1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng dạy học kết hợp blended learning trong môn địa lí lớp 12 trung học phổ thông ở tỉnh điện biên

148 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 4,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục nước ta đang trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng Khoa học Công nghệ, Công nghệ Thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới nói chung và nền giáo dục nước ta nói riêng. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới đã yêu cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”. Công nghệ thông tin chính là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục. Dạy học kết hợp là một trong những hình thức tổ chức dạy học mới giúp học sinh (HS) tiếp cận được công nghệ thông tin, thường xuyên được cập nhật kiến thức, có cơ hội tiếp xúc, trao đổi với thầy cô và bạn học, không bị ngăn cách bởi không gian địa lí, thông qua đó chủ động lĩnh hội kiến thức, hoàn thiện đầy đủ các kỹ năng. Các em có cơ hội làm quen với phương thức học tập hiện đại mà thế giới đang phổ cập. Phương pháp này còn làm giảm tải thời gian dạy học trên lớp, tạo hứng thú cho các em “học mà chơi chơi mà học”. Từ đó, học sinh yêu thích môn học, thích thú khi được khám phá thế giới, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Phương pháp này còn tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội chủ động trong học tập, rèn luyện khả năng làm việc theo nhóm,... Xác định được yêu cầu và nhiệm vụ, trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các nhà

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

VẬN DỤNG DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

VẬN DỤNG DẠY HỌC KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) TRONG MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học môn Địa lý

Mã ngành: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ VŨ SƠN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thị Kim Liên học viên lớp Cao học LL&PPDH Địa lí K26 B Điện Biên - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, xuất phát từ yêu cầu thực tế giảng dạy để hình thành hướng nghiên cứu

Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu, tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, đúng theo quy định

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô Khoa Địa lí, Phòng Đào tạo Trường Đại Sư phạm Thái Nguyên cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới cán bộ, giáo viên Trường Phổ thông DTNT THPT huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, em xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới

PGS.TS Đỗ Vũ Sơn - Người đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và động viên em

trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, song không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Liên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Nhiệm vụ của đề tài 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 3

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 9

7 Cấu trúc của luận văn 13

NỘI DUNG 14

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG HÌNH THỨC KẾT HỢP 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Hình thức tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học 14

1.1.2 Dạy học kết hợp 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Chương trình môn Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông (hiện hành) 24

1.2.2 Chương trình môn Địa lí 12 - THPT áp dụng ở tỉnh Điện Biên 26

1.2.3 Tâm sinh lí của học sinh THPT và tác động của tâm sinh lí đến việc dạy học kết hợp ở tỉnh Điện Biên 34

1.2.4 Đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất đáp ứng việc dạy học kết hợp ở tỉnh Điện Biên 39

Trang 6

1.2.5 Về đổi mới phương pháp, ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền

thông trong dạy học 43

1.2.6 Định hướng đổi mới trong dạy học Địa lí ở tỉnh Điện Biên 45

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 47

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI DẠY HỌC KẾT HỢP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN 48

2.1 Tổng quan về phần mềm Google Classroom 48

2.1.1 Giới thiệu về phần mềm Google Classroom 48

2.1.2 Chức năng của Google Classroom 49

2.1.3 Những ưu việt của google classroom 50

2.2 Nguyên tắc của dạy học kết hợp môn Địa lí lớp 12 THPT 50

2.2.1 Nguyên tắc chung 50

2.2.2 Nguyên tắc về dạy học 52

2.3 Quy trình dạy học kết hợp môn Địa lí lớp 12 THPT 52

2.3.1 Xác định nội dung dạy học trực tuyến và nội dung dạy học trực tiếp 52

2.3.2 Quy trình sử dụng phần mềm Google Classroom 53

2.3.3 Tổ chức dạy học kết hợp 58

2.3.4 Đánh giá kết quả dạy học 58

2.4 Xây dựng kế hoạch dạy học kết hợp môn địa lí 12 THPT 58

2.4.1 Phân tích chương trình môn địa lí lớp 12 đáp ứng dạy học kết hợp 58

2.4.2 Xây dựng kế hoạch dạy học 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 89

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90

3.1 Mục đích thực nghiệm 90

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 90

3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 90

Trang 7

3.4 Tổ chức thực nghiệm 91

3.4.1 Điều kiện dạy học 91

3.4.2 Kế hoạch dạy học 91

3.4.3 Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh 91

3.4.4 Tiến hành thực nghiệm 93

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 100

3.6 Khảo sát ý kiến của người dạy và người học 104

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASTD Hội Đào tạo và Phát triển Mỹ

BL Dạy học kết hợp (Blended-Learning)

CAS Hệ thống xây dựng nội dung bài giảng

CBT Đào tạo dựa trên máy tính

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

ĐTTT Đào tạo trực tuyến

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 9

Địa lí ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên Đông, năm học 2019-2020 33Bảng 1.4 Kết quả điều tra việc khai thác và sử dụng máy tính của

giáo viên 40Bảng 1.5 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường Phổ thông DTNT

THPT huyện Điện Biên Đông 42Bảng 1.6 Đổi mới toàn diện quá trình dạy học Địa lí 45

Bảng 2.1 Phân chia nội dung dạy học trực tuyến và nội dung dạy học

trực tiếp trong chương trình Địa lí lớp 12 - THPT 59Bảng 3.1 Số lượng học sinh theo lớp 93Bảng 3.2 Kiểm tra đánh giá chất lượng đầu vào tại 04 lớp 12 -

trường PTDTNT THPT huyện Điện Biên Đông 94Bảng 3.3 Kiểm tra đánh giá chất lượng đầu vào tại 02 lớp 12 -

Trường THPT Trần Can 95Bảng 3.4 Kế hoạch chuẩn bị dạy học thực nghiệm sư phạm 98Bảng 3.5 Kế hoạch dạy học thực nghiệm 99Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra cuối khóa học tại trường Phổ thông

100DTNT THPT huyện Điện Biên Đông 100Bảng 3.7 Kết quả kiểm tra cuối khóa học 101tại trường THPT Trần

Can huyện Điện Biên Đông 101

Bảng 3.8 Kết quả phân loại điểm của hai lớp 102

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Phân loại các phương tiện dạy học 17

Hình 1.2 Các phương án dạy học kết hợp 23

Hình 2.1 Giao diện tạo lớp học trên Google classroom 54

Hình 2.2 Giao diện thêm học sinh cho lớp học 54

Hình 2.3 Giao diện tạo bài tập và bài kiểm tra cho học sinh 55

Hình 2.4 Giao diện tổng hợp điểm các bài kiểm tra của học sinh 56

Hình 2.5 Sơ đồ các bước sử dụng Google classroom 57

Hình 3.1 Tần số xuất hiện điểm kiểm tra cuối kì 102

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nước ta đang trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng Khoa học Công nghệ, Công nghệ Thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới nói chung và nền giáo dục nước ta nói riêng

