ngư:

+ Quơ, chài, kéo, quăng, câu, chích, đầm Diễn tả công việc lao động làm

ăn của gia đình ông ngư

+ Thung dung, thong thả, nghêu ngao, tắm mưa, chải gió=>Tâm thế thoảimái, tự do giữa đất trời

+ Vui thầm, vui vầy, vui say+ rày, mai, ngày kia, đêm nầy, khi khoẻ, khimệt=>Niềm vui bất tận, triền miên ngày qua, tháng nọ bất tận

+ Doi, vịnh, gió, trăng, chích, đầm, bầu trời đất… bao quát không gian bao

la, trời đất vô tận

Là những người lao động nghèo khổ nhưng lại có quan niệm sống rất thanhcao của những nhà ẩn sĩ, những nhà nho thông làu kinh sử nhưng quyếtlánh đời, vui với cuộc sống đạm bạc, khinh thường công danh phú quý, hếtmình cho cái thiện, ung dung thanh thản với cuôcj sống, với thiên nhiên

- Đó là những nhân vật (ông Tiều, ông Quán) đặc biệt để tác giả bộc lộquan niệm và niềm mơ ước

=>Là đại diện cho người lao động lương thiện, cái tốt trong xã hội

* Ý nghĩa văn bản: Với đoạn trích này, tác giả đã làm nổi bật sự đối lậpgiữa cái thiện và cái ác, qua đó thể hiện niềm tin của tác giả vào những điềubình dị mà tốt đẹp trong cuộc sống đời thường

3 Nghệ thuật

- Khắc hoạ nhân vật đối lập thông qua lời nói, cử chỉ, hành động Sự đốilập này có tính chất đối lập thiện ác trong truyện cổ tích vừa có tính triết lísâu xa của văn học trung đại

Truyện Kiều xứng đáng là một số các kiệt tác trong lịch sử văn học Việt

Nam, là kết tinh đặc sắc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cao cả củanhân dân

- Tác phẩm thể hiện một thành tựu nghệ thuật rực rỡ của văn học dân tộctrên các phương diện ngôn ngữ và thể loại

Trang 13

CẢNH NGÀY XUÂN:

Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giátrị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnhtuyệt bút Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích TruyệnKiều, sách Ngữ văn 9, tập một - NXB Giáo dục, 2008)

Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm Vào ngày Tết Thanh minh,chị em Thúy Kiều đi tảo mộ Thiên nhiên và con người ngày xuân hiện lêntươi tắn, xinh đẹp đông vui nhộn nhịp dưới đôi mắt “xanh non biếc rờn”của những chàng trai, cô gái tuổi đôi tám

Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng:“Ngày xuân con én đưa thoi,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”…

Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những cánh énđang bay lượn rập rờn như thoi đưa Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của nhữngnhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất.Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là nhữngngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang

là thời điểm tháng ba

Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non,tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la: “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏtháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái Huống chi cái sắc ấytrải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn,đẹp mắt Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơnmột thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tớitrời” Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi củavài bông hoa lê Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúmchím chưa muốn nở hết Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấptrong ngày xuân Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà ở đây,tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thể khiến ai đóliên tưởng đến hai câu thơ cổ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non,màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê cóđiểm một vài bông hoa Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại.Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ củaNguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời Trên cái màu xanhcùa cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốckhông nói tới màu sắc của hoa lê) Sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màuxanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn

Du Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sốnglại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết

Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộnràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời Sáu câu thơ tiếp của bài thơ tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửasang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanhminh Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt

Trang 14

các từ ghép tính từ, danh từ, động từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắmsửa, dập dìu, gần xa, nô nức Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nênkhông khí đông đúc, vui tươi sôi nổi Đó không chỉ là không khí lễ hội màcòn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ:

“Gần xa nô nức yến anh

Ngựa xe như nước áo quần như nêm”

Nhưng hội họp rồi hội phải tan Sau những giây phút sôi nổi, chị emThúy Kiều phải rời buổi du xuân trở về:

“Tà tà bóng ngả về tây,

Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …

Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơtrước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bứctranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp Cảnh vật toát lên vẻ vương vấn khi cuộc

du xuân đã hết Các từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏvừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người Dường như cócái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, manmác của tâm trạng con người, ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tảcảnh ngụ tình để mượn cảnh vật mà diễn tả những rung động tinh tế trongtâm hồn những người , thiếu nữ Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơđểu là những từ láy có tính giảm nhẹ “Tà tà” diễn tả bóng chiều đang từ từnghiêng xuống; “thơ thẩn” lại diễn tả tâm trạng bâng khuâng dịu nhẹ không

rõ nguyên nhân (nó gần với nỗi buồn “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”của Xuân Diệu sau này) “thanh thanh” vừa có ý nghĩa là sắc xanh nhẹnhàng vừa có ý nghĩa là thanh thoát, thanh mảnh; từ “nao nao” trong câuthơ diễn tả thế chảy của dòng nước nhưng đồng thời diễn tả tâm trạng naonao buồn và từ “nho nhỏ” gợi dáng nhỏ xinh xắn, vừa vặn với cảnh vớitình Khung cảnh thiên nhiên cũng theo đó mà nhỏ đi để phù hợp với tâmtrạng con người: “ngọn tiểu khê” - dòng suối nhỏ, phong-cảnh thanh thoát,dịp cầu “nho nhỏ” lại nằm ở “cuối ghềnh” ở phía xa xa, Cảnh và ngườinhư có sự tương liên để giao hòa trong bầu không khí bâng khuâng, lưuluyến, khe khẽ sầu lay Có thể mớ hồ cảm nhận được cảnh vật đang tạo ra

dự cảm về những sự việc sắp xảy ra

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí Mặc dù khôngthật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến

và kết thúc Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiênđiêu luyện, sắc sảo Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngàyxuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo

mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra)

“Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầmtrồ về bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻđẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanhminh Và qua đây, Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hoa trong việc dựng lênmột bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế,

CHỊ EM THÚY KIỀU

Trang 15

Thơ cổ viết về giai nhân thì đoạn thơ Chị em Thúy Kiều trích trong TruyệnKiều của thi hào Nguyễn Du là một trong những vần thơ tuyệt bút 24 câulục bát đã miêu tả sắc, tài và đức hạnh chị em Thúy Kiều, Thúy Vân - haituyệt thế giai nhân với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng của nhà thơthiên tài dân tộc.

Bốn câu đầu, Nguyễn Du giới thiệu vị thứ trong gia đình: "Thúy Kiều

là chị, em là Thúy Vân”, là con đầu lòng cùa ông bà Vương viên ngoại

"Hai ả tố nga” là hai cô gái xinh xắn, xinh tươi Cốt cách thanh cao nhưmai (một loài hoa đẹp và quý), tinh thần trinh trắng như tuyết Hai chị em

có nhan sắc tâm hổn hoàn mĩ "mười phân vẹn mười", tuy thế, mỗi người lại

có một nét đẹp riêng “ mỗi người một vẻ”

Một cái nhìn phát hiện đầy trân trọng; lấy mai và tuyết làm chuẩn mực cáiđẹp, Nguyễn Du miêu tả tâm hồn trong sáng, trinh trắng làm rõ cái thầnbức chân dung thiếu nữ

Bốn câu tiếp theo tả nhan sắc Thúy Vân Mỗi câu thơ là một nét vẽ tàihoa về bức chân dunc giai nhân Cử chỉ, cách đi đứng rất trang trọng quýphái Cách ứng xử thì đoan trang Mày nở nang, thanh tú như mày conbướm tằm Gương mặt xinh tươi như trăng rằm Nụ cười tươi thắm nhưhoa Tiếng nói trong như ngọc Tóc mềm, bóng mượt đến nỗi "mây thua"

Da trắng mịn làm cho tuyết phái "nhường" Cách miêu tả đặc sắc, biến hóa

Sử dụng ẩn dụ, nhân hóa tài tình:Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Từ ngữ: "trang trọng", "đoan trang" là 2 nét vẽ tinh tế, gợi tả cái thần củabức chân dung ả tố nga: vẻ đẹp quý phái, phúc hậu Một cái nhìn nhân vănđầy quý mến trân trọng của nhà thơ khi miêu tả Thúy Vân

Mười hai câu tiếp theo tả sắc, tài Thúy Kiều Nguyễn Du tả Thúy Vântrước, tả Thúy Kiều sau, chỉ dùng 4 câu tả Thúy Vân, dùng đến 12 câu tảThúy Kiều Đó là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du, Kiều không chỉđẹp mà còn giàu tài năng Vẻ đẹp của Kiều là '”sắc sảo, mặn mà", đẹp

"nghiêng nước nghiêng thàmh" Kiều là tuyệt thế giai nhân "sắc đành đòimột" Tài năng thì may ra còn có người thứ hai nào đó bằng Kiều: tài đànhhọa hai" Nguyễn Du dùng biện pháp tu từ ẩn dụ so sánh kết hợp với nhânhóa thậm xưng để ca ngợi và miêu tả nhan sắc Thúy Kiều:

Làn thu thủy, nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Mắt đẹp xanh trong như nước hồ thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nétnúi mùa xuân Môi hồng má thắm làm cho “ hoa ghen nước da trắng xinhlàm cho liễu phải "hờn" Vẫn lấy vẻ đẹp thiên nhiên (thu thủy, xuân sơn,hoa, liễu) làm chuẩn mực cho cái đẹp giai nhân, đó là bút pháp ước lệ trongthơ cổ Tuy nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tài hoa quá, nét vẽ nào cũng cóthần rất đẹp, một vẻ đẹp nhân văn

Kiều “ thông minh vốn sẵn tính trời” nghĩa là thông minh bẩm sinh,cho nên các môn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm chỉ là các thú tao nhãnhưng nàng rất sành điệu, điêu luyện: “lầu bậc", "ăn đứt" hơn hẳn thiên hạ:Thông minh vốn sẵn tính trời,

Trang 16

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trưong.

Kiều giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc" Cây đàn mà nàng chơi

là cây đàn hồ cầm; tiếng đàn cùa nàng thật hay "ăn đứt "bất cứ nghệ sĩ nào.Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một

"thiênbạc mệnh "nghe buồn thê thiết “não nhân", làm cho lòng người sầunão, đau khổ Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêngnước nghiêng thành, đòi một, họa hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc,

ăn đứt, bạc mệnh, não nhân - tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc

và hé lộ dự báo số phận bạc mệnh của Kiều

Bốn câu cuối đoạn nói về đức hạnh hai ả tố nga;: Tuy là khách hồngquần đẹp thế, tài thế, lại "phong lưu rất mực", đã tới tuần "cập kê "nhưng “hai ả tố nga” đã và đang sống một cuộc đời nền nếp, gia giáo: Êm đềmtrướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Đoạn thơ nói về Chị em Thúy Kiều là một trong những đoạn thơ haynhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều được nhiều người yêu thích và thuộc.Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu cảm xúc Nét vẽ hàm súc, gợi cảm, nét vẽnào cũng có thần Các bịên pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được thihào vận dụng thần tình tạo nên những vần thơ ước lệ mà trữ tình, đầy chấtthơ Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quý mến trântrọng Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du mà tacảm nhận được

đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du).

Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi

là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển Nhưng Nguyễn Du không chỉgiỏi về tả cảnh mà còn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng Trong quan niệmcủa ông, hai yếu tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau,

bổ sung cho nhau

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúcđộng Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạngnhân vật một cách xuất sắc Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạngcủa Kiều Đó là nỗi cô đơn, buồn tủi, là tấm lòng thủy chung, nhân hậudành cho Kim Trọng và cha mẹ

Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí Phần đầu tác giảgiới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trongnỗi cô đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâmtrạng đau buồn của Kiều và những dự cảm về những bão tô cuộc đời sẽgiáng xuống đời Kiều

Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu được miêu tả hoang vắng, bao

la đến rợn ngợp Ngồi trên lầu cao, nhìn phía trước là núi non trùng điệp,ngẩng lên phía trên là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới

là những đoạn cát vàng trải dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như

càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ loi của nàng lúc này: Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia

Trang 17

Có thể hình dung rất rõ một không gian mênh mông đang trải rộng ra

trước mắt Kiều Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn: Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.

Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấygiờ: vừa chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùngtrước mây sớm, đèn khuya Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm vớinàng: nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng Bức tranh thiên nhiên khôngkhách quan, mà có hồn, đó chính là bức tranh tâm cảnh của Kiều nhữngngày cô đơn ở lầu Ngưng Bích

Trong tâm trạng cô đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm

về với những người thân của mình Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ đượcNguvễn Du miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của

nhân vật Nỗi nhớ thương được chia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha mẹ Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được

nói đến trước vì đây là nồi nhớ nồng nàn và sâu thẳm nhất Nồi nhớ đóđược xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và nỗi đau cũng trào lên

từ đó:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.

Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai

Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đươngđang chảy máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởngtượng ra cảnh chàng Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đaukhổ và tuyệt vọng Mới ngày nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ướchẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng.Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng trăng vằng vặc giữa trờichứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ mỗi người mỗingả Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ vơ củamình và tự dằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai Kiều nuối tiếc mốitình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cô đơn của mình,

và cũng hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa đượctấm lòng son sắt, thủy chung của mình với chàng Kim Và thực sự, bóngchàng Kim cũng sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốtmười lăm năm lưu lạc

Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ Mặc dầu nàng đãliều đem tấc có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thoát khỏi vòng tùtội, nhưng nghĩ về cha mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng.Kiều đau lòng khi nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con Nàng lolắng không biết khi thời tiết thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ Nguyễn

Du đã rất thành công khi sử dụng thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai,quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình cảm nhớ nhung sâu nặng cũngnhư những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến bổnphận làm con của mình Trong hoàn cảnh của Kiều, những suy nghĩ, tâmtrạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu thảo

Trang 18

Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhưng rồi cuổì cùng nàng Kiều lại quay

về với cảnh ngộ của mình, sống với tâm trạng và thân phận hiện tại củachính mình Mỗi cảnh vật qua con mắt, cái nhìn của Kiều lại gợi lên trongtâm trí nàng một nét buồn Và nàng Kiều mỗi lúc lại càng chìm sâu vào nỗibuồn của mình Nỗi buồn sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn

Du mỗi lúc càng tô đậm thêm bằng cách dùng điệp ngữ liên hoàn rất độcđáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Mỗi cảnh vậthiện ra qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâusắc Mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn Buồn trông là buồn mà nhìn ra xa,nhưng cũng là buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổithay tình trạng hiện tại Hình như Kiều mong cánh buồm, nhưng cánhbuồm chỉ thấp thoáng,xa xa không rõ, như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúcmỗi xa Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng

xô đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của mình Rồimàu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêmmênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lênthành một nỗi kinh hoàng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Đây

là một hình ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầyhiểm họa, như muốn nhấn chìm Kiều xuống vực

Tám câu thơ tuyệt bút với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình kết hợp vớinghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đầu mỗi câu lục và nghệ thuật ước lệ tượngtrưng cùng với việc sử dụng nhiều từ láy tượng hình, tượng thanh (thấpthoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, ầm ầm) đã khắc họa rõ cảm giác u uất,nặng nề, bế tắc, buồn lo về thân phận của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồngthời cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo Thiênnhiên ở đây liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người Mỗinét tưởng tượng của Nguyễn Du đều phản ánh một mức độ khác nhau trong

sự đau đớn của Kiều Qua đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗilòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh để ca ngợi tấm lòng cao đẹp củanhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những người phụ nữ tài sắc màbạc mệnh

ĐỒNG CHÍ - CHÍNH HỮU

Vẻ đẹp của người lính trong khổ cuối bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Là người lính thuộc trung đoàn thủ đô rồi trở thành nhà thơ quân đội,Chính Hữu chủ yếu viết về người lính và hai cuộc kháng chiến Đồng chíđược sáng tác năm 1948, là bài thơ thành công nhất của ông Cả bài thơ thểhiện rõ tình đồng đội, đồng chí gắn bó keo sơn của những chiến sĩ quân độinhân dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp

Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân chất khi tácgiả giới thiệu về quê hương của các anh bộ đội Các anh mỗi người một quê

Trang 19

- những vùng quê nghèo khó - song đã về đây để cùng tham gia khángchiến, cùng chịu đựng gian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau

Cuộc sống người lính vất vả biết bao nhiêu Nào : Áo anh rách vai, quầntôi có vài mảnh vá Lại nữa, những đêm trời rét chỉ có một mảnh chănmỏng hay những cơn sốt rét rừng hành hạ Vượt lên trên tất cả những khókhăn đó để "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Chính đôi tay nắm chặt ấy

đã nói lên ý nghĩa thiêng liêng, cao đẹp của tình đồng đội, của ý chí quyếttâm đánh giặc

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đặc sắc :

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của ngườilính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ Trong bức tranh trên,nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Người lính, khẩu súng, vầng trănggiữa cảnh rừng hoang sương muối phục kích giặc Sức mạnh của tình đồngđội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi giankhổ, thiếu thốn Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ Hình ảnh Đầu súngtrăng treo là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnhtượng trưng

Tác giả Chính Hữu đã từng nói : "Đầu súng trăng treo, ngoài hìnhảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu như lắc của một cái gì lơ lửng chôngchênh trong sự bát ngát Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở rất xa chứ khôngphải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và cólúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng Những đêm phục kích chờ giặc,vầng trăng như một người bạn" Đó là hình ảnh thực của cuộc kháng chiến,của những người lính khi chờ giặc tới

Ngoài tả thực, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tượngtrưng Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa thực, vừa

mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình Vừachiến sĩ vừa thi sĩ Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sángcủa người chiến sĩ Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từcuộc đời chiến đấu Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây xúc động bất ngờ, thú

vị cho người đọc Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởngchiến đấu và tình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ

Với nhịp chậm, giọng thơ hơi cao, ba câu thơ cuối của bài một lần nữakhắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì khángchiến chống Pháp

Tình cảm đồng chí, đồng đội là tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhấtcủa những người lính Đó là sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả mọi khókhăn trở ngại, mọi thiếu thốn để chiến thắng kẻ thù Bài thơ Đồng chí đặcbiệt là ba câu kết như một lời nhắn nhủ với mọi người : Hãy biết nâng niu

và gìn giữ những tình cảm đẹp trong cuộc sống, phải biết kính trọng nhữngngười lính

Đề 3: Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Trang 20

Đồng chí ! Ôi tiếng gọi sao mà thân thương tha thiết Bởi đây biểu hiệnthật đầy đủ tình đồng đội của anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp Cảmnhận được tình cảm vừa thân quen vừa mới lạ trong cuộc sống chiến đấu

ấy, Chính Hữu, một nhà thơ - chiến sĩ đã xúc động viết bài thơ Đồng chí.Với lời thơ chân chất, tràn đầy tình cảm, bài thơ đã để lại bao cảm xúctrong lòng người đọc

Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa những ngườichiến sĩ quân đội nhân dân trong cuộc sống chiến đấu gian khổ Họ lànhững người xuất thân từ nhân dân lao động chỉ quen việc "cuốc cày" ởnhững vùng quê nghèo khác nhau, vì có chung tấm lòng yêu nước, họ đãgặp nhau từ xa lạ bỗng trở thành thân quen Chính Hữu đã kể về những conngười ấy bằng lời thơ thật xúc động :

