BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI VÀ MỨC ĐỘ NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERTARIAE TRÊN CÁ TRA GIỐNG Panga
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI VÀ MỨC ĐỘ NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERTARIAE
TRÊN CÁ TRA GIỐNG (Pangasianodon hypophthalmus)
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Họ và tên sinh viên: LÊ THỊ KIM GƯƠNG Ngành học: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Chuyên ngành: NGƯ Y
Niên khóa: 2005 – 2009
Tháng 8/2009
Trang 2KHẢO SÁT KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI VÀ MỨC ĐỘ NHIỄM
ẤU TRÙNG SÁN LÁ SONG CHỦ GIAI ĐOẠN METACERCARIAE
TRÊN CÁ TRA GIỐNG (Pangasianodon hypophthalmus)
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Tác giả
LÊ THỊ KIM GƯƠNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư
Nuôi Trồng Thủy Sản Chuyên Ngành Ngư Y
Giáo viên hướng dẫn
Th.S PHẠM DUY TÂN Th.S PHẠM CỬ THIỆN
Tháng 8 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm tạ:
Cha mẹ đã giúp đỡ và động viên tôi suốt thời gian học tập và tốt nghiệp
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản cùng quý thầy, cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tại trường
Lòng biết ơn gởi đến Thầy Phạm Duy Tân đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Cảm ơn thầy Anh Phạm Cử Thiện, bộ môn Môi Trường và Bệnh Học Thủy Sản, cùng toàn thể anh chị công nhân viên đang công tác tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt công việc và bài viết này
Các anh, chị Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp
Các bạn bè thân yêu của lớp Ngư Y 31 đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian học và thực tập
Do kiến thức và thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát kỹ thuật ương nuôi và mức độ nhiễm ấu trùng sán
lá song chủ giai đoạn Metacercariae trên cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus)
ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” được tiến hành tại 3 tỉnh: Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ, thời gian từ tháng
4 đến tháng 8 năm 2009
Kết quả thu được như sau:
Ao ương cá tra giống từ giai đoạn bột lên giống, 80% diện tích ao trên 1000 m2,
độ sâu trung bình là 1,55 ± 0,48 m; 63,33% mật độ ương cá 500 – 1000 con/m2 Nguồn nước chủ yếu lấy từ kênh, 90% hộ nuôi bón vôi với lượng vôi bón trung bình 4,67 ± 4,77 kg/100m2, phơi đáy ao trung bình 5,77 ± 4,63 ngày 80% cá bột có nguồn gốc từ Đồng Tháp
Tại mỗi tỉnh chọn 10 nông hộ đang ương nuôi cá tra giống trong giai đoạn trên
4 tuần tuổi, chúng tôi tiến hành điều tra và thu 30 mẫu cá tại mỗi hộ Trong 30 hộ nghiên cứu thì có 24 hộ nhiễm ấu trùng Metacercariae (chiếm 80% tổng số hộ điều tra), trong đó cao nhất là tại Cần Thơ có 10/10 hộ nhiễm Trong tổng số 900 mẫu cá nghiên cứu có 75 mẫu cá nhiễm ấu trùng Metacercariae chiếm 8,33 ± 2,55% và cường
độ nhiễm trung bình trên cá là 4,75 ± 4,76 Metacercariae/cá Loài Metacercariae gây
nhiễm nhiều nhất trên cá khảo sát là sán lá ruột thuộc giống Haplorchis, loài Haplorchis pumilio
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm tạ iiTóm tắt iiiMục lục ivDanh sách chữ viết tắt viiDanh sách các bảng viiiDanh sách hình ảnh và biểu đồ ix
Trang 62.4.1 Phân loại 19
Chương III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
Trang 74.1.3 Tẩy dọn và cải tạo ao 43
4.2 Tình Hình Nhiễm ấu Trùng Metacercariae Trên Cá Tra Giống 45
4.2.2 Tỉ lệ nhiễm ấu trùng Metacercariae trên cá tại 3 tỉnh 474.2.3 Thành phần giống loài Metacercariae cảm nhiễm trên cá 48
4.2.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi đến tỉ lệ nhiễm Metacercaria trên cá 51
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng cá tra bột và giống hàng năm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 13 Bảng 2.2: Thành phần giống loài sán lá ruột trên cá nước ngọt 20
Bảng 2.3: Bất hoạt Metacercariae bằng nhiệt độ 26
Bảng 4.5: Nơi cung cấp giống cho các nông hộ 42
Bảng 4.8: Thuốc và hóa chất các nông hộ sử dụng 45
Bảng 4.9: Tỉ lệ nhiễm Metacercariae của cá theo nhóm tuổi 46
Bảng 4.10: Tình hình nhiễm Metacercariae tại các tỉnh 48
Bảng 4.11: Tình hình nhiễm Metacercariae theo nhóm ấu trùng sán song chủ 48
Bảng 4.12: Cường độ nhiễm Metacercariae trên cá tra giống (Metacercariae/cá) 51
Trang 10DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình và biểu đồ Nội dung Trang Hình 2.1: Ốc kí chủ trung gian của sán lá gan và sán lá ruột 21
Hình 2.3: Các giai đoạn phát triển của Cercariae thành Metacercariae 25
Hình 2.4: Phân bố sán lá gan do Viện SR – KST – CTTƯ lập năm 2006 33
Hình 2.5: Bảng đồ phân bố của sán lá ruột nhỏ trên cả nước năm 2006 34
Hình 2.12: Ấu trùng Metacercariae của Haplorchis pumilio 49
Hình 2.13: Cấu tạo Metacercariae của Haplorchis pumilio 49
Hình 2.14: Loài Metacercariae chưa xác định 50
Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ nhiễm ấu trùng Metacercariae của cá theo ngày tuổi 47
Trang 11Dân số thế giới ngày một tăng cao, nhu cầu về thực phẩm nói chung và đối với thủy sản nói riêng cũng tăng lên Do đó, ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh để đáp ứng đủ nhu cầu cho người dân Nhu cầu người dân ngày càng tăng cao về lượng cũng như về chất của sản phẩm để đảm bảo an toàn Bệnh càng được quan tâm đối với các nước nhập khẩu thủy sản cùng với các chỉ tiêu khác như dư lượng thuốc, kháng sinh, vi khuẩn,… cho vấn đề an toàn lương thực thực phẩm Yêu cầu của các nước nhập khẩu thủy sản ngày càng nâng cao, đó cũng là rào cản cho các nước xuất khẩu thủy sản.