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới

đã yêu cầu ngành giáo dục phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” Công nghệ thông tin chính là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng phát triển giáo dục

Dạy học kết hợp là một trong những hình thức tổ chức dạy học mới giúp học sinh (HS) tiếp cận được công nghệ thông tin, thường xuyên được cập nhật kiến thức, có cơ hội tiếp xúc, trao đổi với thầy cô và bạn học, không bị ngăn cách bởi không gian địa lí, thông qua đó chủ động lĩnh hội kiến thức, hoàn thiện đầy

đủ các kỹ năng Các em có cơ hội làm quen với phương thức học tập hiện đại mà thế giới đang phổ cập Phương pháp này còn làm giảm tải thời gian dạy học trên lớp, tạo hứng thú cho các em “học mà chơi - chơi mà học” Từ đó, học sinh yêu thích môn học, thích thú khi được khám phá thế giới, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc Phương pháp này còn tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội chủ động trong học tập, rèn luyện khả năng làm việc theo nhóm,

Xác định được yêu cầu và nhiệm vụ, trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên đã triển khai nhiều biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các nhà

Trang 12

trường Đến nay, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cần thiết cho việc ứng dụng công nghệ thông tin được đầu tư, việc kết nối Internet được thực hiện, trang bị phòng máy tính, đáp ứng tương đối đầy đủ máy chiếu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học chưa thực sự phong phú và hiệu quả Việc nghiên cứu dạy học kết hợp môn Địa lí lớp 12 cho học sinh THPT của tỉnh là cần thiết, phù hợp và khả thi

Đặc biệt, trong giai đoạn diễn biến phước tạp của bệnh dịch thế giới COVID-19 hiện nay thì việc dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp là vô cùng cần thiết và hữu ích; vừa thực hiện được mục tiêu, nội dung, tiến độ của chương trình, vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: Vận dụng dạy học kết hợp (Blended learning) trong môn Địa lí lớp 12 THPT ở tỉnh Điện Biên làm

luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu của đề tài

Vận dụng dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT theo hình thức dạy học kết hợp giữa dạy học trực tuyến và dạy học trên lớp truyền thống nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn học, đáp ứng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng dạy học hiện đại cho học sinh THPT ở tỉnh Điện Biên; kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để tiếp tục triển khai cho các môn học khác

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học kết hợp môn Địa lí 12-THPT

- Nghiên cứu thực trạng việc dạy học môn Địa lí 12 ở các trường THPT tỉnh Điện Biên và khả năng ứng dụng dạy học kết hợp trong môn Địa lí ở tỉnh Điện Biên

- Xây dựng quy trình dạy học kết hợp môn Địa lí 12-THPT

- Thiết kế kế hoạch dạy học vận dụng dạy học kết hợp trong môn Địa lí

12 cho học sinh THPT ở tỉnh Điện Biên

- Triển khai dạy học thực nghiệm tại một số trường THPT ở tỉnh Điện Biên, đánh giá kết quả thực nghiệm

Trang 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng dạy học kết hợp trong môn Địa lí lớp

12 THPT (chương trình SGK hiện hành);

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Một số trường THPT ở tỉnh Điện Biên;

+ Về thời gian: Năm 2019, 2020;

5 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

* Trên thế giới:

Cùng với sự phát triển của Tin học và mạng Truyền thông, các phương thức giáo dục, đào tạo ngày càng được cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và kinh phí cho người học Ngay từ khi mới ra đời, E-Learning (Dạy học điện tử) đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện đào tạo của các nước trên thế giới Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) nhận định rằng sẽ

có một sự phát triển bùng nổ trong lĩnh vực E-Learning Và điều đó đã được chứng minh qua sự thành công của các hệ thống thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-Learning nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật,…

Gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin và phương pháp giáo dục đào tạo, quá trình phát triển của E-Learning có thể chia ra thành 4 thời kỳ:

- Trước năm 1983: Thời kỳ này, máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy giảng viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học

- Giai đoạn: 1984 - 1993: Sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên đa phương tiện Những công

cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Based Training) Bài học được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và tự học Tuy nhiên sự hướng dẫn của giảng viên

là rất hạn chế

Trang 14

- Giai đoạn 1994-1999: Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Các chương trình: E-mail, Web, Trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML và JAVA bắt đầu trở lên phổ dụng đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện “Người thầy thông thái” đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-mail, CBT, qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ WEB với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng

- Giai đoạn 2000 đến nay: Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Ngày nay thông qua Web, GV có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo Càng ngày công nghệ Web càng chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả [19]

Tại Mỹ, có khoảng 80% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình đào tạo từ xa Đại học Harvard và Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT)

đã công bố hợp tác xây dựng chương trình đào tạo từ xa với trị giá đầu tư 60 triệu USD có tên edX nhằm cung cấp các khóa học từ xa cho người học trên khắp thế giới Các nước trong Cộng đồng châu Âu ngoài việc tích cực triển khai đào tạo từ xa, tại mỗi nước còn có nhiều hình thức hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực đào tạo từ xa Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu (EuroPACE) Đây là mạng đào tạo từ xa của 36 trường đại học hàng đầu châu

Âu thuộc các Quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác Tại châu Á, đào tạo từ xa đang trở thành trào lưu không thể đảo ngược Hàn

Trang 15

Quốc hiện là nước đi đầu với một số trường đại học cung cấp toàn bộ khóa học trên mạng Trung Quốc với 68 trường đại học từ xa khắp nước Đại học từ xa châu Á (Asia eUniversity) có trụ sở tại Kuala Lumpur (Malaysia) được thành lập năm 2008 bởi Tổ chức Đối thoại Hợp tác châu Á gồm 31 nước thành viên với mục đích đem lại cơ hội học đại học cho nhiều người hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo dục đại học ở những vùng xa xôi, hẻo lánh [19]

Học tập kết hợp (Blended-Learning) xuất phát từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản,… sau khi khai thác mô hình học E-learning không hoàn toàn thành công, không có được những lợi thế của dạy học trực tiếp (face-to-face) Blended-Learning là khoá học theo kiểu

“lai” hay “hỗn hợp” bao gồm những lớp học mà một phần học theo kiểu truyền thống được thay thể bằng học online Không có một công thức tuyệt đối nào cho việc thiết kế một khoá học theo kiểu Blended Tên gọi “Blended” để chỉ việc kết hợp giữa học theo kiểu truyền thống và các hoạt động online [McGee and Reis (2012), Graham, Henrie, and Gibbons (2014)] Các khoá học theo kiểu Blended là một lựa chọn được yêu thích của học viên ở các trường (Olson,