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Họ đều xuất thân từ những vùng đất khô cằn, nghèo khổ "nước mặn đồngchua", "đất cày lên sỏi đá" Từ "xa lạ" gặp nhau Thật là thú vị, nhà thơkhông nói hai người xa lạ mà là "đôi người xa lạ", vì thế ý thơ được nhấnmạnh, mở rộng thêm "Hai người" cụ thể quá Đôi người là từng "đôi" một

- nhiều người Trong đơn vị quân đội ấy, ai cũng thế Hình ảnh những conngười chẳng hẹn quen nhau nói lên một sự thật Những con người vốn xa lạkhi tham gia kháng chiến, đã cùng nhau chiến đấu, cùng nhau chịu đựnggian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau Vì thế họ trở thành thân nhau, hiểunhau, thương nhau và gọi nhau là "đồng chí"

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí

Tình cảm ấy thật thân thương, thật tha thiết Giọng thơ đang liền mạchnhẹ nhàng, thủ thỉ tâm tình, bỗng ngắt nhịp đột ngột Từ Đồng chí lại đượctách ra làm câu riêng, một đoạn riêng Với cấu trúc thơ khác thường ấy tácgiả đã làm nổi bật ý thơ Nó như một nốt nhấn của bản nhạc, bật lên âmhưởng gây xúc động lòng người Câu thơ chỉ có một từ Đồng chí - mộttiếng nói thiêng liêng Đồng chí - một tiếng reo, một sự cảm kích chất chứanhiều đổi thay trong quan hệ tình cảm

Tình cảm ấy lại đựơc biểu hiện cụ thể trong cuộc sống chiến đấu kể chonhau nghe chuyện quê nhà Chuyện "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày",

"Gian nhà không mặc kệ gió lung lay", cả chuyện "Giếng nước gốc đa nhớngười ra lính" Từ những tâm tình ấy, ta hiểu, các anh chiến sĩ mỗi ngườiđều có một quê hương, có những kỉ niệm thân thiết gắn bó với quê nhà vàkhi ra đi họ mang theo hình bóng quê hương Các miền quê tuy khác nhaunhưng đều có những nét gần quí nhau Các anh cùng chia sẻ ngọt bùi, cùngchịu gian khổ bên nhau Trong gian lao vất vả họ tìm được niềm vui, niềmhạnh phúc trong mối tình đồng chí Làm sao các anh có thể quên đượcnhững lúc ướt mồ hôi, cùng chịu với nhau từng cơn ớn lạnh Cuộc sống bộ

Trang 21

đội nghèo vất vả nhưng không thiếu niềm vui Dẫu áo anh rách vai, quầntôi có vài mảnh vá dẫu trời có buốt giá thì miệng vẫn cười tươi Tình cảmchân thành tha thiết ấy không diễn tả bằng lời mà lại thể hiện bằng cáchnắm lấy bàn tay Thật giản dị và cảm động Không là vật chất của cải,không là lời hoa mĩ phô trương Những người chiến sĩ biểu hiện tình đồngchí "tay trong tay" Chính đôi bàn tay nắm chặt đã nói lên tất cả ý nghĩthiêng liêng cao đẹp của mối tình đồng chí.

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Đoạn thơ kết vừa tả cảnh thực vừa mang nét tượng trưng Tác giả tả cảnhnhững người lính phục kích chờ giặc trong đêm sương muối giữa đèo núicao Vầng trăng lơ lửng giữa trời như treo trên đầu ngọn súng Đồng thời

"Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tượng trưng Vừa thực, vừa mơ,vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu vừa mang tính trữ tình Vừa chiến

sĩ vừa thi sĩ Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn Đây làhình ảnh đẹp tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ Mốitình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu Hìnhảnh thật độc đáo gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc Nói lên đầy

đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu và mối tình đồng chíthiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ

Bằng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực gợi tả có sự khái quátcao Bài thơ là niềm xúc động về tình cảm cách mạng của người lính trongchiến đấu chống kẻ thù chung Nhà thơ đã xây dựng hình ảnh thơ từ nhữngchi tiết thực của cuộc sống đời thường của người chiến sĩ, không phôtrương, không lãng mạn hóa, thi vị hóa Chính những nét thực đó tạo nên

sự thành công của tác phẩm Bài thơ đánh dấu một bước ngoặt mới trongphương pháp sáng tác và cách xây dựng hình tượng người chiến sĩ trongthơ thời kì chống Pháp

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH - PHẠM TIẾN DUẬT

- Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh PhúThọ Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, PhạmTiến Duật gia nhập quân đội, trở thành một trong những gương mặt tiêubiểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ cứu nước

Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộckháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xungphong trên tuyến đường Trường Sơn Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻtrung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

- Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm thuộc chùm thơ của Phạm

Tiến Duật được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1970

1969 Ngay từ đầu, nhan đề bài thơ đã dự báo một giọng điệu riêng của PhạmTiến Duật: đề cập đến một đề tài hết sức đời thường, gần gũi với cuộc sốngcủa người lính trên đường ra trận Đó là chất thơ của hiện thực khắc nghiệt,

Trang 22

chất lãng mạn của tuổi trẻ trước vận mệnh vinh qung: chiến đấu để giảiphóng quê hương, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh đoàn xe nối nhau ra trận cùng vẻ đẹp tâmhồn của người lính lái xe, thể hiện qua khát vọng sống cao cả và kiêncường Qua hình ảnh người lính trong bài thơ, có thể cảm nhận được phẩmchất anh hùng, khí phách dũng cảm, bất chấp gian nguy và hồn nhiên yêuđời của thế hệ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ

- Ngôn ngữ của bài thơ rất giản dị, pha một chút ngang tàng thể hiện tinhthần bất chấp gian khổ, khó khăn của những người lính Đồng thời, việc kếthợp linh hoạt thể thơ bày chữ và tám chữ tạo cho điệu thơ gần với lời nói tựnhiên và sinh động

* Đề bài tham khảo:

1 Cảm nhận và suy nghĩ của em về bốn khổ thơ đầu bài thơ ’Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật”

Phạm Tiền Duật sinh năm 1941, mất năm 2007 vì một bệnh hiểm nghèo.Bài thơ tiểu đội xe không kính được sáng tác năm 1969, trên con đườngTrường Sơn Bài thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ và được đưavào tập thơ” Vầng trăng quầng lửa” của tác giả Bốn khổ thơ đầu thể hiện

tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn nguy hiểm, niềmvui sôi nổi của tuổi trẻ trong tình huống tình đồng đội và ý chí chiến đấu vìmiền Nam ruột thịt

Trước hết người lính trong bài thơ là những người luôn bất chấp giankhổ, khó khăn trên con đường vận chuyển hàng vào Miền Nam: Phươngtiện vận chuyển là những chiếc xe không có kính: ” Không có kính khôngphải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Với ba từ ” Không” tác giả đã lí giải một cách rõ ràng nguyên nhân xekhông có kính Không phải xe không trang bị mà xe không có kính bởi vì

lí do” Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Người lính trong bài thơ là những người lính có tư thế ung dung , hiênngang: Tư thế hiên ngang của người lính chiến sĩ lái xe Trường Sơn Dùbom rơi, xe vỡ kính, xe không đèn, xe xước nhưng người lính vẫn:

” Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất , nhìn trời, nhìn thẳng”

Từ ” Ung dung” nói lên dáng điệu cử chỉ bình tĩnh, không hề nônnóng, vội vàng hay lo lắng của người chiến sĩ lái xe Với tư thế ” nhìn đất,nhìn trời , nhìn thẳng” qua khung cửa sổ không còn nhìn kính chắn gióngười lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài: ” Nhìn thấy gió vàoxoa mắt đắng

Như xa như ùa vào buồng lái”

Những câu thơ diễn tả được cảm giác về tốc độ trên chiếc xe đang la nhanh Qua khung cửa xe không kính , không chỉ mặt đất, bàu trời, sao trời mà cảcon đường chạy thẳng vào tim

Những người lính lái xe là những người sôi nổi, vui nhộn, lạc quan:Trên đường vận tải đầy bom đạm, những người lính lái xe vẫn rất vui nhộn,

Trang 23

lạc quan, tác giả miêu tả bằng những hình ảnh hết sức chân thật , đờithường:

”Không có kính , ừ thì có bụi

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”

Những chàng trai với mái tóc xanh giờ đây bụi đường đã làm cho ” trắngxóa như người già” Họ chẳng cần vội rửa những khuôn mặt lấm Khôngnhững vậy , khi họ nhìn nhau vào khuôn mặt lấm lem của nhau cất tiếngcười ” ha ha” chỉ bằng một vài nét miêu tả chân thực mà chân dung ngườilính hiện lên thật trẻ trung , tinh nghịch, yêu đời

Người lính lái xe Trường Sơn còn là những người dũng cảm, tinh thầnquyết chiến, quyết thắng:

Người lính Trường Sơn là những con người có tinh thần quyết chiến quyếtthắng, họ vẫn chạy vì miền Nam ruột thịt:

” Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”

Với bộ quần áo ướt nước mưa vì xe không có kính, người lính lái xevẫn lái xe tiến về phía trước hàng trăm cây số Đó chính là ý chí chiến đấu

để giải phóng miền Nam, là tình yêu nước nồng nhiệt thời chống mĩ

Bài thơ đã khắc họa một hình ảnh độc đáo : những chiếc xe khôngkính Qua đó , tác giả khắc họa nổi bật hình ảnh những người lính lái xeTrường Sơn thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang , tinh thần lạc quan ,dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóngmiền Nam ruột thịt thân yêu Tác giả đưa vào bài thơ chất liệu thơ hiệnthực sinh động của cuộc sống ở chiến trường Trường Sơn, ngôn ngữ giàutính khẩu ngữ, tự nhiên, khẻo khoắn

Đề 2: Cảm nhận của em về những người chiến sĩ lái xe ấy trên đường Trường Sơn năm xưa, trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

Phạm Tiến Duật là một nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Nhà thơ đã từng cầm súng chiến đấu

và công tác trong đội ngũ những chiến sĩ vận tải chở vũ khí ra tiền tuyến:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

