1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội

102 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 559,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THÙY TRINH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN

KĨ NĂNG LẬP Ý CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ MỘT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thùy Trinh

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5.Các phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp thống kê phân loại 8

5.2 Phương pháp hồi cứu 8

5.3 Phương pháp điều tra khảo sát 8

6 Câu hỏi nghiên cứu 8

7 Giả thuyết khoa học 9

8 Bố cục của luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý 11

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1.1 Kĩ năng lập ý 11

1.1.2 Đặc điểm dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống 13

1.1.3 Vai trò của hệ thống bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng 15

1.1.4 Tính mức độ của bài tập đối với học sinh trung học phổ thông 16

1.2 CƠ SỞ THỰC THỰC TIỄN 20

1.2.1 Chương trình, sách giáo khoa, sách tham khảo 20

1.2.2 Thực trạng dạy của giáo viên 31

1.2.3 Thực trạng học của học sinh 32

Trang 4

CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

LẬP Ý 34

2.1 MÔ HÌNH LẬP Ý CHO KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG 34

2.1.1 Bước 1: Giới thiệu thực trạng 34

2.1.2 Bước 2: Phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả (hậu quả) 35 2.1.3 Bước 3: Đề xuất ý kiến (giải pháp) 36

2.2 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP 36

2.2.1 Bài tập nhận biết 36

2.2.2 Bài tập lí giải, cắt nghĩa 42

2.2.3 Bài tập ứng dụng 46

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 54

3.1 MỤC ĐÍCH THỬ NGHIỆM 54

3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA BÀN THỬ NGHIỆM 54

3.2.1 Về đối tượng thử nghiệm 54

3.2.2 Về giáo viên thử nghiệm: 54

3.2.3 Về địa bàn thử nghiệm: 54

3.2.4 Về kế hoạch thử nghiệm: 55

3.3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỬ NGHIỆM 56

3.4 TỔ CHỨC THỬ NGHIỆM 82

3.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM 83

3.5.1 Các tiêu chí đánh giá 84

3.5.2 Các phương tiện đánh giá 85

3.5.3 Kết quả đánh giá thử nghiệm 86

PHẦN KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1.Văn nghị luận là một loại văn, trong đó người viết đứng trên một lập

trường quan điểm nào đó và dựa vào một sự hiểu biết nhất định của mình về

xã hội, văn học, dùng lí lẽ và dẫn chứng, dùng ngôn ngữ trực tiếp để trình bày, lập luận, phân tích, giảng giải, phê phán nhằm giải quyết một vấn đề xã hội, đời sống, tư tưởng, văn học, làm cho người đọc hiểu và tin vấn đề để có nhận thức đúng, hành động đúng Văn nghị luận có thể chia làm hai loại chính

là nghị luận văn học và nghị luận xã hội Làm văn nghị luận nói chung và làm

văn nghị luận xã hội nói riêng là rất cần thiết cho mọi người Bởi vì “ làm văn nghị luận là rèn luyện tư duy bằng ngôn ngữ, cách diễn đạt chính xác, cách dùng từ đúng chỗ, cách thuyết phục người khác Thiếu năng lực thuyết phục

thì khó thành đạt trong cuộc sống”

1.2 Văn nghị luận xã hội đã được đề cập từ lâu trong chương trình (từ

CCGD), tuy nhiên trong một thời gian khá dài đề thi chỉ chú ý đến kiểu bài nghị luận văn học Hiện nay, cùng với sự thay đổi chương trình, sách giáo khoa, cùng với việc học tập, rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học, học sinh còn được học tập và rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội Quan niệm về nội dung dạy học nghị luận xã hội cũng thay đổi Trước đây phần nghị luận xã hội chỉ chú trọng đến nội dung dạy và học về tư tưởng đạo lí, nay có cả kiểu bài về một hiện tượng trong đời sống và những vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp và đại học do Bộ GD ban hành cũng rất chú trọng đến phần nghị luận xã hội Thực tế, làm văn nghị luận

xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi đại học Điều này đã được giáo viên, học sinh, phụ huynh và các lực lượng xã hội khác hưởng ứng, ca ngợi

Trang 6

1.3 Tuy nhiên, rất nhiều học sinh, trong đó có cả những em học sinh giỏi bộ

môn văn đều cảm thấy ngại và khó khi làm bài nghị luận xã hội và kết quả viết bài nghị luận xã hội của học sinh còn rất nhiều hạn chế Khi viết bài văn nghị luận xã hội, các em đều gặp khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp

Đề bài văn nghị luận xã hội thường là những đề lạ Điều này gây cho các em tâm lí lúng túng, bất ngờ ngay khi đọc đề bài Kiến thức làm bài không có trong sách vở văn học nên nhiều khi các em nhìn vào đề bài mà cảm thấy đầu óc trống rỗng, khó định hình ngay được mình sẽ viết gì

Ở rất nhiều bài văn nghị luận xã hội, các em đều cảm thấy lúng túng trong việc sắp xếp các ý trình bày cũng như xác định mức độ trình bày các ý sao cho hợp lí

Ở nhiều bài viết, học sinh liên hệ mở rộng vấn đề bằng quá nhiều dẫn chứng Nhiều khi các em sa đà sang kể chuyện Phần liên hệ ấy không phải là trọng tâm của bài viết Như vậy dẫn đến một thực tế là bài viết dài nhưng nội dung vấn đề cần bàn bạc không sâu sắc, bố cục bài làm không cân đối

Diễn đạt ý ở nhiều bài tỏ ra gượng ép khiến cho lời văn nghị luận thiếu tính thuyết phục và thiếu chất văn…

Một trong những hạn chế lớn nhất của học sinh khi viết bài nghị luận

xã hội là không biết lập ý

Bên cạnh đó, phương pháp dạy làm văn nói chung và dạy làm văn phần nghị luận xã hội nói riêng của giáo viên vẫn chưa thực sự chú ý đến việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh, đặc biệt là ở những kĩ năng cơ bản như lập ý Mặt khác, hệ thống bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập chưa đủ đáp ứng nhu cầu thực sự của giờ học làm văn

Vì vậy, để học sinh trung học phổ thông không cảm thấy khó khăn và khắc phục được những hạn chế trong việc viết bài văn nghị luận xã hội, việc xây dựng hệ thống bài tập cho các em luyện tập là vô cùng quan trọng Hệ

Trang 7

thống bài tập rèn luyện kĩ năng sẽ giúp học sinh rèn luyện một cách chi tiết,

cụ thể các kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu và phân tích đề, kĩ năng lập ý (kĩ năng tìm ý và lập dàn ý), kĩ năng diễn đạt, kĩ năng trình bày…Có hệ thống bài tập thực hành sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, phù hợp với quan điểm dạy học mới hiện nay

Với những lí do trên và từ thực tế giảng dạy, chúng tôi đã chọn đề tài

Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội

2 Lịch sử vấn đề

Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu Ở Trung Hoa, văn nghị

luận có từ thời Khổng Tử (551 - 479) Khổng Tử nói với Tử Lộ về Chính danh “Danh không chính thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không

thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng thịnh, lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết xử trí ra sao cho khỏi bị hình phạt” Khi Khổng Tử dạy học trò như thế là ông đã dùng phép lập luận

Ở nước ta văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời,

có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử, trong công cuộc

dựng nước và giữ nước Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn; Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn; Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi; Trích diễm thi tập (1497) của Hoàng Đức Lương; Chiếu cầu hiền (1788) của Ngô Thì Nhậm… Ở thế kỉ XX văn nghị luận càng phát triển

mạnh mẽ với tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị

luận bất hủ, mà tiêu biểu nhất là Chủ Tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn độc lập (1945) Bên cạnh đó còn có các nhà chính luận như Phan Bội Châu,

Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… và các nhà cách mạng, nhà văn hóa lớn như Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên

Trang 8

Giáp… cùng biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau này như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…

Văn nghị luận có từ lâu đời và nội dung nghị luận xã hội cũng đã được

đề cập từ lâu trong chương trình và sách giáo khoa Đó là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội

Trong dạy học làm văn vấn đề rèn luyện các kĩ năng đã được quan tâm

từ khá lâu Trong cuốn Làm văn - Từ lý thuyết đến thực hành tác giả Đỗ Ngọc

Thống đã khảo sát các tài liệu đề cập đến việc rèn luyện các kĩ năng làm văn như:

Lê A - Một số vấn đề dạy học làm văn (1990) - ĐHSP Hà Nội I

Vũ Quốc Anh - Hà Bình Trị - Nguyễn Quang Cương - Mẹo luật viết văn hay (1990)

Đình Cao - Lê A - Làm văn (giáo trình ĐHSP) - Hà Nội 1989

Trần Thanh Đạm - Làm văn 10 - GD - Hà Nội (1990)

Trần Thanh Đạm (chủ biên) - Làm văn 11 - GD - Hà Nội 1991

Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) - Đỗ Ngọc Thống - Lưu Đức Hạnh

– Muốn viết được bài văn hay - GD - Hà Nội (1993)

Trần Đình Sử - Phan Trọng Luận - Nguyễn Minh Thuyết - Làm văn 12

- GD - Hà Nội (1992)

Trần Dình Sử (chủ biên) - Phan Trọng Luận - Nguyễn Quang Ninh -

Đỗ Ngọc Thống - Một số vấn đề lí luận và phương pháp dạy sách làm văn 12 CCGD - ĐHSP Hà Nội I (1992) Và một số tài liệu khác

Cũng trong phần khảo sát này, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã thống kê có ít nhất 28 kĩ năng làm văn được đề cập tới trong các tài liệu kể trên như: tìm hiểu đề, tìm ý, phát triển ý, làm dàn ý, huy động kiến thức, lập luận và dẫn chứng, xây dựng đoạn văn, chọn và trình bày dẫn chứng, hành văn, viết câu

Trang 9

nghị luận, dùng từ, diễn đạt…Đặc biệt qua khảo sát và thống kê tác giả cũng chỉ ra những kĩ năng được đề cập nhiều nhất là tìm ý, phát triển ý và dàn ý Như vậy có thể khẳng định kĩ năng lập ý (bao gồm tìm ý, phát triển ý và lập dàn ý) là kĩ năng quan trọng trong quá trình tạo lập văn bản và cần phải rèn luyện cho học sinh thực hành tốt kĩ năng này

Cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống - Nguyễn Thành Phi -

Phạm Minh Diệu (2008) Ở cuốn sách này, các tác giả đã dành riêng chương thứ 4 (từ trang 185 đến trang 235) để bàn về văn nghị luận Trong 48 trang ấy, nhóm tác giả đề cập đến việc lập ý cho bài văn nghị luận với các bước như sau: Bước 1 dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm và các ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ Bước 2 tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó

Cuốn Làm văn của tác giả Lê A và Đình Cao, tác giả cũng dành chương

2 nói về kĩ năng xây dựng luận điểm và lập chương trình biểu đạt(làm dàn ý

và kết cấu) Ở chương này, tác giả đưa ra các kĩ năng chung cho văn nghị

luận Trước hết là tầm quan trọng của việc xây dựng luận điểm, cách xây dựng luận điểm và tầm quan trọng của việc xây dựng luận điểm

Như vậy, việc dạy lập ý cho bài văn nghị luận đã được đề cập từ lâu.Tuy nhiên đó mới chỉ là kĩ năng dành chung cho kiểu bài nghị luận mà chưa cụ thể cho việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận xã hội

Cuốn Dạy và học nghị luận xã hội của tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)

Trang 10

Mức 1: Nêu hệ thống đề kèm theo dàn ý tham khảo cho mỗi đề Học sinh đọc đề, suy nghĩ, tìm hiểu; sau đó đối chiếu với những gợi ý trong sách

và rút kinh nghiệm

Mức 2: Nêu hệ thống đề và một số gợi ý cơ bản (không có dàn ý) về cách tìm hiểu đề và hướng triển khai bài viết Học sinh đọc và tham khảo gợi

ý, sau đó tự mình lập dàn ý cho đề văn

Mức 3: Nêu hệ thống đề (không có dàn bài và cũng không có gợi ý) Học sinh phải tự lực suy nghĩ và tự triển khai lập dàn ý cho đề văn

Ngoài hai phần chính nêu trên, cuốn sách còn có phần phụ lục, tác giả đã

tuyển chọn một số bài văn nghị luận xã hội để học sinh tham khảo, rút kinh nghiệm về cách viết, cách diễn đạt…

Nhiều tác giả đã viết về kĩ năng lập ý cho bài văn nghị luận nhưng các sách dành riêng cho kĩ năng lập ý cho bài văn nghị luận xã hội còn ít.Vì vậy

cuốn sách Dạy và học nghị luận xã hội của tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên)

đã trở thành tài liêu quý báu cho việc ôn thi, dạy và học nghị luận xã hội ở nhà trường phổ thông

Qua phần tổng quan trên đây chúng tôi rút ra những nhận xét như sau;

1 Kỹ năng lập ý cho văn nghị luận đã có từ lâu Tuy nhiên, phần lớn kĩ năng lập ý thông qua thực hành (lập dàn ý) mà không có lý thuyết

2 Dàn ý cho đến sau này trong kiểu bài nghị luận xã hội chủ yếu tập trung về vấn đề tư tưởng đạo lý Vấn đề về hiện tượng đời sống và vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học còn ít được đề cập tới

3 Các dạng bài tập cho lập ý chưa phong phú, đa dạng nhất là kiểu bài

về hiện tượng trong đời sống

Vì vậy, xây dựng hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở kiều bài nghị luận xã hội là rất cần thiết

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này mục đích nghiên cứu là đề xuất hệ thống bài tập nhằm rèn luyện kĩ năng lập ý để nâng cao chất lượng viết bài văn nghị luận xã hội cho học sinh trung học phổ thông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

Tìm hiểu, xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng tìm ý và lập dàn ý cho bài văn nghị luận xã hội

Đề xuất hệ thống bài tập để học sinh rèn luyện kĩ năng tìm ý và lập dàn

ý, thông qua hệ thống bài tập này học sinh sẽ biết cách làm bài văn nghị luận

và tiến tới tạo được những văn bản nghị luận xã hội hay

Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra đánh giá tính khả thi của những đề xuất về hệ thống bài tập mà luận văn đưa ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung khảo sát và nghiên cứu những bài viết văn nghị luận xã hội của học sinh lớp 12 tại trường trung học phổ thông Lưu Nhân Chú và trường trung học phổ thông Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Chủ yếu nghiên cứu sâu những lỗi về kĩ năng viết văn nghị luận xã hội mà học sinh mắc phải trong quá trình làm bài, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng mà học sinh còn yếu nhất

Phạm vi nghiên cứu: Các bài học về nghị luận xã hội trong chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 12(chương trình nâng cao và chương trình chuẩn), tập trung đi sâu vào bài học về kỹ năng lập ý (tìm ý, phát triển ý và lập dàn ý)

Trang 12

5.Các phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội chúng tôi sử

dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Đây là một trong những phương pháp của toán học Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực nghiệm Thống kê và phân loại một số dạng, kiểu bài tập đã có trong sách giáo khoa và sách bài tập

5.2 Phương pháp hồi cứu

Là phương pháp nghiên cứu ngược trở lại (xem xét lại tất cả các tài liệu, xem lại hệ thống bài tập và các kĩ năng…)

5.3 Phương pháp điều tra khảo sát

Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu việc dạy và học văn nghị luận xã hội của giáo viên và hoc sinh Điều tra, khảo sát hệ thống bài tập làm văn trong sách giáo khoa và sách bài tập về văn nghị luận xã hội; khảo sát và điều tra tình hình viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh Từ đó nghiên cứu đề tài một cách tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học làm văn ở trường phổ thông

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được áp dụng trong thực nghiệm dạy học, cho học sinh làm bài tập nhằm kiểm tra, chứng minh tính hiệu quả của hệ thống bài tập mà luận văn đề xuất

6 Câu hỏi nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập như thế nào để rèn luyện tốt kĩ năng lập ý cho học sinh trung hoc phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội?

Trang 13

7 Giả thuyết khoa học

Phần nghị luận xã hội đã có từ lâu trong chương trình nhưng kiểu bài nghị luận về một hiện tượng trong đời sống còn rất mới mẻ với cả giáo viên

và học sinh Chính vì vậy, việc dạy và việc học của giáo viên và hóc inh còn nhiều lúng túng Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng cho học sinh sẽ nâng cao chất lượng bài viết cho học sinh cũng như cách dạy của giáo viên, đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học Làm văn

8 Bố cục của luận văn

Để triển khai nôi dung nghiên cứu, chúng tôi chia luận văn thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần mở đầu luận văn trình bày những nội dung cơ bản có tính định

hướng trong việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lí do chọn đề tài, lịch sử vấn

đề, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích -nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Đặc biệt trong phần mở đầu, chúng tôi còn giới thiệu về bố cục của luận văn, qua đó đánh giá tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này

Phần nội dung của luận văn được khiển khai trong 3 chương Cụ thể là: Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG

BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý

Ở chương này tập trung trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn để đề xuất

hệ thống bài tập lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận

xã hội

Chương 2: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý

Trong chương này,từ cơ sở lí luận và thực tiễn ở trên chúng tôi đề xuất

hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập ý cho học sinh trung học phổ thông ở bài văn nghị luận xã hội

Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM

Trang 14

Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm thông qua đó kiểm tra tính khả thi của

hệ thống bài tập đề xuất

Phần kết luận, khái quát lại nội dung vấn đề đã đƣợc triển khai trong các

phần trên và đề xuất một số ý kiến

DANH MỤC SÁCH THAM KHẢO

Trang 15

số nhận định về vấn đề cần nghị luận nhằm giúp học sinh có phương hướng giải quyết vấn đề Trong trường hợp như thế, chỉ cần bám sát đề bài là lập được ý Cùng với những chỉ dẫn về nội dung nghị luận, trong mỗi đề bài đều

có chỉ dẫn về phương pháp nghị luận Đây cũng là căn cứ để người làm bài định hướng lập ý

Căn cứ thứ hai là những kiến thức về văn học và xã hội mà học sinh đã học, đã đọc hoặc đã tiếp thu được qua cuộc sống Một đề bài dù có chứa đựng những gợi ý cụ thể đến đâu cũng chỉ giúp người làm bài vạch ra được một số

ý lớn Để xác lập được các ý nhỏ, ta còn phải dựa vào những kiến thức về lí luận văn học, văn học sử và giảng văn hoặc những kiến thức về xã hội

1.1.1.2 Các bước lập ý

Tìm ý ở đây là ý của đề bài đặt ra chứ không phải ý của tác phẩm được phân tích Tuy nhiên cũng có trường hợp ý của đề trùng với ý của tác phẩm

Trang 16

được phân tích Đó là khi đề yêu cầu phân tích, bình giảng một tác phẩm độc lập, cụ thể nào đó Để tìm được ý cho đề văn, một trong những cách tương đối

có hiệu quả là người viết biết đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời Việc đặt ra các câu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật đi lật lại vấn đề để tìm hiểu, xem xét cho kĩ càng và thấu đáo hơn Ví dụ về cách tìm ý cho đề văn sau:

Đề: Trái đất sẽ ra sao nếu thiếu đi màu xanh của những cánh rừng?

Tìm hiểu và phân tích đề trên, dễ dàng nhận ra vấn đề trọng tâm cần làm sáng tỏ ở đây là: vai trò to lớn của rừng đối với đời sống con người Để tìm ý cho bài viết trên, có thể đặt ra các câu hỏi sau:

+ Rừng mang lại những lợi ích gì?

+ Hiện nay rừng đang bị tàn phá ra sao?

+ Những nguyên nhân nào khiến rừng bị tàn phá?

+ Hậu quả to lớn của rừng bị tàn phá là những gì?

+ Cần phải làm gì để cứu lấy rừng?

+ Những suy nghĩ và tình cảm của bản thân người viết trước cảnh rừng

bị tàn phá và ước mơ về tương lai của rừng như thế nào?

Trong mỗi câu hỏi trên, có thể đặt tiếp các câu hỏi nhỏ để triển khai các ý lớn

Có ý rồi, người viết cần biết tổ chức, sắp xếp các ý ấy thành một hệ thống nhằm làm nổi bật đối tượng, vấn đề Viết văn nghị luận là trình bày lập luận

để người đọc hiểu, tin suy nghĩ và hành động theo quan điểm của người viết

về vấn đề đặt ra trong đề bài Bởi vậy việc sắp xếp ý trong bài viết cần đảm bảo tính hệ thống của lập luận và chú ý đến tâm lí tiếp nhận của người đọc Tùy vào vấn đề, đối tượng cần thuyết phục và cách lập luận mà người viết

có thể sắp xếp ý theo những cách khác nhau Việc sắp xếp ý cần linh hoạt và cũng phải tuân thủ theo một số quy tắc nhất định:

Trang 17

+ Các ý lớn phải ngang nhau và cùng làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm + Các ý nhỏ phải nằm trong ý lớn và làm sáng tỏ cho ý lớn; cần trình bày ý theo một thứ tự tránh trùng lặp ý

+ Có ý bắt buộc trình bày trước rồi mới tiếp tục trình bày các ý khác + Cần xác định mức độ các ý cho hợp lí Trong một bài văn, các ý không phải bao giờ cũng đồng đều và được trình bày ngang nhau Có ý cần nêu kĩ, có ý chỉ nêu qua

Trong quá trình lập ý, cần chú ý để tránh không mắc phải các lỗi sau đây: + Lạc ý (lạc đề): các ý lớn không tập trung làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm của đề bài (luận điểm bộ phận không phù hợp với luận điểm trung tâm) Các ý nhỏ không tập trung làm sáng tỏ cho ý lớn Các dẫn chứng không liên quan gì đến ý cần làm sáng tỏ

+ Thiếu ý: Không đủ ý lớn để làm sáng tỏ vấn đề trọng tâm Không đủ các ý nhỏ để làm sáng tỏ ý lớn Không có hoặc không đủ các dẫn chứng để làm sáng tỏ các ý nhỏ

+ Lặp ý: các ý trong bài viết lặp lại hoàn toàn hoặc lặp lại một phần ý trước + Ý lộn xộn: bài viết sắp xếp ý không theo một thứ tự nào cả với hai biểu hiện chính là không phân biệt được ý lớn, ý nhỏ, ý phải trình bày trước với ý phải trình bày sau; trình bày ý một chưa hết đã chuyển sang ý hai sau đó lại quay về ý một…