2003 cited in Drysdale, Graham, Spring, and Halverson, 2013 and Kaleta, Garnham, and Aycock, 2005) Đánh giá ban đầu cho thấy, sự phổ biến này xuất phát từ tính linh hoạt và tiện lợi của những hoạt động online mà vẫn duy trì được những điểm mạnh của phương pháp dạy học truyền thống trên lớp Việc thiết kế và dạy các khoá học Blended có thể đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của cơ sở giáo dục, người dạy cũng như người học Các khoá học theo kiểu Blended thường rất tốt nếu cơ sở giáo dục không có đủ lớp học cũng như khuyến khích các giảng viên phối hợp với nhau trong các hoạt động online Đối với các giảng viên, các khoá học Blended là một phương pháp tốt để giới thiệu các kỹ thuật mới trong việc tương tác với học viên cũng như để chuyển giao giữa phương pháp dạy học theo kiểu truyền thống và online Đối với học viên, các khoá học Blended đem lại sự tiện lợi của việc học trên mạng kết hợp với các tương tác xã hội và các tương tác trong khoá học Học viên học mọi lúc, mọi nơi và học theo tốc độ riêng, phù hợp với cá nhân [17]

Trang 16

Nếu chiến lược của cơ sở giáo dục có thể được thiết lập để thoả mãn nhu cầu của cả ba đối tượng (trường, giảng viên, học viên) cùng một lúc thì Blended-Learning sẽ thúc đẩy sự phát triển và biến đổi Theo bộ Giáo dục của

Mỹ (2010), “nhìn chung, học viên trong môi trường online học tốt hơn so với phương pháp học truyền thống” Hơn nữa, “giảng dạy kết hợp kiểu truyền thống và online có nhiều lợi thế hơn nếu chỉ dạy truyền thống hoặc online” Không những học viên học tốt hơn trong các khoá blended mà học liệu tổ chức theo từng module cũng đem lại nhiều lợi thế Ví dụ như các phân tích đánh giá

về chất lượng học của học viên có thể dùng để hiểu hơn về hiệu quả của các phương pháp học của học viên Các chức năng phân tích dữ liệu cũng giúp cho giảng viên có thể phát hiện ra các học viên cần được tư vấn riêng, nhờ đó cũng giảm tỉ lệ học viên rút khỏi khoá học Các công cụ online trong những khoá Blended cũng giúp tăng tỉ lệ học viên tham gia các hoạt động và diễn đàn thảo luận của khoá học một cách đáng kể, nhờ đó đảm bảo các học viên có thể được hưởng các lợi ích từ một môi trường học tập cộng tác [26]

- Ở Việt Nam

Từ khoảng những năm 2000 trở về trước, ở Việt Nam có không nhiều tài liệu nghiên cứu, phổ biến về đào tạo trực tuyến Từ năm 2000 trở lại đây các hội nghị, hội thảo về Công nghệ thông tin (CNTT) và giáo dục đều có đề cập đến đào tạo trực tuyến và khả năng áp dụng đào tạo trực tuyến vào công cuộc cải cách giáo dục và phát triển đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000, Hội nghị Giáo dục Đại học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT&TT), ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 9/2004, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005, , là những hội thảo khoa học về đào tạo trực tuyến đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam [19]

Trang 17

Các trường Đại học ở Việt Nam bước đầu nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến Một số đơn vị đã xây dựng và ứng dụng các phần mềm hỗ trợ đào tạo

và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Công nghệ thông tin - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Bưu chính - Viễn thông, Đại học FPT, Học viện mở Hà Nội, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã mở một cổng đào tạo trực tuyến nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin đào tạo trực tuyến trên thế giới và ở Việt Nam Một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã đưa ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo [19]

Việt Nam đã gia nhập mạng Đào tạo trực tuyến châu Á (Asia E-learning Network - AEN, địa chỉ website www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, Trường Đại học Bách Khoa, Bộ GD-ĐT phối hợp với Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel công bố trang mạng giáo dục “Trường học kết nối” tại địa chỉ website http://truonghocketnoi.edu.vn là hệ thống hỗ trợ tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo với mục đích sau:

- Tổ chức và quản lí các hoạt động đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng GV qua mạng; hỗ trợ và theo dõi hoạt động sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong các trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên về đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học và kiểm tra, đánh giá; tạo môi trường chia sẻ, thảo luận, hỗ trợ lẫn nhau giữa các trường phổ thông trên phạm vi toàn quốc; tổ chức các hoạt động học tập và hỗ trợ hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS qua mạng

- Tổ chức và quản lí hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo của HS qua mạng theo hình thức “hoạt động trải nghiệm sáng tạo”

- Tạo môi trường gắn kết giữa các trường sư phạm với các trường phổ thông/trung tâm giáo dục thường xuyên trong công tác đào tạo và bồi dưỡng GV

“Trường học kết nối” đã bước đầu cho kết quả tốt [19]

Trang 18

Dạy học kết hợp (Blended - Learning) là một trong những mô hình học tập được nhiều người quan tâm Đây là sự kết hợp những ưu điểm của phương pháp học truyền thống và tận dụng thế mạnh của công nghệ thông tin, cụ thể là các chương trình dạy học qua hệ thống phần mềm hoặc trực tuyến (online) Công nghệ mang lại sự tiện nghi, nhanh gọn và tiết kiệm chi phí, tuy nhiên lại làm người học mất đi động cơ học tập và mất đi cơ hội giao tiếp liên nhân như trong các lớp học truyền thống Chính vì vậy, các buổi học trực tiếp (face-to-face) vẫn giữ được nhiều giá trị mà việc tự học với máy tính không thể nào bù đắp được Ngược lại, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và việc xuất hiện các chương trình ứng dụng trên mạng thì việc truyền đạt thuần túy không thể cung cấp cho người học được nguồn kiến thức khổng lồ và những thông tin thức thời Vai trò

hỗ trợ của học trực tuyến lúc này được thể hiện rất rõ nét

Dạy học kết hợp đã có một số tác giả nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Văn Hiền có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗn hợp" để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập qua mạng; Tác giả Nguyễn Danh Nam cũng đưa ra nhận định: Sự kết hợp giữa E

- learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một

mô hình đào tạo gọi là "Blended Learning", tác giả Nguyễn Danh Nam (2008) đã xây dựng một số mô hình dạy học kết hợp trong dạy học môn Hình học sơ cấp cho học viên nghành toán đại học Sư phạm; tác giả Đỗ Vũ Sơn (2011) nghiên cứu triển khai dạy học kết hợp môn Bản đồ học cho các trường Đại học Sư phạm miền núi phía Bắc; Tác giả Phạm Xuân Lam tiến hành nghiên cứu vấn đề "Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy chương Virus và bệnh truyền nhiễm sinh học

10 nâng cao sử dụng phần mềm Moodle"

Một số tác giả đã nghiên cứu dạy học kết hợp, dạy học trực tuyến trong dạy học môn Địa lí THPT, tiêu biểu như:

- Tác giả Đỗ Vũ Sơn (2011), với Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: Xây dựng

và sử dụng giáo trình điện tử Bản đồ học trong các trường Đại học sư phạm

Trang 19

Miền núi phía Bắc Trong luận án, tác giả Đỗ Vũ Sơn đã nghiên cứu, xây dựng giáo trình điện tử môn Bản đồ học và tiến hành đào tạo với hình thức dạy học kết hợp cho các trường Đại học Sư phạm khu vực Miền núi phía Bắc; PGS.TS Đỗ

Vũ Sơn với khóa học “Bản đồ học” đạt hiệu quả tốt

- Các tác giả: Hà Văn Thám (2016) với Dạy học kết hợp (Blended - Learning) môn Địa lí lớp 11 cho HS trường phổ thông Dân tộc nội trú; Đoàn Đức Hải (2017) với Thiết kế một số bài dạy học trực tuyến môn Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông; Hồ Duy Mạnh (2017) với Dạy học trên lớp kết hợp với dạy học trực tuyến môn Địa lí lớp 11 ở một số trường THPT ở tỉnh Lào Cai; Nguyễn Thị Hương Ly (2017) với Nghiên cứu, triển khai dạy học kết hợp môn Địa lí 10 ở tỉnh Thái Nguyên Các công trình đã công bố trên đi sâu nghiên cứu lí luận về hình thức dạy học kết hợp, dạy học trực tuyến môn Địa lí THPT cho đối tượng là HS THPT ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Tại tỉnh Điện Biên chưa có công trình nghiên cứu nào một cách chuyên biệt

về dạy học kết hợp (Blended learning) môn địa lí Với việc kế thừa và phát huy các

công trình đã công bố, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn về bồi dưỡng thường xuyên tự nhiên, kinh tế xã hội Việt Nam bằng hình thức ĐTTT nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Điện biên, đặc biệt đối học sinh khối 12 tại các trường THPT Đây là hướng nghiên cứu mới chưa có tác giả nào tại tỉnh Điện Biên đi sâu nghiên cứu trước đây

6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1 Quan điểm nghiên cứu

6.1.1 Quan điểm lịch sử

Các đối tượng nghiên cứu đều có quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi không ngừng theo thời gian Mỗi một đối tượng nghiên cứu đều phải mất một thời gian dài để hình thành và biến đổi Nghiên cứu phương pháp dạy học cần phải tìm hiểu, phát hiện sự hình thành, phát triển của quá trình dạy học để từ

đó phát hiện ra quy luật tất yếu, quy luật khách quan của quá trình dạy học - giáo

dục Dạy học kết hợp cũng phải dựa trên lịch sử phát triển của một quá trình

Trang 20

đề dạy học kết hợp, cần phải nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng, các thành phần, bộ phận để xem xét một cách cụ thể Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm

ra quy luật phát triển từng mặt và của toàn bộ hệ thống giáo dục

6.1.3 Quan điểm tổng hợp

Dựa trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá các sự vật hiện tượng trên một lãnh thổ

cụ thể có tính toàn diện trong mối quan hệ với các yếu tố khác Trong nghiên cứu địa lí việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do chính đối tượng nghiên cứu của bộ môn khoa học này là các hiện tượng địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội rất phong phú và đa dạng Sử dụng phương pháp dạy học kết hợp cần nghiên cứu mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức, phương pháp dạy học khác, với toàn bộ các khâu của hệ thống giáo dục hiện nay một cách rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt chẽ có tính lôgíc cao Đảm bảo được bài giảng được thiết kế phục vụ tốt nhất cho quá trình dạy học đó là có tính khoa học, tính vừa sức, tính sư phạm, tính tự lực và phát triển tư duy học sinh

Trang 21

được xác lập trong tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội Với mỗi vùng lãnh thổ địa lí có trình độ kinh tế xã hội khác nhau nên việc áp dụng các phương pháp dạy học đối với mỗi vùng miền cũng khác nhau cần phải có những nghiên cứu, ứng dụng phương pháp dạy học khác nhau cho phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh kinh tế, địa lí Đề tài vận dụng quan điểm này để xác định không gian lãnh thổ nghiên cứu và thực nghiệm là học sinh THPT tại tỉnh Điện Biên

6.1.5 Quan điểm công nghệ dạy học

Công nghệ dạy học đồng nhất với việc sử dụng vào dạy học các phát minh các sản phẩm công nghệ hiện đại, các phương tiện, thiết bị hiện đại, các hệ thống

và phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ để cải tiến quá trình học tập của học sinh,

từ đó nâng cao chất lượng giáo dục Công nghệ dạy học hiện nay đang là một hướng tiếp cận quan trọng để đổi mới PPDH nói chung và dạy học Địa lí nói riêng trong các nhà trường phổ thông Ứng dụng công nghệ vào giảng dạy là một trong nhiều phương pháp dạy học tiên tiến hiệu quả Đặc biệt là việc vận dụng công nghệ vào hình thức dạy học kết hợp (Blended Learning) sẽ đem lại hiệu quả tốt, cần phát huy và nhân rộng

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Nhà nước và của ngành Giáo dục và Đào tạo Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ, các tài liệu lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nghiên cứu chương trình SGK hiện hành và Chương trình Giáo dục phổ thông mới

6.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu

Thu thập và phân tích tài liệu, số liệu là một trong những việc rất quan trọng và cần thiết Thông qua các hoạt động như quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp GV và HS, xử lý thông tin qua hệ thống phân tích - tổng hợp, kết hợp

Trang 22

giữa nội suy và ngoại suy Mục đích của thu thập và phân tích số liệu là để làm

cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra

6.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học

Là phương pháp thu thập thông tin trong điều kiện thời gian và địa điểm

cụ thể Nội dung là điều tra giáo viên, học sinh các trường THPT trong địa bàn tỉnh Điện Biên về thực hiện việc dạy học kết hợp trong điều kiện của trường THPT, của địa phương, từ đó có những hướng nghiên cứu, ứng dụng phù hợp

6.2.4 Phương pháp sử dụng công nghệ dạy học hiện đại

Với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, nhiều phương tiện hỗ trợ dạy học ra đời, đã mang lại hiệu quả, giúp giáo viên có thể định hướng học sinh tiếp cận với nguồn tri thức phong phú, dễ hiểu nhất

Khi thiết kế bài học theo hình thức dạy học kết hợp thì cần phải tìm hiểu

để phát huy tối đa khả năng của các thiết bị công nghệ hiện đại như máy tính, máy chiếu, camera, loa, máy ảnh, scander để giảm nhẹ việc thuyết trình và có nhiều thời gian hơn để thảo luận và trao đổi với học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

6.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp đặc biệt quan trọng trong nghiên

cứu các vấn đề về lí luận dạy học Thông qua thực nghiệm để kiểm chứng và

khẳng định tính khả thi của vấn đề nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn và làm nảy sinh những vấn đề mới cần quan tâm và đó là những gợi ý cho hướng

nghiên cứu tiếp theo góp phần nâng cao chất lượng dạy học bằng hình thức kết

hợp trong trường các trường THPT tại tỉnh Điện biên

6.2.6 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học là một phương pháp khoa học phân tích và xử lý dữ liệu có được nhờ việc tiến hành điều tra, điều tra nghiên cứu các thông số về giáo viên, HS, cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức dạy

Trang 23

học kết hợp Những dữ liệu ở đây có thể là những đặc tính định tính, cũng có thể là những đặc tính định lượng nhưng sẽ góp phần làm cho đề tài nâng cao tích thực tế

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục, luận văn bao gồm các chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học môn Địa lí lớp 12 Trung học phổ thông bằng hình thức kết hợp

Chương 2 Xây dựng và triển khai dạy học kết hợp môn địa lí lớp 12 THPT ở tỉnh Điện Biên

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 24

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG HÌNH THỨC KẾT HỢP

ra sự khác nhau giữa các loại bài học

Tóm lại, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức, sắp xếp và tiến hành các buổi dạy học

Ở trường phổ thông thường áp dụng một số hình thức dạy học sau:

- Hình thức dạy học trong lớp (lớp bài): Thường được tiến hành trong

các phòng học, có sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và sự

tham gia của học sinh

- Hình thức dạy học ngoài lớp: Được tiến hành ngoài thực địa hoặc ở

bất cứ một địa điểm nào khác ngoài lớp: nhà máy, trạm khí tượng thuỷ văn

Trang 25

có hiệu quả lớn đối với việc dạy học địa lý Ví dụ: Quan sát một khu vực địa hình để hình thành cho học sinh các biểu tượng địa lý: sông, núi, biển, xói mòn Quan sát phiên chợ hình thành cho học sinh khái niệm thị trường, cung

cầu, hàng hóa…

- Hình thức thảo luận: Là hình thức trung gian giữa dạy học trong lớp và ngoài lớp, nó có thể được tiến hành ngay trong hoặc ngoài lớp

- Hình thức dạy học ngoại khoá: Những hoạt động không được ghi

trong chương trình, kế hoạch, không có tính chất bắt buộc, là sự tự nguyện

của học sinh Một số hình thức dạy học ngoài lớp và ngoại khoá: Tham

quan địa lí, khảo sát địa phương, tổ chức câu lạc bộ, tổ chức triển lãm,

trưng bày…

- Hình thức tự học: Là hình thức học tập chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh

- Hình thức tổ chức dạy học có hỗ trợ của CNTT&TT: là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình tổ chức và thực hiện việc dạy học

Mức độ 1: Ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ giáo viên trong việc

soạn giáo án, sưu tầm và in ấn tài liệu , chưa sử dụng trong việc tổ chức các tiết học cụ thể của từng môn học

Mức độ 2: Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ một khâu, một công

việc nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học

Mức độ 3: Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức lên lớp một tiết học,

Trang 26

Hệ thống các Phương pháp dạy học bao gồm các kiểu phương pháp, các

nhóm phương pháp và các phương pháp cụ thể

- Kiểu phương pháp: được xây dựng dựa trên mức độ hoạt động nhận

thức của NH từ thấp đến cao, sự tiếp cận của hoạt động nhận thức của NH đối với hoạt động nhận thức khoa học, kết hợp được hoạt động của GV với hoạt động của NH

- Nhóm phương pháp: Các nhóm phương pháp được xây dựng chủ yếu

trên các nguồn tài liệu (hoặc các phương tiện hoạt động), gồm: ngôn ngữ (lời nói, chữ viết), hình ảnh trực quan, các hoạt động thực tiễn,

- Các phương pháp cụ thể:

Có nhiều phương pháp dạy học khác nhau có thể chia ra

+ Nhóm phương pháp dạy học truyền thống: thuyết trình, diễn giải, giảng giải, giảng thuật, vấn đáp, đàm thoại, sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, sử dụng băng (đĩa), trình bày trực quan, trình bày thí nghiệm, quan sát, độc lập làm thí nghiệm, luyện tập, ôn tập

+ Nhóm phương pháp dạy học tích cực phát huy năng lực người học như: Phương pháp dạy học nhóm, Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, Phương pháp giải quyết vấn đề, Phương pháp đóng vai, Phương pháp trò chơi, Phương pháp dự án, PP Bàn tay nặn bột, PPDH theo góc…

1.1.1.3 Phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là những công cụ mà giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình dạy học nhằm xây dựng các biểu tượng về sự vật, hiện tượng thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của học sinh, trên cơ sở đó hình thành khái niệm, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh Phương tiện dạy học góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất lao động của giáo viên

và học sinh [8]

Phương tiện được chia làm 2 nhóm: nhóm các phương tiện truyền thống, nhóm các phương tiện hiện đại (Hình 1.1)

Trang 27

Hình 1.1 Phân loại các phương tiện dạy học [18]

Phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT&TT càng khẳng định rõ hơn vai trò của phương tiện

dạy học, nhất là các phương tiện dạy học hiện đại Máy tính điện tử và Internet

ra đời đã tăng cường phương tiện, phương thức dạy học GV có nhiều hơn các hình thức tổ chức dạy học để lựa chọn Có thể nói, phương tiện dạy học là yếu

tố nền tảng cho việc đổi mới phương pháp dạy học [18]

1.1.2 Dạy học kết hợp

1.1.2.1 Khái niệm về dạy học kết hợp

Dạy học thông qua CNTT&TT đang trở lên rộng khắp và ngày càng là nhu cầu của GV và NH Theo thời gian, với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhiều hình thức đào tạo mới ra đời với sự hỗ trợ ngày càng cao của công nghệ hiện đại Trong đó sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của CNTT&TT đã

và đang mang lại nhiều lợi thế cho dạy học

Các phương tiện dạy

học truyền thống Các phương tiện dạy học hiện đại

Hệ thống phương tiện dạy học địa lí

đồ, sách giáo khoa hình

vẽ

Phương tiện nghiên cứu hoc tập, các dụng cụ quan trắc, đo,

vẽ

Các phương tiện nhìn (các loại phim không

âm thanh)

Các phương tiện nhìn (phim , video,

CD, DVD, phần mềm dạy học)

Truyền thông đa phương tiện (mạng internet, truyền hình…)

Trang 28

Dạy học trực tuyến là hình thức dạy học có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu tự học, giao tiếp giữa NH với nhau và với GV thông qua các diễn đàn học tập, phòng chat, e-seminar, [19]

Từ việc phân tích các khía cạnh (xem bảng 1.1) cho thấy dạy học trực tuyến có một số ưu điểm và nhược điểm so với dạy học truyền thống:

* Ưu điểm:

- Tính linh hoạt: NH có thể học mọi lúc, mọi nơi (Just-In-Time) miễn là

có kết nối Internet hoặc các phương tiện truyền thông khác Điều này rất phù hợp đối với những người đã có công việc ổn định muốn học thêm nâng cao trình độ kiến thức

- Tính thích ứng cá nhân: Người học có thể hoàn thành khoá học nhanh

hay chậm tuỳ theo trình độ và thời gian biểu của bản thân

- Giảm chi phí đào tạo: Chỉ với chi phí ban đầu để thiết kế các nội dung

học tập, ĐTTT được đánh giá có chi phí đào tạo thấp hơn nhiều so với lớp học truyền thống Các nhà giáo dục học trên thế giới đang triển khai nhiều dự án, đặc biệt là việc giảm giá thành của các phần mềm công cụ nhằm đưa chi phí cho ĐTTT tiến dần đến con số 0

Bảng 1.1 So sánh dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến

Yếu tố Dạy học truyền thống Dạy học trực tuyến

Lớp học

- Phòng học có kích thước giới hạn

- Thời gian học đồng bộ

- Không giới hạn về không gian

- Học tập mọi lúc, mọi nơi

Phương

tiện dạy

học

- Các phần mềm dạy học, máy chiếu, overhead và bản trong, video, audio

Trang 29

- Thảo luận gián tiếp qua e-mail, chat, diễn đàn học tập

- Phản hồi thông tin sau hàng giờ, hàng tuần, thậm chí hàng tháng

- NH dễ dàng đưa ra ý kiến của riêng mình, kể cả phê phán

Tính thích

ứng cá

nhân

- Một con đường học tập chung cho NH

- Con đường và nhịp độ học tập được xác định bởi NH

- NH được chọn GV giỏi

- GV chuẩn bị nội dung dạy học, thiết kế, đóng gói và truyền tải nhờ CNTT&TT Tích hợp các phương tiện dạy học trong nội dung dạy học

- Tài liệu học tập phong phú, luôn được cập nhật: ĐTTT có thể giúp NH

tiếp cận với kho tàng kiến thức khổng lồ của nhân loại với sự hỗ trợ của các

máy tìm kiếm trên mạng Internet như google Mặt khác, NH cũng có thể chia

sẻ tài nguyên học tập của mình cho mọi người Và đặc biệt, các thông tin này thường xuyên được bổ sung, cập nhật, giúp NH có thể nắm bắt được nội dung học tập một cách nhanh chóng, chính xác

- Góp phần rèn luyện kỹ năng và thái độ học tập: Để học tập trong môi

trường ĐTTT đòi hỏi NH phải có thói quen học tập tốt, kỹ năng tự học và quản

lý thời gian của riêng mình Điều này tạo cho NH kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo Khác với lớp học truyền thống, nhiều khi NH còn chưa mạnh dạn đưa

ra các ý kiến phản đối, phê bình đối với các nội dung dạy học thì ĐTTT tạo ra

Trang 30

các diễn đàn trao đổi ý kiến một cách thẳng thắn, cởi mở Đồng thời cũng loại

bỏ sự băn khoăn của NH khi cùng một nội dung nhưng mỗi GV lại có cách tiếp cận vấn đề khác nhau Qua đó góp phần rèn luyện thái độ học tập nghiêm túc

và phát triển tư duy phê phán ở NH

- Tăng khả năng ghi nhớ ở NH: Nhờ các ưu điểm nổi bật của kĩ thuật

multimedia, ĐTTT tác động lên NH qua nhiều kênh thông tin như: văn bản, hình ảnh, biểu đồ, audio, video, hoạt hình, mô phỏng,…Nhiều nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng, môi trường học tập có tích hợp công nghệ truyền thông đa phương tiện làm tăng khả năng ghi nhớ ở NH Không những thế, các nội dung học tập được thiết kế, truyền tải và liên kết đến các kho dữ liệu trên mạng giúp NH xem lại một cách dễ dàng các kiến thức mà lần đầu tiên chưa nắm rõ

- Quản lý dễ dàng việc học tập: Một số ý kiến cho rằng ĐTTT thì vấn

đề quản lý NH là rất khó khăn vì không biết NH có thực sự tham gia khoá học không, khi kiểm tra kết quả có người khác cùng hỗ trợ làm bài không Tuy nhiên, cần tiếp cận vấn đề theo một hướng khác: Thông qua hệ thống quản lý học tập trực tuyến LMS/LCMS, nhà quản lý, GV, gia đình và những NH khác

có thể dễ dàng theo dõi quá trình học tập và kết quả công khai của NH trong từng module Nhờ đó, nhà quản lý và GV có thể xác định được nội dung nào

NH cần được đào tạo lại hoặc đào tạo thêm nhằm giúp NH đạt được kết quả tốt nhất khi kết thúc khoá học Điều này giúp GV dạy học phân hoá, cá biệt hoá NH rất tốt

Trang 31

- Trong quá trình kiểm tra trực tuyến, GV không kiểm soát được đối tượng dự thi mà phụ thuộc hoàn toàn vào tính tự giác của HS

- Làm tăng khối lượng làm việc của GV: GV không phải lên lớp song vẫn cần thường trực qua mạng Internet để theo dõi và hỗ trợ các nhóm/cá nhân HS

- Cần một đội ngũ kỹ thuật viên web, đồ họa và đa phương tiện lành nghề và chuyên nghiệp để hỗ trợ các GV trong việc thiết kế và thể hiện các bài giảng Các chi phí: viễn thông, thiết kế bài giảng, mua trang thiết bị

Nhằm phát huy những ưu điểm, hạn chế nhược điểm của từng hình thức

tổ chức dạy học, cần có hình thức tổ chức dạy học mới, đó là dạy học kết hợp

1.1.2.2 Dạy học kết hợp (Blended learning) và dạy học truyền thống

* Khái niệm dạy học kết hợp

Dạy học kết hợp - Blended Learning (BL) là một thuật ngữ xuất phát

từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn" Có nhiều quan niệm khác nhau về học kết hợp:

1) BL: là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông) [Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2001; (Thomson, 2002)

2) BL: là kết hợp các phương pháp giảng dạy (Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett, 2002)

3) BL: là kết hợp hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn đối mặt (Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche, 2003; Young, 2002)

4) BL: là "Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể" (Alvarez, 2005)

5) BL: để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E - learning" (Victoria L Tinio, 2005)

Các quan niệm trên được đưa ra chủ yếu dựa trên sự kết hợp về hình thức tổ chức, nội dung và phương pháp dạy học

Trang 32

Từ đó, có thể hiểu một cách đơn giản: Dạy học kết hợp là hình thức tổ chức dạy học hòa trộn giữa cách dạy học truyền thống trên lớp và cách dạy học hiện đại E-learning Sự phối hợp nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy - học giữa các hình thức dạy học khác nhau nhằm tối ưu hóa thế mạnh mỗi hình thức, đảm bảo hiệu quả giáo dục đạt được là cao nhất

1.1.2.3 Các phương án dạy học kết hợp

Có nhiều phương án học kết hợp được đưa ra dựa trên nội dung, phương pháp tiến hành và đặc điểm của môn học Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau

Theo một số nghiên cứu có đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là:

Mức độ 1: Kết hợp ở mức hoạt động (Activity lever);

Mức độ 2: Kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse lever);

Mức độ 3: Kết hợp ở mức độ chương trình (Program lever);

Đối với môn Địa lí, được coi là một khoa học liên ngành, việc nghiên cứu tri thức đòi hỏi phải trải qua quan sát, tìm tòi, nhận xét, phân tích, đánh giá và so sánh thực tế Vì vậy, việc dạy học Địa lí sẽ phát huy hiệu quả một cách toàn diện khi có sự kết hợp giữa dạy học trên lớp với dạy học qua mạng

Trang 33

Hình 1.2 Các phương án dạy học kết hợp

1.1.2.4 Ưu điểm của dạy học kết hợp

Dạy học kết hợp được đánh giá là một giải pháp tốt cho giáo dục và đào tạo Nghiên cứu của Osguthope & Graham (2003) đã chỉ ra các lý do để lựa chọn BL là: Tính phong phú của sư phạm; tiếp cận với sự hiểu biết; sự tương tác xã hội; hướng tới cá nhân; chi phí hiệu quả, dễ dàng sửa đổi Dạy học kết hợp phát huy được ưu điểm, hạn chế nhược điểm của cả hai hình thức dạy học trực tuyến và dạy học truyền thống trên lớp

Tác giả Victoria L Tinio nhận định rằng "Không phải tất cả các chương trình học đều có thể được thực hiện tốt nhất trong môi trường trang thiết bị điện tử ; căn cứ để lựa chọn hình thức đào tạo là đặc điểm của môn học, mục tiêu

và kết quả học tập, tính cách của học viên và bối cảnh học tập để lựa chọn hình thức, phương pháp và phương tiện giảng dạy thích hợp nhất"

Trang 34

quát về Địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế của đất nước Việt Nam Theo chuẩn

kiến thức kỹ năng của Bộ Giáo dục thì, học xong chương trình Địa lí 12 (chương trình chuẩn) học sinh đạt được:

- Về kiến thức: Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản,

cần thiết về đặc điểm tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; những vấn đề đặt ra đối với cả nước nói chung và các vùng, các địa phương nơi học sinh đang sinh sống nói riêng

- Về kĩ năng: Củng cố và phát triển:

+ Kĩ năng học tập và nghiên cứu địa lí: quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí; vẽ lược đồ, biểu đồ; phân tích, sử dụng bản đồ, Atlat, biểu đồ, lát cắt, số liệu thống kê

+ Kĩ năng thu thập, xử lí, tổng hợp và thông báo thông tin địa lí

+ Kĩ năng vận dụng tri thức địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật địa

lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh

Trang 35

- Về thái độ, hành vi:

+ Có tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước và tôn trọng các thành

quả của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân loại

+ Có niềm tin vào khoa học, ham học hỏi, hứng thú tìm hiểu và giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí

+ Có ý chí tự cường dân tộc, niềm tin vào tương lai của đất nước; sẵn sàng tham gia vào các hoạt động sử dụng hợp lí, bảo vệ, cải tạo môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và cộng đồng

- Năng lực cần hình thành:

+ Hình thành và phát triển cho HS thế giới quan khoa học và các phẩm chất yêu thiên nhiên; có ý thức, niềm tin và hành động cụ thể trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; yêu quý người lao động, tôn trọng những giá trị nhân văn khác nhau; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo

+ Hình thành và phát triển cho HS năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,

cụ thể là năng lực địa lý, bao gồm các thành phần sau: Nhận thức thế giới theo quan điểm không gian; Năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lý (tự nhiên, kinh tế - xã hội); Năng lực sử dụng các công cụ của Địa lí học và tổ chức học tập thực địa; Năng lực thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin địa lý; Năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng vào thực tiễn [25]

1.2.1.2 Nội dung chương trình Địa lí 12- THPT

Nội dung chính là “Địa lí Việt Nam” nhằm trang bị cho các em HS những đặc điểm nổi bật về thiên nhiên, dân cư, kinh tế và các vấn đề đặt ra đối với đất nước, với các vùng và với địa phương - nơi HS đang sống; chuẩn bị cho

HS những kiến thức cần thiết để hoà nhập vào cuộc sống hoặc tiếp tục học lên CTĐL lớp 12 được biên soạn có kế thừa, phát triển từ nội dung Địa lí lớp 8, 9,

10, 11, vừa góp phần hoàn thiện nội dung của chương trình địa lí, làm cơ sở cho những hoạt động học tập và lao động sản xuất sau này của mỗi HS

Trang 36

Cấu trúc chương trình Địa lí 12 gồm bốn phần lớn: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí kinh tế Việt Nam và Chuyên đề Ôn thi THPT Quốc gia thể hiện những nội dung sau:

Địa lí tự nhiên Việt Nam giới thiệu bức tranh phong phú về vẻ đẹp thiên nhiên thông qua các thành phần như núi non, sông nước, sinh vật và các hiện tượng tự nhiên đặc trưng như khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, bão, thiên nhiên phân hóa,…

Địa lí dân cư Việt Nam nổi bật với những đặc điểm của con người nước

ta thông qua tình hình phát triển, cơ cấu dân số, tình hình lao động - việc làm

và quá trình đô thị hóa

Địa lí kinh tế giúp học sinh thấy được đặc điểm của sự phát triển và phân

bố các ngành kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới các ngành dịch vụ Việc đẩy mạnh khai thác phát kinh kinh tế - xã hội của bảy vùng kinh tế đã tạo nên

sự phân hóa và hình thành các vùng kinh tế trên cả nước

Các chuyên đề ôn thi THPT Quốc gia gồm khối kiến thức lớp 11 và 12 theo chương trình của Bộ GD&ĐT Trong đó kiến thức lớp 12 là trọng tâm Phần kĩ năng địa lí đa dạng như kĩ năng tính toán từ bảng số liệu, kỹ năng nhận dạng biểu đồ, chuyên đề về đọc Atlat Địa lí Việt Nam [7]

1.2.2 Chương trình môn Địa lí 12 - THPT áp dụng ở tỉnh Điện Biên

1.2.2.1 Quy trình xây dựng phân phối chương trình ở tỉnh Điện Biên

Phân phối chương trình quy định nội dung dạy học cho từng tiết học trên

cơ sở khung phân phối chương trình (chương, phần, bài học, mô-đun, chủ đề, ) của Bộ, trong đó đã lược bỏ những nội dung cần điều chỉnh dạy học theo công văn số: 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Thời gian thực hiện kế hoạch dạy học trong năm là 37 tuần, trong đó học kì I là 19 tuần, học kì II là 18 tuần đây khung chương trình chung cho các trường trong toàn tỉnh

Trang 37

Căn cứ vào gợi ý chương trình dạy học bộ môn do do Bộ giáo dục ban hành, các trường chỉ đạo cho GV, nhóm GV cùng bộ môn xây dựng phân phối chương trình dạy học bộ môn năm học theo các bước sau:

Bước 1: Nhà trường chỉ đạo các tổ chuyên môn triển khai yêu cầu tới các

giáo viên, dựa vào khung chương trình do Bộ GD-ĐT ban hành và sách giáo khoa môn học hiện hành, xác định và lựa chọn những nội dung kiến thức cơ bản và thiết yếu theo hướng giảm tải, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế và đặc biệt

là năng lực của học sinh nhà trường, mỗi giáo viên đề xuất các nội dung chưa hợp

lí như: thời lượng cho bài học, xác định những nội dung dạy học trùng lặp của bộ môn trong cùng cấp học, những kiến thức khó hoặc chưa cần thiết, những thông tin đã cũ bị lạc hậu…Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khắc phục

Bước 2: Thống nhất xây dựng kế hoạch dạy học

Sau khi mỗi GV hoàn thành đề xuất cho môn học, tổ chuyên môn sẽ tổ chức họp GV cùng bộ môn, dựa trên đề xuất của GV để thống nhất xây dựng

kế hoạch dạy học của môn học theo nguyên tắc:

+ Đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng

+ Không gây xáo trộn quá lớn

+ Phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và năng lực

tổ chức dạy - học của giáo viên và học sinh nhà trường (đảm bảo tính khả thi)

+ Tạo được hứng thú và đồng thuận của giáo viên, học sinh

Bước 3: Phê duyệt kế hoạch dạy học

- Tổ trưởng, trưởng nhóm bộ môn báo cáo kế hoạch môn học đã được thống nhất trong tổ chuyên môn với Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng Yêu cầu nắm chắc và giải trình được lí do của những thay đổi, điều chỉnh so với chương trình và SGK hiện hành

- Hiệu trưởng phê duyệt kế hoạch dạy học, phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học

đã xây dựng

Trang 38

Bước 4: Đánh giá kết quả, tiếp tục rà soát điều chỉnh nếu thấy chưa hợp lí

- Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch dạy học đã được nhà trường phê duyệt của các giáo viên

- Nhà trường chỉ đạo các giáo viên bộ môn trong quá trình thực hiện phân phối chương trình môn học đã được điều chỉnh theo tự chủ của nhà trường cần có đánh giá tính hiệu quả ngay sau khi thực hiện từng nội dung được điều chỉnh, nếu

có vướng mắc, phát sinh bất cập hoặc chưa hợp lí sẽ ghi chép lại

- Cuối năm học, phó Hiệu trưởng cùng tổ trưởng chuyên môn tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, và điều chỉnh nội dung và kế hoạch dạy học mới cho phù hợp trình Hiệu trưởng để áp dụng vào năm học tiếp theo

1.2.2.2 Chương trình môn Địa lí lớp 12 được thực hiện ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên Đông năm học 2019-2020

Cả năm: 37 tuần - 52 tiết

Học kỳ I: 19 tuần - 18 tiết

Học kỳ II: 18 tuần - 34 tiết (xem bảng 1.3)

* Đánh giá về phân phối chương trình môn Địa lí 12 trong phương diện xây dựng khóa học kết hợp:

Thứ nhất: Sử dụng PPCT khung môn Địa lí trên làm cơ sở để chúng ta triển khai xây dựng khóa học kết hợp cho học sinh khối 12 là hợp lí Căn cứ vào sự bố trí các nội dung của bài học, việc sắp xếp các nội dung của từng phần

và phân bổ số tiết lý thuyết và thực hành, số tiết ôn tập kiểm tra một cách chi tiết và cụ thể

Thứ hai: Phù hợp với đối tượng HS vì lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội trong mỗi bài học đảm bảo tính vừa sức đối với lứa tuổi THPT Để khắc sâu kiến thức, tránh sự nhàm chán cho học sinh Sau mỗi bài học cần tăng lượng bài tập củng cố để học sinh làm quen với cấu trúc cũng như biết cách làm bài thi THPT Quốc Gia nâng cao chất lượng dạy và học

Trang 39

Bảng 1.2 Phân phối chương trình dạy học môn Địa lí ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú THPT huyện Điện Biên Đông, năm học 2019-2020

Tuần Tiết theo

ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN

Vị trí địa lí và lịch sử phát triển

1 1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ

Đặc điểm chung của tự nhiên

2 2 Đất nước nhiều đồi núi

3 3 Đất nước nhiều đồi núi (tiếp theo)

Bài 3, 13, Thực hành: Vẽ lược đồ Việt Nam Thực hành: Đọc bản đồ địa hình và điền vào lược đồ trống

một số dãy núi và đỉnh núi

5, 6 5, 6 Bài 8, 42: Chuyên đề Biển đảo Việt Nam

7 7 Kiểm tra 1 tiết (các bài từ tiết 1 đến tiết 7)

8 8 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

9 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiếp theo)

10 10 Thiên nhiên phân hóa đa dạng

11 11 Thiên nhiên phân hóa đa dạng (tiếp theo)

Chuyên đề: Sử dụng và bảo vệ môi trường (2 tiết)

12 12 Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

13 13 Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

ĐỊA LÍ DÂN CƯ

14 14 Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta

15 15 Lao động và việc làm

17 17 Ôn tập nội dung các bài, từ tiết 9 đến tiết 16

18 18 Kiểm tra học kỳ I

Trang 40

II HỌC KÌ II

Thực hành: Vẽ biểu đồ và phân tích sự phân hóa về

thu nhập bình quân theo đầu người giữa các vùng

20 Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập ĐỊA LÍ KINH TẾ

21 21 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

22 Rèn kỹ năng khai thác Atlat

28 Cơ cấu ngành công nghiệp

25 29 Vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm

30 Vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp

26

31 Thực hành: Vẽ biểu đồ, nhận xét và giải thích sự

chuyển dịch cơ cấu công nghiệp

32 Vấn đề phát triển ngành giao thông vận tải và thông

tin liên lạc

27 33 Vấn đề phát triển thương mại, du lịch

34 Ôn tâp nội dung các bài, từ tiết 19 đến tiết 34

Ngày đăng: 22/12/2020, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN