Vòng đời phát triển của các loài sán này thường thông qua vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt, các loài ốc này phân bố ở khắp nơi do đó mầm bệnh phát tán nhanh, tỷ lệ nhiễm sán l
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VISAM VILAYSACK
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM SÁN LÁ GAN (Fasciola sp.) VÀ SÁN LÁ DẠ CỎ (Paramphistomum cervi) CỦA TRÂU CHĂN THẢ TẠI KHU VỰC VEN SÔNG HỒNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TẨY SÁN
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Bùi Trần Anh Đào
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Visam Vilaysack
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình Để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường và các thầy cô giáo trong khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
PGS.TS Bùi Trần Anh Đào, Bộ môn Bệnh lý thú y, ThS Đàm Văn Phải,
Bộ môn Nội – Chẩn – Dược – Độc Chất Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn Ban chủ nhiệm Khoa Thú y, Ban Quản lý đào tạo-Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới chủ trại, bạn bè và các em học sinh, đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suất thời gian thực tập.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Visam Vilaysack
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Sán lá gan (Fasciola sp.) 3
2.1.1 Những hiểu biết về sán lá gan 3
2.1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu 5
2.1.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola 8
2.1.4 Triệu chứng bệnh sán lá Fasciola ở trâu 10
2.1.5 Bệnh tích của trâu mắc bệnh sán lá Fasciola 10
2.1.6 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu 11
2.1.7 Phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu 12
2.2 Sán lá dạ cỏ (Paramphistomum cervi) 13
2.2.1 Những hiểu biết về sán lá Paramphistomum cervi 13
2.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh Paramphistomum cervi 19
2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở đàn trâu .25 2.3.1 Tình hình nghiên cứu sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở đàn trâu trên thế giới 25 2.3.2 Tình hình nghiên cứu sán lá gan và sán lá dạ cỏ đàn trâu ở việt nam 27 Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Địa điểm nghiên cứu 30
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 31
3.4.1 Một số nét khái quát về đối tượng nghiên cứu của đề tài 31
3.4.2 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu chăn thả khu vực ven sông Hồng 31 3.4.3 Tình hình nhiễm sán lá dạ cỏ ở trâu chăn thả khu vực ven sông Hồng 32 3.4.4 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở trâu 32 3.5 Phương pháp nghiên cứu 32
3.5.1 Phương pháp điều tra tình hình phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ nói riêng cho trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng 32
3.5.2 Phương pháp lấy mẫu phân trâu 32
3.5.3 Phương pháp theo dõi số liệu mổ khám 32
3.5.4 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan và sán lá dạ cỏ trâu 33
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35
3.6.1 Đối với các chỉ tiêu định tính 35
3.6.2 Các chỉ tiêu định lượng 36
3.6.3 Một số công thức tính tỷ lệ 36
Phần 4 Kết quả và thảo luận 37
4.1 Một số nét khái quát về đối tượng nghiên cứu của đề tài 37
4.2 Thực trạng nhiễm sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng 38
4.2.1 Thực trạng nhiễm sán lá gan theo tuổi của trâu 38
4.2.2 Thực trạng nhiễm sán lá gan theo tính biệt của trâu 40
4.2.3 Thực trạng nhiễm sán lá dạ cỏ theo tuổi của trâu 42
4.2.4 Thực trạng nhiễm sán lá dạ cỏ theo tính biệt của trâu 44
4.3 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở trâu của một số thuốc 46
Trang 64.3.1 Đánh giá độ an toàn của Han-Dertil B và Dovenix khi sử dụng tẩy sán
ở trâu 46
4.3.2 Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán lá gan 47
4.3.3 Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán lá dạ cỏ 48
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 52
Một số hình ảnh của đề tài 56
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
F gigantica : Fasciola gigantica
F hepatica : Fasciola hepatica
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn trâu sử dụng trong nghiên cứu 38
Bảng 4.2 Thực trạng nhiễm sán lá gan theo tuổi của trâu 39
Bảng 4.3 Thực trạng nhiễm sán lá gan theo tính biệt của trâu 41
Bảng 4.4 Thực trạng nhiễm sán lá dạ cỏ theo độ tuổi của trâu 42
Bảng 4.5 Thực trạng nhiễm sán lá dạ cỏ theo tính biệt của trâu 44
Bảng 4.6 Sự ảnh hưởng của Dovenix và Han-Dertil-B đến một số chỉ tiêu lâm sàng của trâu 47 Bảng 4.7 Hiệu quả của thuốc tẩy sán lá gan liều cao của hai loại thuốc trên trâu 48 Bảng 4.8 Hiệu quả của thuốc tẩy sán lá dạ cỏ liều cao của hai loại thuốc trên trâu 49
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo tuổi ở trâu 39
Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở trâu 41
Hình 4.3 Tỷ lệ nhiễm sán lá dạ cỏ theo tuổi ở trâu 43
Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán lá dạ cỏ theo tính biệt ở trâu 45
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Visam Vilaysack
Tên Luận văn: “Nghiên cứu thực trạng nhiễm sán lá gan (Fasciola sp.) và sán lá dạ cỏ (Paramphistomum cervi) của trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng và đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán”.
Tên cơ sở đào tạo: Học Viên Nông Nghiệp
Việt Nam Mục đích nghiên cứu
Nhằm biết được thực trạng nhiễm sán lá gan (Fasciola sp.) và sán
lá dạ cỏ (Paramphistomum cervi) trên đàn trâu tại một số địa phương ven sông Hồng và xác định được hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán đối với hai loài sán này, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có 4 nội dung chính:
1 Một số nét khái quát về đối tượng nghiên cứu của đề tài
2 Tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng
3 Tình hình nhiễm sán lá dạ cỏ ở trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng
4 Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở trâu
Vật liệu nghiên cứu:
- Các dụng cụ xét nghiệm mẫu phân trâu
- Bộ xi lanh và thuốc tẩy sán cho trâu (Dovenix và Han-Dertil-B)
- Các dụng cụ cố định trâu.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lấy mẫu phân trâu để xét nghiệm
- Phương pháp theo dõi số liệu mổ khám
- Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan và sán lá dạ cỏ trâu
- Đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy đối với bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ cho trâu.
Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu thu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học (Theo số liệu của
Trang 11Nghiễn Văn Thiện, 2008) trên phần mềm Excel 2010.
Kết quả chính và kết luận:
Từ quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi có thể tổng hợp kết quả như:
- Cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu chăn thả tại khu vực vùng ven sông Hồng có xu hướng tăng dần theo tuổi Tỷ lệ và cường độ nhiễm thấp nhất là trâu dưới
6 tháng tuổi chiếm 80% và cao nhất là lớn hơn và bằng 19 tháng tuổi trở lên chiếm 100% Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu đực và trâu cái là tương đương nhau và sự sai khác là không có ý nghĩa thống kê.
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ ở trâu cũng có xu hướng tăng dần theo tuổi Tỷ lệ và cường độ nhiễm thấp nhất là trâu dưới 6 tháng tuổi chiếm 30% và cao nhất là lớn hơn 120 tháng tuổi chiếm 100% Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ ở trâu đực thấp hơn trâu cái Trâu đực chiếm 45% và trâu cái chiếm 68%.
- Thuốc Dovenix và Han-Dertil-B có hiệu lực tẩy sán lá gan và sán lá dạ cỏ ở trâu rất cao, sau được tẩy sạch trứng sán, thuốc có độ an toàn cao khi sử dụng.
Trang 12THESIS ABSTRACTMaster candidate: Visam Vilaysack
Thesis title: “Study on the status of Fasciola (Fasciola sp.) and Paramphistomosis (Paramphistomum cervi) infection of grazing buffaloes in the Red River Delta area and evaluate the effectiveness of some anthelmintic drugs”.
Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
(VNUA) Research Objectives
To investigate the status of Fasciola and Paramphistomosis infection in grazing buffaloes in some locations along the Red River and determine the effectiveness of some anthelmintic drugs for two species, contributes to reduce the damage of disease.
Research Methods
The subject has four main contents:
1 Some general features of research subjects
2 Situation of Fasciola infection in grazing buffalo in the area along the Red River
3 Situation of Paramphistomosis infection in grazing buffalo in the area along the Red River
4 Evaluate the effectiveness of some anthelmintic drugs.
Research Materials
- Sample of buffalo feces
- Sample test equipment for buffalo feces
- Cylinder and buffalo anthelmintic drugs (Dovenix and Han-Dertil-B)
- Fixed tools for buffalo.
Methods
- Method of sampling buffalo feces for testing
- Method of monitoring surgical data
- Methods of determining the rate and intensity of Fasciola and Paramphistomosis infection.
- Evaluation of the effectiveness of some anthelmintic drugs for Fascioliasis and Paramphistomosis.
Trang 13Statistical analysis
The data was analysed by biostatistical method (according to data
of Nghien Van Thien, 2008) on Excel 2010 software.
Main findings and conclusions
- The intensity of Fasciola infection in buffaloes grazed in the area along the Red River tended to increase with age The prevalence and intensity of infectious diseases were lowest in under 6 month buffalo, accounting for 80% and were highest
in more than 19 month buffalo, accounted for 100% The incidence and intensity of Fasciola infection in male and female buffaloes were similar and the difference was not statistically significant.
- The incidence and intensity of Paramphistomosis infection in buffaloes also tended to increase with age The prevalence and intensity of infection were lowest in buffaloes under 6 months of age, accounting for 30% and were highest in more than 120 months buffaloes The incidence and intensity of Paramphistomosis infection in male buffaloes were lower than female buffalo with the proportion was 45% and 68% respectively.
- Dovenix and Han-Dertil-B were effective anthelmintic drugs for the buffalo and safety for using.
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là nguồn cung cấp sức kéo chính (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt và đóng góp một phần không nhỏ thịt cho nhu cầu của con người Ngoài ra sản phẩm phụ như da, sừng, lông trâu còn được sử dụng để chế biến một số đồ dùng gia dụng và hàng mỹ nghệ Thêm vào đó thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường và được nhiều người ưa chuộng, kể cả ở một số nước châu Âu và châu Mỹ vì thịt trâu nhiều nạc, ít mỡ và ít cholesterol Do vậy, phát triển chăn nuôi trâu trong những năm tới là một hướng đi nhiều triển vọng Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về thị trường tiêu thụ, người chăn nuôi trâu vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức
do dịch bệnh gây ra trong đó có bệnh sán lá gan và sán lá dạ cỏ.
Bệnh sán lá gan (Fasciolosis) và bệnh sán lá dạ cỏ (Paramphistomiosis) là những bệnh phân bố rộng ở nhiều nước trên thế giới Đây là những bệnh do các loài sán thuộc giống Fasciola sp và Paramphistomum cervi gây nên Các loài sán này ký sinh chủ yếu ở trâu, bò và một số động vật ăn cỏ khác như dê, cừu,
Ngoài ra, sán lá gan còn ký sinh và gây bệnh cho người Vòng đời phát triển của các loài sán này thường thông qua vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt, các loài ốc này phân bố ở khắp nơi do đó mầm bệnh phát tán nhanh, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò thường cao và nhiều con bị nhiễm với cường độ nặng.
Bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn, bệnh tiến triển ở thể mạn tính làm bệnh súc gầy còm, sút cân, kiệt sức, thiếu máu, hoàng đản, giảm sản lượng sữa và có thể chết nếu nhiễm nặng Bệnh súc thường bị tắc ống dẫn mật, viêm gan, xuất huyết các cơ quan mà ấu trùng đi qua, làm giảm sức đề kháng của gia súc, tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm phát triển (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008; Phan Lục, 2005).
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, để nắm được thực trạng nhiễm sán lá gan, sán lá dạ cỏ và tìm ra biện pháp phòng trị tốt, hạn chế thiệt hại cho đàn trâu và bảo vệ sức khỏe cho con người, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng nhiễm sán lá gan (Fasciola sp.) và sán lá dạ cỏ
Trang 15(Paramphistomum cervi) của trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng và đánh giá hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nhằm biết được thực trạng nhiễm sán lá gan (Fasciola sp.) và sán
lá dạ cỏ (Paramphistomum cervi) trên đàn trâu tại một số địa phương ven sông Hồng và xác định được hiệu quả của một số loại thuốc tẩy sán đối với hai loài sán này, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thực trạng nhiễm sán lá gan (Fasciola sp.) và sán lá dạ
cỏ (Paramphistomum cervi) của trâu chăn thả tại khu vực ven sông Hồng.
trâu của một số loại thuốc tẩy sán.
1.4 THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Xác định được tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm sán lá gan và sán lá dạ cỏ trên đàn trâu đồng thời xây dựng phác đồ điều trị bệnh cho trâu bị nhiễm sán.
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 SÁN LÁ GAN (FASCIOLA SP.)
2.1.1 Những hiểu biết về sán lá gan
Theo Young et al (2011) sán lá gan (Danh pháp khoa học: Fasciola) là một giống thuộc lớp Trematoda, gồm 2 loài Fasciola gigantica và Fasciola hepatica, ký sinh ở các loài động vật Chúng gây ra bệnh Fasciolosis.
2.1.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin và cs (1977), sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Platyhelminthes (Schneider, 1873)
Lớp Trematoda (Rudolphi, 1808)
Bộ Fasciolida (Skrjabin và Schulz, 1937)
Họ Fasciolidae (Railliet, 1895) Giống Fasciola (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885).
2.1.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963), và nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F gigantica (Cobbold, 1885): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng,
“vai” không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.
F gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25-75 mm, rộng 3-12 mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài Fasciola hepatica Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125-0,177 x 0,060-0,104 mm.
Trang 17- Fasciola hepatica (Linneaus, 1758): trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn Fasciola hepatica dài 18-51 mm, rộng 4-13 mm, phần thân trước nhô
ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở giữa phần thân trước Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung.
Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, kích thước 0,13-0,145 x 0,07-0,09 mm Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và gan gây ra (Fasciola hepatica và Fasciola gigantica) Ngoài trâu, bò, dê, hai loài này còn gây bệnh cho các động vật nhai lại khác và cả ở người Theo Urguhart (1996), tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, xơ gan, viêm gan, khi gia súc bị nhiễm sán ở mức độ nặng.
2.1.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola
Theo Guralp et al (1964), Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước , nhiệt độ 15-30 0 C, pH = 5-7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10-25 ngày trứng sẽ nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông di chuyển được trong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập
cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột
và các đám phôi Khoảng 3-7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia) Một bào ấu sinh ra 5-15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản.
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II phát triển trong ốc - vật chủ trung
Trang 18gian Ở nhiệt độ 16 0 C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và
ấu sản sinh vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12-20 Cercaria.
Cercaria là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh.
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50-80 ngày Sau khi thành thục Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28-0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh đông đặc lại thành vỏ bọc chắc chắn, màu nâu hung, đường kính 0,2-0,25 mm Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ Thuỷ sinh Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria, vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ,
ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng ba con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xâm nhập chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xâm nhập chui qua thành ruột vào xoang bụng, đến cửa gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật.
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời là 92-
117 ngày Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại 3-5 năm, có khi tới 11 năm.
2.1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu
Bệnh sán lá gan phổ biến khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Kết quả điều tra trâu ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 33,92%, Lương Tố Thu và cs (1996).
Trang 19Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978), cho biết trâu trưởng thành mắc bệnh sán lá gan do F gigantica, tỷ lệ lên tới 50-70% Theo Phan Địch Lân (1980), mổ 1043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong
đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán quá nhiều Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ: Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1963); Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) đều cho biết, trâu nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa Hè Thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa Thu và mùa Đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình: Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau song có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại
ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi.
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng: Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán lá gan Fasciola spp Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai, hoẵng…) Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả người cũng có thể nhiễm sán.
Ở Việt Nam, theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978), loài súc vật nhiễm sán nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít nhất (20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều nhất là do đặc tính ưa nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả
Trang 20đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên Súc vật tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài) thì sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán Fasciola trưởng thành có thời gian ký sinh ở súc vật nhai lại tương đối dài (3-5 năm, thậm chí tới 11 năm) Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp.
Phan Địch Lân (2004), cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán lá gan 17,2-22,0%, trâu 3-5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2-40,2%, trâu 5-8 năm tuổi nhiễm sán lá gan 42,4-57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8-66,3%, trâu
ở độ tuổi phế canh khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao tới 84,6%.
Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu…) và những dã thú mang Fasciola Trứng sán lá gan theo phân của súc vật ra ngoài tự nhiên Hàng năm mỗi sán lá gan ký sinh đẻ khoảng 6.000 trứng Vì vậy, mỗi súc vật mang sán hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và các bãi chăn thả Những đồng cỏ ẩm thấp, lầy lội là những nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào súc vật, đồng thời thuận lợi cho trứng nở thành Miracidium và thuận lợi cho vật chủ trung gian của Fasciola tồn tại và phát triển.
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào các vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea:L swinhoei, L viridis.
Phan Địch Lân (1985), đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc - vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống Lymnaea với tên gọi là ốc vành tai (L swinhoei) và ốc chanh (L viridis) Loài L swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20
mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai Loài L viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước
10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4-5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn.
Phan Địch Lân (2004), cho biết: ốc L swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du và ven biển Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều xuất hiện trong
Trang 21cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1 m 2 ) khác nhau theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L swinhoei cao hơn và phân bố đều trong năm, còn ốc L viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi, trung du, ven biển Từ đó, tác giả nhận xét rằng, ốc L swinhoei chịu nước hơn, còn ốc L viridis chịu cạn hơn.
Theo Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh (1997), giữa tỷ lệ nhiễm
ấu trùng sán lá gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu có mối tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở
ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu ở khu vực đó cũng cao.
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan: Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu ra môi trường ngoại cảnh Trứng sán lá rất nhạy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau 8-9 ngày.
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng, Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1-1,5 ngày Ở môi trường
ẩm ướt, trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng) Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi
bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp khoảng (-5 0 C → 15 0 C) Nhiệt độ
10-20 0 C trứng ngừng phát triển Nhiệt độ 40-50 0 C, phôi chết sau vài phút.
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của chúng tăng lên rõ rệt Adolescaria có khả năng tồn tại ở -4 0 C → -6 0 C Ở điều kiện nhiệt độ bình thường những nang ấu có trong cỏ khô bị ẩm và trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996).
2.1.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt chất dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi súc vật mới bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấu trùng có thể theo máu
di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ… gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan
bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
Trang 22Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống dẫn mật bằng các gai cutin trên cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống dẫn mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, globulin tăng Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thâm nhiễm tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan Khi súc vật nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó
ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt chất dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác.
Tất cả những tác động trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng của
cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên (Trịnh Văn Thịnh và cs., 1982).
Trang 232.1.4 Triệu chứng bệnh sán lá Fasciola ở trâu
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây bệnh của sán Fasciola Triệu chứng ở trâu biểu hiện nặng hay nhẹ còn phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi của súc vật, tình trạng chăm sóc, quản lý…
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu 1,5-2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996), trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng chăm sóc kém Trâu biểu hiện: ăn uống kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, vàng niêm mạc, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược cơ thể, hoặc ghép với các bệnh khác.
- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu trưởng thành, khi trâu được nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1-2 tháng Trâu biểu hiện: ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức) Xuất hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục Thuỷ thũng ban đầu lúc thấy, lúc không, về sau thấy liên tục Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa chảy xen kẽ táo bón, gầy yếu dần Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gầy rất nhanh Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau Có thể thấy hiện tượng sẩy thai ở trâu cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30-50% Triệu chứng thần kinh cũng có thể gặp, song rất hiếm Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể chết do suy nhược toàn thân Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết (Trịnh Văn Thịnh và cs., 1982).
2.1.5 Bệnh tích của trâu mắc bệnh sán lá Fasciola
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có
sự khác nhau Đối với trâu nhiễm nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu vàng sẫm, sung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường
di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2-4 mm, trong đó sán non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt nhợt nhạt.
Ở những trâu nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ nhu
mô gan bị phá huỷ có sẹo màu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật
Trang 24dày, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống Lòng ống dẫn mật dãn rộng, chứa đầy dịch mật màu nâu và sán Fasciola Khi ống dẫn mật bị canxi hoá nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.
Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: nhu mô gan mất màu, liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật và máu Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: tổ chức liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996).
Nguyễn Thị Kim Thành (1995), đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu bị bệnh sán lá gan, kết quả thấy: số lượng hồng cầu giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, công thức bạch cầu thay đổi nghiêng
về bạch cầu ái toan Cũng theo tác giả trên, sán lá gan lớn thường gây tổn thương gan và có thể gây nên những biến chứng nặng nề ở vật chủ Trâu được coi là vật chủ chính của sán lá gan lớn và người là vật chủ tình cờ do ăn rau sống hoặc uống nước bị nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn.
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu (Phan Địch Lân, 2004), cho biết khi
mổ khám trâu bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2-3 lần) Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện sung Dưới vỏ gan huyết thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường ngoằn ngoèo do sán di hành Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo đặc biệt Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống dẫn mật, đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do biến chất thoái hoá Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan Trường hợp viêm phúc mạc bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).
2.1.6 Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu
Việc chẩn đoán có thể được tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết. Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
- Đối với súc vật còn sống: Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch
tễ, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường dễ thấy nhất là: kiệt sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức… Tuy nhiên, các biểu hiện trên
Trang 25không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh.
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ, vùng và tuổi súc vật bệnh Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất trong chẩn đoán Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết định trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những trâu nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước).
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện súc vật nhiễm Fasciola
đã được sử dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng nơi tiêm để kết luận Các phương pháp như: phương pháp miễn dịch men ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang…
- Đối với trâu chết: Khi trâu chết, mổ khám không toàn diện bằng phương pháp của Skrjabin tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng… Phương pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành (Trịnh Văn Thịnh và cs., 1982).
2.1.7 Phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2012), Cho biết, hiện nay có khoảng 20 loại hóa dược có thể tẩy được sán lá gan, ở Việt Nam thường sử dụng một số loại thuốc sau:
liều 10-15 mg/kg thể trọng (P), điều trị nhắc lại sau 4 tuần.
Kỹ thuật: Buổi sáng cho trâu bò uống thuốc, sau đó cho ăn uống bình thường Cho trâu bò nghỉ 2-3 ngày, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; xử lý chất thải, phân diệt trứng giun sán.
Trang 26Quy trình phòng bệnh sán lá gan như sau: Định kỳ kiểm tra phân và tẩy sán một năm 2 lần theo phác đề trên vào thời gian trâu bò nghỉ cày kéo (tháng 4
và tháng 8 hàng năm) Diệt mầm bệnh ở môi trường: Ủ phân, chất thải để diệt trứng sán Diệt ký chủ trung gian: Dùng CuSO 4 nồng độ 4% phun vào ruộng cỏ, nuôi vịt, cá hoặc tháo khô ruộng cỏ một thời gian mới sử dụng để diệt ký chủ trung gian, diệt ấu trùng Chăm sóc nuôi dưỡng tốt trâu bò để năng cao thể trạng
và sức để kháng với mầm bệnh Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), hàng năm nên tẩy sán cho toàn đàn ít nhất hai lần, lần đầu vào mùa xuân (trước mùa vật chủ trung gian phát triển), lần thứ hai vào cuối mùa Thu nhằm diệt những sán đã nhiễm trong vụ Xuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa Đông.
2.2 SÁN LÁ DẠ CỎ (PARAMPHISTOMUM CERVI)
2.2.1 Những hiểu biết về sán lá Paramphistomum cervi
Bệnh sán lá dạ cỏ ở gia súc nhai lại là bệnh rất phổ biến, phân bố rộng
ở tất cả các nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Úc, nhưng bệnh phổ biến nhất ở các nước châu Á và Đông Nam Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Ả Rập, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Việt Nam.
Ở Việt Nam, sán lá dạ cỏ phân bố rộng ở nhiều tỉnh thành như: Sơn
La, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lai Châu, Cao Bằng, Hòa Bình, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn và các tỉnh thuộc Nam Bộ (Phạm Sỹ Lăng, 2009); Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011).
2.2.1.1 Vị trí của sán lá dạ cỏ (Paramphistomum cervi)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), bệnh sán lá dạ cỏ do nhiều loài sán lá thuộc các giống trong họ Paramphistomatidae gây ra Sán lá dạ
cỏ nằm trong lớp sán lá Trematoda Rudolphi, 1808 thuộc ngành sán dẹp Platyheminthes Schneider, 1873 Theo Skrjabin et al (1977), Nguyễn Thị Lê và cs (1996), vị trí của những sán lá dạ cỏ ký sinh ở gia súc nhai lại Việt Nam trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Trang 27Loài Paramphistomum cervi (Zeder, 1970)
Loài Paramphistomum epiclitum (Fischoeder, 1904) Loài Paramphistomum gotoi (Fukui, 1922)
Loài Paramphistomum gracile (Fischoeder, 1901) Loài Paramphistomum ichikawai (Fukui, 1922)
Loài Paramphistomum liorchis (Fukui, 1922)
Giống Gigantocotyle Nasmark, 1937
Loài Gigantocotyle bathycotyl (fischoeder, 1901) Loài Gigatocotyle siamense (Stiles et Goldterger, 1910) Giống Calicaphoron Namark, 1937
Loài Calicophoron calicophorum (Fischoeder, 1901) Loài Calicophoron cauliorchis (Stiles et Golberger, 1910) Loài Calicophoron ijimai (Fukui, 1922)
Loài Calicophoron microbothrioides (Price et Mcintash, 1944)
Loài Calicophoron papillosum (Stiles et Goldbberger, 1910)
Giống Ceylonocotyle Namrk, 1937.
Loài Ceylonocotyle dinniki (Eduarko, 1982)
Giống Cotylophoron Stiles et Galdberges, 1910
Loài Cotylophoron cotylophorum (Fischoeder, 1901) Loài Cotylophoron indicum (Stiles et Galdberger, 1910) Giống Explanatum Namark, 1937
Loài Exptanatum explanatum (Cruplin, 1847)
Họ Gastrodiscidae, Stiles và Goldberger, 1910
Giống Homalogaster Poirier, 1882
Loài Homalogaster paloniae (Poirier, 1882)
Giống Gastrodiscoides Leiper, 1913
Loài Gastrodiscoides hominis (Leiper, 1913)
Họ Gastrodiscoides Stiles và Goldberger, 1910
Giống Gastrothylax Poirier, 1883
Trang 28Loài Gastrothylax crumenifer (Creplin, 1847) Loài Gastrothylax compressus (Brandes, 1898) Giống Carmyerius Stiles và Goldberger, 1910
Loài Carmyerius mancupatus (Fischoeder, 1901) Loài Carmyerius spatiosus (Brandes, 1898) Loài Carmyerius synethes (Fischoeder, 1901) Giống Fischoederius Stiles và Goldberger, 1910
Loài Fischoederius elongatus (Poirier, 1883) Loài Fischoederius cobboldi (Poirier, 1883) Loài Fischoederius japonicus (Fukui, 1922).
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Paramphistomum cervi
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009), có 11 loài sán lá ký sinh phổ biến ở dạ
cỏ trâu bò nước Việt Nam là: Paramphistomum cervi, Paramphistomum ichikawai, Fischoeder elongatus, Fischoeder cobbldi, Fischoeder japonicus Carmyerius spatiosus, Carmyerius synethes, Carmyerius mancupatus, Ceylonocotyle streptocolium, Ceylonocotyle orthocoelium, Gastrothylax compressus, có hình thái đặc trưng như sau:
Paramphistomum cervi có hình khối chóp, dài từ 5-15 mm, rộng 2-3 mm Thân sán hình nón, rất dày, thót phía trước, mở rộng và tù về phía sau Sán có màu hồng nhạt, phần sau đậm màu hơn Trên thân có giác bám, hầu, gai sinh dục có nhiều núm gai thịt Giác miệng nằm ở phần đầu, giác miệng lớn hơn giác bụng nằm ở phần cuối cơ thể, giác bụng luôn bám chặt vào nơi ký sinh Lỗ sinh dục ở khoảng 1/3 đoạn trước thân Các manh tràng kết thúc về phía lưng, giác bụng ở cuối thân, rộng và sâu Tinh hoàn chia thành nhiều thùy không rõ và cái
nọ ở sau cái kia, tuyến noãn hoàng ở hai bên thân, hình thành những nhóm dày đặc, sát nhau, kéo dài từ hầu sang giác bụng, cả về phía lưng và phía bụng.
Trứng Paramphistomum cervi có màu tro nhạt, hình trứng, đầu nhỏ
có nắp, đầu to vỏ trứng dài ra chiều dài 0,16 mm, rộng 0,069-0,082 mm 2.2.1.3 Vật chủ trung gian và vật chủ cuối cùng, vị trí ký sinh
* Vật chủ trung gian của các loài sán lá dạ cỏ
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008), cho biết, dịch tễ học bệnh sán lá dạ cỏ phụ thuộc vào sự hiện diện của ốc - vật chủ trung gian, lượng mưa, hệ thống hồ,
Trang 29ao, kênh, mương và nhiệt độ thích hợp (l0-30 0 C) Các loài ốc vật chủ trung gian
có thể có mặt thường xuyên hoặc tạm thời, chúng có thể sống ở điều kiện khô hạn trong nhiều tháng và lại thải Cercaria trong các điều kiện sống thích hợp.
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), cho biết, ký chủ trung gian của sán lá dạ cỏ gồm nhiều loài ốc nước ngọt: Planorbis compress, Planorbis planorbis, Planorbis contortus, Bulinus contortus, Bulinus forskali, Sermyla tornatella, Planorbis exustus, Anisus spirorbis, Anisus vortex, Gyraulus gredler, Gyraulus chrenberg, Armiger erisia, Armiger inermis, Choanomphatus anon phalus, Galba bulimoides…
* Vật chủ cuối cùng của sán lá dạ cỏ
Theo Phan Lục (2005), Vật chủ cuối cùng của sán lá dạ cỏ là gia súc nhai lại: trâu, bò, dê, cừu Ngoài ra, một số động vật hoang dã cũng nhiễm sán lá dạ cỏ Loài nhai lại nhiễm sán lá dạ cỏ do ăn phải Aldolescaria bám trên cây cỏ thuỷ sinh hoặc uống nước có Aldolescaria lơ lửng trong nước.
* Vị trí ký sinh
Theo Phan Lục (2005), sán lá dạ cỏ trưởng thành thường ký sinh ở dạ cỏ.
sách, dạ múi khế, ruột non, ruột già, ống mật, túi mật, xoang bụng có khi
cả ở bể thận của súc vật nhai lại.
2.2.1.4 Chu kỳ sinh học của sán lá Paramphistomum cervi
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008), vòng đời của sán lá dạ
cỏ thực hiện như sau:
Sán trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân được thải ra ngoài bãi chăn, rơi vào môi trường nước Ấu trùng Miracidium nở ra từ trứng và xâm nhập ốc - vật chủ trung gian, phát triển thành Sporocyst, Redia và Cercaria Cercaria thoát khỏi ốc, bám vào cây cỏ thuỷ sinh và hoá thành nang ấu (Aldolescaria) Khi động vật nhai lại ăn phải cây cỏ có Aldolescaria, ấu trùng thoát khỏi nang, di chuyển đến dạ cỏ phát triển thành trưởng thành Vật chủ cuối cùng của sán lá dạ cỏ là trâu, bò, dê, cừu, các động vật hoang dã có dạ dày bốn túi.
Trong các sán lá dạ cỏ, loài Paramphistomum cervi được nhiều tác giả nghiên cứu nhất Vòng đời của P cervi, theo Sey O (1982) gồm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn trứng:
Trang 30Trứng của P cervi có màu vàng xám hoặc tro nhạt, hình trứng Ở nhiệt độ
27 0 C, trong 4-5 ngày đầu trứng không có sự thay đổi rõ rệt mặc dù phôi vẫn phát triển Ngày thứ 5-6, noãn bào xuất hiện, ngày thứ 7 hai lớp tế bào biểu mô hợp lại, tế bào ngọn lửa bắt đầu hoạt động cùng với sự phát triển của phôi, noãn bào giảm dần và thay thế bằng hai không bào lớn Ngày thứ 8, kích thước phôi đạt
thường nở vào ngày thứ 8 và tiếp tục phát triển ở 2-4 ngày sau.
Miracidium nở ra có hình thoi, bơi tự do, toàn thân có lông mao, kích
thước thường dài 125-200 m, rộng 40-58 m, phía cuối đầu có ống noãn tự do hình roi Bên trong Miracidium có tuyến đỉnh, tuyến xâm nhập, hệ thần kinh, ống bài tiết, tổ chức phôi bào tương tự các Miracidium của sán lá dạ cỏ khác.
Tuổi thọ của Miracidium trong nước, ở nhiệt độ phòng là 10-12 giờ, song chỉ
có khả năng cảm nhiễm vào ốc - vật chủ trung gian ở 4 giờ đầu sau khi nở ra.
- Giai đoạn ấu trùng ở trong ốc - vật chủ trung gian:
Sau khi xâm nhập vật chủ trung gian, Miracidium chui sâu vào tổ chức của
ốc, mất một số bộ phận bên trong (gai nhú, tuyến đỉnh, tuyến xâm nhập), vỡ các bóng phôi thành các tế bào phôi riêng rẽ Sporocyst tăng về kích thước, ngày
thứ 4 đã dài 160-170 m, rộng 140-150 m, phát triển hoàn thiện sau 10-15 ngày Các Sporocyst trưởng thành nằm dọc theo ống tiêu hoá của ốc và được bao bọc một lớp vỏ mỏng trong suốt Trong Sporocyst có một cặp
tế bào ngọn lửa Sau đó Sporocyst sinh sản vô tính cho nhiều Redia.
Các Redia đầu tiên thoát ra vào ngày thứ 13-15 sau gây nhiễm, kích thước Redia non dài 150-230 m và rộng 75-180 m Khi kích thước các Redia đạt đến
độ dài 700-1.100 m và rộng 200-250 m thì chúng đã có miệng, hầu, thực quản, ruột chưa phân thành hai nhánh Hệ bài tiết có 3 cặp tế bào ngọn lửa Các Redia trưởng thành bắt đầu giải phóng Cercaria.
Cercaria được hình thành sau khi ốc nhiễm Miracidium 30-37 ngày, dài
250-370 m, có 1 đuôi dài 100-120 m Có thể thấy mắt của Cercaria khi còn nằm trong Redia Từ 44-55 ngày Cercaria bắt đầu trưởng thành, bơi nhanh, màu
nâu sẫm, dài 300-340 m, rộng 200-325 m; đuôi dài 400-500 m, rộng 65-75
m; có giác bám, hầu, thực quản, ruột, túi bài tiết, tế bào ngọn lửa,
hệ thần kinh và hệ sinh dục nguyên thuỷ.
Trang 31Sau khi thoát khỏi ốc, Cercaria bơi trong nước, bám vào cây cỏ, tiết chất nhầy bao quanh cơ thể, hình thành Aldolescaria hình cầu, đường kính 180-250
m Ở nhiệt độ 4-8 0 C, Aldolescaria tồn tại ở ngoại cảnh được tối đa là 2-3 tháng.
- Giai đoạn phát triển trong vật chủ cuối cùng:
Nikitin (1968) đã gây nhiễm Aldolescaria cho hoẵng 7 tháng tuổi, xét nghiệm phân thấy trứng sán lá dạ cỏ xuất hiện đầu tiên ở ngày thứ 85, tỷ lệ gây nhiễm đạt 42,3%.
Phan Lục (2005) đã mô tả về vòng đời của sán lá dạ cỏ như sau: Sán trưởng thành thường ký sinh ở dạ cỏ Sau khi thành thục sinh dục, sán đẻ trứng Trứng theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi, sau 11-12 ngày trứng nở ra Micracidium Micracidium bơi lội trong nước tìm ký chủ trung gian Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, Micracidium chui vào cơ thể ốc và phát triển thành Sporocyst Bằng sinh sản vô tính, mỗi Sporocyst sinh ra 9 Redia, mỗi Redia sinh ra 20 Cercaria Quá trình này tiến hành trong cơ thể ốc và cần 52-60 ngày Cercaria sau khi hình thành, chui ra khỏi ký chủ trung gian, bơi trong nước một thời gian và biến thành Aldolescaria lơ lửng trong nước hay bám trên cây cỏ thủy sinh Nếu súc vật nuốt phải Aldolescaria vào cơ thể ấu trùng sẽ được giải phóng và di hành phức tạp, cuối cùng đến dạ cỏ và phát triển thành sán trưởng thành, lại tiếp tục đẻ trứng Sán lá dạ
cỏ cần 207 ngày để hoàn thành vòng đời.
Vòng đời của sán lá dạ cỏ được tóm tắt qua sơ đồ như sau:
Rời KCTG
(Lơ lửng trong nước hoặc bám vào cỏ thủy sinh)
Trang 3218
Trang 332.2.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh Paramphistomum cervi
Theo Phan Lục (2005), bệnh sán lá dạ cỏ phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ
ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào những yếu tố sau:
* Điều kiện sinh thái
Yếu tố vùng, hay kiểu địa hình thường gắn liền với các đặc điểm sinh thái riêng, là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình hình nhiễm sán
lá dạ cỏ của gia súc nhai lại Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song
có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá dạ cỏ nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả: Trịnh Văn Thịnh (1963); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), đều giải thích, vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh, rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng.
* Yếu tố tuổi
Tuổi của gia súc nhai lại cũng được coi là một yếu tố liên quan đến tình hình cảm nhiễm sán lá dạ cỏ Người ta đã xác định rằng, gia súc nhai lại tuổi càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ càng tăng lên Điều này có thể được giải thích, do sán lá dạ cỏ có thời gian sống trong vật chủ cuối cùng dài, do gia súc nhai lại có nhiều thời gian tiếp xúc với môi trường có Aldolescaria tồn tại, do cơ thể gia súc nhai lại không có miễn dịch đặc hiệu với sán lá dạ cỏ hoặc có nhưng không rõ ràng
Theo Lương Tố Thu và cs (1997), kiểm tra trâu bò dưới 6 tháng tuổi chưa thấy sán lá dạ cỏ, tỷ lệ nhiễm ở 6-12 tháng là 53,05%, 13-36 tháng là 88,9%, trên 36 tháng là 92,3%.
Trang 34* Yếu tố mùa vụ
Mùa vụ được xác định bởi yếu tố thời tiết, khí hậu đặc trưng Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá dạ cỏ Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1963); Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996); Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), đều cho biết, gia súc nhai lại nhiễm sán
lá dạ cỏ thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa mưa là mùa ốc nước ngọt
có điều kiện thuận lợi để sống, sinh sản và phát tán Vì vậy, tỷ lệ gia súc nhai lại nhiễm sán lá dạ cỏ trong mùa mưa cũng cao hơn so với mùa khô.
Theo Rolfe et al (1991), dịch tễ học bệnh sán lá dạ cỏ còn liên quan tới những yếu tố khác như: công tác quản lý gia súc nhai lại, thói quen chăn thả trâu bò ở những nơi có nước, tiềm năng sinh học của các loài ốc và tập tính của chúng
mà ấu trùng đi qua: ruột, các túi dạ dày, túi mật, gan… Đây chính là tác động nguy hiểm nhất của sán lá dạ cỏ tới gia súc nhai lại.
Khi di hành đến tá tràng, lớp vỏ của nang ấu bị dịch ruột phân huỷ, sán non được giải phóng và bắt đầu gây bệnh Khi sán lá trưởng thành đến dạ cỏ nhờ giác bám khoẻ ở mặt bụng, chúng bám và thâm nhập sâu vào trong niêm mạc dạ cỏ Niêm mạc bị giác bám gây tổn thương, hoại tử, bong ra, tạo cơ hội tốt cho vi khuẩn xâm nhập sâu vào các khí quan làm bệnh biến chứng gây sốt, bỏ ăn, ỉa chảy, mất nước nghiêm trọng có khi làm con vật bị chết Con vật sống thì triệu chứng lâm sàng kéo dài trong vài tuần gầy tổn thất lớn về kinh tế, sự nhiễm sán trưởng thành ở
dạ cỏ thì ít nghiêm trọng hơn, chỉ gây nên kém tiêu hóa một số loài trưởng thành ở ống mật gây tổn thương và xơ gan, nhưng cũng khác do sán
Trang 35lá gan, sự tổn thất về kinh tế do sán lá dạ cỏ ở bê nghé, dê cừu non vùng Đông Nam Á, Ấn Độ có thể bằng hoặc cao hơn cả bệnh sán lá gan (FAO, 1994).
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về ký sinh trùng học cho rằng, vai trò gây bệnh của sán lá non là đặc biệt nghiêm trọng, còn vai trò này của sán lá trưởng thành thường không rõ rệt Sán lá trưởng thành có thể làm cho khả năng tiêu hoá của gia súc kém nhưng chỉ là những biểu hiện mờ nhạt Riêng loài Gigantocotyle explanatum trưởng thành khi ở ống mật có thể gây tổn thương và xơ gan (Phan Lục, 2005).
* Tác động do độc tố
Trong quá trình ký sinh sán thường xuyên tiết độc tố tác động gây biến đổi bệnh tích nặng ở những cơ quan và mô như: làm sưng, loét, xuất huyết, thâm nhiễm tế bào, viêm từng đám, ứ đọng mật, thủy thũng, thiếu máu… Nếu con vật còn sống thì triệu chứng lâm sàng kéo dài trong vài tuần, gây tổn thất lớn về kinh tế.
* Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng
Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của sán lá dạ cỏ ở ký chủ là vấn đề không lớn Người ta đã xác định được rằng, dinh dưỡng của sán lá dạ cỏ chủ yếu là các chất đã phân hủy từ cỏ ở dạ cỏ Vì vậy, có những con trâu (bò) có hàng vạn sán lá dạ cỏ trưởng thành ký sinh ở dạ cỏ vẫn sống bình thường.
Tất cả những tác động kể trên của sán lá dạ cỏ làm cho sức đề kháng của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể trâu bò nặng thêm lên (Phan Lục, 2005).
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2012), Paramphistomum cervi ký sinh ở dạ cỏ, có khi ở dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế trâu, bò, dê, cừu và các động vật khác gây ra Ở việt nam đã phát hiện thấy 27 loài thuộc 10 giống, trong đó có 7 loài rất phổ biến.
2.2.2.2 Bệnh tích của trâu mắc bệnh sán lá dạ cỏ
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), cho biết, bệnh tích thấy rõ của bệnh do sán lá
dạ cỏ là: xác chết gầy còm, niêm mạc nhợt nhạt, có những vết loét nông ở môi, mũi,
dạ cỏ có nhiều sán lá Trong xoang bụng có dịch nhầy màu hồng sáng, đôi khi có sán non sống Niêm mạc dạ cỏ, dạ múi khế, tá tràng và ruột bị viêm cata hay xuất huyết Trong dịch rỉ viêm có nhiều sán non, có khi thấy sán non ở dưới niêm mạc tá tràng, dạ múi khế, dạ cỏ và cả hệ thống lâm ba ở ruột Niêm mạc
Trang 36ruột dễ bong ra, có khi bị sùi lên do tác động của giác bám Tuỳ theo giai đoạn bệnh mà trong vách ruột có thâm nhiễm tế bào (chủ yếu và bạch cầu ái toan), xuất huyết và những biến đổi hoại tử Tuyến ruột bị biến đổi, đôi khi bị phá huỷ rất nặng Mạch máu và mạch lâm ba giãn
ra Thành dạ múi khế và tá tràng bị phù Màng dưới niêm mạc và tương mạc có sự thẩm xuất, hạch lâm ba ruột có những biến đổi thoái hoá.
Bệnh tích đại thể và vi thể do sán lá dạ cỏ gây ra còn thấy rõ ở nhiều cơ quan, tổ chức khác của cơ thể (ruột non, gan và ống dẫn mật…).
niêm mạc dạ cỏ, dạ múi khế và tá tràng bị thoái hoá và thẩm xuất tế bào, túi mật to ra, mật màu vàng nhạt Trong dịch mật thường có sán Gan sung huyết, lách khô và cứng Tim giãn to, vách tâm nhĩ có tế bào thâm nhiễm, cơ tim nhão, đôi khi thấy xuất huyết ở tim.
- Các phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm:
Các phương pháp thường dùng để chẩn đoán sán lá dạ cỏ trong phòng thí nghiệm là:
rửa sa lắng): (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012).
Nguyên lý: dùng nước để tách trứng sán lá dạ cỏ ra khỏi phân, tỷ trọng của trứng lớn hơn tỷ trọng của nước nên trứng sán lá sẽ lắng xuống.
* Phương pháp lọc lắc cải tiến của Norman Anderson: Lấy 5 gam phân cho vào lọ nhựa dung tích 100-150 ml đổ đầy nước sạch vào khuấy tan phân, đậy nắp sau đó lật úp miệng lọ, vừa lắc vừa hứng nước cuốn theo trứng sán vào cốc thủy tinh
để lắng 15 phút, tiếp tục, dội rửa 3 lần, lần cuối giữ lại 15ml có cặn phân và trứng Dùng micropipet đặt nhẹ vào đáy cốc hút 0,1 ml cặn lắng, nhỏ
Trang 37từng giọt lên phiến tính hoặc hút 1ml nhỏ vào 2 buồng đếm Mc Master Soi dưới kính hiển vi để tìm và đếm số lượng trứng sán.
- Phương pháp mổ khám sán lá dạ cỏ:
Để xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ và quan sát những biến đổi đại thể của cơ quan tiêu hóa do sán lá dạ cỏ gây ra ta thường áp dụng phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá của Viện sỹ Skrjabin K I (1928) (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan, 2012).
Sau khi tách hệ tiêu hoá, tuần hoàn, hô hấp, bài tiết và sinh dục, quan sát kỹ lồng ngực và xoang bụng để tìm sán non Sau đó, mổ khám dọc theo ống tiêu hoá, thu thập sán lá dạ cỏ ở chất chứa, niêm mạc dạ cỏ, các túi dạ dày khác, ruột non, ruột già, gan và túi mật.
2.2.2.4 Phòng trị bệnh sán lá dạ cỏ
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), Muốn thực hiện tốt kế hoạch tiêu diệt bệnh sán lá dạ cỏ phải nghiên cứu toàn diện không những về dịch tễ, sinh học, phân loại học, bệnh lý học của các loài sán lá và vật chủ trung gian mà còn phải nghiên cứu về những đặc điểm sinh lý tiêu hóa của loài nhai lại và những nét đặc trưng về thời tiết khí hậu, đặc điểm của vùng Nguyên tắc chung để phòng bệnh sán lá dạ cỏ cho gia súc là phải thực hiện được hai việc:
* Mục đích của việc diệt ký sinh trùng ở trong cơ thể gia súc là làm cho gia súc khỏe mạnh và ngăn ngừa sự phát tán mầm bệnh ra ngoài môi trường Cần chẩn đoán chính xác bệnh để tìm thuốc điều trị hợp lý.
Cần căn cứ vào tình hình thực tế để xác định nơi nào cần diệt sán lá trước, nơi nào diệt sau Nguyên tắc chung là nơi nào khó thực hiện các phương pháp phòng ngừa chung thì dù gia súc cảm nhiễm ít cũng phải tiến hành diệt ký sinh trùng trên diện rộng.
Cần nghiên cứu kỹ thời gian diệt ký sinh trùng đối với từng loài sán
và từng loài gia súc Định kỳ tẩy sán trong nhiều năm Mỗi vùng địa lý với điều kiện khác nhau phải có lịch dùng thuốc sao cho phù hợp.
Hàng năm lượng phân từ các đàn gia súc thả ra ngòai môi trường đã được
áp dụng các biện pháp diệt ký sinh trùng ở phân bằng ủ nhiệt sinh học Theo
Trang 38Trịnh Văn Thịnh, (1963), đa số những mầm bệnh giun sán đều theo phân ra ngoài trứng, ấu trùng, sán lá trưởng thành.
Muốn giải quyết những vấn đề này người ta đã dùng các chất hóa học các nhân tố vật lý học (nóng, lạnh), các tác nhân sinh vật học.
Tuy nhiên, ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể diệt được trứng giun sán, nhưng khó tác động vì trứng thường được một lớp phân bảo vệ bên ngoài hoặc được lớp cỏ xanh bảo vệ làm khô chỉ khiến cho trứng ngừng phát triển chứ không bị diệt trong thời gian một vài tháng nhất là trứng đã có phôi thai hay ấu trùng đã đến thời kỳ cảm nhiễm.
Diệt ký sinh trùng ở phân áp dụng cho phương thức chăn nuôi nhốt gia súc ở trong chuồng.
Diệt ký sinh trùng và vật chủ trung gian ở bãi chăn thả.
Hầu hết các loài sán lá gây bệnh ở gia súc nhai lại đều có vật chủ trung gian giết tất cả trứng, ấu trùng và các loài vật chủ trung gian, các loài ốc nước ngọt, ốc Lymnaea panorbidea, ốc đất Bradybaema, kiến và châu chấu bằng một số loại hóa chất như: rắc vôi bột, phèn đen, phèn xanh có thể diệt được cả mầm bệnh ký sinh trùng và vật chủ trung gian.
Áp dụng chế độ chăn thả luân phiên trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước Việt Nam Trứng và ấu trùng sán lá có thể phát dục nhanh hơn cần tính toán thời gian luân phiên cho thích hợp.
mục đích là phá vỡ chu kỳ sinh học của sán lá, vật chủ trung gian làm cho sán lá và vật chủ trung gian không thể phát triển Vì vậy, sẽ hạn chế được số lượng sán lá trưởng thành.
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009), Hiện nay chưa có thuốc tẩy đặc hiệu với sán lá dạ cỏ, có thể sử dụng một số thuốc sau để tẩy trừ cho trâu:
này có hiệu lực tẩy sán lá dạ cỏ tương đối cao.
Roberson and Courney (1995), cho rằng, một loại thuốc chống
ký sinh trùng lý tưởng phải đảm bảo các tính chất sau: