1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ giai đoạn metacercariae trên cá hô giống và thịt ở đồng bằng sông cửu long​

66 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Trường LinhNGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERCARIAE TRÊN CÁ HÔ GIỐNG VÀ THỊT Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898 Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 1

Lê Thị Trường Linh

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERCARIAE TRÊN

CÁ HÔ GIỐNG VÀ THỊT (Catlocarpio

siamensis Boulenger, 1898) Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 2

Lê Thị Trường Linh

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERCARIAE TRÊN

CÁ HÔ GIỐNG VÀ THỊT (Catlocarpio

siamensis Boulenger, 1898) Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 8420120

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM CỬ THIỆN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kỳ công trình nào.

Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và đúng quy định.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Trường Linh

Trang 4

hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng các cấp đã đọc và góp ý cho luận văn của tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô của Trường, Phòng Giải phẫu sinh

lý Người và động vật, Khoa Sinh học, Phòng Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh; Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ - Viện nuôi trồng thủy sản II; các hộ dân ở các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này.

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân

và bạn bè đã giúp đõ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Trường Linh

Trang 5

Lời cảm ơn

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 2

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 ĐẶC ĐIỂM VÒNG ĐỜI CỦA SÁN LÁ SONG CHỦ 4

1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BƯỚC ĐẦU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ HÔ ( Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898) 5

1.2.1 Vị trí phân loại 5

1.2.2 Đặc điểm phân bố 5

1.2.3 Đặc điểm hình thái 7

1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng 8

1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng 9

1.2.6 Tổng quan về ương cá Hô giống 9

1.2.7 Tổng quan về nuôi cá Hô thịt 10

1.3 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 10

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 10

Trang 6

1.1 Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu 15

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 15

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 15

2.2.3 Tư liệu nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.3.1 Điều tra kỹ thuật ương nuôi cá 16

2.3.2 Phân tích metacercariae trên cá 17

2.3.3 Phương pháp thu mẫu cá 18

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

3.1 Kỹ thuật ương và nuôi cá Hô 20

3.1.1 Kỹ thuật ương cá Hô giống 20

3.1.2 Kỹ thuật nuôi cá Hô thịt 21

3.2 Thành phần loài metacercariae trên cá dựa vào đặc điểm hình thái 23

3.3 Tỷ lệ nhiễm các loài metacercariae trên cá Hô giống ở đồng bằng sông Cửu Long 25

3.4 Tỷ lệ nhiễm các loài metacercariae trên cá Hô thịt ở đồng bằng sông Cửu Long 26 3.5 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá Hô giống và cá Hô thịt 27

Trang 7

3.5.2 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá Hô

thịt 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 8

FZT – borne zoonotic trematode

Ủy ban sông Mê Kông Vườn – Ao – Chuồng Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

Bảng 2.2 Thời gian, địa điểm thu mẫu cá Hô Thịt 15

Bảng 3.1 Thống kê kĩ thuật ương cá Hô giống của 7 nông hộ 20

Bảng 3.2 Thống kê kĩ thuật nuôi cá Hô thịt của 8 nông hộ 21

Bảng 3.3 Loài metacercariae nhiễm trên cá Hô giống 23

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm (TLN) metacercaria trên cá Hô giống (Catlocarpio siamensis) tại các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và An Giang 26

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm (TLN) metacercaria trên cá Hô thịt (Catlocarpio siamensis) tại các tỉnh Tiền Giang và An Giang 26

Bảng 3.6 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên quan giữa tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trong ao cá Hô giống với kỹ thuật phơi đáy, bón vôi, thuốc trị bệnh, sự hiện diện của chó quanh khu vực ao nuôi 27

Bảng 3.7 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên quan giữa tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trong ao cá Hô thịt với kỹ thuật bón vôi, phơi đáy, sử dụng thuốc trị bệnh, sự hiện diện của chó quanh ao nuôi 30

Trang 10

Hình 1.2 Khu vực cá Hô phân bố (sông Vàm Nao, An Giang) 6Hình 1.3 Cá Hô Catlocarpio siamemsis Boulenger, 1898 [19] 7Hình 3.1 Ấu trùng metacercariae (Centrocestus formosanus) hiện diện trên cá Hô

giống (Catlocarpio siamemsis) 24

Hình 3.2 Ấu trùng metacercariae (Haplochis pumilo) hiện diện trên cá Hô giống

(Catlocarpio siamemsis) 25

Trang 11

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cá là nguồn cung cấp protein chủ yếu cho con người, đặc biệt là là cư dân các

nước Đông Nam Á Ăn gỏi cá sống hoặc cá nấu chưa chín kỹ là một thói quen phổ biếnnơi đây, gây nguy cơ nhiễm sán lá gan và sán lá ruột cho người ăn vì cá là ký chủ trung

gian của những loài sán này Hàng triệu người bị nhiễm sán lá gan Opisthorchis

viverrini ở Thái Lan, Lào và Việt Nam [1] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm

2004 có hơn 40 triệu người nhiễm sán lá gan, khoảng 70 loài được biết là nhiễm vàocon người [2] Còn theo Keiser và Utzinger, năm 2005 ước tính có khoảng 20 triệu

người đã bị nhiễm sán lá gan Clonorchis sinensis và 600 triệu người có nguy cơ bị

nhiễm [3] Đã phát hiện hơn 50 loài sán lá ruột nhiễm trên người trên toàn thế giới,trong đó có 13 loài nhiễm trên người ở Đông Nam Á [4] Người bị nhiễm sán lá sẽ bịnhiều bệnh, nguy hiểm nhất là ung thư gan [5] và ung thư mật [6]

Sán lá song chủ có nguồn gốc từ động vật thủy sản lây nhiễm cho người là vấn

đề toàn cầu, trong đó có Việt Nam Những nghiên cứu gần đây ở Việt Nam về sựphân bố và tỷ lệ nhiễm của cá với các loài sán này cho thấy chúng có nhiều trong cánuôi và cá tự nhiên, trong cơ thể người và vật nuôi [7] - [10] Sự phát triển củangành nuôi trồng thủy sản hiện nay có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh do ký sinhtrùng gây ra, đặc biệt thông qua các vật chủ trung gian như ốc và cá Ấu trùng sán lásong chủ (metacercariae) khi ký sinh ở cá, chúng thường làm cho cá sinh trưởngchậm, thậm chí gây chết đồng loạt đặc biệt là cá hương và cá giống [11]

Cá Hô (Catlocarpio siamensis) là loài duy nhất của giống Catlocarpio, có kích thước lớn nhất trong họ cá Chép Cyprinidae Thịt cá Hô thơm ngon, vị ngọt và dai nên

đã bị khai thác đến gần như cạn kiệt và đã được Ủy ban sông Mêkông (MRC) xếp vàonhóm cá có nguy cơ tuyệt chủng cao Cá Hô tự nhiên có kích thước lớn rất hiếm, trongkhoảng thời gian từ 1 - 2 năm thì ngư dân mới đánh bắt được 1 - 2 cá thể có khối lượng

từ 40 120 kg/con, cá được thương lái thu mua với giá rất cao từ 400.000đ 1.000.000đ/kg, hiện nay cá Hô thịt trong ao nuôi của các hộ dân cũng được tiêu thụmạnh, cỡ cá lớn hơn 3kg/con đã xuất hiện tại các nhà hàng ở thành phố Hồ Chí Minh,Cần Thơ, Long Xuyên và Hà Nội Cá Hô giống khi ương cần áp dụng

Trang 12

-kỹ thuật nghiêm ngặt và hợp lý Cá Hô giống là loài cá quý, hiếm, ít cơ sở sinh sảnđược nên giá cá giống và cá thịt cao Sau khi ương 8 - 12 tuần, cá giống xuất bán vớigiá từ 12.000 - 15.000 đồng/con còn cá thịt có giá từ 200.000 đồng/1 kg [9], [12].

Nhằm tái tạo và phát triển quần đàn, cá Hô đã được thuần dưỡng và sinh sảnnhân tạo thành công trong điều kiện trạm trại [12], [13] Từ năm 2009 đến nay, cáctrại sản xuất giống đã cung cấp hàng trăm ngàn cá Hô giống ra thị trường Đã có vàinghiên cứu về bảo tồn và sinh sản nhân tạo cá Hô, nhưng đến nay chưa có đề tài nàonghiên cứu về chất lượng cá Hô giống và cá Hô thịt, đặc biệt là nghiên cứu tỷ lệnhiễm sán lá song chủ trên cá Hô giống, vì nếu cá giống bị nhiễm sán lá song chủ sẽảnh hưởng đến cá nuôi thịt và đặc biệt là gây tác hại lớn đến sức khỏe con người

Do đó, đề tài “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ giai đoạn metacercariae trên cá Hô giống và thịt (Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898) ở đồng bằng sông Cửu Long” đã được thực hiện.

- Đánh giá tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá Hôgiống và cá Hô thịt ở đồng bằng sông Cửu Long

- Tìm ra các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ(metacercarie) trên cá Hô giống và thịt, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm hạnchế nguy cơ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô ảnh hưởng đến sức khỏe con người

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Ấu trùng sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) ký sinh trên

cá Hô giống và cá Hô thịt thu được ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

- Vật liệu: Cá Hô (Catlocarpio siamensis) giai đoạn cá giống và cá thịt.

- Xác định thành phần loài metacercariae trên cá Hô ở giai đoạn cá giống và

Trang 13

- Xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giaiđoạn metacercariae) trên cá Hô giống và thịt, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằmhạn chế nguy cơ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô thịt ảnh hưởng sức khỏe con

người

5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Cá Hô giống ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang thu được trongcác đợt đi thu mẫu từ tháng 8/2017 – 12/2017 vì mùa sinh sản của cá Hô là bắt đầu vào tháng 4 và trong năm 2017 chỉ cho cá sinh sản một lần

- Cá Hô thịt ở các tỉnh Tiền Giang và An Giang thu được trong những đợt đithu mẫu từ tháng 10/2017 – 6/2018 tương ứng với 2 đợt mùa mưa và mùa khô

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẶC ĐIỂM VÒNG ĐỜI CỦA SÁN LÁ SONG CHỦ

Sán lá truyền qua cá có vòng đời phức tạp qua nhiều giai đoạn vật chủ khácnhau: vật chủ trung gian thứ nhất (ốc, nhuyễn thể), vật chủ trung gian thứ hai (cá,tôm) và vật chủ cuối cung hay vật chủ chính (người và động vật ăn cá) [14] Hình 1

là vòng đời của sán lá song chủ, đại diện cho sán lá truyền qua cá

Hình 1.1 Vòng đời sán lá song chủ [15]

Sán trưởng thành sản sinh ra trứng (6), trứng thoát ra ngoài theo phân của vật chủcuối cùng (1), vào môi trường nước Ốc (2) – vật chủ trung gian thứ nhất, trong môitrường nước đã nhiễm trứng sán (chủ động hoặc thụ động) trong quá trình lọc mùn bãhữu cơ làm thức ăn Trong vật chủ ốc phù hợp, trứng sán sẽ phát triển qua một số giaiđoạn (2a, 2b, 2c, 2d) để thành ấu trùng cercariae (2d), cercariae được thải ra ngoài môitrường nước khi đã phát triển hoàn thiện, cercariae (3) bơi tự do kết nang trong da hoặcthịt cá nước ngọt - vật chủ trung gian thứ hai Cercariae rụng đuôi, xâm nhập qua da, dichuyển đến các mô và phát triển thành bào nang metacercariae (4) trong loài vật chủ cáthích hợp Người ăn cá sống hoặc cá nấu chưa chín có chứa ấu

Trang 15

trùng, ấu trùng thoát nang trong tá tràng (5), sán non thoát khỏi nang và phát triểnthành sán trưởng thành (6) trong túi mật và đường ống mật trong gan.

1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BƯỚC ĐẦU SINH SẢN NHÂN

TẠO CÁ HÔ (Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898)

1.2.1 Vị trí phân loại

Bộ: Cypriniformes

Họ: Cyprinidae

Phân họ: Cyprininae Giống: Catlocarpio Loài: Catlocarpio siamensis, Boulenger, 1898

Tên tiếng Việt: Cá HôTên tiếng Anh: Giant barbTên tiếng Campuchia: Kahor, KolreangTên tiếng Lào: Pla kaho

Tên tiếng Thái: Pa kaho, Pla kra ho

1.2.2 Đặc điểm phân bố

Cá Hô phân bố trên sông Mê Kông, cá có mặt ở Lào, Thái lan, Campuchia vàĐBSCL Việt Nam [16], cá thường sống ở sông lớn và đi vào kênh và vùng ngập nướcvào mùa lũ Vùng hạ lưu sông Mê Kông bắt gặp cá ở nhiều nơi, từ thác Khôn trở lên cárất ít phân bố So với một số loài cá khác trong cùng họ thì cá Hô phân bố hẹp hơn

Ở Thái Lan, cá Hô giống có chiều dài từ 2 - 6 cm được tìm thấy ở Chian Saen thuộctỉnh Chiang Rai, Tad Phanom thuộc tỉnh Nakhon Phanom và Khemaratah thuộc tỉnhUbol Ratchathani [17]

Ở Campuchia, vào mùa sinh sản cá giống đi xuôi dòng từ Stung Streng đến hồTonle Sap và các nhánh sông nhỏ, ở đây thu mẫu tìm thấy mỗi ngày có trên 10 triệu

cá con trôi dạt suôi dòng xuống hạ lưu sông Mê Kông, trong đó có cá Hô giống cỡ 10

-12cm cũng được tìm thấy [18] Theo MRC (2005), trong tổng số các loài cá con trôi

giạt xuống hạ lưu sông Mê Kông được tìm thấy vào mùa lũ thì họ Cyprinidae và Pangasiidae chiếm đến 96%.

Trang 16

Ở Việt Nam thường thấy cá Hô có kích thước lớn phân bố ở khu vực Vàm Nao,vùng tiếp giáp giữa sông Tiền và sông Hậu, nơi có nhiều hố xoáy sâu thích hợp cho

cá đến trú ẩn, đôi khi ở đây còn gặp được cỡ cá lớn hàng trăm kg Hiện nay vào mùa

lũ cá Hô giống cỡ 20 - 25 cm được tìm thấy nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, ĐồngTháp và Cần Thơ Cá con thường đi vào các sông nhỏ và vùng ngập nước để kiếmăn

Hình 1.2 Khu vực cá Hô phân bố (sông Vàm Nao, An Giang)

Smith (1945) cho rằng cá Hô sống ở vùng ngập nhưng đẻ ở Bung Borapet vàcác Bungs, đầm khác vào mùa lũ, cá có kích thước lớn thích sống ở khu vực rộnglớn của sông Mê Kông trong thời gian ít nhất là nửa năm, cá giống thì hầu như đượcthấy vào mùa lũ ở sông nhánh nhỏ Tuy nhiên, cá lớn thành thục không bắt gặp ởvùng nước lũ nơi cá con thường phân bố

Theo MRC (2005), cá Hô cư trú nhiều nơi thuộc lưu vực sông Mê Kông, tùythuộc vào mùa sinh sản, kiếm ăn hay ẩn náu Trong mùa lũ cá con kiếm ăn ở cácvùng ngập và các bãi ngập nước ven sông chính, khi lớn lên cá trở lại sông chính.Trong mùa khô cá Hô tìm nơi ẩn náu ở các vực sâu trên sông chính, đoạn từ Kra-chê cho đến Stung treng

Trang 17

Hiện nay tài liệu nói về môi trường sống cá Hô còn rất hạn chế Theo ĐoànVăn Tiến (2005), quan trắc về nguồn lợi thủy sản khu vực Vĩnh xương và Vàm Naotỉnh An Giang ghi nhận được cá Hô có phân bố trong vùng khảo sát Trong số 40 họ

thuộc 13 bộ cá được tìm thấy thì họ Cyprinidae chiếm nhiều nhất Điều này cho

thấy cá Hô có môi trường sống thích hợp giống như một số loài cá khác trong họ

Cyprinidae Trong ao nuôi cá Hô tăng trưởng và phát triển bình thường ở nhiệt độ

nước từ 29 - 31oC, pH từ 7 - 8, ôxy hòa tan 1,5 - 6 và NH3 < 0,2 [12]

1.2.3 Đặc điểm hình thái

Cá Hô là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá chép, có thể dài tới 3m nặng 150

kg, nhưng trung bình dài 1 - 2m Một thông tin khác từ trang Webhttp://www.fishbase.org cho biết cá Hô có khối lượng lớn nhất đạt đến 300 kg ỞCampuchia, năm 2002 ngư dân bắt được một cá Hô nặng 102 kg, năm 2005 bắt đượchai cá Hô dài 242 cm và 104 cm [17] Ở Việt Nam, năm 1996 tại khu vực Vàm Nao,tỉnh An giang, một ngư dân bắt được con cá Hô nặng 150 kg, đến sau mùa lũ 2001 bắtđược một con cá Hô nặng gần 200 kg (Báo Công an Tp HCM ngày 3/5/2001) Năm

2003, một ngư dân ở tỉnh An giang bắt được một con cá Hô nặng 173 kg và cũng khuvực này một ngư dân khác ở tỉnh Cần thơ bắt một con cá Hô nặng 153 kg

Hình 1.3 Cá Hô Catlocarpio siamemsis Boulenger, 1898 [19]

Trang 18

Về hình dáng bên ngoài, cá Hô có vài đặc điểm khác các loài cá trong họ

Cyprinidae Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, cá Hô có đầu to, miệng rộng và co duỗi được, màng mang phát triển Vảy to, tròn phủ khắp thân.

Đường bên hoàn toàn, chạy dài từ mép trên của lỗ mang và chấm dứt ở điểm giữagóc vây đuôi, phần sau đường bên nằm trên trục giữa thân Vây lưng nằm lệch vềnửa sau của thân Tia đơn vây lưng và vây hậu môn hóa xương không hoàn toàn.Vây đuôi chẻ hai rãnh sâu hơn nửa chiều dài của vây [16]

5.5-7.0Công thức vảy đường bên: 36

4.5-5.5

Dài chuẩn

= 2,4 (2,2-2,6)Dài đầu

Dài chuẩn

= 2,9 (2,7-3,3)Cao thân

1.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Hô có tính ăn tạp thiên về thực vật như rong, tảo, cỏ, trái cây và thỉnhthoảng ăn cá con [17] Theo báo cáo của Eung (1995), thức ăn ưa thích của cá Hô làtảo, thực vật phù du, trái cây Nhưng trong trang Web http://www.binhthuan.gov.vn,cho rằng cá Hô thuộc loài ăn tạp chủ yếu là động vật thủy sinh và cá con

Trong ao nuôi của Trung tâm Quốc gia giống Thủy sản nước ngọt Nam bộ vàTrung tâm giống thủy sản Đồng Tháp, cá Hô nuôi trong ao để nghiên cứu ăn đượcthức ăn viên và trái cây (ổi, mận, chuối, v.v ) Chưa bắt gặp cá Hô ăn cá con hayrượt đuổi cá nhỏ để bắt mồi, mặc dù trong ao có rất nhiều cá nhỏ (cá rô phi, cá bạcđầu, cá điêu hồng, v.v ) Khi bắt cá Hô, đôi khi thấy cá con ở trong miệng cá Hô,nhưng đó không phải cá Hô chủ động ăn cá khác, mà do miệng cá Hô rất rộng nên

cá con dễ bị lọt vào

Trang 19

Miệng cá Hô rất rộng, thuộc loại miệng trên, cá tìm thức ăn ở tầng mặt và tầnggiữa, bắt mồi chủ động và tần số bắt mồi thấp Cá Hô nuôi trong ao có hệ số tiêu tốnthức ăn cao hơn một số loài cá khác cùng họ, nuôi cá Hô trong ao ở mật độ 0,2 con /

m2, hệ số thức ăn tiêu tốn từ 3,1 - 3,6% Cá Hô từ 1 đến 30 ngày tuổi sử dụng được

các loại thức ăn như: Tảo lục (Chlorophyta), Moina, Artemia và thức ăn công

nghiệp dạng viên mảnh [12]

1.2.5 Đặc điểm sinh trưởng

Cá Hô tăng trưởng rất nhanh, trong tự nhiên cá có thể tăng trọng từ 2 - 4 kg trongthời gian 8 tháng, cá tăng trưởng nhanh nhờ trong tự nhiên có nguồn thức ăn dồi dào,điều kiện sống thuận lợi, tính ăn rộng, nên cá dể tìm thức ăn Một báo cáo ở Thái Lancho biết, trung bình một năm cá lớn khoảng 1,25 kg, chiều dài trung bình là

38 cm Theo số liệu nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọtNam bộ, nuôi một năm trong ao cá đạt khối lượng trung bình 0,8 kg /con, nuôi trongđăng quầng đạt 2 kg /con [12] Nếu so sánh với cá loài cá khác trong họ thì cá Hô làmột trong những loài tăng trưởng nhanh nhất [17]

Trong ao đất, cá nuôi ở mật độ 2 con / m2, trong năm đầu cá tăng trọng 700 g /

con, sang năm thứ 2 cá đạt 2 kg/con (Leelapatra et al, 2000) Nadeesha (1994) cho

biết cá Hô nuôi ở Đông nam Campuchia trong 8 tháng nuôi cá tăng trưởng từ 0,4 kglên 2 kg/con Cũng thông tin khác từ trại Bati Thái lan, cá Hô nuôi trong ao đất tăngtrưởng từ 25 g lên 2 kg/con trong thời gian nuôi 1 năm Theo Nadeesha (1994), khinuôi ghép chung cá khác cá Hô sẽ chậm lớn và có tỷ lệ sống thấp hơn các loài cákhác

1.2.6 Tổng quan về ương cá Hô giống

Theo Thi Thanh Vinh (2008) [9], kỹ thuật ương cá Hô giống thực hiện như sau:

- Ương từ cá bột lên cá hương: Cá bột vừa hết noãn hoàn được ương 30 ngày

trong bể xi măng 15 m2, độ sâu 0,8 m, có sục khí liên tục Nước bể được nuôi cấy tảo

(Chlorophyta) có màu xanh nhạt (độ trong 30 - 35 cm) Các yếu tố môi trường: nhiệt

độ, ôxy và pH được đo 1 ngày 2 lần lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều Thay đổi nước mỗituần 1 lần khoảng 1/3 – 1/5 lượng nước và cấp nước thêm khi cần thiết Thí nghiệm

Trang 20

được bố trí ương theo 2 nghiêm thức thức ăn khác nhau ở cùng mật độ ương 1.000 con/m2.

- Ương từ cá hương lên cá giống: Cá hương được ương 30 ngày trong giai códiện tích 15 m2, sâu 0,8 m, giai được đặt trong ao có điện tích 2.000 m2 Mật độương 200 con/m2 và cho ăn thức ăn viên công nghiệp có độ đạm 30 - 35 % Cho cá

ăn 2 lần/ngày Các yếu tố môi trường nước được theo dõi như: nhiệt độ, ôxy và pHđược đo 1 ngày 2 lần lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, ammonia đo 1 tuần 2 lần lúc 6giờ sáng và 2 giờ chiều trong một ngày

1.2.7 Tổng quan về nuôi cá Hô thịt

Theo [22], ao nuôi cá Hô thịt có diện tích càng lớn càng thuận lợi cho tăngtrưởng của cá; diện tích tối thiểu để làm ao nuôi từ 1.000 m2 trở lên, độ sâu ao từ1,5 m trở lên Quanh ao thoáng đãng, không bị tán cây che rợp Ao nuôi bố trí ở khuvực không bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt Mật độ thảnuôi: chỉ thả cá hô với mật độ thưa 0,05 – 0,1 con/m2, thả ghép thêm cá mè trắng,

mè hoa, sặc rằn với tỷ lệ 20% tổng số lượng cá thả trong ao (số lượng cá hô chiếm80%) Cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp, quản lý chất lượng nước ở ngưỡng thíchhợp cho cá phát triển tốt

1.3 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

Năm 1975, Chan Chin Lu và cộng tác viên đã tiến hành kiểm tra ký sinh trùngcủa 50 loài nước ngọt thuộc Tỉnh Hồ Bắc – Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã tìmthấy 382 loài ký sinh trùng trong đó gồm 159 loài nguyên sinh động vật (Protozoa),

17 loài sán lá đơn chủ (Dactylogysus), 33 loài sán lá song chủ (Trematoda), 10 sándây, 21 loài giun tròn (Nemaoda), 29 loài giáp xác (Gustacea), 1 loài nhuyển thể(Moslusca) và 130 loài chưa xác định

Tổ chức y tế thế giới WHO đã nghiên cứu và đưa ra kết quả là người và vật nuôithường bị nhiễm sán từ cá, đặc biệt là ở châu Á Hiện nay số người nhiễm FZT đượctính bởi Tổ chức y tế thế giới WHO đã hơn 20 triệu người, số lượng người có nguy cơnhiễm trên toàn thế giới là 600 triệu người Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng này chiếm

Trang 21

phần lớn ở Đông Nam Á, với Hàn Quốc 1.5 triệu người, Trung Quốc là 6 triệu

người, và Thái Lan là 5 triệu người đã nhiễm sán lá gan với loài Clonorchis sinensis hoặc Opisthorchis viverrini Hơn nữa, 50 loài sán ruột có nguồn gốc từ động vật thuộc họ Heterophyidae và Echinostomatidae đã được tìm thấy tại Trung Quốc, Hàn

Quốc, Thái Lan và Lào và ít nhất 13 loài ở Đông Nam Á nơi có nguồn proteinchính Sở thích ăn cá sống hoặc nấu chưa chín là nguyên nhân chính gây nhiễm sán

Loài Clonorchis sinensis được Murell tìm ra đầu tiên năm 1875 trên tử thi người Trung Quốc, ở Calcutta và được Cobbold đặt tên là Distoma sinense Bệnh do Clonorchis sinensis được phân bố chủ yếu ở các nước bao gồm: Nhật Bản, Trung

Quốc, Đài Loan, Việt Nam Năm 1947, Stoll thông báo trên thế giới có 19 triệu

người nhiễm sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis Năm 1994 Y sHai và K E Mott

đã phát hiện ra 7 loài sán lá gan nhỏ và 70 loài sán lá ruột gây bệnh cho người

Loài cùng giống với Opisthorchis viverrine là loài Opisthorchis felineus được tìm

thấy ở Nga và Đông Âu bởi Blanchard.Năm 1860, Cobbold lại phát hiện thêm giống

mới Metorchis cojumctoc ở Bắc Mỹ Một loài khác là Haplorchis taichui tìm thấy đầu

tiên trên người và động vật có vú ở miền trung Đài Loan và phát hiện ra loài cùng

giống H pumilo ở Ai Cập, cả hai loài này hiện nay phân bố rộng khắp Châu Á.

1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Năm 1908 Mouzel, 1909 Mathis và Leger đã tìm thấy C.sinensis Năm 1924 Railiet phát hiện được O.felineus ở Hà Nội Năm 1965 Đặng Văn Ngữ và Đỗ Dương Thái bắt gặp một trường hợp O.felineus phối hợp với C.sinensis Từ năm

1965 đến nay nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học, lâm sàng và điều trị củacác tác giả Đỗ Dương Thái, Kiều Tùng Lâm, Vũ Văn Phong, Lê Bách Quang, Phạm

Song, Phạm Văn Thân, Nguyễn Văn Đề…về loài sán lá gan nhỏ C.sinensis ở miền

Bắc việt Nam đã được báo cáo Năm 1976, Viện sốt rét côn trùng Trung Ương đã

phát hiện Clonorchis sinensis ở 7 tỉnh: Hà Bắc, Hải Phòng, Hà Tây, Thái bình, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa Sau đó còn tìm thấy Opisthorchiasis ở Phú Yên, nơi có

sông Hồng và người dân có thói quen ăn cá còn sống

Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất thuộc về tiến sĩ Hà Ký (1968 – 1971) đã xácđịnh được 120 loài ký sinh thuộc 48 giống, 37 họ và 10 lớp trên 16 loài cá kinh tế Bắc

Trang 22

Bộ, Việt Nam.Từ Thanh Dung (1993) đã nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh kýsinh trùng cho cá nuôi bè vùng Châu Đốc – Tân Châu, tỉnh An Giang sử dụngCuSO4 để điều trị.

Vũ Thị Tám, Lê Trọng Khang và Đoàn Trọng Tiến (1993) đã nghiên cứu một

số bệnh thường gặp và một số biện pháp phòng trị cho một số đố tượng tôm cá ởđồng bằng sông Cửu Long phát hiện loài sán đa số sán 16 móc (Dactylogysus) vàsán lá 18 móc (Grydactylus) ký sinh ở da và mang cá

Lê Văn Châu và cộng sự (1997) nghiên cứu vật chủ trung gian sán lá gan đã

xác định được 10 loài cá nhiễm Meta của Clonorchis và Opisthorchis ở 1 số tỉnh ở

miền Bắc và miền Trung Việt Nam

Bùi Quang Tề (2001) đã nghiên cứu một số loài ký sinh trùng ở cá nước ngọt

ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và biện pháp phòng trị, xác định được 157 loài kýsinh trùng, trong đó có 121 loài dầu tiên phát hiện ở Việt Nam [21]

Đã có nhiều nghiên cứu xuất bản trên tạp chí quốc tế về tỷ lệ nhiễm sán lásong chủ trên cá [24] - [27] và biện pháp kỹ thuật làm giảm tỷ lệ nhiễm trên cá(Madsen và ctv, 2015) ở đồng bằng sông Cửu Long Nguyễn Diễm Thư (2007) đãphát hiện sán lá gan và sán lá ruột nhiễm trên cá tự nhiên và cá nuôi Cá thịt có tỷ lệnhiễm thấp hơn với tỷ lệ nhiễm cao nhất 6,6% trong mô hình nuôi ghép các loài họ

cá chép [25] Nghiên cứu của Phạm Cử Thiện và ctv cho thấy 14 loài cá giống ởđồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm sán với tỷ lệ cao nhất trên cá rô đồng là29,7%[26] Nghiên cứu ương cá tra và tai tượng nhằm giảm tỷ lệ nhiễm sán lá đã cókết quả khả quan, tỷ lệ nhiễm sán lá trên cá tai tượng giống đã giảm đáng kể và100% ao ương cá tra đã không bị nhiễm sán lá

Clonorchis sinensis được tìm thấy trên cá ở 9 tỉnh phía Bắc và Opisthorchis viverrini xuất hiện ở 3 tỉnh phía Nam Tại Nghệ An, cá nuôi nhiễm 44,7%, tại Nam

Định cá nuôi nhiễm 45,7% Đặc biệt là cá nuôi và cá giống đều bị nhiễm ấu trùngsán lá truyền bệnh cho người [28]

Tại Nha Trang, qua quá trình điều tra thì thấy cá song (nước lợ) cũng bị nhiễm ấutrùng với tỉ lệ 80% ở cá nuôi và 86- 95% ở cá tự nhiên.Ở Nghĩa Hưng, Hải Hậu (NamĐịnh), Kim Sơn (Ninh Bình) có khoảng 7/10 loài cá nuôi có mang ấu trùng sán

Trang 23

lá Cá nhiễm sán lá không phụ thuộc vào kích cỡ, trọng lượng có con nhiễm tới 603

ấu trùng sán

Tại Nam Định, xét nghiệm trên 600 chủ hộ là nam giới tại 2 xã Nghĩa Phú vàNghĩa Lạc (Nghĩa Hưng) cho thấy tỉ lệ người nhiễm ký sinh trùng gây bệnh lên tới65% Tại Nghệ An xét nghiệm trên hơn 1.300 chủ hộ có tham gia hoạt động thủysản là nam giới cho thấy tỉ lệ nhiễm sán rất thấp (<1%), nhưng tỉ lệ nhiễm ấu trùngtrên cá nước ngọt tại các huyện tương đối cao từ 30-40% Tại An Giang số ngườinhiễm sán lá từ cá chỉ ở mức 0.1-1,0% do người dân nơi đây không có tập quán ăngỏi cá sống [28]

Theo [29], sau năm 2004, dự án “ Ký sinh trùng gây bệnh có nguồn gốc thủysản tại Việt Nam – FIBOZOPA” do chính phủ Đan Mạch tài trợ triển khai nghiêncứu trên 3 nhóm ký chủ của sán lá lây truyền qua cá bao gồm: ký chủ cuối cùng(người và động vật), ký chủ trung gian thứ nhất (ốc) và ký chủ trung gian thứ hai(cá) Kết quả là đã phát hiện được ấu trùng của 2 loài sán lá gan và 12 loài sán láruột nhỏ trên cá có khả năng gây bệnh cho người và động vật Có ít nhất khoảng 40loài cá nuôi và tự nhiên nước ngọt và mặn lợ ở miền Bắc, Trung và Nam Bộ đãđược xác định là ký chủ tring gian thứ 2 của sán lá gan và sán là ruột nhỏ Cụ thể:

- Ở miền Bắc: Hầu hết các điều tra đều cho thấy cá nhiễm ấu trùng sán với tỉ lệcao Nghiên cứu trên cá nước ngọt nuôi thương phẩm tại Nam Định cho thấy tỷ lệ cá

nhiễm ấu trùng sán là 72% [30]

- Ở miền Trung: chưa có nhiều nghiên cứu trên cá tại khu vực này nhưng vớihai nghiên cứu điển hình trên cá nước mặn, lợ và cá nước ngọt cũng đã ghi nhậnthấy có ấu trùng sán lá Tỷ lệ nhiễm trung bình trên cá thương phẩm là 44,6% và ở

cá giống là 43,6% tại Nghệ An [33]

- Ở miển Nam: tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán trên cá ở khu vực miền Nam thấp hơn

nhiều so với khu vực miền Bắc và miền Trung Tại An Giang, trên cá tra là 0.7% và cálóc tự nhiên là 10,3% [24]; tại Cần Thơ và Tiền Giang, tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở cá taitượng trong hệ thống nuôi đơn là 1.7%, cá chép trong hệ thống nuôi ghép là 6.6% vàtrên cá trong hệ thống VAC là 3.0% [25] Cá hương và giống tại các tỉnh Tiền Giang,Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp cũng được xác định nhiễm FZT từ 1.2 –

Trang 24

29% (cá rô đồng nhiễm 29.7%, cá sặc rằn nhiễm 27.8%, cá tra 1.2%), sự biến động

tỉ lệ nhiễm FZT có tính mùa vụ [26]

Nhận xét: nhiều loài cá nuôi chính đã được nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá song

chủ, riêng cá Hô là loài đặc sản, thịt ngon, thường chế biến thức ăn dạng nhúng giấm ởđồng bằng sông Cửu Long, nhưng chưa có bất kỳ nghiên cứu nào Vì vậy, việc nghiêncứu tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô giống và cá Hô thịt là cần thiết, vì có ýnghĩa trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản và an toàn vệ sinh thực phẩm

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Thu mẫu cá trực tiếp: từ tháng 8/2017 - 6/2018 gồm 4 đợt, mỗi đợt trực tiếp thu từ 2 - 3 ngày Số đợt cụ thể và thời gian thu mẫu trong bảng 2.1, 2.2

Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm thu mẫu cá Hô giống

THỜI ĐỢT

GIAN

1

23

(Ghi chú: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10)

Bảng 2.2 Thời gian, địa điểm thu mẫu cá Hô Thịt

THỜI ĐỢT

GIAN

1

2

(Ghi chú: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10)

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Các ao Hô giống và ao cá Hô thịt ở ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và An

- Phân tích mẫu cá tại Phòng thí nghiệm Giải phẫu Sinh lý Người và Động vật

Trang 27

2.2.3 Tư liệu nghiên cứu

- Các mẫu cá Hô giống và cá Hô thịt thu được từ những lần đi thu mẫu trựctiếp Cá Hô giống thu tất cả những ao ương ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2017,tổng cộng thu 7 ao, mỗi ao 100 con Cá Hô thịt thu 8 ao, mỗi ao 5 con (do kinh phí của tác giả có hạn trong khi cá Hô thịt có kích thước lớn mà giá trị lại cao)

- Nhật kí thực địa; phiếu điều tra, phỏng vấn, các biểu mẫu; hồ sơ cá; phim, hình chụp ngoài thực địa

- Ngoài ra còn chụp hình cá trong phòng thí nghiệm và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Trung Tâm Quốc Gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ cung cấp số liệuthống kê tổng số hộ ương nuôi cá ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2017 Từ đó,tính được số lượng hộ cần phỏng vấn và số cá nuôi cần thu

Áp dụng phương pháp cross-sectional study cho nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lásong chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá Vì mùa ương nuôi chính của cá Hô là từtháng 4 năm trước (cá giống nhỏ) đến tháng 3 năm sau (cá giống lớn) nên đề tài sẽtiến hành 3 đợt thu mẫu cá giống từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017 và 2 đợt cá thịttương ứng với 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Cá được thu ngẫu nhiên và phân tích tỷ

lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae)

2.3.1 Điều tra kỹ thuật ương nuôi cá

Theo thống kê của Trung Tâm Quốc Gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộvào tháng 07/2017, tổng số ao ương cá thu mẫu sẽ là 7 ao và 8 ao cá thịt được ngườidân cho phép thu mẫu

Các thông tin về kỹ thuật quản lý và ương nuôi từng ao cá được thu thập thôngqua phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và quan sát ao nuôi Các thông tin phỏng vấn như sau:

-Thông tin chung: họ tên chủ hộ, địa chỉ nông hộ, ngày phỏng vấn, người phỏng

vấn

- Thông tin ương nuôi: diện tích ao, bón vôi và phơi đáy khi chuẩn bị ao, nguồn

nước cho ao, độ sâu ao, hiện diện của ốc trong ao và kênh cấp nước, thức ăn cho cá,

sử dụng hóa chất cho phòng trị bệnh cá

Trang 28

2.3.2 Phân tích metacercariae trên cá

Phương pháp phân tích metacercariae

Mẫu cá giống và cá thịt thu về được kiểm tra metacercariae bằng phương pháptiêu cơ [31]

- Cân, đo cá và ghi số liệu

- Tách riêng từng bộ phận, cơ quan của cá đối với cá thịt (mỗi mẫu cân từ

50 - 100g), còn cá giống thì xử lý nguyên con

- Nghiền nhỏ mẫu bằng cối chày sứ hoặc máy xay sinh tố

- Chuyển mẫu vào cốc thủy tinh có dung tích 100ml, trong cốc có chứa

50ml dung dịch dạ dày nhân tạo (6g pepsin +8 ml HCl + 1 lít nước cất).

- Khuấy đều đặt trong tủ ấm 370 C trong 2 - 3 giờ

- Mẫu được lọc qua lưới lọc 1x1mm và rửa sạch bằng nước muối sinh lý(0.86%)

- Loại bỏ phần nổi một cách nhẹ nhàng và giữ lại phần lắng cặn

- Lặp lại từ 9 - 10 lần cho đến khi phần nước trở nên trong suốt, thấy được phần cặn lắng bên dưới cốc

- Di chuyển một ít phần cặn bỏ vào đĩa lồng petri chứa 6 - 7ml nước muốisinh lý Dùng tay lắc nhẹ đĩa lồng petri để cho phần cặn lắng vào giữa đĩa Dùngpipet có gắn quả bóp bằng cao su lấy đi một phần dịch Làm lại bước này cho đếnkhi tất cả Metacercaria tập trung vào giữa đĩa lồng

- Quan sát và nhận dạng metacercaria và tính toán số metacercaria cho mỗiloài sán

Phương pháp nhận dạng ấu trùng metacercariae

Sử dụng kính hiển vi quang học để định danh loài metacercariae theo tiêu chuẩn hình thái [15]

- Quan sát metacercariae

 Phân loại metacercariae: quan sát metacercariae dưới kính soi nổi, chọn lọc

và tách các loại metacercariae có đặc điểm giống nhau và chung một đĩa lồng petri

 Di chuyển metacercariae vào lam kính, sau đó đậy lamel lên rồi soi dướikính hiển vi để quan sát hình thái

Trang 29

trùng sán metacercaria: dựa trên đặc điểm hình thái (hình dạng nang, bề dày, thànhnang có một hay hai lớp, ấu trùng có điểm mắt hay không, nếu có thì có một hay 3điểm mắt, thể hiện giác bám và kích thước giác bám có hay không các móc bámxung quanh các giác bám miệng, hình dạng các cơ quan bài tiết, có hay không cácloại hạt trong hệ thống bài tiết, cơ quan sinh sản).

- Phá nang metacercariae thường rất khó xác định đến mức giống củametacercariae trong khi các đặc điểm hình thái đặc biệt của sán trưởng thành là nhữngđặc điểm quan trọng dùng trong phân loại Dùng phương pháp ép vật lý ép nhẹ nangmetacercariae trên lam kính hiển vi để metacercariae thoát khoải nang rồi quan sát

2.3.3 Phương pháp thu mẫu cá

- Mỗi ao ương sẽ thu ngẫu nhiên 100 con cá Hô giống có khối lượng từ 1,6 29,5g/con để phân tích tỉ lệ nhiễm metacercariae

Mỗi ao nuôi chỉ thu ngẫu nhiên 5 con cá Hô thịt từ 8 nông hộ đồng ý cho phép

thu mẫu Khối lượng dao động từ 200g – 2100g/con để phân tích tỉ lệ nhiễmmetaacercariae

Cả cá Hô giống và thịt đều được vận chuyển sống trong bao có bơm oxy vàchuyển về phòng thí nghiệm Giải phẫu Sinh lý người và động vật, Trường đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh để phân tích

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

Microsoft Excel 2007 và SPSS (Statistical Package for Social Sciences version22; SPSS Inc., Chicago, Illinois) được dùng để nhập số liệu và phân tích tỷ lệ nhiễm

Phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic regression được dùng phân tích

để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến sự nhiễm metacercariae trên cá Chỉ

số kiểm định P<0,05 được dùng để xác định mối quan hệ giữa yếu tố nguy cơ và tỉ

Trang 31

3.1.1 Kỹ thuật ương cá Hô giống

Bảng 3.1 Thống kê kĩ thuật ương cá Hô giống của 7 nông hộ

Ao

1234567

Giai đoạn cá bột lên cá hương chủ yếu là ương trong các ao đất bằng cách gâymàu tự nhiên tạo thức ăn và có bổ sung thêm thức ăn hoặc cám công nghiệp, trong

ao ương chỉ có cá Hô không lẫn các loài cá khác

Đến giai đoạn cá giống, các hộ nuôi thường nuôi ghép với các loài cá khácnhư cá trắm cỏ, có sặc rằn, cá tra để tận dụng hết nguồn thức ăn có trong ao Đa sốcác ao ương ở các tỉnh Tiền Giang, An Giang và Đồng Tháp đều được thiết kế dướidạng hình chữ nhật với 1 - 2 cống thoát nước Ao ương và nuôi được bố trí gầnnguồn cấp/ thoát nước và gần đường giao thông nên rất thuận tiện cho việc chămsóc, quản lý và vận chuyển Diện tích ao và mật độ thả cá thường thay đổi tùy theodiện tích đất canh tác và khả năng đầu tư của mỗi nông hộ về nguồn giống, thức ăn,khả năng chăm sóc và quản lý Khảo sát các nông hộ cho thấy diện tích ao dao động

từ 1000 - 6000 m2, độ sâu ao từ 1,1- 1,5m, mật độ cá thả ương từ 200 - 1000con/m2 Riêng hộ Thi Thanh Vinh khi ương cá bột còn thêm kỹ thuật lót bạt ở đáy

ao để hạn chế tác hại của tác nhân gây bệnh cho cá

Nước trong ao thường được thay sau mỗi 2 tuần bằng nguồn nước lấy từ sôngTiền và xử lý qua túi lọc Sau mỗi đợt thu hoạch, ao ương được tháo cạn nước, vét

Trang 32

bùn, bón vôi hoặc xử lý đáy bằng hóa chất, phơi đáy, cấp nước và làm cỏ xungquanh bờ ao nhằm diệt dịch hại và mầm bệnh trước khi thả cá mới Lượng vôi màcác nông hộ sử dụng dao động từ 1 - 10 kg/100m2, tùy điều kiện thực tế mà lượngvôi các nông hộ đã sử dụng để cải tạo ao là khác nhau, một số hộ có lượng bón vôikhá thấp so với yêu cầu theo khuyến cáo của Ngô Trọng Lư (2001) là từ 10 - 15kg/100m2 đáy ao Việc phơi đáy ao kết hợp với bón vôi nhằm tiêu diệt mầm bệnh

ốc, vi sinh vật gây bệnh Mặc dù yêu cầu kỹ thuật của việc phơi đáy trước khi thả cá

là từ 4 - 7 ngày nhưng một vài nông hộ có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian phơiđáy tùy vào điều kiện thời tiết và nguồn cung cấp cá

3.1.2 Kỹ thuật nuôi cá Hô thịt

Bảng 3.2 Thống kê kĩ thuật nuôi cá Hô thịt của 8 nông hộ

Ao

12345678

Giống như các ao ương cá Hô giống thì các ao nuôi cá thương phẩm cũnglấy nguồn nước từ sông Tiền, ao cũng được thiết kế dưới dạng hình chữ nhật với 1 -

2 cống thoát nước Khảo sát các nông hộ cho thấy diện tích ao dao động từ 1000 –

10.000 m2 Mật độ cá giống trong ao dao động từ 2 - 20 con/m2 Hầu hết các ao cá Hô thịt thường nuôi ghép với các loài khác như cá trắm cỏ, cá tra, cá rô phi, tôm càng

Trang 33

xanh, cá điêu hồng Độ sâu ao dao động từ 1,1 - 2m Sau mỗi đợt thu hoạch, aoương được tháo cạn nước, vét bùn, bón vôi hoặc xử lý đáy bằng hóa chất, phơi đáy,cấp nước và làm cỏ xung quanh bờ ao nhằm diệt dịch hại và mầm bệnh trước khithả cá mới Lượng vôi mà các nông hộ sử dụng dao động từ 1 - 10 kg/100m2, tùyđiều kiện thực tế mà lượng vôi các nông hộ đã sử dụng để cải tạo ao là khác nhau,một số hộ có lượng bón vôi khá thấp so với yêu cầu theo khuyến cáo của Ngô Trọng

Lư (2001) là từ 10 - 15 kg/100m2 đáy ao Việc phơi đáy ao kết hợp với bón vôinhằm tiêu diệt mầm bệnh ốc, vi sinh vật gây bệnh Mặc dù yêu cầu kỹ thuật của việcphơi đáy trước khi thả cá là từ 4 - 7 ngày nhưng một vài nông hộ có thể rút ngắnhoặc kéo dài thời gian phơi đáy tùy vào điều kiện thời tiết và nguồn cung cấp cá.Trong quá trình nuôi, các nông hộ khảo sát còn sử dụng thêm các loại thuốc vàhóa chất nhằm giúp cá tăng sức đề kháng, tăng trưởng nhanh hay phòng trị một sốbệnh phổ biến nhằm giảm hao hụt như zeolite, CuSO4, vitamin C Việc thực hiệncác kỹ thuật cần thiết trong cải tạo ương nuôi như bón vôi, phơi đáy, thay nước, diệttạp, sử dụng thuốc và hóa chất trị bệnh hầu hết đều được các nông hộ quan tâm thựchiện nhưng chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm và điều kiện kinh tế của nông hộ.Sau khi thả 2 - 4 ngày, cá bắt đầu được cho ăn Thức ăn được trộn đều rồi tạtxuống ao Hầu hết các nông hộ đều sử dụng thức ăn dạng bột đậm đặc, thức ăn viênnhỏ hoặc viên lớn cho cá

Như vậy, các nông hộ qua khảo sát đều có qui trình kỹ thuật ương nuôi có hợp

lý, tuân thủ các yêu cầu về chuẩn bị ao nuôi, độ sâu ao, mật độ cá thả trong ao, xử lýnguồn nước, chú ý việc cung cấp nguồn thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn sinhtrưởng và phát triển của cá đồng thời cũng chú ý đến khâu sử dụng chất kháng sinh

và thuốc phòng trị bệnh định kỳ cho cá nhằm nâng cáo chất lượng con giống và cáthương phẩm

Ngày đăng: 21/12/2020, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w