Như vậy, kĩ năng lập ý nhằm giúp cho bài viết có ý và trình bày ý một cách hợp lí Nhiệm vụ của nó là tìm ra được nhiều ý (ý phong phú), ý mới, ý hay và biết tổ chức sắp xếp các ý ấy một cách hợp lí, làm nổi bật được vấn đề trọng tâm Rèn luyện tốt kĩ năng này, người viết sẽ tránh được các lỗi như không có ý, thiếu ý, ý cũ mòn, ý trùng lặp, lộn xộn…

1.1.2 Đặc điểm dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống

Dạng đề nghị luận về một hiện tượng trong đời sống thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống Đó có thể là một hiện tượng tích cực cũng

Trang 18

có thể là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, hoặc một hiện tượng có cả mặt tích cực và tiêu cực…Như thế đòi hỏi người viết, bằng nhận thức của bản thân, phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi và biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, vạch trần cái xấu, cái

ác, cái phi nhân… Các dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc và thế giới

Căn cứ vào đối tượng nghị luận có thể hệ thống thành một số dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống như sau:

1.1.2.1 Nghị luận về một hiện tượng liên quan đến môi trường sống tự nhiên của con người

“Hiện tượng ô nhiễm môi trường.”

“Nước ngọt thiếu hay thừa?”

“Hiện tượng cháy rừng vẫn đang diễn ra.”

“Rừng là lá phổi xanh của con người”…

1.1.2.2 Nghị luận về một hiện tượng liên quan đến môi trường xã hội

“Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.”

“Tầm quan trọng của vấn đề chuẩn bị hành trang cho tương lai.”

“Nên mặc áo dài đến trường hay mang đồng phục mới? Anh(chị) nghĩ sao?”

“Vào đại học có phải là con đường lập nghiệp duy nhất của thanh niên?”

“Điện thoại di động và học sinh phổ thông hiện nay”…

1.1.2.3 Nghị luận về một hiện tượng tích cực đáng biểu dương hoặc tiêu cực đáng phê phán

+ Những hiện tượng tiêu cực như:

Trang 19

“Hiện tượng gian lận trong thi cử”

“Hiện tượng nghiện ka- ra-ô-kê”

“Hiện tượng nghiện trò chơi điện tử”

“Hiện tượng hút thuốc lá trong trường học”…

1.1.3 Vai trò của hệ thống bài tập đối với việc rèn luyện kĩ năng

Hệ thống bài tập là tổ chức lớn nhỏ, thứ bậc, tầng bậc và mối quan hệ của các bài tập trong đó Nói đến hệ thống bài tập là nói đến các bài tập được tổ chức sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, từ khó đến dễ như:

hệ thống bài tập còn là cơ sở, là những tài liệu thiết thực giúp học sinh trong quá trình tạo lập các văn bản khác

Nếu đã xác định dạy học Làm văn là dạy các thao tác thực hành xây dựng văn bản thì có thể nói song song với những cơ sở lí thuyết, hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng là rất quan trọng, nó giúp học sinh rèn luyện một cách chi tiết, cụ thể các kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu và phân tích đề, kĩ năng tìm ý và lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt và trình bày…trước khi tạo lập một văn

Trang 20

bản hoàn chỉnh Qua đó còn thể hiện tính tích cực chủ động của học sinh trong thực hành làm văn Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn như là những bước tập dượt ban đầu,chuẩn bị khung sườn, chuẩn bị những bước đầu tiên, những bước nhỏ cho việc xây dựng văn bản

1.1.4 Tính mức độ của bài tập đối với học sinh trung học phổ thông

Như đã trình bày, đối tượng hướng đến của đề tài là học sinh trung học phổ thông - đặc biệt là những em học sinh lớp 12 Vì vậy cần tìm hiểu cơ sở tâm lý học của lứa tuổi này để thấy được việc hình thành suy nghĩ, hình thành

tư tưởng của học sinh phổ thông như thế nào? Để từ đó đưa ra những dạng bài tập về nghị luận xã hội nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng cho phù hợp với các em

1.1.4.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông

Trong tâm lý học lứa tuổi, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Chính các định nghĩa mà giới hạn thứ nhất là giới hạn sinh lý và giới hạn thứ hai là giới hạn xã hội đã chỉ ra tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng Có nhiều lý thuyết khác nhau về tuổi thanh niên

Hoạt động của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò

xã hội và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng, phạm vi, mà còn biến đổi cả về chất lượng Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn

Ở gia đình thanh niên đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em một số vấn đề trong gia đình và các

em cũng biết quan tâm đến nhiều mặt sinh hoạt trong gia đình

Trang 21

1.1.4.2 Hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông:

Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên học sinh khác nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác nhau cơ bản không phải ở chỗ nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà là ở chỗ hoạt động học tập của thanh nên học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều; đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phát triển tư duy

Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời Do vậy, thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển

Thái độ của thanh niên học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Cuối bậc trung học phổ thông các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó, đối với một lĩnh vực trí thức nhất định

Thái độ học tập ở nhiều em có nhược điểm là: Một mặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt điểm trung bình

Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên học sinh trong hoạt động học tập

1.1.4.3 Sự hình thành ý thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của học sinh phổ thông

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Quá trình này rất phong phú và phức tạp

Trang 22

Sự hình thành ý thức ở lứa tuổi thanh nên là một quá trình lâu dài, trải qua những mức độ khác nhau Ở tuổi thanh niên, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng: Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm, tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng

Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên học sinh là sự tự

ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động- địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình

Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai (Tôi cần trở thành người như thế nào, cần làm gì để tốt hơn…)

Chính việc các em biết nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai như thế nào đã khiến các em biết bày tỏ quan điểm nhìn nhận, đánh giá về những vấn đề hiện tượng trong đời sống Các em mạnh dạn phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề xã hội Các em đã thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và những vấn đề trong xã hội

Những ý kiến của thanh niên học sinh đã thể hiện được nhiệt tình xây dựng, vun đắp cho xã hội ngày một tốt đẹp; lên án phê phán những hành vi trái đạo đức, những vấn đề hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Thanh niên học sinh cũng bộc lộ rõ những phẩm chất nhân cách như lòng yêu lao động, hăng say học tập… Đồng thời cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng và tình cảm nghĩa vụ

Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc và tốt hơn về những vấn đề trong xã hội Các em trình bày chính kiến của mình trước những vấn đề trong xã hội một cách đầy nhiệt huyết

Trang 23

Một điều đáng chú ý và quan tâm ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông chính là sự hình thành những quan điểm, quan niệm mới mẻ Nó vừa mang tính kế thừa vừa mang tính hiện đại

Tuổi thanh niên học sinh là lứa tuổi quyết định sự hình thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử…

Ở lứa tuổi này, những quan niệm về một số vấn đề của học sinh rất khác so với người lớn, trong đó vừa mang tính kế thừa vừa mang tính mới

mẻ Chẳng hạn như quan niệm về cái đẹp, quan niệm về hạnh phúc, quan niệm về cuộc sống… Có thể học sinh quan niệm về cái đẹp khác với người lớn, nhưng chúng ta cũng không thể đánh giá nó sai, việc đánh giá phải dựa trên cơ sở tâm lý của lứa tuổi

Ở thanh niên học sinh việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết Càng cuối cấp học thì lựa chọn càng nổi bật Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không Việc quyết định một nghề nào đó ở nhiều em

đã có căn cứ Nhiều em biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, dù sự hiểu biết của các em và yêu cầu của nghề nghiệp là chưa đầy đủ

Hiện nay, thanh niên học sinh còn định hướng một cách phiến diện vào việc học tập đại học Đa số các em hướng dần vào các trường đại học (hơn là học nghề)… Tâm thế chuẩn bị bước vào đại học như thế sẽ dễ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu dự định của các em không được thực hiện Điều

đó cũng cho thấy các em (hoặc vô tình, hoặc cố ý) không chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với các ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo của các nghề trong khi quyết định đường đời

Trang 24

Tìm hiểu cơ sở tâm lý của vấn đề này, để chúng ta đưa ra những vấn đề

- Nghị luận về một sự việc, hiện tương đời sống

- Cách làm bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống

- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý

- Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý

Phần làm văn trung học phổ thông được cấu tạo đồng tâm và nâng cao những nội dung đã học ở trung học cơ sở theo cấu trúc sau;

Lớp 10: Ôn lại các kiểu văn bản đã học ở trung học cơ sở và học thêm một số nội dung mới Các kiểu văn bản ôn luyện bao gồm các kiểu văn bản:

tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh và nghị luận Các nội dung mới bao gồm hình thành và rèn luyện năng lực liên tưởng, tưởng tượng; khả năng quan sát, thể nghiệm đời sống; biết đọc và tích lũy kiến thức; biết chọn sự việc và biết chi tiết tiêu biểu; biết lập ý theo các yêu cầu khác nhau…

Lớp 11 và 12: Tập trung ôn lại và mở rộng, nâng cao các tri thức và kỹ năng về kiểu văn bản nghị luận Các nội dung ôn luyện như luận điểm, luận

Trang 25

cứ, lập luận các thao tác nghị luận (chứng minh, giải thích…); nghị luận văn học và nghị luận xã hội Các vấn đề mới như các thao tác nghị luận (so sánh, phân tích, bác bỏ); bố cục bài văn nghị luận và kỹ năng vuết mở bài, kết luận,

kỹ năng hoàn chỉnh bài văn…

Các loại văn bản hành chính, công vụ thì học nối tiếp chương trình trung học cơ sở

Nội dung các kiểu văn bản ở trung học phổ thông tập trung rèn luyện

kỹ năng, yêu cầu vận dụng những kiến thức về các kiểu văn bản này vào những tình huống cụ thể, gắn với tác phẩm văn học đang học ở trung học phổ thông hoặc đặt ra những vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức, tư tưởng liên quan đến cuộc sống của học sinh trung học phổ thông

Chương trình làm văn trung học phổ thông rất chú trọng đến văn nghị luận, trong đó có cả nghị luận văn học và nghị luận xã hội Đặc biệt trong chương trình lớp 12, việc dạy và học về văn nghị luận xã hội được đặc biệt quan tâm Học sinh được học các kiểu nghị luận xã hội như:

+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

+ Nghị luận về một hiện tượng trong đời sống

+ Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học(chương trình nâng cao)

Bắt đầu từ năm học 2008- 2009, học sinh lớp 12 trung học phổ thông trên cả nước được học theo chương trình và sách giáo khoa mới Bộ Giáo dục

và đào tạo đã có công văn số 9500/ BGDĐT - KTKĐ CLGD, ngày 13 tháng

10 năm 2008, thông báo về khung cấu trúc đề thi và hình thức thi của các môn thi trong kỹ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào đại học, cao đẳng hệ chính quy

- Cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông

+ Phần chung cho tất cả thí sinh (0,5 điểm)

Trang 26

Câu 1: (2.0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài

Câu 2: (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (không quá 400 từ)

+ Phần riêng (5,0 điểm)

Vận dụng khả năng đọc hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học

- Theo chương trình chuẩn

- Theo chương trình nâng cao

- Cấu trúc đề thi tốt nghiệp bổ túc trung học phổ thông

+ Câu 1; (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và tác giả tác phẩm văn học nước ngoài

+ Câu 2: (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội (không quá 400 từ)

- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

+ Câu 3: (5.0 điểm): Vận dụng khả năng đọc hiểu và kiến thức văn họcđể viết bài nghị luận văn học

- Cấu trúc đề thi Đại học, Cao đẳng:

+ Câu 1: (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam

+ Câu 2 (3,0 điểm):Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận xã hội ngắn (không quá 600 từ)

+ Câu 3: ( 5,0 điểm): Vận dụng khả năng đọc hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học

Qua khảo sát trên chúng tôi thấy rằng trong cấu trúc chương trình thi tốt nghiệp trung học phổ thông, bổ túc trung học phổ thông và thi Đại học,

Trang 27

Cao đẳng thì kiểu bài học sinh vận dụng là nghị luận Trong đó kiểu bài về Nghị luận xã hội chiếm 30% số điểm Như vậy Nghị luận xã hội đã chiếm một vị trí quan trọng trong các kỳ thi quốc gia

Như vậy có thể khẳng định rằng chương trình rất trú trọng cho kiểu bài Nghị luận xã hội - đây là điểm mới và được mọi lực lượng trong xã hội ủng hộ

1.2.1.2 Sách giáo khoa

Hệ thống bài tập làm văn đã xuất hiện từ lâu trong các sách giáo khoa, tất cả các sách giáo khoa đều có bài tập làm văn Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống bài tập bổ sung chưa được quan tâm nhiều Nhất là hệ thống bài tập để cho các em rèn luyện các kỹ năng còn yếu dường như là không có

Nội dung các bài tập về làm văn trong sách giáo khoa còn thiên nhiều

về lý thuyết trong khi đó phương pháp dạy học làm văn khẳng định; “Bản thân những tiết học lý thuyết không thể tạo nên được những kỹ năng làm văn” Và “Làm văn cần thực hành tổng hợp, cần đặt yêu cầu kỹ năng thực hành cao hơn yêu cầu tri thức” Vì vậy, lý thuyết không phải là mục đích cuối cùng của làm văn mà là cơ sở để rèn luyện các kỹ năng làm văn

Nhìn lại sách giáo khoa làm văn 12 theo chương trình chỉnh lý, hợp nhất năm 2000:

Cũng giống như ở chương tình lớp 10 và lớp 11, làm văn ở chương trình lớp 12 được xem như một môn riêng và theo đó được biên soạn thành sách giáo khoa riêng Ở lớp 12, môn làm văn được học trong 33 tiết với những nội dung chính sau:

+ Kỹ năng làm văn nghị luận (6 tiết) với các nội dung sau:

Lập ý và lập dàn ý trong bài văn nghị luận

Lập luận trong văn nghị luận

Mở bài, kết bài và chuyển đoạn trong văn nghị luận

Trang 28

Hành văn trong văn nghị luận

+ Phân tích tác phẩm văn học (3 tiết)

+ Bình giảng văn học (2 tiết)

+ Bình luận văn học (4 tiết)

+ Bình luận xã hội (2 tiết)

Ngoài các bài lý thuyết trên còn có 8 bài viết, trong đó có một bài bình luận xã hội

Phần làm văn trong sách giáo khoa 12 chương trình chỉnh lý, hợp nhất

2000 thì nội dung lý thuyết và thực hành chỉ chú trọng duy nhất về kiểu bài nghị luận Các kiếu bài nghị luận được phân loại chủ yếu dựa vào các thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận Đối tượng nghị luận tập chung vào các vấn

đề văn học; còn các vấn đề xã hội, chính trị chưa được chú trọng

Tất cả các bài lý thuyết đều có hai phần rõ rệt: phần kiến thức lý thuyết

và phần thực hành Phần kiến thức lý thuyết được trình bày theo kiểu giải thích minh họa, chỉ cung cấp lý thuyết đã có sẵn mà ít quan tâm đến việc gợi

mở, tổ chức cho học sinh khám phá và chiếm lĩnh các tri thức Phần thực hành tách riêng, không xen kẽ vào quá trình trình bày lý thuyết Việc này đã không phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập

Sách giáo khoa làm văn tách rời, chưa được chú ý tích hợp giữa làm văn với đọc văn và tiếng Việt

Phần làm văn trong sách giáo khoa ngữ văn 12 (theo chương trình chuẩn) tiếp tục hệ thống hóa, nâng cao nội dung làm văn từ trung học cơ sở đến các lớp 10,11 của chương trình trung học phổ thông Giống như trong sách giáo khoa chỉnh lý, hợp nhất, phần làm văn trong sách giáo khoa ngữ văn

12 tiếp tục rèn luyện cho học sinh các kỹ năng làm văn: Thực hành lập luận, viết phần mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận Ôn tập và nâng cao các kỹ năng đã được học ở trung học cơ sở và lớp

Trang 29

10, 11: Các thao tác lập luận, kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận

Các kiểu bài ở phần làm văn trong sách giáo khoa lớp 12, chương trình chuẩn gồm có:

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi

Khác với chương trình và sách giáo khoa trước đây, phần làm văn trong chương trình và sách giáo khoa lần này xem trọng hơn nội dung thực hành viết nghị luận xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gắn liền nhà trường và thực tế đời sống (Phần làm văn trong chương trình có 5 bài viết thì có hai bài nghị luận xã hội và ba bài nghị luận văn học; và hai bài kiểm tra tổng hợp)

Phần làm văn trong sách giáo khoa ngữ văn 12 nâng cao tiếp tục hoàn thiện về văn nghị luận, mà trọng tâm là các dạng bài nghị luận, luyện tập kết hợp các thao tác và hoàn chỉnh kỹ năng viết bài Sách giáo khoa ngữ văn 12 nâng cao tập trung vào năm nhóm bài của phần làm văn:

- Nhóm bài lý thuyết văn nghị luận gốm có:

Nghị luận xã hội và nghị luận văn học

Các kiểu kết cấu của bài văn nghị luận

Luyện tập kết hợp các thao tác lập luận

Luyện tập kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận Lựa chọn và nêu luận điểm

Sử dụng luận cứ

Mở bài, thân bài, kết bài

Diễn đạt trong văn nghị luận

Trang 30

Hình thức trình bày bài văn

- Nhóm bài luyện tập gồm có:

Luyện tập tóm tắt văn bản nghị luận

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi

Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

Nghị luận về một hiện tượng trong đời sống

Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

- Nhóm bài kiểm tra và trả bài:

Trong sách giáo khoa ngữ văn 12 nâng cao có 9 bài viết: 2 bài kiểm tra tổng hợp cuối kỳ và cuối năm, 6 bài kiểm tra thường kỳ (3 bài nghị luận xã hội, 3 bài nghị luận van học) và 1 bài kiểm tra văn học

- Nhóm bài một số kiểu văn bản khác:

Phát biếu theo chủ đề và phát biểu tự do

Đề cương diễn thuyết

Trang 31

Qua khảo sát sách giáo khoa trên chúng tôi thấy rằng:

Phân môn làm văn rất được chú trọng trong chương trình, sách giáo khoa mới

Các em học sinh lớp 12 được học và rèn luyện chủ yếu về văn nghị luận, trong đó có cả nghị luận văn học và nghị luận xã hội

Trong các giờ học làm văn (Trừ các tiết viết bài) học sinh chủ yếu được học lý thuyết, còn luyện tập và thực hành còn ít

Hệ thống bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập mới dừng ở mức làm để củng cố lý thuyết còn các dạng bài tập để rèn luyện kỹ năng thì chưa nhiều

Cả hai bộ sách cơ bản và nâng cao đều chú trọng đến kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận Kỹ năng lập ý đã được đề cập song còn chung chung

Điểm mới trong cả hai bộ sách giáo khoa là rất quan tâm đến phần nghị luận xã hội - đặc biệt là kiểu bài về một hịên tượng trong đời sống Những hiện tượng vấn đề trong đời sống rất nhiều thế nhưng bài tập về kiểu bài này còn chưa phong phú, đa dạng

Nếu đã xác định dạy học làm văn là dạy các thao tác thực hành xây dựng văn bản thì có thể nói song song với những cơ sở lý thuyết, hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng là rất quan trọng nó giúp học sinh rèn luyện một cách chi tiết, cụ thể các kỹ năng làm văn như kỹ năng tìm hiểu và phân tích đề, kỹ năng lập ý, kỹ năng diễn đạt…trước khi bắt tay vào tạo lập một văn bản hoàn chỉnh Qua đó còn thể hiện tính tích cực chủ động của học sinh trong thực hành làm văn

1.2.1.3 Sách tham khảo:

Từ trước đến nay, môn văn là môn học có rất nhiều loại sách tham khảo Những sách như bài văn mẫu, những bài văn hay, ôn luyện thi môn văn… đến tuyển tập các đề thi Đại học và Cao đẳng có nhiều trên thị trường

Trang 32

Nhiều khi học sinh không biết lựa chọn cho mình sách nào cho phù hợp, sách nào phục vụ tốt cho mình, thậm chí có những em sách nào cũng mua

Từ năm học 2008- 2009, Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai trên phạm

vi toàn quốc chương trình và sách giáo khoa mới bậc trung học phổ thông Theo đó, các tài liệu tham khảo về môn văn cũng có nhiều thay đổi Nếu trước đây, sách tham khảo môn văn chú trọng đến phần nghị luận văn học (phần nghị luận xã hội cũng có song mới chỉ đề cập đến kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý) thì nay trong tất cả các sách tham khảo đều đề cập đến kiểu bài nghị luận văn học và nghị luận xã hội - trong đó có kiểu bài nghị luận

xã hội mới như một hiện tượng trong đời sống Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số sách tham khảo như sau:

Cuốn sách “Bộ đề ôn luyện thi ngữ văn” - tác giả Lã Minh Luận chủ biên- Nhà xuất bản Đại học sư phạm, 2010 Cuốn sách được biên soạn theo cấu trúc:

Phần 1: Kiến thức cơ bản về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài

Phần 2: Dạng đề nghị luận xã hội

Phần 3: Dạng đề nghị luận văn học

Trong cuốn sách này, các tác giả biên soạn, lựa chọn các kiểu, các dạng

đề có tính tiêu biểu, bám sát kiến thức cơ bản trong chương trình và sách giáo khoa mới Đặc biệt các tác giả cũng chú trong đến việc phân tích đề, lập dàn

ý Phần phân tích đề giúp học sinh kỹ năng xác định được luận đề (Vấn đề nghị luận) và hệ thống luận điểm; phương pháp nghị luận và tư liệu (Phạm vi dẫn chứng) cho bài viết Chánh sa đề, lạc đề, không đúng trọng tâm bài viết Phần lập dàn ý giúp học sinh kỹ năng triển khai các đoạn văn(Mở bài, kết bài

và các đọan thân bài) sao cho sáng rõ mạch lạc

Trang 33

Trong cuốn sách này, các tác giả cũng nhấn mạnh đến phần nghị luận xã hội, là mảng mà được học sinh, phụ huynh quan tâm Các đề bài trong phần nghị luận xã hội được bám sát tình hình xã hội, những vấn đề

có tính thời sự nóng hổi, những vấn đề tư tưởng, đạo đức, hiện tượng xã hội quan tâm

Bộ sách “Rèn kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi Đại học môn ngữ văn” - nhóm tác giả Lê Anh Xuân, Vũ Thị Dung, Bùi Thùy Linh, Đặng Quỳnh Nga, Ngô Thị Thanh- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009