Niềm vui hăm hở của tuổi trẻ như cuộc sống chói chang chiếu sáng tâm hồn của người chiến sĩ, thi sĩ khiến thơ ông có giọng điệu khỏe khoắn,

tự nhiên, tràn trề sức sống, rất tinh nghịch vui tươi đầy chất lính Điều này

đã được Phạm Tiến Duật thể hiện và nâng cao hơn trong tác phẩm Bài thơ

về tiểu đội xe không kính Bài thơ đã ca ngợi những người chiến sĩ lái xe

có tư thế hiên ngang dũng cảm, bất chấp gian khổ, sống lạc quan yêu đời, quyết tâm chiến đấu vì miền Nam yêu thương

Trước hết đọc tác phẩm điều mà mỗi chúng ta cảm thấy khâm phục,

tự hào và cũng là nét bao trùm nổi bật của người chiến sĩ lái xe trong bài là

sự ung dung, thanh thản tuyệt vời trong một tư thế hiên ngang, bất khuất, bất chấp mọi khó khăn, thử thách Mặc dù:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Trang 24

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi…

…Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe thùng xe có xước…

Những người lính lái xe phải lái những chiếc xe trần trụi, xấu xí là vì bom đạn của đế quốc Mĩ đã làm cho những chiếc xe biến dạng, làm cho đồng chí đồng đội của các anh ngã xuống Chiến tranh quả là khốc liệt thế nhưng các anh vẫn lái những chiếc xe ấy băng ra ngoài mặt trận, chở vũ khí, lương thực từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn bởi các anh có những trái tim yêu nước cháy bỏng Đế quốc Mĩ đã gây bao tội ác cho đồng bào miền Nam, bắt đoàn xe phải ngừng hoạt động, gây biết bao khó khăn cho kháng chiến Song những người lính vẫn vững vàng tay lái bất chấp bom đạn của kẻ thù với tâm hồn lạc quan như niềm tin chắc chắn vào chiến thắng:

Ung dung buồng lái ta ngồi…

Nhìn đất , nhìn trời, nhìn thẳng…

Đoạn thơ hay cả về âm điệu, hình ảnh, cách nói Những câu thơ nhanh, gấp

mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn đều đặn trên đường Những câu thơ như bật ra từ trái tim người lái xe đang ngồi sau tay lái Hiện thực đầy

ắp chính xác đến từng chi tiết, nhưng đằng sau hiện thực ấy là một tâm trạng, một tư thế, một bản lĩnh chiến sĩ Xe không có kính mà họ vẫn ung dung, thanh thản, vẫn tập trung cao độ, vẫn bình tĩnh tự tin để đưa hàng xe

ra tiền tuyến với một cái nhìn đầy ngạo mạn của lòng dũng cảm Có lẽ, tác giả phải là người trong cuộc mới sáng tác được những câu thơ hay và chínhxác như thế Tâm hồn các chiến sĩ lái xe thật lãng mạn, nhờ không có kính

mà nhìn thấy sao trời, cánh chim sa, gió cứ ùa vào buồng lái và trở thành người bạn đường của họ Thiên nhiên con người như hòa vào làm một câu thơ rất thực lại mang chút nghệ sĩ đáng yêu của người lính Cả đoạn thơ như ào ra từ cuộc sống thực để nói lên tinh thần cao đẹp của người chiến sĩ đường ra trận mùa này đẹp lắm Đây phải chăng là con đường cách mạng, con đường hàng vạn, hàng triệu con người Việt Nam đang xây đắp chờ ngày “khai trương” Bằng lời thơ giản dị mà chân thành tác giả lại viết tiếp:

Không có kính ừ thì có bụi

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Những câu thơ ngồn ngộn chất sống hiện thực ở chiến trường, tác giảnhư nhìn thấy bụi trắng, bộ mặt lấm lem của người lính và nghe rõ tiếng cười sảng khoái của người lính Nhưng đằng sau những dòng buông đùa đáng yêu này cũng là một bản lĩnh chiến đấu rất vững vàng của họ, bởi không vững vàng thì không thể đùa vui như vậy Điều đó càng làm cho chúng ta thấm thía hơn sự đối lập giữa người già ở câu trên với tiếng cười

ha hả hồn nhiên, yêu đời và trẻ trung đến lạ lùng ở câu dưới Điệp từ ừ thì như một sự chấp nhận những khó khăn đã được nhà thơ miêu tả khá rõ nét Mặc dù bụi đường phun tóc trắng nhưng người lính vẫn không hề nao núng, vẫn bình tĩnh coi thường khó khăn, gian khổ Mặc dù Mưa tuôn, mưaxối như ngoài trời song người lính vẫn chưa cần Vậy đó,dù trong khó khăncác anh vẫn cười tươi để động viên nhau cố gắng

Trang 25

Dường như khó khăn, thử thách không chỉ giúp con người ta tôi rèn ýchí mà còn giúp cho tình bạn thêm gắn bó keo sơn Phạm Tiến Duật đã pháthiện và ghi lại điều đó về vẻ đẹp của những người lính lái xe và những hìnhảnh thơ độc đáo:

Những chiếc xe từ trong bom rơi

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Những cỗ xe đã chiến thắng với những vũ khí tối tân của Mĩ và hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, họ đã gặp nhau, động viên nhau bằng một cái bắt tay thân thiện, cái bắt tay ấy đâu chỉ là một cái bắt tay đơn thuần mà là

cả một niềm tin vào chiến thắng Nó giúp cho con người xích lại gần nhau,

nó như một sợi dây nối liền tâm hồn tình cảm của những người lính Phạm Tiến Duật đã dành cho tình đồng đội của người lính một khổ thơ chân thật

và xúc động.Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Lại đi lại đi trời xanh thêm

Đời người lính là đi, nhất là người lính lái xe Nhưng trong cái giây phút dừng chân ngắn ngủi ấy, ta càng cảm thấy rõ sự gắn bó tự nhiên mà cao đẹp của tình đồng đội Chỉ là bếp Hoàng Cầm , là võng mắc chông chênh mà chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy, câu thơ đẹp cả về tính cách, cách nhìn, cách nghĩ của người chiến sĩ Có khác gì câu thơ nói về tình đồng chí của Chính Hữu hơn hai mươi năm trước đêm rét chung chăn thànhđôi tri kỉ và có phải tình đồng đội đã ngân lên câu hát nâng bước chân người lính đi tiếp những chặng đường mới lại đi, lại đi trời xanh thêm

Dường như chính vì tình yêu thương đùm bọc mà người lính đã quyếtchiến đấu với giặc Phạm Tiến Duật đã kết thúc bài thơ bằng một sự nhận thức sâu sắc của người lính lái xe cho dù các anh có phải đối mặt với bao khó khăn của cuộc chiến đấu nhưng các anh vẫn chạy vì miền Nam phía trước Và đoàn xe của các anh đã chiến thắng, các anh đã ra tiền tuyến bằngmột tình cảm thiêng liêng vì miền Nam thân yêu, vì chiến đấu giành lại độclập tự do và thống nhất đất nước Điều này đã được các anh thực hiện bằng trái tim của mình: chỉ cần trong xe có một trái tim Đó là một hình ảnh tỏa sáng chói ngời đã đúc kết lại phong cách của người lính gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh chứa chan tình yêu thương với đồng đội, đất nước Chính lí do này đã khích lệ người lính vượt qua mọi thử thách Dường như quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người – con người mang trái tim, nồng nàn yêu thương, ý chí, lòng dũng cảm và có niềm tin vững chắc

Bài thơ mang chất lính rất đượm, là tiếng nói hồn nhiên thường ngày của người lính đã đi vào trong thơ ca Nhưng đấy là tính cách lính trẻ của thời kháng chiến chống Mĩ, họ có học thức, có bản lĩnh chiến đấu, có cuộc sống nội tâm hết sức phong phú Qua bài thơ ta càng khâm phục và học tập

ở các anh nét hồn nhiên và tình yêu đời, yêu đất nước tha thiết

Đề 3: Phân tích đoạn thơ :

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Trang 26

Chỉ cần trong xe có một trái tim

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)

Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt xuất sắc của thơ ca ViệtNam thời chống Mĩ cứu nước Ông được gọi là "Viên ngọc Trường Sơn củathơ ca" bởi đã mang cả hào khí thời đại cùng dãy Trường Sơn vào thơ Đặcbiệt mảng thơ về người lính lái xe của thi sĩ đã để lại ấn tượng thật thú vị

Đó là những "Vết xe lăn" nóng bỏng trong những bài thơ trên đường ra trậnthời chống Mĩ

Trong số những vần thơ thông minh, dí dỏm về người lính lái xe này củaPhạm Tiến Duật, phải kể đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài thơ được viết năm 1969, in trong tập "Vầng trăng - Quầng lửa".Hình tượng thơ hết sức độc đáo : những chiếc xe không kính băng băng ratrận bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh Để cuối bài thơ, tácgiả đưa ra một ý tưởng thật bất ngờ - đó là "trái tim cầm lái":

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Ở phần đầu bài thơ, Phạm Tiến Duật đã giải thích rất đơn giản mà sắcsảo : "Không có kính không phải vì xe không có kính" bởi vì : "Bom giậtbom rung kính vỡ đi rồi" Chiến tranh bom đạn tàn phá, xe không kínhchắn gió vẫn ra trận thanh thản mà ung dung Hai câu đầu khi kết, tác giảmột lần nữa tả hình dáng của chiếc xe quân sự thời chống Mĩ :

Không có kính rồi xe không có đèn

Không có mui xe thùng xe có xước

Đã không kính - gió, bụi, mưa tuôn vào buồng lái, khó khăn chồng chấthơn khi xe lại không có đèn, rồi không có mui xe thùng xe có xước Mộthình ảnh thực qua bao trận chiến Người lái xe phải huy động mọi giácquan, năng lực để lái xe trong hiểm nguy Tất cả đều vượt qua bởi :

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đây là chủ đề sâu thẳm của bài thơ Đây mới là điều hệ trọng và thiêngliêng mà cả bài thơ đầy giọng "ngang tàng", lạc quan chưa hé lộ Nhà thơ

đã nói đúng tinh thần thời đại : Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước - Mà lòngphơi phới dậy tương lai (Tố Hữu) Cả nước lên đường đánh Mĩ vì MiềnNam ruột thịt Vậy là trái tim đã giúp những người lính vượt qua gian khổtrên những chiếc xe không kính, không đèn, không mui xe Trái tim rựclửa căm thù giặc và nóng bỏng yêu thương đồng bào Miền Nam ấy chính là

vẻ đẹp sâu thẳm của tâm hồn Việt Nam thời đánh Mĩ, là trái tim nhân hậu,thủy chung của cả dân tộc

Thơ là thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp Phạm TiếnDuật đã thể hiện thành công tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước trongnhững năm tháng đánh Mĩ hi sinh gian khổ mà vĩ đại của dân tộc ta

Trang 27

Chiến tranh đã lùi xa mãi mãi, nhưng những "dấu xe trên dãy TrườngSơn" của những chiếc xe độc đáo một thời góp phần làm nên kì tích trongthơ Phạm Tién Duật sẽ còn đánh thức tâm hồn chúng ta.

ÁNH TRĂNG - NGUYỄN DUY

* Kiến thức cơ bản:

Đề 1: Từ bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy hãy viết về những suy tư của người lính sau chiến tranh.

Cuộc kháng chiến đã qua đi, người lính trong chiến tranh giờ đây đã

về với cuộc sống hàng ngày Sự bận rộn hôm nay khiến người ta quên lãngquá khứ Nhưng có một lúc nào đó trong đời thường những kỉ niệm chiếntranh lại như những thước phim quay chậm hiện về Nguyễn Duy gửi tớibạn đọc thi phẩm “Ánh trăng” cũng chính là gửi tới bạn đọc thông điệp :Không nên sống vô tình, phải biết thủy chung nghĩa tình cùng quá khứ

“Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Vầng trăng thành tri kỉ”

Hình ảnh những đồng, sông, bể, rừng nguyên sơ, thuần hậu trong khổthơ đầu này là nơi đã nuôi dưỡng, che chở cho tuổi thơ và năm tháng chiếntranh, cả một quãng đường dài sống trong tình thương yêu, gắn bó với thiênnhiên, với những miền quê ấy, vầng trăng thành tri kỉ Trăng như mái nhà,như người bạn thân thiết của tâm hồn Ở đó tâm hồn tình cảm con ngườicũng đơn sơ thuần phác như chính thiên nhiên Trăng và người đã tạo nênmối giao tiếp, giao hoà thủy chung tưởng như không bao giờ có thể quênđược.“Từ hồi về thành phố

Như người dưng qua đường”

Khi chiến tranh kết thúc Người lính trở về bị hấp dẫn bởi đô thị, vớiánh điện, cửa gương, những ánh sáng nhân tạo đã làm họ quên đi ánh sáng

tự nhiên hiền dịu của trăng Cuộc sống hiện đại với nhiều tiện nghi đã làmcho con người thờ ơ, vô tình với những ngày gian khổ, cùng đồng đội, đồngchí chung một chiến hào mà trăng là biểu tượng: “Vầng trăng đi qua ngõNhư người dưng qua đường”

Từ hình ảnh vầng trăng “tri kỉ”, vầng trăng tình nghĩa trở thành người dưngqua đường, Nguyễn Duy đã diễn tả được cái đổi thay của lòng người, cáilãng quên, dửng dưng cùng thời gian “xa mặt cách lòng” đến phũ phàng

So sánh thật thấm thía: “như người dưng qua đường”

Cũng như dòng sông có khúc phẳng lặng êm đềm, cũng có khúcghềnh thác dữ dội Cuộc đời vốn cũng nhiều biến động Ghi lại một tìnhhuống, cuộc sống nơi thị thành của những con người từ rừng về thành phố,Nguyễn Duy đặt con người vào bối cảnh

“Thình lình đèn điện tắt

Phòng buynh đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

Trang 28

Khi ánh trăng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm khắp không gian thì vầngtrăng xuất hiện khiến con người ngỡ ngàng trước ánh trăng thân thương củatuổi thơ trên những nẻo đường ta sống và trong cuộc chiến gian khổ, ác liệt.Cuộc sống hiện đại làm cho lòng người thay đổi Trước người bạn vô tình

ấy, trăng chẳng nói, chẳng trách khiến người lính cảm thấy có cái gì rưngrưng Ánh trăng soi chiếu khiến người ta nhận ra độ lệch của nhân cáchmình “Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình”

Ánh trăng trước sau vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung Trănglặng lẽ tròn đầy một cách trong sáng, vô tư, mặc cho thời gian trôi, mặc chobạn bầu xưa ai đó quay lưng dù trong quá khứ vốn là tri kỉ Nhưng trăngcũng khơi gợi niềm xúc động, đánh thức lương tâm ở con người Cái giậtmình được diễn tả trong khổ thơ “vô ngôn” thể hiện sự thức tỉnh đáng quínày Qua bài thơ, Nguyễn Duy đã khám phá ra vẻ đẹp không bao giờ kếtthúc của lương tri Dường như cuộc sống mới đầy đủ hơn khiến cho conngười lãng quên ánh trăng Hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn dấu trongtâm hồn con người không bao giờ ngơi nghỉ và việc hoàn thiện mình củachính mỗi con người cũng không phải một sớm một chiều

Cuộc đấu tranh hướng thiện âm thầm mà khốc liệt, nó đòi hỏi lòngdũng cảm của con người Người lính năm xưa đã dành trọn quá khứ soimình trong hiện tại để đấu tranh loại bỏ sự vô tình vô nghĩa của bản thân,hướng tới sự cao cả, tốt đẹp

“Ánh trăng” là bài thơ không quên về quá trình hướng thiện, quá trình hoànthiện mình của mỗi con người trong cuộc sống hôm nay

Đề 2: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy để cảm nhận được bài học sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm.

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nước Nguyễn Duy nổi tiếng với các bài thơ như : “Tre ViệtNam”, “Hơi ấm ổ rơm”, Hiện nay, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác,ông viết đều những bài thơ tài hoa, đậm chất suy tư

“Ánh trăng” (1978) là một trong những bài thơ của Nguyễn Duy đượcnhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mớilạ

Hai khổ thơ đầu, tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp :

“Hồi nhỏ sống với đồng

Vầng trăng thành tri kỉ”

Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu Trăng gắn với đồng ruộng,dòng sông, biển cả Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng gắn bó với người Nhưngphải đến khi ở rừng, nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn

xa gia đình, quê hương vầng trăng mới trở thành “tri kỉ” Trăng với tác giả

là đôi bạn không thể thiếu nhau Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng camcộng khổ

Trang 29

Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình yêu thương quí trọngcủa mình với trăng :

“Trần trụi với thiên nhiên

Cái vầng trăng tình nghĩa”

Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp mộtcách vô tư, hồn nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hoà vào cây cỏ “Vầngtrăng tình nghĩa”, bởi trăng từng chia ngọt, sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởitrăng là người bạn, tri âm, tri kỉ

Ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái “vầngtrăng tình nghĩa” ấy : “Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện, cửa gương

Vầng trăng đi qua ngõ

Như người dưng qua đường”

Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trường đãthay đổi Từ hồi về thành phố đời sống cũng thay đổi theo :“quen ánh điện,cửa gương” “Ánh điện”, “cửa gương” tượng trưng cho cuộc sống sung túc,tiện nghi, sang trọng dần dần “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bịlãng quên “Vầng trăng” ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ,cho tình bạn, tình đồng chí hình thành từ những tháng năm ấy Trăng bâygiờ thành “người dưng” Con người ta thường hay đổi thay như vậy Bởithế đời vẫn thường nhắc nhau : “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay” Ở thành phố

vì quen với “ánh điện, cửa gương” quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nênngười đã không thèm để ý đến “Vầng trăng” - con người, mảnh đất từng làtri kỉ một thời

Phải đến lúc toàn thành phố mất điện : “Phòng buyn đinh tối om

Vội bật tung cửa sổ

Đột ngột vầng trăng tròn”

“Vầng trăng” xuất hiện thật bất ngờ Khoảnh khắc ấy, phút giây ấy ngườilính năm xưa mới bàng hoàng thức tỉnh Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa vềlàm "Con người này" cứ “rưng rưng” nước mắt “Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng "

" Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình ”

Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng Trăng baodung và độ lượng biết bao ! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy “đủ cho ta giậtmình” mặc dù trăng không một lời trách cứ Trăng tượng trưng cho vẻ đẹpbền vững, phẩm chất cao quí của nhân dân, tượng trưng cho vẻ đẹp bềnvững của tình bạn, tình đồng đội trong những tháng năm “không thể nàoquên” Tượng trưng cho "mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ”

“Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã gây được nhiều xúc động đối với độc giảbởi cách diễn đạt bình dị như lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành.Giọng thơ trầm tĩnh sâu lắng Tứ thơ bất ngờ mới lạ ,“Ánh trăng” còn mang

ý nghĩa triết lí về sự thuỷ chung khiến cho người đọc phải “giật mình” suynghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn

4 Phân tích đoạn thơ sau :

Trang 30

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Đủ cho ta giật mình

(Ánh trăng, Nguyễn Duy)

Hàng ngàn năm nay, vầng trăng đã hiện diện trong thơ Trăng nhưmột biểu tượng thơ mộng gắn với tâm hồn thi sĩ Nhưng có một nhà thơcũng viết về trăng, không chỉ tìm thấy ở đấy cái thơ mộng, mà còn gửi gắmnhững nỗi niềm tâm sự mang tính hàm nghĩa độc đáo Đó là trường hợp bàithơ Ánh trăng của Nguyễn Duy viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh

Khác với những bài thơ thời chiến tranh mà con người chỉ có một lítưởng là chiến đấu và sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, con người không cóđiều kiện để sống cho những gì thuộc về riêng tư, hay chuyện đời thường.Đọc bài thơ này ta nhận ra cái điều mới lạ ấy Bước từ chiến tranh sangthời bình, con người bắt đầu có những toan tính, những ham muốn đượchưởng thụ Nguyễn Duy mượn vầng trăng và người lính nói về một sự thayđổi trong lòng người

Vầng trăng trong thời tuổi thơ và chiến tranh gắn bó đẹp là vậy thế

mà do hoàn cảnh, con người đã lãng quên để rồi từ trong sâu thẳm tâm hồn,con người phải day dứt Hai khổ kết bài thơ là một sự thức tỉnh, một bàihọc làm người

Với ý nghĩa này, Ánh trăng mang tính chất triết lí sâu sắc, có tácdụng cảnh tỉnh những ai dễ lãng quên quá khứ tốt đẹp Cần biết sống thủychung, nghĩa tình

Sau chiến tranh "Thời tôi sống biết bao câu hỏi lớn/ Câu trả lời thật không

dễ dàng chi" Ánh trăng của Nguyễn Duy giúp mỗi người tìm được câu trảlời thấm thía trong cái "giật mình", "rưng rưng" ấy

CON CÒ – Chế Lan Viên

- Chế Lan Viên (1920 – 1989) là nhà thơ xuất sắc của nền thơ hiện đại ViệtNam Chế Lan Viên có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnhthơ Hình ảnh thơ của ông phong phú, đa dạng, kết hợp giữa thực và ảo,thường được sáng tạo bằng sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, nhiềubất ngờ, kì thú

“Con cò” được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ “Hoa ngày thường Chim báo bão” (1967) Bài thơ thể hiện khá rõ một số nét của phong cáchnghệ thuật Chế Lan Viên trên cơ sở khai thác và phát triển hình ảnh con cò

Trang 31

-trong những câu hát ru quen thuộc, để ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ruvới cuộc đời mỗi người.

- Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962, in trong tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão Hình tượng con cò trong những câu hát ru đã thể

hiện những suy nghĩ sắc sảo và chan chứa cảm xúc của tác giả về tình mẹ

và lời ru

- Bao trùm cả bài thơ là hình tượng con cò Đó là con cò trong ca daotruyền thống, xuất hiện rất phổ biến và được dùng với nhiều ý nghĩa khácnhau, nhưng ý nghĩa phổ biến nhất là hình ảnh người nông dân, người phụ

nữ trong cuộc sống nhiều vất vả, nhọc nhằn nhưng luôn thể hiện đượcnhững đức tính tốt đẹp và niềm vui sống

Hình tượng trung tâm trong bài thơ là cánh cò nhưng cảm hứng chủ đạolại là tình mẹ Hình ảnh con cò đã gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sựdìu dắt, nâng đỡ đầy dịu dàng của người mẹ Bởi vậy, những câu thơ mangtính khái quát trong bài đều là những câu thơ chan chứa tình cảm yêuthương của người mẹ Đó là một quy luật tình cảm bền vững và sâu sắc, thểhiện tình cảm yêu thương vô bờ bến của người mẹ Dù ở đâu, bên mẹ hayđến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hếtlòng thương yêu, che chở

- Tác giả sử dụng thể thơ tự do nhưng các đoạn thường được bắt đầu bằngnhững câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp gợi âm điệu lời

ru Hình ảnh con cò trong ca dao trở thành điểm tựa cho những liên tưởng,tưởng tượng của tác giả Những hình ảnh trong bài thơ gần gũi, xác thựcnhưng đồng thời cũng giàu ý nghĩa biểu tượng và sắc thái biểu cảm

* Đề bài tham khảo:

Đề 1: Cảm nhận về hình tượng con cò trong bài thơ cùng tên của Chế Lan Viên.

Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng của nền văn học Việt Nam.Ông có một phong cách nghệ thuật rõ nét, độc đáo đó là những suy tưởng,triết lý đậm chất trí tuệ và tính hiện đại Đặc biệt, nhà thơ còn có nhiềusáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ: đa dạng, phong phú, kết

hợp giữa thực và ảo “Con cò” là một bài thơ như thế.

Con cò - hình tượng thơ xuyên suốt bài thơ và cũng là tên tác phẩmđược khai thác từ trong ca dao truyền thống Hình ảnh này xuất hiện rấtphổ biến trong ca dao và dùng với nhiều ý nghĩa Đó là hình ảnh ngườinông dân chân lấm tay bùn, vất vả cực nhọc; là người phụ nữ cần cù, lam lũnhưng tất cả đểu giàu đức hi sinh Trong bài thơ này, nhà thơ vận dụng hìnhtượng ấy để làm biểu trưng cho tấm lòng người mẹ và những lời hát ru.Bài thơ có bố cục ba phần ba đoạn với những nội dung được gắn với nhau

bằng một lôgic khá mạch lạc: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu

đến với tuổi thơ ấu, đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽtheo cùng con người trên mọi chặng của cuộc đời Từ hình ảnh đó suyngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và lòng mẹ đối với cuộc đời mỗingười

Trang 32

Xuyên suốt bài thơ, hình tượng con cò được bổ sung biến đổi trong mốiquan hệ với cuộc đời con người, từ thơ bé đến trưởng thành và suốt cả đờingười.

Mở đầu bài thơ, hình ảnh được gợi ra liên tiếp từ những câu ca daodùng làm lời hát ru Ở đây tác giả chỉ lấy vài chữ trong mỗi câu ca daonhằm gợi nhớ những câu ca dao ấy Những câu ca dao được gợi lại đã thểhiện ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng trong ca dao Câu "con

cò Cổng Phủ con cò Đồng Đăng" gợi tả không gian và khung cảnh quenthuộc của cuộc sống ngày xưa từ làng quê đến phố xá

Hình ảnh con cò gợi vẻ nhịp nhàng, thong thả, bình yên của cuộc sống vốn

ít biến động thời xưa Câu ca dao “con cò mà đi ăn đêm” hình ảnh này lạitượng trưng cho những con người cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọcnhằn vất vả, lặn lội kiếm sống

Qua lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đến với tâm hồn ấu thơ một cách vôthức Đây chính là sự khởi đầu con đường đi vào thế giới tâm hồn của conngười qua lời ru, của ca dao, dân ca

Con trẻ chưa hiểu nội dung, ý nghĩa của bài ca dao nhưng chúng được vỗ

về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru Chúng được đón nhậnbằng trực giác tình yêu và sự che chở của người mẹ Và khép lại đoạn thơ

là hình ảnh thanh bình của cuộc sống

Sau những năm tháng nằm nôi, cánh cò trở thành người bạn đồng hành củatuổi thơ: “Cò trắng đến làm quen

Cánh của cò, hai đứa đáp chung đôi”

Đến tuổi tới trường:

“Con theo cò đi học

Và trong hơi mát câu văn…”

Cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm thức của tuổi thơ trở nên gần gũi, thânthiết và theo con người đi suốt cuộc đời Từ trong ca dao, cánh cò đã đượctiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người Hình ảnh ấy được xâydựng bằng sự liên tưởng như được bay ra từ trong ca dao để sống tronglòng con người, theo cùng và nâng đỡ con người trong từng chặng đường.Hình ảnh con cò gợi ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡdịu dàng và bền bỉ của người mẹ

Đến phần thứ ba của bài thơ, hình ảnh cánh cò đã được đồng nhất với hìnhảnh người mẹ Tấm lòng của mẹ như cánh cò lúc nào cũng ở gần bên controng suốt cuộc đời:

“Dù ở gần con

Dù ờ xa con

Lên rừng xuống bể

Cò sẽ tìm con

Cò mãi yêu con"

Từ đây, Chế Lan Viên khẳng định một quy luật của tình cảm có ý nghĩa bềnvững, rộng lớn và sâu sắc: tình mẫu tử

"Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con"

Trang 33

Câu thơ đi từ cảm xúc đến liên tưởng để khái quát thành những triết lý Dù

đi đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay dã lớn khôn thìcon vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở

Bài thơ sử dụng thể thơ tự do nhưng cũng có câu mang dáng dấp của thểthơ 8 chữ Thể thơ tự do giúp người thi sĩ khả năng thể hiện cảm xúc mộtcách linh hoạt, dễ dàng biến đổi Các đoạn thơ được bắt đầu bằng câu thơngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp lại hoàn toàn gợi âm điệu lời

ru Đặc biệt, giọng thơ gợi được âm hưởng của lời ru nhưng không phải làmột lời ru thực sự Đó còn là giọng suy ngẫm triết lý Nó làm cho bài thơkhông cuốn người ta vào hẳn điệu ru êm ái đều đặn mà hướng vào sự suyngẫm, phát hiện

Không chỉ vậy, trong bài thơ này, Chế Lan Viên vẫn chứng tỏ được

sức sáng tạo trong việc tạo ra những hình ảnh nghệ thuật giàu sức gợi Đó

là việc vận dụng sáng tạo hình ảnh con cò trong ca dao Hình ảnh con cò lànơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng tưởng tượng hình ảnh củatác giả Chế Lan Viên đã chứng minh rằng hình ảnh biểu tượng dù gần gũi,quen thuộc đến đâu vẫn có khả năng hàm chứa những ý nghĩa mới, có giátrị biểu cảm

“Con cò” của Chế Lan Viên là một bài thơ độc đáo Viết về một đề tàikhông mới: tình mẫu tử; chọn những thi liệu đã thành truyền thống: hìnhảnh con cò và âm điệu lời ru Song, bằng sức sáng tạo và tài năng nghệthuật, Chế Lan Viên đã để lại cho văn học một tứ thơ lạ và đầy suy tưởngsâu sắc Đọc “Con cò”, ta như thấy trong mình ăm ắp những yêu thương

mà cả cuộc đời của mẹ đã dành trọn cho mình

Đề 4 Tình mẹ lớn lao, sâu nặng qua bài thơ" Con cò" của Chế Lan Viên.

Chế Lan Viên là đại biểu xuất sắc của nền thơ hiện đại Việt Nam Đọc thơông người đọc có thể rút ra từ đó những triết lý sâu sắc về tình yêu, cuộcsống con người Thơ Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc không ở sự lấp lánh

từ ngữ mà ở chiều sâu những suy ngẫm đầy nhân bản Mỗi hình tượng thơông là một biểu tượng của những tầng lớp ý nghĩa hàm ẩn khác nhau Con

cò là một bài thơ như thế Từ hình tượng con cò n hà thơ đã đi đến nhữngkhát quát sâu sắc về tình yêu thương của mẹ trong cuộc đời mỗi con người:

Mẹ là tâm hồn quê hương, mẹ là bàn tay chở che ấp ủ, là điểm tựa nâng đỡcon người

Trang 34

Hình tượng người mẹ trong bài thơ được nhà thơ miêu tả gắn liền với từngđoạn đời của mỗi con người.

Ở đoạn đời đầu tiên khi con còn ẵm ngửa, tình mẹ gửi trong từng câu hát ruquen thuộc Trong câu hát có hình ảnh quê hương, có hình ảnh những cuộcđời lam lũ, tảo tần một nắng hai sương nuôi con khôn lớn Thấm đẫm tronglời hát là những xúc cảm yêu thương trào dâng trong trái tim của mẹ:

Cò một mình cò phải kiếm lấy ăn

Con có mẹ con chơi rồi lại ngủ

mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”

Lời ru mang tâm hông quê hương ấy trở thành người bạn tuổi ấu thơ, thànhtâm hồn của con lúc trưởng thành Cánh cò và tình mẹ đã đi vào tâm hòncon như thế Và sẽ theo con đến suốt cuộc đời:

Dù ở gần con

Dù ở xa con

Lên rừng xuống bể

Cò sẽ tìm con

Cò mãi yêu con

Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con

Dưới hình thức thơ tự do, nhà thơ đã dựng lên cả một bầu trời yêu thươngbao la mà đặc điểm của nó là không gian và thời gian không giới hạn Lênrừng - xuống biển – hai chiều không gian gợi nên ấn tượng về những khókhăn của cuộc đời; “gần” – “xa, khoảng cách địa lý diệu vợi cũng là mộttrở ngại có thể cản ngăn tình cảm nhưng chẳng thể nào là những cản trở đốivới tình yêu thương mà mẹ dành cho con Tình yêu thương của mẹ “luôn”,

“vẫn”, “sẽ”, “mãi” bên con cho dù có thể một ngày nào đó mẹ không còn

có mặt trên đời Tấm lòng người mẹ muôn đời vẫn vật Vượt ra ngoài mọikhoảng cách và giới hạn, không chịu khuôn mình trong không gian và thờigian Đó là quy luật mà nhà thơ đã trình bày và khát quát trong suốt cả bàithơ Nguyễn Duy cũng đã từng khái quát về tình yêu ấy trong những câuthơ đầy triết lý:

Ta đi trọn một kiếp người

Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bài thơ khép lại trong những câu thơ đúc kết về sự gắn bó máu thịt giữacuộc đời mỗi con người và tình yêu thương của mẹ Cuộc đời mỗi conngười sẽ chẳng thể nào thiếu đi phần tình cảm thiêng liêng nhất ấy bởi đócòn là tình quê hương là nguồn cội là bến bờ che chở nâng đỡ mỗi conngười

Trang 35

Bằng con đường của sự suy tưởng, Chế Lan Viên đã dựng lên về hìnhtượng người mẹ Việt Nam bằng tình yêu thương “vượt ra ngoài mọi bờ cõi

và giới hạn, gắn với từng chặng đời, theo từng bước con đi Mỗi người ViệtNam trưởng thành hôm nay đều bắt đầu từ đó Trong văn học và trong tâmthức mỗi người, mẹ luôn và bao giờ cũng là hình ảnh đẹp đẽ nhất, rức rỡnhất Với người này là sự chăm sóc, nâng niu “Cơm con ăn tay mẹ nấu,nước con uống tay mẹ đun” Với người khác là chữ vấp ngã cuộc đời đượcbàn tay mẹ chở che bao bọc “ba mẹ là lá chắn che chở suốt đời con” Tất cả

để khẳng định một điều con người lớn lên không thể thiếu được tình yêuthương của mẹ Bài thơ “Con cò” đã được nhà thơ khái quát từ tất cả nhữngtình cảm ấy Bài thơ là lời ngợi ca tình yêu sâu sắc bao la của mỗi người mẹtrong cuộc đời này Bài thơ ra đời cách chúng ta đã bốn mươi năm nhưngnhững triết lý về cuộc đời và tình yêu của mỗi con người vẫn chưa vàkhông bao giờ cũ bởi vì chẳng có điều gì trên thế gian có thể vĩnh cửu bằngtình mẹ với con Người mẹ chính là tượng đài bất tử về con người là nhưthế

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải

Kiến thức cơ bản:

- Nhà thơ Thanh Hải (1930-1980) quê ở huyện Phong Điền, tỉnh ThừaThiên − Huế Ông hoạt động văn nghệ trong suốt những năm kháng chiếnchống Pháp rồi chống Mỹ và là một trong số những cây bút có công xâydựng nền văn học cách mạng ở miền Nam thời kỳ đầu

- Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ thể hiện niềm yêu mến thiết tha với cuộc

sống, với đất nước và ước nguyện của tác giả về một cuộc sống ngày càngtươi đẹp hơn

- Chỉ bằng vài nét phác hoạ, tác giả đã vẽ ra cả không gian cao rộng vớidòng sông, mặt đất, bầu trời bao la, với màu sắc tươi thắm (sông xanh, hoatím biếc), với những âm thanh vang vọng (tiếng chim chiền chiện) của mùaxuân Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyểnsang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm về mùa xuân đất nước Đó làkhát vọng được hoà nhập vào cuộc sống, được cống hiến phần tốt đẹp củamình cho cuộc đời chung

- Bài thơ có nhịp điệu trong sáng, thiết tha, gợi cảm, gần gũi với dân ca.Đặc điểm ấy có được là nhờ nhà thơ đã sử dụng các yếu tố như thể thơ,cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cách sử dụng các điệp từ, điệp ngữ rất hiệuquả Thể thơ năm chữ gắn liền với các điệu dân ca, nhất là dân ca miềnTrung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết Cách gieo vần liền giữa các khổthơ cũng góp phần toạ nên sự liền mạch cho cảm xúc Kết hợp những hìnhảnh tự nhiên giản dị (bông hoa tím, tiếng chim hót, vì sao ) với các hìnhảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát (đất nước như vì sao ), tứ thơ xoayquanh hình ảnh mùa xuân, từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân của quêhương đất nước Cách cấu tứ như vậy khiến cho ý thơ luôn tập trung, cảmxúc trong thơ không bị dàn trải Giọng điệu của bài thơ biến đổi phù hợpvới nội dung từng đoạn: vui, say sưa ở đoạn đầu, trầm lắng, thiết tha khibộc bạch tâm niệm, sôi nổi, tha thiết ở đoạn kết

Trang 36

* Đề bài tham khảo:

Tố Hữu - nhà thơ cùng quê hương xứ Huế với Thanh Hải - đã viết trong bài "Một khúc ca xuân" những lời tâm niệm thật chân thành, giản dị và tha thiết Còn Thanh Hải khi viết bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" trước lúc ra đi, không những đã giải bày những suy ngẫm mà còn mong ước được dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vĩ đại của đất nước Việt Nam Thanh Hải đã thể hiện “tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời rõ nhât trong hai khổ thơ 4,5:Sau những dòng thơ dâng tràn tình yêu thiên nhiên , lòng tự hào, lạc quan, tin yêu đối với đất nước, dân tộc Thanh Hải chuyển sang giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người Từ cảm xúc của thiên

nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước

Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng Với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng chân thành và tha thiết

"Ta làm con chim hót,

những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vàovườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc,

tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp Nhà thơ nguyện cầu được làm một

“nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ

để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về Được

tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước Một ước

mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu

tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước

Trang 37

được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một

lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc.

Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời Thật cảm động làm sao trước ao ước của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùaxuân lớn lao ấy Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ

Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời "Dù là tuổi hai mươi" khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và những câu thơ này là một trong những câu thơ cuối cùng "Một mùa xuân nho nhỏ" cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi

Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực, luônchứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất Và bài thơ này cũng chính

là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông Ông đã giải bày, tâm tình nhữngđiều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ,cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau

Đề 2: Cảm nhận của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải

Mùa xuân là mùa hội tụ của cái đẹp, căng tràn nhựa sống vào buổi bình minh với những chồi non lộc biếc, tiếng chim ca vui về làm tổ, với những nàng xuân dịu dàng hát câu quan họ Có lẽ vì thế mà thi nhân muôn đời yêu mến xuân Với Thanh Hải, ta được thưởng thức một Mùa xuân nho nhỏthân thương, gần gũi

Bài thơ được ra đời lúc nhà thơ Thanh Hải đang giành giật với tử thần từng phút sống, từng hơi thở cuối cùng Trong tâm lí nặng nề vì bệnh tật giày vò mà hồn thơ Thanh Hải vẫn cất cánh bay cao để rồi mang đến cho đời một tình yêu cuộc sống thiết tha và ước nguyện chân thành được cống hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho Tổ quốc thân yêu Tác giả muốn dâng tặng Mùa xuân nho nhỏ cho đời

Trang 38

Bài thơ mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên mùa xuân mang sắc màu và âm thanh quen thuộc của đồng quê được vẽ bằng hình ảnh bình dị, chọn lọc, gợi cảm Cảm xúc trước mùa xuân của tác giả mở ra thật ngỡ ngàng, khônggian dường như tươi mới hơn, thánh thót hơn.

Mọc giữa dòng sông xanh

Tôi đưa tay tôi hứng

Đó là màu tím biếc của bông hoa dân dã soi bóng dưới dòng sông trong xanh Đặc biệt là tiếng chim chiền chiện trong trẻo, loài chim cất tiếng hót báo hiệu tin vui, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người Từ

"ơi" cảm thán biểu lộ niềm vui ngây ngất trước đất trời xuân Tất cả gợi cho

ta cảm giác một không gian bận bịu và chắt chiu Hai tiếng "hót chi" là giọng điệu thân thương của người dân Huế được tác giả đưa vào diễn tả cảm xúc thiết tha giữa người với tạo vật Ngắm dòng sông, nhìn bông hoa đẹp, nghe chim hót, nhà thơ bồi hồi sung sướng:

Từng giọt long lanh rơi

Tôi đưa tay tôi hứng

Tiếng chim chiền chiện thả vào không gian trong suốt của mùa xuân được cảm nhận thành từng giọt mang màu sắc long lanh Điều đó cũng chứng tỏ một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, một tấm lòng thiết tha yêu mến cuộc sống tươi đẹp này "Đưa tay hứng" là một cử chỉ bình dị mà trân trọng, thể hiện

sự xúc động sâu xa Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh xuân đẹp tươi và đáng yêu vô cùng Đó là vẻ đẹp và sức sống mặn mà của đất nước vào xuân

Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, dẫn đến cảm nhận về mùa xuân của đất nước Sự chuyển mạch ấy là tự nhiên và hợp lí Bởi mùa xuân là "lộc" đất trời của chung mọi người

Mùa xuân người cầm súng

Lộc giắt đầy trên lưng

Mùa xuân người ra đồng

Lộc trải dài nương mạ

"Lộc" ở đây có thể hiểu là sức mạnh dân tộc, "lộc trải dài nương mạ" là sự hối hả xôn xao cho một mùa màng mới, cho đồng ruộng vẫn mãi mãi bạt ngàn một màu xanh "Người cầm súng và "người ra đồng" là hai lực lượng chính dựng xây Tổ quốc Đây là mùa xuân trách nhiệm gắn với ý thức bảo

vệ dân tộc Câu thơ mang một ý nghĩa sâu sắc: Người ra trận phải đổ máu, người ra đồng phải đổ mồ hôi nước mắt Máu, mồ hôi, nước mắt của nhân dân ta đã góp phần giữ lấy mùa xuân mãi mãi của dân tộc

Đất nước bốn ngàn năm

Cứ đi lên phía trước

Biết bao nhiêu mùa xuân ông cha ta đánh giặc giữ nước, bao nhiêu mùa xuân lập chiến công chống quân xâm lược "vất vả và gian lao" Thanh Hải

tự hào khi nghĩ về đất nước với bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước Đất nước như vì sao sáng vượt qua vất vả và gian lao để đi lên phía trước Từ

"cứ" đặt đầu câu thơ như một sự khẳng định, thể hiện một chân lí đơn giản

mà thiêng liêng Có thể nói bao nỗi nhọc nhằn, đắng cay của dân tộc được

Trang 39

đáp lại bằng những mùa xuân tiếp nối vô tần Đó là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của nhà thơ đối với đất nước, với dân tộc.

Rung cảm thiết tha trước mùa xuân đất nước, nhà thơ bộc bạch một ước nguyện chân thành:

Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào họa ca

Một nốt trầm xao xuyến

"Con chim hót" để gọi xuân về, mang hạnh phúc yên vui cho mọi người,

"một cành hoa" để tô điểm cho núi sông, một nốt nhạc trầm "xao xuyến" trong khúc ca phấn chấn tự hào động viên, khích lệ Chữ "tôi" ở khổ thơ đầu được thay thế bằng chữ "ta" đầy hào hứng, sảng khoái, nó thể hiện tư thế hòa mình của nhà thơ vào cuộc sống, vào mùa xuân đến với mọi người.Mỗi người cống hiến "một mùa xuân nho nhỏ" đã là một: cuộc dâng hiến thật đầy đủ, thật trọn vẹn

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dà là khi tóc bạc

Nếu có ý thức hết mình, sống hết mình, lao động hết mình thì mùa xuân làm gì có tuổi? Mùa xuân nho nhỏ là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng: "Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta" (Nguyễn Khoa Điềm) "Nho nhỏ"

và "lặng lẽ" là cách nói khiêm tốn, chân thành "Dâng cho đời" là lẽ sống đẹp, cao cả Thanh Hải như nhắc ta hãy sống cho tất cả, sống cho tình thân

ái bao la và sống để cống hiến toàn vẹn cho đất nước, cho cuộc đời Phải chăng đây chính là điều mong ước tột cùng đã đi theo tác giả suốt cuộc đời? Dù vẫn biết ngày mai rất có thể sẽ phải từ giã cõi đời này nhưng tiếng thơ Thanh Hải vẫn tràn ngập niềm tin và hi vọng vào cuộc sống

Khổ thơ cuối là tiếng hát yêu thương:

Mùa xuân – ta xin hát

Nhịp phách tiền đất Huế

Nam ai, Nam Bình là hai giai điệu nổi tiếng của xứ Huế từ bao đời nay Câu hát truyền thống ấy đi mãi cùng trái tim một người con đến giây phút cuối cùng vẫn còn mong mỏi mãnh liệt hơn bao giờ hết khát vọng cống hiến vẹn toàn cho quê hương đất nước

Mùa xuân nho nhỏ là một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tuyệt đẹp, vừa làtiếng hát nhẹ nhàng tha thiết, sâu lắng về khát vọng cống hiến cho đất nướccủa nhà thơ Thanh Hải Và đó cũng chính là một "mùa xuân nho nhỏ" mà Thanh Hải để lại cho đời trước lúc đi xa

Bài thơ “ Viếng lăng Bác” –

* Kiến thức cơ bản :

- Nhà thơ Viễn Phương sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang Ông làmột trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giảiphóng ở miền Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước Thơ Viễn Phương thườngnhỏ nhẹ, giàu tình cảm, khá quen thuộc với bạn đọc thời kháng chiến chống

Trang 40

đế quốc Mỹ.

- Bài thơ Viếng lăng Bác được viết khi lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được

xây dựng xong, đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam đã có thể thựchiện được mong ước ra viếng Bác Trong niềm xúc động vô bờ của đoànngười vào lăng viếng Bác, Viễn Phương đã viết bài thơ này

- Bắt đầu bằng hình ảnh hàng tre quen thuộc với mọi người Việt Nam,

ấn tượng trước Lăng Bác được xác định và tình cảm của nhà thơ, của mọingười đối với Bác đã được thể hiện đặc sắc qua sự kết hợp giữa những hìnhảnh thực với những ẩn dụ Hình ảnh Bác được ví với mặt trời rực rỡ, vớimặt trăng dịu mát, êm đềm và với cả trời xanh vĩnh cửu

Khổ thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ được mãi mãi ở bên Bác

Đó cũng là tình cảm chân thành của hàng triệu đồng bào với Bác kính yêu

- Bài thơ có giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa xót xa, tha thiết lạichan chứa niềm tin và lòng tự hào của bao người khi vào lăng viếng Bác.Hình ảnh thơ trong bài rất sáng tạo, vừa cụ thể, xác thực vừa giàu ý nghĩabiểu tượng Những hình ảnh ẩn dụ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng, trờixanh tuy đã rất quen thuộc nhưng khi đi vào bài thơ này đã thể hiện đượcnhững ý nghĩa rất mới mẻ, có sức khái quát cao đồng thời cũng chan chứatình cảm của tác giả, của đồng bào miền Nam nói riêng và nhân dân cả

nước nói chung đối với Bác

* Đề bài tham khảo :

Đề 1: Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.

Sau ngày Bác Hồ "đi xa ", bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương làmột trong những bài thơ viết về Bác đặc sắc nhất Bài thơ diễn tả niềm kínhyêu, sự xót thương và lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ đối với lãnh tụ bằngmột ngôn ngữ tinh tế, giàu cảm xúc sâu lắng Nó đã được phổ nhạc, lưutruyền sâu rộng trong nhân dân Câu thơ mở đầu cho thấy xuất xứ của bàithơ:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

Từ chiến trường miền Nam, nhà thơ Viễn Phương mang theo bao tìnhcảm thắm thiết của đồng bào và chiến ra viếng lăng Bác Hồ kính yêu Đây

là cuộc hành hương của người chiến sĩ Từ xa, nhà thơ đã nhìn thấy hàngtre ẩn hiện trong sương khói trên quảng trường Ba Đình lịch sử Màn sươngtrong câu thơ gợi lên một không khí thiêng liêng, huyền thoại Cây tre,hàng tre "đứng thẳng hàng" trong làn sương mỏng, ẩn hiện thấp thoáng,mang màu sắc xanh xanh "Hàng tre xanh xanh" vô cùng thân thuộc đượcnhân hóa, trải qua "bão táp mưa sa "vẫn "đứng thẳng hàng" như dáng đứngcủa con người Việt Nam kiên cường, bất khuất trong bốn nghìn năm lịchsử:

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác,

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát,

Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam,

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

"Ôi!" là từ cảm, biểu thị niềm xúc động tự hào Hình ảnh hàng tre xanhmang tính chất tượng trưng, giàu ý nghĩa liên tưởng sâu sắc Tre mang

Ngày đăng: 25/12/2020, 22:43

w