Bệnh kí sinh trùng càng trở nên phức tạp trong điều kiện của Việt Nam bởi đặc điểm khí hậu và kinh tế xã hội thích hợp cho sự phát triển và lây truyền bệnh Hầu hết các loài kí sinh trùng gây bệnh cho người đều là giun sán chủ yếu là sán kí sinh ở gan hay ruột Theo thống kê năm 2006 của Viện Sốt Rét – Kí Sinh Trùng – Côn Trùng
Trang 12Trung Ương (SR – KST – CTTƯ), cả nước có 45 tỉnh thành nhiễm sán lá gan và 18 tỉnh thành nhiễm sán lá ruột và đang tiếp tục phát triển mạnh
Trong các loài thủy sản được nuôi hiện nay, cá tra là loài có giá trị kinh tế cao
và là đối tượng nuôi truyền thống của người dân Đồng Bằng Sông Cửu Long Đây là đối tượng chính, chủ lực trong nuôi nước ngọt để phục vụ nhu cầu tiêu thụ thủy sản trong nước cũng như xuất khẩu Viện SR – KST – CTTƯ đã điều tra và xác định các loài như cá mè, cá chép, cá diếc, cá rô phi, cá trắm, cá trôi, cá sặc,… đều bị nhiễm ấu trùng sán lá gan và sán lá ruột
Do đó, vấn đề nghiên cứu tìm ra nguyên nhân gây nhiễm sán lá song chủ cũng như phòng và chữa bệnh trên cá là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm thủy sản Qua đó, ta còn hạn chế và phòng ngừa được bệnh kí sinh trùng trên người có nguồn gốc từ thủy sản
Để góp phần vào cái nhìn chung về kí sinh trùng nói chung và sán lá song chủ nói riêng và được sự đồng ý và giúp đỡ của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông
Lâm Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát kỹ thuật ương nuôi và mức độ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ giai đoạn Metacercariae trên cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Tìm hiểu kỹ thuật ương nuôi cá tra giống tại các nông hộ
Khảo sát tỉ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm ấu trùng sán lá song chủ Metacercariae trên cá tra giống
Xác định thành phần loài của ấu trùng sán song chủ trên cá tra trong giai đoạn cá giống
Trang 13Chương II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ Lược Tình Hình Sản Xuất Giống Cá Tra
Trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong số 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới Từ khi chúng ta mở rộng xuất khẩu, nghề nuôi trồng thủy sản trở thành nguồn hàng xuất khẩu mang về ngoại tệ lớn Trong đó, thị phần xuất khẩu của mặt hàng cá tra và ba sa là quan trọng nhất
Năm 2008 được coi là một thành công với ngành xuất khẩu cá tra, cá basa Việt Nam Sản phẩm cá tra và cá ba sa của Việt Nam được đánh giá là nhóm sản phẩm thủy sản có tốc độ tăng nhanh nhất thế giới, xuất khẩu đến 127 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng sản lượng trên 640000 tấn sản phẩm, đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD, tăng khoảng 45% so với năm 2007, góp phần đưa toàn ngành lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 4 tỉ USD Các thị trường xuất khẩu thủy sản quan trọng nhất của Việt Nam là Mỹ, Châu
Âu, Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Úc, Canada, Mexico,… chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu (Nguồn: http://pth.hce.edu.vn, truy cập ngày 15/4/2009)
Định hướng cho xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam năm 2009 và các năm tiếp theo là giữ nguyên sản lượng và nâng cao chất lượng cho cá tra, cá basa xuất khẩu Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 4 tháng đầu năm 2009 đạt 1,05 tỷ USD, giảm 8% so với cùng kỳ năm 2008 Đây là năm đầu tiên trong nhiều năm qua, kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá
ba sa có tốc độ tăng trưởng âm (Nguồn: www.vietlinh.com.vn, truy cập ngày 12/7/2009)
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), tình hình sản xuất giống cá tra tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như sau:
Số lượng các cơ sở ương dưỡng và sản xuất giống cá tra tăng nhanh liên tục trong giai đoạn 2001 – 2007, từ 82 cơ sở (2001) lên đến 5171 cơ sở (2007), tăng gấp 63 lần;
Trang 14tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này là 80,76%/năm Trong đó, tăng đáng kể nhất
là tỉnh Đồng Tháp, năm 2001 có 52 cơ sở đến năm 2007 lên đến 3842 cơ sở; tiếp đó là tỉnh An Giang số lượng cơ sở tăng từ 3 cơ sở (2001) tăng lên 1031 cơ sở (2007) Đến tháng 7/2008 số lượng cơ sở sản xuất giống là 5633 cơ sở; tăng 1,09 lần so với cả năm 2007; trong đó tỉnh Đồng Tháp là 4300 cơ sở Số cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống
cá tra ở 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang chiếm đến 94,24% tổng số cơ sở trong vùng Một số tỉnh còn lại như: Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang, Cần Thơ chủ yếu là cơ sở ương dưỡng cá từ giai đoạn bột lên giống
Các cơ sở sản xuất giống có sản lượng giống trung bình hàng năm là 1 triệu con/năm; 10 – 15 triệu cá bột/năm; diện tích trung bình các cơ sở ương dưỡng dao động từ 3000 – 5000 m2, trung bình sản xuất khoảng 6 đợt/năm Sản lượng cá bột cũng tăng lên rất nhanh theo tốc độ tăng nhanh số cơ sở sản xuất giống, từ 466 triệu cá bột (năm 2000) tăng lên gấp 25,33 lần là 11805 triệu (năm 2007) Trong đó, sản lượng cá bột tại 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang chiếm gần như tuyệt đối của toàn vùng
Tỷ lệ sống trung bình từ 6,91% (năm 2000) lên 35,29% (năm 2005) và đây cũng là
tỷ lệ sống cao nhất từ trước đến nay
Bảng 2.1: Sản lượng cá tra bột và giống hàng năm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
2005 2006 2007 7T/2008
TT Danh mục Cá
bột
Cá giống
Cá bột
Cá giống
Cá bột
Cá giống
Cá bột
Cá giống
Trang 15Sản lượng cá giống cũng liên tục tăng từ 32 triệu cá giống (năm 2000) lên 1926 triệu cá giống (năm 2007), tăng gần 60 lần Trong 7 tháng đầu năm 2008, sản lượng cá giống đạt 933 triệu con Sản lượng cá giống tăng là điều đáng khích lệ Song, chất lượng cá giống ngày càng có xu hướng giảm là do việc kiểm tra, kiểm dịch còn lỏng lẻo, thiếu khâu tổ chức, quản lý sản xuất chặt chẽ Cá giống được chia làm 2 loại, đối với giống nhỏ 1,2 – 1,3 cm/con thì cung cấp cho các hộ nuôi ao, đối với loại có kích thước lớn hơn từ 2,5 – 3,5 cm/con thì phục vụ cho nuôi đăng quầng và nuôi lồng bè
Từ đầu tháng 9/2008 khi cá tra nguyên liệu tăng giá trở lại, so với tháng 8 và cùng kỳ năm 2007, cá tra giống đang tăng giá mạnh mẽ Loại cá giống cỡ 1,5 cm giá
320 – 350 đồng, tăng hơn 100 đồng/con Cá 2 cm từ 650 – 680 đồng, tăng 80 đồng/con Cá trên 2,5 cm từ 1000 – 1200 đồng, tăng 350 đồng/con
(Nguồn:www.hoinongdan.org, truy cập ngày 12/8/2009)
2.2 Sơ lược đặc điểm sinh học cá tra
2.2.1 Đặc điểm phân loại
Có 2 đôi râu trong đó đôi râu hàm trên ngắn hơn 1/2 chiều dài đầu, râu hàm dưới ngắn hơn 1/4 chiều dài đầu
Trang 16Vây mỡ nhỏ và vây hậu môn tương đối dài Số tia vây bụng cá tra V = 8 – 9, vây hậu môn A = 31 – 33, lược mang 28 – 38 (Nguồn: www.pangasius-vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
2.2.4 Đặc điểm môi trường sống
Cá tra sống chủ yếu trong môi trường nước ngọt, có thể sống được trong vùng nước hơi lợ (độ mặn 7 – 10‰)
Có thể chịu đựng được nước phèn với pH > 5 nếu pH < 5 cá bị sốc, bỏ ăn
Dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 150C nhưng chịu nóng tới 390C Nhiệt độ thích hợp: 22 – 360C, tốt nhất là 26 – 320C
Cá có cơ quan hô hấp phụ là bóng khí và da nên chịu được môi trường thiếu oxy hòa tan Tiêu hao oxy và ngưỡng oxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng
Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác (1,69.106 tế bào/ml máu) Hàm lượng oxy hòa tan thích hợp là 3 – 6 mg/L Cá có thể sống tốt ở nơi có nhiều chất hữu cơ (COD khoảng 20 mg/L, DO thấp 2 mg/L) (Nguồn: www.pangasius-vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Sau khi nở được 36 giờ, miệng cá đã có răng, hàm đã có thể cử động được Khối noãn hoàng đã sử dụng gần hết và cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài Thức ăn của
cá bây giờ là động vật phù du trong nước có kích thước nhỏ như luân trùng, trứng nước,… Cá hoạt động liên tục và rất hung dữ, chúng ăn tất cả những gì chúng bắt gặp trên đường bơi lội, kể cả thức ăn có kích thước lớn hơn miệng của chúng (như cá bột đồng loại,…)
Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được Ruột cá ngắn, không gấp khúc lên nhau mà treo vào màng ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục
Trong ao nuôi, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như thức ăn bắt buộc, mùn bã hữu cơ, phân hữu cơ, cám, rau, động vật đáy,… (Nguồn: www.pangasius-vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Ở 10 ngày đầu, những biến đổi
về mặt hình thái rất nhanh, tốc độ tăng trưởng của cá khá cao, cá tăng nhanh về chiều
Trang 17dài Cá ương trong ao 2 tháng đạt chiều dài 10 – 12 cm (khoảng 14 – 15 g/con) Từ
khoảng 2,5 tháng trở đi mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể
Nuôi trong ao 1 năm cá đạt 1 – 1,5 kg/con những năm về sau cá tăng trọng nhanh hơn, có khi đạt tới 5 – 6 kg/năm tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức
ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít Ðộ béo của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái
và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản
Cỡ cá 10 tuổi trong tự nhiên tăng trọng rất ít và có thể sống trên 20 năm Đã gặp
cỡ cá trong tự nhiên nặng 18 kg hoặc cá dài tới 1,8 m (Nguồn: vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
www.pangasius-2.2.7 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5 – 3 kg Trong tự nhiên chỉ gặp cá thành thục trên sông ở địa phận của Campuchia và Thái Lan
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực và cá cái Ở thời kì thành thục, tuyến sinh dục cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đoạn II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng; tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang trắng sữa
Sức sinh sản cá tra là 139000 – 150000 trứng/kg cá cái Hệ số thành thục của cá cái ngoài tự nhiên là 1,76 – 12,94% và cá đực là 0,83 – 2,1% Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5%
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch, cá
có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam
Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi cá thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1 – 3 lần/năm
Cá đẻ trứng dính nở sau 17 – 21 giờ ở 25 – 300C, nếu thấp hơn 240C thì trứng khó nở do phôi không phát triển hay trên 320C thì trứng hỏng hoàn toàn Trứng mới
Trang 18đẻ có đường kính 1 – 1,1 mm, khi trương nước 1,5 – 1,6 mm Khi nở cá bột dài 2,98
mm (Nguồn: www.pangasius-vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
2.3 Qui Trình Ương Cá Tra Từ Cá Bột Lên Cá Giống
2.3.1 Chuẩn bị ao ương
Theo Ngô Trọng Lư và ctv (2001), diện tích ao ương thích hợp từ 500 – 1000
m2, độsâu từ 1 – 1,5 m Bờ ao phải chắc chắn, không bị rò rỉ, xung quanh bờ ao cần thoáng mát không bị cây cối che khuất Ao phải có cống cấp và thoát nước riêng
Cải tạo ao ương là bước quan trọng nhất trong quá trình ương nuôi cá tra vì nó tiêu diệt mầm bệnh, địch hại, tạo nền đáy tốt
Ao trước khi cải tạo tiến hành tháo nước, diệt hết cá tạp, cá dữ; giữ mực nước 0,9 – 1,2 m nhằm tiện cho việc hút bùn đáy ao Hút bùn thật kĩ nhưng giữ lại lớp bùn mỏng khoảng 3 – 5 cm để gây nuôi thức ăn tự nhiên trong tuần đầu tiên khi ương Hút bùn xong tháo cạn nước trong ao Bón vôi công nghiệp với liều lượng 10 – 15 kg/100m2 hay các loại hóa chất khác để cải tạo ao Phơi ao 5 – 7 ngày (có thể 2 – 3 ngày) Dọn cỏ xung quanh ao Cấp nước từ ao lắng đã qua xử lí vào ao ương với mức nước 0,8 – 1 m và cấp thêm nước trong quá trình ương
Cá phải đạt 18 – 22 giờ tuổi, cá còn noãn hoàng, miệng chưa mở to do đó sẽ giảm
tỉ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển Cá bột thường vận chuyển trong bao nilon 4 lít nước có bơm oxygen với mật độ 50000 cá bột/bao cỡ 100 x 60 cm
2.3.3 Thả cá bột
Thời gian thả tốt nhất là sáng sớm hoặc là chiều mát Trước khi thả cần kiểm tra các yếu tố môi trường như: nhiệt độ 30 – 320C; DO 5 – 6 mg/L; pH 7,9 – 8; NH3 0 mg/L, độ trong 42 – 50 cm (Nguồn: www.pangasius-vietnam.com, truy cập ngày 15/4/2009)
Ngâm bao đựng cá bột trong nước khoảng 10 phút, mở miệng bao, rồi thả từ từ
cá bột ra ngoài
Trang 19bị ao tốt, cá bột sẽ có sẵn một lượng thức ăn tự nhiên trong ao Trong tuần đầu tiên có thể bổ sung thêm trứng gà hay trứng vịt, bột đậu nành, bột sữa, bột cá,… Mỗi ngày cho ăn 2 – 4 lần
Cá lên đớp móng 7 – 9 ngày tuổi Ngày thứ 8 cá ăn được ấu trùng muỗi đỏ, trùn chỉ và mùn bã hữu cơ Cá bắt đầu xuống đáy tìm thức ăn từ ngày thứ 11 Tập cho cá ăn tập trung một chỗ để dễ kiểm tra tình trạng sức khỏe và bắt mồi của cá
Ngày thứ 13 thay dần thức ăn công nghiệp Kể từ ngày tuổi thứ 28 – 30, cá đã chuyển sang ăn tạp và tính ăn của cá giống như cá trưởng thành nên sử dụng thức ăn dạng miếng lớn Thức ăn để ương cá tra trong giai đoạn 1 tháng tuổi cần phải có hàm lượng đạm khoảng 28 – 30%, lượng thức ăn cho cá dao động từ 10 – 20 kg/100kg cá Sau 2 tháng ương, cá đạt kích cỡ 8 – 10 cm
2.3.6 Quản lí ao nuôi
Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp, điều này rất
dễ quan sát vì cá ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá
Mặc dù cá tra có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng nuôi với mật độ rất cao việc theo dõi hoạt động của cá phải được thực hiện thường xuyên
Cá có biểu hiện bất thường như: nổi đầu, bơi lờ đờ, bỏ ăn, có biểu hiện bệnh, chết phải được xử lí với những biện pháp thích hợp Luôn giữ nguồn nước trong ao sạch và ổn định
Trang 20Hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi cá tra vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành giá thành sản phẩm
2.4 Sơ Lược Sán Lá Song Chủ
2.4.1 Phân loại
Trong quá trình ương nuôi, cá bệnh kí sinh trùng do nguyên sinh động vật và giun sán thường thấy xuất hiện Bệnh đã gây thiệt hại không nhỏ cho ngành nuôi trồng thủy sản nước ta trong thời gian qua, bệnh làm giảm chất lượng thịt cá và nhất là giun sán từ cá có thể lây nhiễm và gây bệnh cho con người
Tùy theo nơi định vị của sán song chủ trưởng thành trong cơ thể mà chia ra thành:
• Sán lá gan (liver fluke): sán lá họ Fasciolidae
• Sán lá phổi (lung fluke): sán lá họ Troglotrematidae
• Sán lá ruột (intestinal fluke): sán lá họ Heterophyidae
Sau đây là phân loại các loài sán lá song chủ được phát hiện trên cá và các loài động vật thủy sản kể cả người ở nước ta trong các năm gần đây:
2.4.1.1 Phân loại sán lá gan
Loài: Clonorchis sinensis
Sán dài 10 – 25 mm, rộng 3 – 5 mm Sán định vị trong gan, hệ thống ống mật
và trong ống dẫn của tuyến tụy Sán trưởng thành có thể sống 25 năm trong gan của con người
Giống: Opisthorchis
Loài: Opithorchis viverrini
Người bị nhiễm từ cá Sán định vị trong hệ thống mật
2.4.1.2 Phân loại sán lá phổi
Ngành: Plathelminthes
Lớp: Trematoda
Trang 21Bộ: Opisthorchiida
Họ: Troglotrematidae
Giống: Paragonimus
Loài: Paragonimus sp
Người bị nhiễm bị nhiễm từ cua và tôm nước ngọt Sán định vị trong phổi và
màng phổi, đôi khi vào trong não
2.4.1.3 Phân loại sán lá ruột
Metagominus Metagominus sp
Centrocestus Centrocestus formosanus
Centrocestus sp
Stellantchasmus Stellantchasmus falcatus
Procerovum Procerovum varium
Echinochamus Echinochamus sp
Theo Murrell và ctv (2004), giống Haplorchis chỉ có một tinh hoàn hay còn gọi
là tinh hoàn đơn, giác bụng tương đối đồng đều với giác miệng và được bảo vệ bởi các
móc Chúng đều có lây nhiễm trên người, với 3 loài quan trọng nhất là: Haplorchis
taichui, Haplorchis pumilio và Haplorchis yokogawai
Haplorchis pumilio được phát hiện từ chim và động vật có vú tại Ai Cập và
cũng được tìm thấy tại châu Á Ấu trùng Haplorchis pumilio có dạng hình elip, kích cỡ
Trang 220,16 – 0,19 x 0,14 – 0,16 mm, có 36 – 42 răng nhỏ xếp thành 1 – 2 hàng quanh vòi sinh dục bụng hoàn chỉnh, tuyến bài tiết hình chữ O chiếm phần lớn cơ thể phía sau Dạng trưởng thành của ấu trùng kí sinh trên chó, mèo, cáo, sói, bồ nông,… Địa điểm phát hiện tại châu Á như Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Việt Nam
2.4.2 Vòng đời
Cơ thể sán lá song chủ trưởng thành hình trứng, hình lá và thường đối xứng 2 bên Kích thước cơ thể sai khác rất lớn, thường lưỡng tính, giao phối trên cùng 1 cơ thể, đẻ trứng Trứng nhỏ và số lượng nhiều Từ trứng phát triển thành cơ thể trưởng thành sán lá song chủ phải trải qua 1 quá trình phức tạp, đòi hỏi trải qua 2 kí chủ là kí chủ trung gian và kí chủ cuối cùng (Đỗ Thị Hòa, 2004)
9 Kí chủ trung gian: ốc nước ngọt Lymnaea viridis, Melanoides tuberculata, Bithynia fuchsiana,… và 29 loài ốc nước ngọt khác Mỗi một loài sán phát triển trong
một loại ốc đặc trưng
9 Kí chủ cuối cùng: động vật nhai lại (trâu, bò, dê, cừu, ngựa,…), chó, mèo, heo, thỏ, động vật hoang dã,… và cả con người
( http:rydberg.biology.colostate.edu) (www.impe-qn.org.vn)
Hình 2.1: Ốc kí chủ trung gian của sán lá gan và sán lá ruột
Sán trưởng thành kí sinh trong nội tạng của vật chủ Trứng sán theo phân ra ngoài môi trường nước và nở ra ấu trùng đầu tiên là mao ấu trùng
Theo Đỗ Thị Hoà (2004), chu kì phát triển chung của sán lá song chủ trải qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn ấu trùng Miracidium: Trứng rơi vào nước và nở ra ấu trùng
Miracidium có lông tơ và điểm mắt Miracidium không lấy thức ăn từ môi trường ngoài, sống tự do trong nước nhờ glycogen dự trữ, nên chỉ bơi một thời gian, rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biểu mô và chui vào tổ chức gan của kí chủ trung gian
Trang 23thứ nhất là ốc Trong cơ thể ốc, ấu trùng Miracidium mất lông tơ, điểm mắt và ruột biến thành bào nang Sporocyste sau 3 – 7 ngày
Giai đoạn ấu trùng Sporocyste: Ấu trùng tồn tại dạng bào nang, bề mặt có khả
năng thẩm thấu dinh dưỡng Bào nang Sporocyste có thể xoang lớn, chúng tham gia sinh sản vô tính và cho ra nhiều Rediae (khoảng 5 – 10 Rediae trong 8 – 11 ngày)
Giai đoạn ấu trùng Rediae: Ấu trùng Rediae lớn lên, phá màng của bào nang để
ra khỏi tổ chức gan rồi vào cơ quan tiêu hóa của ốc Rediae có thể di động, cơ thể dạng hình túi, cấu tạo cơ thể có hầu và ruột dạng hình túi ngắn, 2 ống bài tiết, phía sau cơ thể có một đám tế bào mầm tiến hành sinh sản vô tính cho ra nhiều Cercariae Một Mediae sinh sản vô tính ra 3 – 6 (có thể 15 – 20) Cercariae hoặc cho ra Rediae thế hệ thứ 2 trong 13 – 14 ngày Thời gian hoàn thành các giai đoạn trong ốc 50 – 60 ngày
Do đó, có 1 số chủng loại sán lá song chủ không qua giai đoạn ấu trùng Rediae mà phát triển trực tiếp qua Cercariae
Giai đoạn ấu trùng Cercariae: Cercariae sống tạm thời trong cơ thể ốc sau đó
các tuyến đơn bào tiết enzyme phá tổ chức cơ thể ốc để ra nước hoạt động một thời gian ngắn (10 – 24 giờ) mất đuôi biến thành ấu trùng có vỏ bọc Metacercariae (sau 2 –
24 giờ)
Giai đoạn ấu trùng Metacercariae: Metacercariae bám vào cỏ rác thủy sinh,
nếu cá ăn phải Metacercariae vào ruột sẽ phát triển thành sán trưởng thành Cũng có giống loài ấu trùng Cercariae ra môi trường nước đã trực tiếp xâm nhập vào da, mang, mắt của kí chủ trung gian thứ 2 là cá, sau đó phát triển thành ấu trùng dạng bào nang Metacercariae Các loài động vật ăn cá sống, Metacercariae vào cơ thể kí chủ cuối cùng sẽ phát triển thành ấu trùng trưởng thành
Khi vật chủ cuối cùng ăn phải kén Metacercariae, ấu trùng sán xâm nhập vào ruột non qua 2 đường: Một là, ấu trùng chui qua màng ruột đi vào xoang bụng về gan, mật sau đó chui qua tế bào gan và mật Hai là, ấu trùng đi theo mạch máu về tĩnh mạch cữa gan, chui qua tĩnh mạch về ống dẫn mật và túi mật và phát triển thành sán trưởng thành
Trang 24Hình 2.2: Vòng đời của sán lá song chủ
(Nguồn: http://www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 15/4/2009)
Như vậy, quá trình phát triển của sán lá song chủ khá phức tạp, kí chủ trung gian thứ nhất là ốc và một số động vật không xương sống, kí chủ trung gian thứ hai thường là cá, động vật thân mềm, giáp xác và kí chủ cuối cùng thường là động vật có xương sống như: cá, bò sát, chim và động vật có vú Thời gian khi vật chủ cuối cùng nuốt phải Metacercariae cho đến khi phát triển thành con trưởng thành 2 – 3 tháng
2.4.3 Giai đoạn ấu trùng Metacercariae
Theo Murrell và ctv (2004), giai đoạn ấu trùng Metacercariae tồn tại dưới dạng bào nang, ấu trùng nằm trong bào nang nên chỉ vận động nhẹ nhàng Hầu hết có dạng hình cầu hoặc elip, cấu tạo cơ thể phát triển gần với trưởng thành, gồm có các đặc điểm như sau:
Thành nang (Cyst wall): phần bao quanh bên ngoài Metacercariae, thành dày có
1 hoặc 2 lớp trong suốt như thủy tinh, một số ít có 3 lớp
Giác bám (Sucker): thường có 2 giác bám, giác miệng (đằng trước) và giác
bụng ở giữa cơ thể, được sử dụng để bám chắc, nhưng giác miệng mở vào bên trong miệng dẫn tới hệ tiêu hóa
Trang 25Hầu, thực quản và ruột (Pharynx, Esophagus, Ceca): đường dẫn thức ăn bắt
đầu từ hầu (cơ quan nghiền) đi vào thực quản rồi vào ruột Ở thực quản và ruột, thức
ăn được tiêu hóa và ngấm vào thành ruột
Mầm sinh dục (Genital primosdium): là cơ quan sinh dục đang phát triển (tinh
hoàn, buồng trứng), các tổ chức thường được thấy trong giai đoạn ấu trùng Metacercariae, nhưng nó ở trong trạng thái không xác định
Gonotyl: một phần cơ thể phát triển ra ngoài gần với lỗ sinh dục, thông thường
ăn sâu vào cơ thể bên trong khoang, túi sinh dục bụng mở tách biệt nhưng gần với giác miệng Chức năng của nó là giao phối và chuyển tinh dịch
Gai miệng (Oral spines): gai lớn xung quanh giác miệng
Lỗ sinh dục và cơ quan tiếp nhận (Seminal vesicle and receptacle): là phần cuối
của ống dẫn tinh, lỗ có thể ngụy trang với các răng nhỏ (gọi là gai xương hay móc)
Túi bài tiết (Excretory vesicle : một bong bóng hay phần túi sau của cơ thể tập
trung các chất bài tiết tập trung từ các ống bài tiết Có thể được dồn đầy các hạt đặc trưng hoặc các túi nhỏ mà thường có ích trong việc phân biệt các loài
Tế bào lửa (Flame cells): một hệ thống song song của các tế bào chứa lông đặc
biệt có chức năng tập trung tế bào chất thải bài tiết hình thành qua cơ thể Làm thông ống mao mạch dẫn tới ống bài tiết Tế bào lửa có thể được thể hiện bằng một công thức, sử dụng trong phân loại
Noãn hoàng (Vitellaria): là các tuyến bao quang buồng trứng mà tiết ra nguyên
liệu vỏ trứng
Trang 26Hình 2.3: Các giai đoạn phát triển của Cercariae thành Metacercariae
(Nguồn: www.bioone.org/action, truy cập ngày 15/4/2008) Trong đó:
1 Cercariae thoát khỏi ốc Segmentina hemisperulla (×200)
2 Cercariae phân chia (×200)
3 Mất đuôi (×200)
4 Hình thành vách và những hạt nhỏ (×400)
5 Hình thành 2 lớp của vách (×400)
6 Mertacercariae hoàn chỉnh (×400)
7 Nang phát triển không đầy đủ (×400)
8 Nang ngoài có hình dạng khác thường (×400)
9 Tiến hành phân bào (×400)
2.4.4 Bất hoạt Metacercariae
Theo Murrell và ctv (2004), Metacercariae kí sinh ở các loài thủy sản nước ngọt khác nhau như cá, nhuyễn thể, thực vật thủy sinh, đặc biệt kí sinh nhiều ở các kí chủ thích hợp như các loài cá có vẩy như họ cá chép Cyprinidae,… Kí sinh trùng xuất hiện quanh năm, một số kí sinh ở cá phụ thuộc vào nhiệt độ Ở vùng xích đạo, ấu trùng Cercariae từ ốc nhiễm vào kí chủ trung gian thứ hai thường nhiều nhất vào mùa hè
Trang 27(tháng 6 – 7) Vùng cận nhiệt đới, Cercariae nhiễm nhiều vào mùa xuân và mùa thu (Chubb, 1979) Metacercariae có thể sống ít nhất một năm trong cơ thể cá, ở kí chủ thích hợp chúng có thể sống 5 – 6 năm
Ấu trùng Metacercariae kí sinh trên cá và động vật thủy sản có thể bị bất hoạt khi dùng các biện pháp sau:
9 Lưu giữ ở -200C hoặc thấp hơn trong vòng 7 ngày
9 Đông lạnh ở -350C hoặc thấp hơn cho đến khi đông cứng và bảo quản ở nhiệt
độ -350C hay thấp hơn thì trong 15 giờ
9 Đông lạnh ở -350C hoặc thấp hơn cho đến khi đông cứng và bảo quản ở nhiệt
độ -200C hay thấp hơn thì trong 24 giờ
9 Hấp ở 600C hoặc hơn trong 1 phút
9 Thanh trùng bằng phương pháp Pasteur
9 Tiệt trùng bằng nhiệt độ cao trong nhiều giờ liền
9 Muối hoặc làm chua
Nhiều loài Metacercariae có thể sống được trong mắm cá, cá hun khói, cá khô,
cá muối trong 5 – 7 ngày Dó đó, việc trữ cá trong tủ lạnh hoặc ướp muối cá không ngăn ngừa được các loài này nhưng với thời gian lâu hơn thì có thể được
Bảng 2.3: Bất hoạt Metacercariae bằng nhiệt độ (Nguồn: Abdussalam và ctv., 1995)
Loài Metacercariae Nhiệt độ (0C ) Thời gian Tác giả
Clonorchis sinensis -10
40
65
5 ngày 2,5 giờ
Trang 28Trên thế giới đã có một số nghiên cứu làm bất hoạt Metacercariae để đưa ra biện pháp xử lí an toàn và hiệu quả cho người dùng thực phẩm thủy sản Metacercariae
có thể bị bất hoạt khi muối chua, hun khói, phơi khô, nấu chín, đông lạnh và ướp muối trong điều kiện thích hợp tùy theo từng loài ấu trùng Metacercariae Các loài Metacercaria khác nhau bất hoạt tại các yếu tố môi trường (nhiệt độ,…) là khác nhau
2.5 Bệnh Sán Lá Gan Trên Người
2.5.1 Tình hình nghiên cứu sán lá
2.5.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Một số tác giả châu Âu đã xác định được bệnh xuất hiện trên người cách đây trên 5000 – 5100 năm (Bouchet, 1997; Aspock, 1999; Dittmar và Tegren, 2002) Từ năm 1379, bệnh đã trở thành một bệnh giun sán nghiêm trọng và đóng vai trò là chìa khóa trong lĩnh vực y tế cộng đồng (Nguồn: http:fibozopa.ria1.org, truy cập ngày 15/4/2009)
Bệnh do sán lá song chủ được ghi nhận trên hầu hết các nước tại châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi, châu Á và vùng Thái Bình Dương Theo Chen và ctv (1994), tầm quan trọng của bệnh sán lá gan ở người đối với sức khỏe cộng đồng và ghi nhận bệnh ở 42 nước trên thế giới từ 1970 – 1990; nhiều nhất ở Pháp, Anh, Úc, Ai Cập, Iran, Trung Đông, Nam và Bắc Mỹ, Đông Nam Á, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,…
Bệnh ở người có liên quan đến động vật thủy sản do con người ăn phải sản phẩm thủy sản có chứa ấu trùng kí sinh trùng còn sống Chúng sẽ phát triển thành dạng trưởng thành kí sinh ở người Nhiều ấu trùng của kí sinh trùng được tìm thấy trong cơ thể cá nước ngọt Sự gia tăng sản lượng của cá nước ngọt trong nuôi trồng thủy sản đặc biệt những loài cá và giáp xác được nuôi phổ biến – là kí chủ thích hợp của kí sinh trùng (họ Cyprinidae,…)