Bộ sách gồm hai cuốn: Nghị luận văn học và Nghị luận xã hội Trong

bộ sách này các tác giả đã khái quát về văn nghị luận, Nghị luận văn học và nghị luận xã hội nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về những kiểu bài này

Cuốn sách “ôn luyện ngữ văn 12”, tác giả Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 Cuốn sách được biên soạn theo tinh thần bám sát chương trình, vừa đáp ứng các yêu cầu đổi mới việc dạy và học; vừa củng cố giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản vừa có kỹ năng thực hành Cuốn sách gồm 3 phần: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Trong phần làm văn, tác giả chú trọng vào kỹ năng viết bài nghị luận văn học và nghị luận xã hội

Như vậy các tác giả rất chú trọng và phần nghị luận xã hội bên cạnh phần nghị luận văn học vốn được coi là truyền thống Có một số tài liệu còn viết riêng cho cả phần nghị luận xã hội Có thể kể tên một số sách như:

Cuốn “Những bài văn mẫu nghị luận xã hội” của tác giả Nguyễn Đức Hùng, Huỳnh Phương Nghĩa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày những kiến thức cơ bản về văn nghị luận

xã hội, tiếp theo là những bài văn hay tập hợp từ những bài viết của học sinh

Trang 34

ưu tú, nhà phê bình văn học, học giả tên tuổi trên cả nước Là cuốn sách với nhiều kiến thức xã hội, vì vậy đây là một tài liệu tham khảo tốt cho học sinh

Cuốn “ Tuyển tập đề bài bài văn nghị luận xã hội” của nhiều tác giả, NXB GD 2009 Trong cuốn sách này, nội dung phần 1 giới thiệu cho học sinh các đề bài và vấn đề nghị luận xã hội thường được quan tâm trong nhà trường

và trong các kỳ thi Cuốn sách cũng cung cấp những gợi ý bổ ích về tìm ý và cách làm bài đối với các đề bài ấy

Phần 2 của cuốn sách tuyển chọn một số bài làm nghị luận xã hội có nội dung phong phú, cách diễn đạt và lập luận có sức thuyết phục của học sinh

Cuốn sách “dạy và học nghị luận xã hội” của tác giả Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), NXBGD, 2010 Sách gồm 2 phần chính

Phần thứ nhất: Nêu nên một số hiểu biết cơ bản về nghị luận xã hội như đặc điểm, yêu cầu, dạng đề, và cách làm bài nghị luận xã hội

Phần thứ hai; Luyện tập lập ý cho bài nghị luận xã hội

Ngoài hai phần chính, cuốn sách cón có phần phụ lục, tác giả tuyển chọn một số bài van nghị luận xã hội để học sinh tham khảo rút kinh nghiệm

về cách viết, cách diễn đạt câu chữ, hành văn…

Qua phần khảo sát trên, chúng tôi đưa ra các kết luận sau:

Sách tham khảo đã rất chú trọng đến kiểu bài nghị luận xã hội Đặc biệt

đã có cả những tài liệu viết riêng cho phần nghị luận xã hội Điều này được giáo viên, học sinh, phụ huynh hưởng ứng, ngợi ca

Trong các sách tham khảo, các tác giả cúng đã chú ý đến việc hướng dẫn cách viết kiểu bài nghị luận xã hội Tuy nhiên các sách tham khảo còn ít chú ý đến việc rèn các kỹ năng cho học sinh nhất là những kỹ năng còn yếu như kĩ năng lập ý Một số sách không đưa ra cách tìm ý và lập dàn ý cho học sinh tham khảo mà chỉ đưa ra những bài viết cụ thể

Trang 35

Cuốn sách “Dạy và học nghị luận xã hội” của tác giả Đỗ Ngọc Thống chủ biên đã dành phần 2 để cho học sinh luyện tập lập ý cho bài văn nghị luận

xã hội đay là cuốn sách tham khảo bổ ích giúp học sinh rèn kỹ năng mà mình còn yếu

Để đáp ứng được chương trình học về môn làm văn nói chung và kiểu bài nghị luận xã hội nói riêng thì sách giáo khoa, sách tham khảo cần bổ sung

hệ thống bài tập cho học sinh rèn luyện các kỹ năng

1.2.2 Thực trạng dạy của giáo viên

Trong dạy học văn từ trước đến nay thì phân môn làm văn chưa được quan tâm thích đáng Nguyên nhân có lẽ là do chưa nhận thức đúng về vai trò,

vị trí của phân môn làm văn, chưa nắm vững lý thuyết và phương pháp dạy làm văn, ngoài ra còn có cả tinh thần lao động của giáo viên

Sau khi tìm hiểu giáo án và dự giờ của một số giáo viên dạy phân môn làm văn lớp 12, chúng tôi thấy rằng:

Phương pháp dạy làm văn còn nhiều hạn chế, hạn chế cả về dạy lý thuyết và dạy thực hành Việc dạy lý thuyết tập làm văn còn nhiều lúng túng: Lúng túng về nội dung khoa học, lúng túng về phương pháp tiến hành Bên cạnh việc coi nhẹ về lý thuyết, không ít giáo viên đã tách bạch giữa lý thuyết

và thực hành Hình thành lý thuyết một cách có hệ thống là cần thiết, nhưng

lý thuyết chỉ thực sự được củng cố qua hệ thống bài tập Trong khi đó, nguyên tắc dạy học làm văn khảng định rằng: Rèn luyện tỉ mỉ, từng bước, thường xuyên thông qua hệ thống bài tập là một yêu cầu có tính nguyên tắc Như vậy, nhiều giáo viên đã không thực hiện theo nguyên tắc này trong quá trình dạy làm văn

Nhiều giáo viên khi dạy lý thuyết về làm văn, chưa xác định được mục đích yêu cầu của giờ học Trong một giờ lý thuyết làm văn luôn có hai phần chính: Phần hình thành khái niệm kiểu bài và phần phương pháp làm các kiếu

Trang 36

bài Trong đó giáo viên đa phần chưa xác định được trọng tâm của bài học lý thuyết làm văn là phương pháp làm bài- nghĩa là việc rèn luyện kỹ năng viết bài cho học sinh

Việc dạy làm văn bao gồm cả việc ra đề bài cho học sinh luyện tập thực hành Từ trước đến nay, ra đề chủ yếu theo hướng minh họa, giáo viên thường dựa vào đề cũ, đề có sẵn Làm văn là một phân môn thực hành, đương nhiên giáo viên có ra đề tốt thì học sinh mới được thực hành tốt Tầm quan trọng của việc ra đề như vậy nhưng hầu như công việc này lại ít được giáo viên đầu

án giờ trả bài thường rất sơ sài, giáo viên mới chỉ tập trung nhận xét mà chưa chú ý nhiều đến việc sửa lỗi rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong giờ trả bài

Thực trạng của việc dạy phân môn làm văn trên đây cũng chính là thực trạng của các giờ dạy làm văn của các kiểu bài nghị luận xã hội

1.2.3 Thực trạng học của học sinh

Làm văn là phân môn thực hành tổng hợp, mang tính sáng tạo, qua làm văn học sinh được vận dụng kiến thức, được suy nghĩ giải quyết các vấn đề của văn học và đời sống Cho nên làm văn có tiềm năng lớn trong việc bồi dưỡng nhận thức tâm hồn của học sinh.Qua làm văn học sinh trình bày những suy nghĩ, cảm nhận trước những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước, trước những vấn đề thuộc về đạo đức, lý tưởng của thanh niên Qua làm văn, học sinh trao đổi, trình bày nhận thức đánh giá về cái hay cái đẹp của các tác phẩm văn chương, về những vấn đề của xã hội Tuy nhiên hiện nay rất nhiều

Trang 37

học sinh trong đó có cả những em học sinh giỏi bộ môn văn đều cảm thấy ngại và khó khi làm bài văn nghị luận xã hội khi viết bài văn nghị luận xã hội, các em đều gặp khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp

Đề bài văn nghị luận xã hội vừa là những đề gần gũi với học sinh, vừa

là những đề mới không có trong sách vở nên điều này gây cho các em tâm lý lúng túng bất ngờ khi đọc đề bài

Khó khăn về kỹ năng làm bài: Ở rất nhiều bài văn nghị luận xã hội, các

em đều tỏ ra còn yếu ở các kỹ năng như: kỹ năng tìm hiểu và phân tích đề, kỹ năng tìm ý, lập dàn ý (Kỹ năng lập ý), kỹ năng diễn đạt…trong đó yếu nhất là

kỹ năng lập ý Chính vì vậy, ta thường gặp những bài viết rất dài nhưng chất lương chưa cao Nhiều bài viết thì thiếu ý, tức là học sinh chưa tìm được hết những ý mà đề bài yêu cầu Ở nhiều bài viết về một hiện tượng trong đời sống, học sinh liên hệ mở rộng vấn đề bằng quá nhiều dẫn chứng Nhiếu khi các em sa đà sang kể chuyện Phần liên hệ ấy, không phải là trọng tâm của bài viết Như vậy dẫn đến một thực tế bài viết dài nhưng nội dung vấn đề cần bàn bạc không sâu sắc Bố cục bài làm không cân đối

Diễn đạt ở nhiều bài tỏ ra gượng ép khiến lời văn nghị luận thiếu tính thuyết phục, thậm chí rơi vào công thức sáo mòn kiểu trình bày lý thuyết suông

Trong nhiều bài viết, nhiều em chưa thể hiện được chính kiến, thái độ, lập trường của mình trước những vấn đề xã hội

Để khắc phục những hạn chế trên việc xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh rèn luyện các kỹ năng là rất cần thiết

Trang 38

CHƯƠNG 2

ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý

2.1 MÔ HÌNH LẬP Ý CHO KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Như đã trình bày, để tìm ý cho dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống người viết cần căn cứ vào các căn cứ lập ý, biết đặt ra và trả lời các câu hỏi có ý nghĩa xung quanh vấn đề trọng tâm mà đề bài yêu cầu Các câu hỏi

và nội dung trả lời có thể sắp xếp theo các bước sau:

2.1.1 Bước 1: Giới thiệu thực trạng

Để luyện tập viết các bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống trước hết cần biết nhận diện hiện tượng ấy (sự việc, con người): các biểu hiện, các dạng tồn tại, thậm chí cả những số liệu cụ thể Thực hiện thao tác này đòi hỏi học sinh một sự hiểu biết và quan tâm đến các vấn đề đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay Nghĩa là không phải đợi đến lúc nhận đề bài mới tìm hiểu mà học sinh nên có sự chuẩn bị từ trước bằng việc chú ý nghe thời sự hàng ngày, cập nhật thông tin về các vấn đề trong nước cũng như quốc tế

Các hiện tượng được đặt ra trong các đề nghị luận xã hội phải là những

gì có ý nghĩa sâu sắc, tạo ảnh hưởng rộng - và thường là những ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng và cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh: ô nhiễm môi trường, an toàn giao thông, các căn bệnh xã hội như HIV/ AIDS, các tệ nạn nghiện ma túy, mại dâm, các thói quen xấu như ham mê Internet, hút thuốc lá, quay cóp bài trong giờ kiểm tra…

Cũng có khi người ra đề đưa ra những hiện tượng có ảnh hưởng tích cực làm đề tài bàn luận như triển khai quỹ Vì người nghèo, sự trở lại với trào lưu sống giản dị, phong trào thanh niên tình nguyện hay những tấm gương hiếu thảo, vượt khó của thanh thiếu niên…

Trang 39

Khi phản ánh thực trạng, ta cần đưa ra những con số, những thông tin

cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ vì chính sự cụ thể của thông tin sẽ tạo sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá sau đó Chẳng hạn muốn bàn

về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cần tìm thông tin về những con sông đang

bị ô nhiễm nặng nhất, mức độ ô nhiễm cụ thể, các loại chất gây ô nhiễm hiện

có mặt trong nguồn nước sông… Muốn bàn về nạn bạo hành với phụ nữ, cần tìm hiểu xem trong xã hội hiện tại, người phụ nữ phải đối mặt với những kiểu (dạng) bạo hành như thế nào, tỉ lệ phụ nữ phải sống chung với nạn bạo hành…

2.1.2 Bước 2: Phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả (hậu quả)

Sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên nhân, hậu quả và cố gắng tìm các giải pháp để giải quyết thực trạng

đó Việc này không quá khó Chỉ cần chú ý một chút tơí cách nói của các phóng viên trên các báo, đài, chú ý quan tâm đến dư luận xã hội và chịu khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình là học sinh sẽ làm được

Tuy nhiên, khi nghe và tiếp nhận thông tin, dư luận, cần có sự tỉnh táo

để xem xét, chọn lọc và xử lí đích đáng, tránh chạy theo dư luận không chính thống mà dẫn tới chủ quan, hồ đồ khi phân tích, đánh giá hiện tượng Lưu ý khi phân tích nguyên nhân nên chú ý tới mặt khách quan - chủ quan Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao thông…), nguyên nhân chủ quan là do người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp, chưa chú ý đúng mức tới vấn đề an toàn… Khi đánh giá hậu quả, cần xem xét ở các phạm vi cá nhân - cộng đồng, hiện tại, tương lai… Ví dụ nạn bạo hành phụ nữ gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ với chính phụ nữ về sức khỏe cũng như tâm lí mà còn ảnh hưởng lớn đến

Trang 40

toàn xã hội trong quá trình phát triển lâu dài; hiện tượng nghiện Internet không chỉ làm hao tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách cá nhân mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội 2.1.3 Bước 3: Đề xuất ý kiến (giải pháp)

Sau khi phân tích và bình luận nguyên nhân - kết quả, thường là phần nêu, đề xuất giải pháp khắc phục Trước hết cần xem lại nguyên nhân vì chính

nó là gợi ý tốt nhất để tìm ra các giải pháp khắc phục Chẳng hạn một trong những nguyên nhân của nạn bạo hành phụ nữ là nhận thức về bing đẳng giới thì một trong những giải pháp khắc phục tình trạng này là tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức và ý thức về bình đẳng giới cho cộng đồng; nguyên nhân của tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp và chưa chú ý đầy đủ đến sự an toàn thì một trong những giải pháp có thể thực hiện là tuyên truyền, giáo dục

về an toàn giao thông, xây dựng chế tài xử phạt đối với những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…

Về cơ bản, bài nghị luận về hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết và lập trường, thái độ của người viết về hiện tượng được nêu Vì vậy, bên cạnh việc nắm vững các bước cơ bản trong quá trình làm bài, người viết còn cần thể hiện tiếng nói cá nhân và quan điểm đánh giá thật rõ ràng, sắc sảo thì bài viết mới có sức thuyết phục

2.2 ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP

2.2.1 Bài tập nhận biết

2.2.1.1 Đặc điểm của kiểu bài tập nhận biết

Đối với loại bài tập này, mục đích chính là giúp học sinh có thể nhận diện được đề về một hiện tượng trong đời sống, đồng thời nắm được cách thức làm bài về một hiện tượng trong đời sống

Ngày đăng: 17/03/2021, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w