Trước đây, việc nhiễm kí sinh trùng có nguồn gốc thủy sản chỉ có ở các nước có mức sống thấp hoặc trung bình Ngày nay, nguy cơ nhiễm các loài này đã mở rộng không giới hạn về kinh tế và địa lí Nguyên nhân do sự phát triển của thị trường thế giới, giao thông, di dân,… (Murrell, 2004) WHO ước tính số người có nguy cơ nhiễm
kí sinh trùng có nguồn gốc thủy sản trên thế giới là hơn 1/2 tỉ người, tại Đông Nam Á
khoảng 18 triệu người, bao gồm các loài sán lá gan như Opisthorchis viverini và
Trang 29Clonorchis sinensis Hiện có trên 50 loài sán lá ruột được tìm thấy ở người trên khắp
thế giới và có ít nhất 13 loài có tại Đông Nam Á (Waikagul, 1991; Chai và ctv., 2005)
Bệnh sán lá ruột hiện vẫn được coi là bệnh cần báo động ở nhiều quốc gia châu
Á và mới đây đã phát hiện bệnh này có ở một số nước thuộc châu Phi Điều này liên quan đến sự nghèo đói, truyền thống văn hóa, sản xuất nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh làm môi trường ngày càng ô nhiễm và thiếu kiểm soát (WHO, 2004)
2.5.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Từ năm 1887, Grall đã báo cáo về sự có mặt của sán lá ở miền bắc Việt Nam Gần đây có sự bộc phát của bệnh sán lá, khoa học gọi là Distomatosis, do động vật thủy sản truyền sang cho người tại một số tỉnh Các loài thủy sản cũng đều có thể nhiễm giun sán như các loài động vật khác, nhưng chỉ có một số loài là có khả năng truyền sang cho con người mà thôi Nuôi trồng thủy sản nước ta phát triển mạnh mẽ trong các năm qua và cũng đồng nghĩa với việc gia tăng các bệnh kí sinh trùng có nguồn gốc thủy sản Nguyên nhân chính của bệnh kí sinh trùng có nguồn gốc thủy sản
là từ tập tục ăn gỏi cá sống hoặc ăn cá nấu chưa thật chín
Từ năm 2006, các nhà nghiên cứu thuộc dự án FIBOZOPA (Fish Borne Zoonotic Parasites) đã phát hiện các loài sán lá ruột truyền từ cá sang người thuộc họ
Heterophyidae được thu nhận ở người Việt Nam bao gồm Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui, Haplorchis yokagawai, Stellantchasmus falcatus và Procerovum varium Đặc biệt, 45 – 80% cá nuôi tại một số vùng đã bị nhiễm sán lá rất trầm trọng;
cá tự nhiên và cá giống đều bị nhiễm ấu trùng sán lá Nghiên cứu trên cá nước ngọt tại Việt Nam năm 2006, thấy cá bị nhiễm nhiều loài ấu trùng sán lá có thể gây bệnh cho người Các loài cá đã nghiên cứu và tìm thấy sự lây nhiễm của ấu trùng sán lá song chủ như: trắm cỏ, mè trắng, chép, rô đồng, tai tượng, trê lai, tra, sặc rằn, mè vinh,…
Theo Phạm Cử Thiện (2005), các loài Metacercariae chiếm ưu thế trên cá tai
tượng là H pumilio (86,8%), H taichui (9,9%) và Procerovum sp (3,3%) Các loài Metacercariae chiếm ưu thế trên họ cá chép là H pumilio (70,4%), Centrocestus sp (5,2%), H taichui (0,4%) và 24,0% loài khác Trong mô hình VAC, H pumilio (80,8%), Centrocestus sp (1,4%), H taichui (0,3%), Procerovum (0,1%) và 17,4%
loài khác Trong nghiên cứu của Nguyễn Diễm Thư (2007), tỉ lệ nhiễm Metacercariae
trên cá tra thịt tại An Giang là 2,6% trong đó H pumilio là 0,7% Tỉ lệ nhiễm chung
Trang 30trên cá tự nhiên là 30,6%, trên động vật khác là 10,3%, với H pumilio (2,8%) và Procerovum sp (5,6%) Theo Phạm Cử Thiện (2007), tất cả các ấu trùng Metacercariae của sán lá được tìm thấy thuộc họ Heterophyidae như: H pumilio, H taichui, Centrocestus formosanus và Stellantchasmus falcatus H pumilio chiếm 91%
trong các loài kí sinh trùng có nguồn gốc thủy sản tìm thấy Cá tra trong mô hình nuôi
VAC nhiễm phải H pumilio và Centrocestus formosanus Theo Phạm Cử Thiện (2009), H pumilio hiện diện trên tất cả các loài cá trong nghiên cứu khi H taichui chỉ
có trên cá tai tượng và cá mùi, còn Stellantchasmus falcatus chỉ tìm thấy trên cá tai tượng Cá tra và cá trê chỉ nhiễm H pumilio Không tìm thấy ấu trùng Metacercaria của sán lá gan như Opisthorchis viverini và Clonorchis sinensis trong các nghiên cứu trên Đây là những báo cáo đầu tiên cho sự hiện diện của ấu trùng sán lá song chủ (H pumilio, Procerovum sp và Opisthorchis viverini) trên cá tại miền nam Việt Nam Theo Phạm Cử Thiện (2005), tỉ lệ nhiễm của ấu trùng Metacercariae Haplorchis pumilio trên cá tra thịt phụ thuộc vào các yếu tố như hệ thống sản xuất (điều kiện ao
nuôi), cỡ cá (cá càng nhỏ tỉ lệ nhiễm càng cao) và mùa vụ (cá nhiễm cao vào mùa mưa) Lí do là cá nhỏ sống nơi cạn có nhiều ốc là kí chủ trung gian thứ nhất của sán song chủ và khi ấu trùng Cercariae rời khỏi ốc sống tự do trong môi trường nước sẽ bám lên cơ thể cá bơi gần nó rồi kí sinh trên cá sau đó phát triển thành ấu trùng Metacercariae
Từ năm 2006, tỷ lệ nhiễm bệnh sán lá ruột ở nước ta tại một số tỉnh như sau: Nam Định 6%, Yên Bái 1,2%, Đăk Lăk 1,2 – 3,8%, Thừa Thiên Huế 1,8% Bệnh sán
lá gan lớn cũng đã bùng phát trên diện rộng và ngày càng có xu hướng gia tăng, trong
đó trên 80% số bệnh nhân bị nhiễm sán lá gan lớn tập trung ở các tỉnh thuộc khu vực miền Trung – Tây Nguyên Năm 2006, cả nước có 3838 bệnh nhân thì khu vực chiếm
tỷ lệ 92,31% Năm 2007, cả nước có 2196 bệnh nhân thì khu vực chiếm tỷ lệ 84,79% Năm 2008, cả nước có 2000 bệnh nhân thì khu vực chiếm tỷ lệ 90,60% (Nguồn: www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 31/7/2009)
Số liệu khảo sát của Viện SR – KST – CTTƯ vào tháng 8/2004, toàn quốc có 27/64 tỉnh, thành có người bị nhiễm sán lá gan Tuy nhiên đến tháng 8/2006, toàn quốc
đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan với 1465 người bị nhiễm (đến bệnh viện)
Trang 31Trong 6 tháng đầu năm 2009, tại phòng khám bệnh của Viện SR – KST – CT Quy Nhơn và các bệnh viện của 10 tỉnh thuộc khu vực miền Trung – Tây Nguyên đã phát hiện, điều trị cho 2500 bệnh nhân sán lá gan lớn, tăng 45% so với cùng kỳ năm
2008 (Nguồn: www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 31/7/2009) Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2009, số bệnh nhân nhiễm sán lá gan lớn ở khu vực miền Trung – Tây nguyên đã cao hơn số bệnh nhân của cả năm 2007, 2008 và gần bằng thời điểm bùng phát bệnh vào năm 2006 Theo thống kê của phòng khám, số bệnh nhân đến điều trị xuất hiện rải rác ở nhiều tỉnh trong khu vực, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai và Khánh Hòa (Nguồn: www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 31/7/2009)
2.5.2 Con đường lây nhiễm sán
Theo những nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Thủy Sản III (2006), không chỉ
cá nước ngọt mà cả cá nước mặn, nước lợ ở Việt Nam cũng mang ký sinh trùng gây bệnh cho người Cá nước ngọt nuôi trong ao hồ lẫn cá sống trong tự nhiên đều có thể
bị nhiễm sán lá như nhau Để có thể gây nhiễm trên người, ấu trùng sán lá cần phải ở một giai đoạn nhất định nào đó trong chu trình tăng trưởng của nó Giai đoạn ấu trùng bắt buộc phải qua 2 kí chủ trung gian đó là ốc và cá Các loài ốc ăn phải trứng sán, trứng sẽ nở ra ấu trùng Miracidium trong ruột ốc Sau đó, ấu trùng Miracidium biến thái qua các giai đoạn ấu trùng Sporocysts – Rediae – Cercariae Cuối cùng, Cercariae được thải vào nước lội tự do đến khi tìm được một loài cá hoặc một loài thực vật nào thích hợp (bèo, ngó sen, ) để kết nang trên đó Trên cá, ấu trùng Cercariae xuyên qua
da và kết thành nang trong thịt cá hoặc ở dưới vẩy cá,… để trở thành ấu trùng Metacercariae Đây là giai đoạn gây nhiễm Khi người ăn phải cá có nang ấu trùng chưa nấu chín sẽ bị nhiễm bệnh sán lá
Thời gian từ lúc ấu trùng vào cơ thể đến khi trưởng thành khoảng 90 ngày Sán trưởng thành sống trong niêm mạc ruột của người, các loài gia súc (trâu, bò, chó, mèo,…) cũng như các loài thủy cầm như các loài chim ăn cá dưới ao Tất cả đều là kí chủ thật sự của sán lá Sán lá trưởng thành chỉ phát triển trong các kí chủ thật sự mà thôi Trong ruột, sán lá trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài, nhiễm vào ao hồ và trở thành Miracidium Chu trình từ người sang ốc, ốc sang cá, cá sang người ít nhất là
3 tháng mới hoàn thành Bệnh này không lây trực tiếp từ người sang người
Trang 322.5.3 Tác hại của sán lá song chủ
2.5.3.1 Tác hại của sán lá song chủ đối với cá
Các loại kí sinh trùng cũng như ấu trùng của chúng kí sinh trên cá gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe của cá Tác hại phụ thuộc vào chủng loại hoặc vị trí kí sinh Thông thường, sán kí sinh trong mắt, mang, hệ tuần hoàn, một số cơ quan quan trọng khác thì gây tác hại lớn hơn như trong hệ tiêu hóa Một số ít loài sán lá song chủ
kí sinh trên cá không gây tác hại lớn, nhưng giai đoạn trưởng thành lại kí sinh trên người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm như bệnh sán lá gan, sán lá ruột ở người (Đỗ Thị Hòa, 2004)
Một số bệnh do sán lá song chủ trên cá thường gặp:
Bệnh ấu trùng sán lá gan ở cá – Clonorchosis: tác nhân gây bệnh cho cá là giai đoạn ấu trùng Metacercaria của sán lá gan Clonorchis, ấu trùng Metacercaria kí sinh
trong mô hay cơ liên kết của cá dưới dạng bào nang tạo ra các nốt sần nhỏ, cá gầy Có
khoảng 10 họ cá nước ngọt bị nhiễm ấu trùng sán lá Clonorchis, riêng họ cá chép có
10 loài Trên thực tế ít gặp cá chết do ấu trùng Clonorchis nhưng có thể làm giảm giá
trị thương phẩm của thịt cá
Bệnh sán máu ở cá – Sanguinicolosis: giai đoạn trưởng thành và trứng của nó
tồn tại trong máu cá, có thể gây tắc mạch máu, làm rối loạn sự hoạt động bình thường của hệ tuần hoàn dẫn đến thiếu máu Trứng sán theo máu đến nằm trong các tổ chức như gan, thận và bị cơ thể tiết ra chất bao lại tại vị trí kí sinh, dẫn đến rối loạn chức năng hoạt động sinh lí bình thường của các cơ quan trọng yếu Ở giai đoạn ấu trùng, chúng thường kí sinh ở gan tụy của động vật thân mềm, gây rối loạn trao đổi chất, ở mật độ cao có thể gây chết Sán Sanguinicola kí sinh gây tác hại ở nhiều loài cá khác nhau và tại các giai đoạn phát triển khác nhau của cá Cá hương bị nhiễm với cường độ cao làm mang phồng lên, tổ chức mang sưng to, cá hô hấp khó khăn, bơi hỗn loạn
Bệnh ấu trùng sán lá ở mắt cá – Diplostomulosis: ấu trùng Metacercaria của
Diplostomulum gây hại chủ yếu trên cá giống Khi cá bị nhiễm bơi lội hỗn loạn, mất thăng bằng, thủy tinh thể đục và dần bị phá hủy, không bắt mồi được và chết
Ngoài ra, còn nhiều loài sán ở dạng ấu trùng hoặc trưởng thành kí sinh trong cơ thể cá để gây bệnh như: bệnh sán lá song chủ Carassotremosis, bệnh sán lá cá
Trang 33Azygirosis, bệnh sưng gan do ấu trùng sán lá gan ở cá Centrocestosis,… ảnh hưởng đến sức khỏe của cá và gây những thiệt hại không nhỏ trong thủy sản
2.5.3.2 Tác hại của sán lá song chủ đối với con người
Theo Nguyễn Văn Đề và ctv (2004), một số loài sán lá song chủ giai đoạn trưởng thành kí sinh ở người và gia súc gây một số bệnh nguy hiểm:
Bệnh sán lá gan – Clonorchiasis: sán lá gan Clonorchis sinensis kí sinh gây tổn
thương gan, lách, tụy, gây tăng sinh tổ chức sơ trong gan, nhất là khoảng cửa, gan có thể to gấp 2 – 3 lần , ống mật dày lên có khi gấp 2 – 3 lần, lách sưng to và sơ hóa đặc
biệt khi nhiễm lâu Sán Clonorchis sinensis có thể gây sỏi mật, xơ gan, ung thư đường
mật, ung thư ống tụy
Bệnh sán lá gan – Opisthorchis felineus: có tính chất gây bệnh, chu kì sống, đường lây nhiễm, chẩn đoán, điều trị và phòng chống tương tự như Clonorchis sinensis Sán lá nhỏ Opisthorchis felineus kí sinh ở ống mật, túi mật và ống tụy chủ
yếu trong gan gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người
WHO ước tính năm 2009 trên toàn thế giới có khoảng 24 triệu người mắc sán lá gan lớn và hơn 108 triệu người có nguy cơ nhiễm (Nguồn: www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 31/7/2009) Số liệu khảo sát của Viện SR – KST – CTTƯ vào tháng 8/2006, toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan lớn và 21 tỉnh thành nhiễm sán lá gan nhỏ
Tính đến cuối tháng 09/2006 toàn quốc có đến 47 tỉnh thành có người mắc bệnh sán lá gan, có thêm Vĩnh Long, Hậu Giang và hiện nay có thêm các tỉnh tại Đồng Bằng Sông Cửu Long như Tiền Giang
Theo Nguyễn Văn Đề (2004), dù chưa ghi nhận trường hợp tử vong do nhiễm sán lá gan, nhưng thời gian qua cũng có một số trường hợp đặc biệt như ký sinh trùng tạo áp xe ở thành bụng, làm chảy máu đường mật mà nếu không được xử trí kịp thời thì tính mạng bệnh nhân có thể bị đe dọa Tình trạng bệnh lý phụ thuộc thời gian mắc bệnh, vị trí ký sinh và phản ứng của người bệnh Khi ấu trùng xuyên qua thành ruột gây xuất huyết và viêm, các tổn thương có thể gây triệu chứng không rõ rệt Sán cư trú
ở tổ chức gan gây nên những thay đổi bệnh lý Ký sinh trùng gây tiêu hủy các tổ chức gan lan rộng với các tổn thương chảy máu và phản ứng viêm, phản ứng miễn dịch Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau hạ sườn phải, sốt, sụt cân, ậm ạch khó tiêu, rối
Trang 34loạn tiêu hoá, đau thượng vị, sẩn ngứa, biểu hiện triệu chứng viêm đường mật, viêm gan thể u Sán có thể di chuyển ra ngoài gan (chui ra khớp gối, dưới da ngực, áp xe đại tràng, áp xe bụng chân, )
Hình 2.4: Phân bố sán lá gan do Viện SR – KST – CTTƯ lập năm 2006
(Nguồn: www.vietnamnet.vn, truy cập ngày 20/4/2009) Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiện các loài sán lá ruột truyền từ cá
sang người thuộc họ Heterophyidae được thu nhận ở nước ta gồm Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui, Haplorchis yokagawai, Stellantchasmus falcatus và Procerovum varium) Tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ truyền qua cá rất khác nhau, phụ thuộc tập quán
ăn thủy hải sản tươi sống (gỏi cá,…) của người dân
1 Hà Giang, 2 Lào Cai, 3 Yên Bái, 4
Tuyên Quang, 5 Sơn La, 6 Hòa Bình, 7
Bắc Giang, 8 Phú Thọ, 9 Thái Nguyên,
10 Bắc Ninh, 11 Vĩnh Phúc, 12 Hà Nội,
13 Hà Tây, 14 Hà Nam, 15 Hưng Yên,
16 Hải Dương, 17 Hải Phòng, 18
Quảng Ninh, 19 Thái Bình, 20 Nam
Định, 21 Ninh Bình, 22 Thanh Hóa, 23
Nghệ An, 24 Hà Tĩnh, 25 Quảng Bình,
26 Quảng Trị, 27 Thừa Thiên – Huế, 28
Thành phố Đà Nẵng, 29 Quảng Nam, 30
Quảng Ngãi, 31 Bình Định, 32 Kon
Tum, 33 Gia Lai, 34 Phú Yên, 35 Đắk
Lắk, 36 Khánh Hòa, 37 Đắk Nông, 38
Ninh Thuận, 39 Bình Thuận, 40 Lâm
Đồng, 41 Đồng Nai, 42 Tây Ninh, 43
Thành phố Hồ Chí Minh, 44 Bà Rịa –
Vũng Tàu, 45 Bến Tre
Trang 35Hình 2.5: Bảng đồ phân bố của sán lá ruột nhỏ trên cả nước năm 2006
(Nguồn: www.fobozopa2.ria1.org)
Khi nhiễm sán lá ruột, ngoài những tổn thương tại ruột là nơi ký sinh của sán, những độc tố tiết ra từ sán sẽ gây rối loạn chung có thể làm phù nề toàn thân, tràn dịch ngoại tâm mạc, biến đổi tổ chức ở lách, tắc ruột Bệnh nhân thường bị thiếu máu, số lượng hồng cầu giảm, bạch cầu toan tính tăng lên Cũng như nhiễm sán lá gan lớn, khi nhiễm sán sau 2 tuần, cơ thể xuất hiện kháng thể kháng sán lá ruột trong huyết thanh của người bệnh (Nguồn: www.impe-qn.org.vn, truy cập ngày 31/7/2009)
Trang 36WHO (2009), thông báo bệnh sán lá phổi có ở 39 nước với trên 22 triệu người nhiễm trên thế giới Bệnh lưu hành nặng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ecuador và Peru Ca bệnh sán lá phổi đầu tiên ở Việt Nam được Monzel thông báo năm 1906 Từ những năm 1916 – 1992 có trên 30 trường hợp người bị nhiễm sán lá phổi được thông báo ở Việt Nam (Nguồn: www.tin247.com, cập nhật ngày 1/4/2009, truy cập ngày 31/7/2009)
Theo Nguyễn Văn Đề (2009), bệnh sán lá phổi đã được xác định tại 10 tỉnh thành tại Việt Nam bao gồm: Yên Bái (10,9%); Lai Châu (6,4 – 7,4%); Sơn La (0,2 – 9,5%); Hoà Bình (3,3 – 11,3%) Một số địa phương của các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ có số người nhiễm bệnh này ít hơn, dưới 3% Nghệ An và Tuyên Quang mỗi địa phương có một bệnh nhân sán lá phổi Bệnh nhân sán lá phổi chủ yếu
là trẻ em (71,7%) Bệnh nhân phát hiện sớm nhất là 1 tháng, bệnh nhân phát hiện muộn nhất là 30 năm Sán ký sinh ở phổi, màng phổi, nhưng cũng có thể ký sinh ở nhiều nơi khác trong cơ thể như não, dưới da, phúc mạc, tinh hoàn, (Nguồn: www.tin247.com, truy cập ngày 31/7/2009)
Trang 37Chương III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm
3.1.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2009 đến tháng 8/2009
3.1.2 Địa điểm
30 hộ tại 3 tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ
Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ, An Thái Trung – Cái Bè – Tiền Giang
3.2 Vật Liệu Nghiên Cứu
• Dụng cụ thu mẫu: vợt lưới, túi nilon
• Dụng cụ nghiền mẫu: cối, chày, cốc đong 250 ml
• Dụng cụ khác: tủ ấm, tủ lạnh, khay nhựa, rây lọc, kéo, cân, đũa thủy tinh, găng tay, khẩu trang
9 Hóa chất:
Dung dịch tiêu cơ (8 ml HCl + 6g Pepsin (1:10000)), nước muối 0,86%
Trang 38Hình 2.6: Phòng thí nghiệm Hình 2.7: Dụng cụ thí nghiệm
Hình 2.8: Hóa chất sử dụng Hình 2.9: Mẫu cá sau khi nghiền
Hình 2.10: Tủ ủ Hình 2.11: Kính sôi nổi
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra kĩ thuật nuôi
Thông qua Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại các huyện Châu Thành
và Cai Lậy (Tiền Giang), Hồng Ngự (Đồng Tháp) và Thốt Nốt (Cần Thơ); chúng tôi tiến hành thành lập danh sách các hộ đang ương nuôi cá tra tại các huyện trên Do các huyện này đang ương nuôi cá tra nhiều nhất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Phương pháp chọn mẫu điều tra: chọn tất cả các hộ trong huyện của tỉnh đang ương nuôi cá tra giống
Trang 39Sau khi chọn địa điểm, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng điều tra
3.3.2 Phương pháp phân tích mẫu
Thu mẫu ngẫu nhiên 30 cá giống tại mỗi hộ điều tra (cá trên 4 tuần tuổi)
3.3.2.1 Phương pháp tiêu cơ
Ưu điểm của phương pháp:
9 Có thể làm với số lượng mẫu lớn
9 Metacercariae có thể được tách và thu thập
9 Có số lượng Metacercariae chính xác để chuẩn bị cho thí nghiệm cảm nhiễm
9 Hình thái học đẹp và làm dẫn chứng tốt cho việc định loài
3 Cho vào cốc đựng mẫu dung dịch tiêu cơ (8 ml HCl + 6 g Pepsin (1:10000) trong 1 lít nước cất), nên cho dung dịch ngập quá 1/3 thể tích của mẫu cá
4 Khi thấy mẫu cá mềm thì nghiền mẫu bằng cối, chày sứ Dùng dung dịch tiêu
cơ, nước cất để tráng lại chày cối, sau mỗi lần nghiền thì rửa lại bằng nước sạch
5 Ủ mẫu trong tủ ấm 37,50C trong 2 – 3 giờ
6 Lọc mẫu: lắc đều, rót hỗn hợp qua lưới lọc có mắt lưới 1 x 1 mm và rửa sạch bằng nước muối sinh lí 0,86%, để lắng cho đến khi phần cặn lắng xuống đáy cốc
7 Loại bỏ phần cặn nổi một cách nhẹ nhàng và giữ lại phần lắng cặn ở đáy (khoảng 50%)
Trang 408 Lặp lại 1 – 8 lần (tùy theo trọng lượng cá là lớn hay nhỏ) cho đến khi chất lắng trở nên trong nhìn thấy đáy cốc là được
9 Chuyển chất lắng vào đĩa petri Xoay nhẹ đĩa petri bằng tay sao cho các chất lắng tập trung vào giữa Dùng pipette loại bỏ phần nhẹ nổi trên mặt Nếu cặn nhiều thì dùng kim tiêm gạt ra để dễ quan sát
10 Quan sát dưới kính soi nổi và định loại Metacercariae trên kính hiển vi, độ phóng đại phù hợp là (x 40)
11 Khi nhìn thấy Metacercariae thì đếm, tách riêng Metacercariae của mỗi loài sán và đặt trong 1 đĩa petri nhỏ
12 Bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh
Nhận dạng và phân loại Metacercariae dựa vào khóa phân loại của Murrell và ctv (2004) Phân loại: quan sát dưới kính sôi nổi, chọn lọc và tách riêng Metacercariae giống nhau, di chuyển Metacercariae vào lame kính, đậy lamelle để xem hình thái trên kính hiển vi Nhận dạng ấu trùng Metacercariae đặc điểm hình thái dựa vào dạng nang,
bề dày thành nang có 1 hay 2 lớp, có điểm mắt hay không, có 1 hay 3 điểm mắt, cách thể hiện và kích thước giác bám, bao nhiêu móc bám xung quanh giác bám miệng, hình dạng cơ quan bài tiết, bao nhiêu hạt trong hệ thống bài tiết, cơ quan sinh sản
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Các số liệu được phân tích và xử lí thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel 2003
Công thức tính tỉ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm: