NNPQ là một hình thức tổ chức NN với sự phân công lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, NN được tổ chức và hoạt động trên [r]
Trang 1Câu 5
Điều 2 HP 1992, SĐ, BS quy định: “” NNCHXHCNVN là NNPQ của dân, do dân, vì dân” Anh, chị hãy lý giải:
- NNPQ là gì?
- So sánh NNPQ nói chung với khái niệm NNPQXHCNVN nói riêng?
- Tại sao phải XD và HTNNPQXHCN? Phương hướng hoàn thiện BMNN theo hướng pháp quyền là gì?
Trả lời:
1 Khái niệm về nhà nước pháp quyền:
Xu hướng chung của các quốc gia trong thế giới hiện đại là xây dựng NNPQ Xây dựng NNPQ trở thành một đòi hỏi cấp bách của NNVN hiện nay trên con đường hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước
Các yếu tố cấu thành NNPQ là rất khác nhau theo các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học Nhưng điểm chung nhất được nhiều người thừa nhận trước hết NN đó phải là một
NN hợp pháp, sau đấy là NN đó phải có HP, phải có PL vì con người, việc tổ chức quyền lực NN phải tuân theo nguyên tắc phân quyền
NNPQ là một hình thức tổ chức NN với sự phân công lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, NN được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở PL, NN quản lý xã hội bằng PL, PL có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người.
2 So sánh các đặc trưng của NNPQ nói chung và NNPQXHCNVN nói riêng:
a) Những đặc điểm chung của NNPQ
Trên cách hiểu phổ quát nhất, NNPQ được thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tổ chức NN được thiết kế, hoạt động trên cơ sở PL, bản thân NN cũng phải đặt mình trong khuôn khổ PL Hình thức tổ chức NN được xây dựng trên cơ sở của sự phân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong BMNN: lập pháp, hành pháp và tư pháp
Thứ hai, một hình thức tổ chức NN mà PL có vị trí, vai trò xã hội to lớn, là phương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu đối với các quan hệ xã hội, là công cụ của nhà nứơc và toàn xã hội Thứ ba, PL trong NNPQ phải thực sự vì con người-giá trị cao quý nhất Theo đó PL là công cụ ghi nhận các quyền con người, quy định cơ chế bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân.Tuân thủ PL là nghĩa vụ của NN, cá nhân và tổ chức, không có ngoại lệ nào Xây dựng NNPQ là một tất yếu khách quan ở nước ta Đường lối xây dựng NNPQ VN XHCN đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của ĐCSVN xác định: " NN là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ chủ yếu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là NNPQ của dân, do dân, vì dân"
Thể chế hoá tinh thần, nội dung trên của Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Điều 2 HP năm 1992 ( đã được sửa đỏi, bổ sung năm 2001) quy định: " NN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức…"
b Những đặc điểm riêng của NNPQ VN
Thứ nhất, quyền lực NN ở VN không phân chia mà là phân công và phối hợp giữa các CQNN thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
NNPQ XHCN VN bảo đảm quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực NN
+ Quốc hội thực hiện quyền lập pháp
Trang 2+ CP thực hiện quyền hành pháp
+ Tòa án và viện kiểm sát thực hiện quyền tư pháp
Thứ hai, NNPQ XHCN VN là NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Cái gốc của chế độ NNPQ là xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân Quyền lực NN phải là sản phẩm của ý chí nhân dân
+ Bằng quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu nhân dân ta bầu ra cơ quan đại biểu cao nhất của mình
là Quốc hội Quốc hội thay mặt nhân dân ban hành HP qua đó phân công thực hiện các quyền cho các cơ quan nhà nước khác
+ Khẳng định quyền lực NN thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong HP mà còn gắn liền với với việc thiết lập các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân
- Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên NN của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của NN, cũng như vào các hoạt động thuộc phạm vi của NN – hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý – điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ PL
- Là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viên là những tổ chức để qua đó nhân dân ta “tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng
NN chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân (…), giám sát hoạt động của CQNN, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức NN (Điều 9 HP)
- Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với CQNN (…) chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác, tham gia QLNN và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của CQNN…” (Điều 10 HP) Thay mặt cho các tổ chức của mình, Chủ tịch uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
VN, Tổng liên đoàn lao động VN và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của CP khi bàn các vấn đề có liên quan (Điều 111 HP) Đến lượt mình, CP có trách nhiệm hiến định là phối hợp với các tổ chức đó trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả (Điều 112 HP)
- Cá nhân công dân, song song với việc tham gia vào các hoạt động của NN với tư cách là thành viên của các tổ chức chính trị – xã hội, còn tham gia công việc của NN và xã hội ở cơ sở trong các hoạt động đa dạng nhằm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng (Điều 11 HP) Trong các phạm vi khác nhau của hoạt động NN, PL cũng đã tạo ra những điều kiện về mặt pháp
lý để thu hút sự tham gia rộng rãi và sự đóng góp tích cực của công dân Đó là dân chủ XHCN trong hiện thực
+ Hiệu quả của chính quyền, của cả hệ thống chính trị của chúng ta hiện nay là đẩy tới sự nghiệp đổi mới, làm cho đất nước ta không ngừng phát triển, mà trước hết là lấy kết quả phát triển CNH, HDH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm mục tiêu tổ chức và HD Thứ ba, NNPQ XHCN VN là NN do ĐCSVN lãnh đạo
+ Trong hệ thống chính trị VN ĐCSVN là một bộ phận hợp thành, vừa là tổ chức lãnh đạo hệ thống ấy Lịch sử của Đảng ta là lịch sử của một Đảng cách mạng gắn bó máu thịt với nhân dân Đảng ở trong lòng dân, từ nhân dân mà ra và hoạt động không vì mục đích nào khác ngoài việc phục vụ lợi ích của nhân dân Đảng hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình nhờ sự ủng hộ của nhân dân, đi đúng đường lối phục vụ nhân dân
+ Lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trước dân tộc, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới,
tự chỉnh đốn, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
+ Đảng phải thường xuyên duy trì tốt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Cụ thể:
Trang 3Thứ nhất, Đảng tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân là để lấy các ý kiến đó làm cở sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương đúng đắn của mình
Thứ hai, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách tốt thì Đảng chỉ có thể đưa đường lối, chủ trương, chính sách đó vào cuộc sống nếu được sự tiếp nhận và tự giác thực hiện từ phía nhân dân,
từ đó mới có thể huy động được đông đảo nhân dân tham gia thực hiện bằng nhân tài, vật lực của chính nhân dân – nguồn lực nội sinh của sức mạnh kiểm tra, sự sáng tạo của nhân dân
Thứ ba, sự liên hệ mật thiết với nhân dân giúp cho Đảng có thể dựa vào dân để tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng ta và đội ngũ đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh
3 - Tại sao nước ta phải xây dựng NNPQ XHCN? Phương hướng hoàn thiện BMNN ta theo hướng pháp quyền.
Việc xây dựng NNPQ, về cơ bản chính là yêu cầu, đòi hỏi đối với việc hoàn thiện phương thức tổ chức quyền lực NN để đáp ứng các tiêu chí của nền dân chủ XHCN
Việc xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi chủ yếu sau đây:
1 Nhu cầu về việc phát huy bản chất XHCN duy trì và phát huy bản chất tốt đẹp của NN XHCN
và hệ thống chính trị XHCN, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của tất cả các khâu trong hệ thống chính trị; đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch bộ máy Đảng và NN;
2 Thúc đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế – xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
3 Tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do của con người, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
4 Những quan điểm cơ bản về xây dựng NNPQ VN XHCN
Việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền lực NN thuộc về nhân dân Quan niệm này thể hiện bản chất NN ta và đã được xác định trong HP 1992 (sửa đổi năm 2001):"NN Cộng hoà XHCNVN là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức"
Nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân được thể hiện trong tổ chức và hoạt động, trong chính sách và PL NN ta Nhà nứơc ta do nhân dân thành lập, do nhân dân kiểm tra, giám sát Mục tiêu cao nhất của NN là phục vụ lợi ích của nhân dân Vì thế, trong quá trình xây dựng NNPQ VN XHCN cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Quyền lực NN thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Thứ hai, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với NN
Thứ ba, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các CQNN
Thứ tư, tăng cường pháp chế XHCN, NN quản lý xã hội bằng PL, đồng thời giáo dục nâng cao đạo đức
5 Những phương hướng cơ bản để xây dựng NNPQ VN XHCN
Xây dựng NNPQ là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, khó khăn, phức tạp Những nhiệm vụ và phương hướng cơ bản về xây dựng NNPQ liên quan đến nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội, NN và PL Nghĩa là không chỉ quan tâm đến cải cách BMNN hay sửa sang, hoàn thiện PL…mà phải tiến hành đồng bộ nhiều phương hướng hoạt động để tạo tiền đề vững chắc cho hiện thực NNPQ ở nước ta Về tổng thể, có thể nêu ra những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hoàn thiện NN Cộng hoà XHCN VN;
- Hoàn thiện hệ thống PL;
- Xây dựng ý thức, lối sống tuân thủ PL, xây dựng nền văn hoá pháp lý;
- Thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội của đất nước;
- Bảo đảm và bảo vệ các quyền con người;
- Đôỉ mới hệ thống chính trị;
Trang 4- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Phát huy nội lực, chủ động tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Từ góc độ pháp lý, những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản về xây dựng NNPQ tập trung nhất vào NN, PL, dân chủ, quyền con người, hệ thống chính trị
Cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện NN Cộng hoà XHCN VN, tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách BMNN Công cuộc cải cách lớn về BMNN thời gian qua đã đạt được một số thành tựu to lớn theo định hướng xây dựng NNPQ XHCN Tuy vậy, trước yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước và tình hình quốc tế hiện nay, tổ chức và hoạt động của BMNN còn nhiều yếu kém, bất cập Do vậy, tiếp tục công cuộc cải cách NN là một trong những nhiệm vụ chiến lược chủ yếu để xây dựng NNPQ, phát huy dân chủ XHCN
Thứ hai, đổi mới hoạt động của Quốc hội
Thời gian qua hoạt động của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dạng PL Chất lượng của các luật, pháp lệnh đã được nâng cao, đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá; ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy vậy, so với yêu cầu NNPQ, cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trên một số lĩnh vực quan trọng như sau:
- Đôỉ mới về tổ chức bộ máy ( về đại biểu Quốc hội, về các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội…)
- Đôỉ mới nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và thực hiện chương trình xây dựng PL, pháp lệnh Nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, thẩm tra, thảo luận các dự án luật, pháp lệnh Thực hiện dân chủ hoá rộng rãi trong hoạt động lập pháp, đổi mới cơ chế lấy ý kiến của nhân dân về dự án luật, pháp lệnh Hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội nhằm bảo đảm tính khách quan, phổ thông, dễ hiểu, dễ vận của các VBQPPL Gỉam dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung muốn thực hiện được phải có văn bản hướng dẫn thi hành
- Cải tiến chất lượng kỳ họp của Quốc hội, tăng cường năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội, tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách
- Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần xác định rõ ràng, về nội dung giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, CP, Thủ tướng CP, Toà án nhân dân tối cao, VKSND tối cao Đồng thời đổi mới phương thức giám sát, xác định hậu quả pháp lý của giám sát tối cao
Thứ ba, thực hiện cải cách NHCQG
Cải cách NHCQG là khâu trọng tâm của toàn bộ công cuộc cải cách BMNN đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ Trong đó, cải cách thủ tục hành chính được xác định là khâu đột phá Mục tiêu đặt
ra cho cải cách hành chính xét về tổng thể là nhằm chuyển từ một nền hành chính trì trệ, nhiều tầng, nhiều nấc, thủ tục hành chính phức tạp, không thuận tiện cho ngời dân sang một nền hành chính gọn nhẹ, trong sạch, hiệu quả, phục vụ những nhu cầu của người dân và xã hội một cách tốt nhất
Thực hiện cải cách hành chính trên cả ba mặt: cải cách thể chế hành chính với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, cải cách cơ cấu, tổ chức và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; hoàn thiện chế độ công vụ và quy chế công chức NN Tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, thực hiện có hiệu qủa cơ chế " một cửa", tin học hoá các hoạt động quản lý hành chính
Để có một nền hành chính năng động, hiệu qủa, tinh gọn, cần phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của CP, sắp xếp , thu gọn các đầu mối của CP Đổi mới hoạt động của CP theo hướng
Trang 5CP tập trung vào việc xây dựng chính sách, các thể chế, hoạch định chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội, chỉ đạo và điều hành phối hợp các ngành, các cấp thực thi chính sách, PL
Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền điạ phương, đẩy mạnh phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động, chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với mọi mặt đời sống xã hội tại địa phương Tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Tổ chức hợp lý HĐND, tăng cường vai trò của HĐND tại địa phương Kiện toàn các cơ quan chuyên môn của UBND và bộ máy chính quyền cấp xã
Trong nền hành chính, yếu tố con người là khâu then chốt Cần xây dựng quy chế hoạt động công
vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ Thực hiện thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng thực hành chuyên môn của đôị ngũ cán bộ Xây dựng cho đội ngũ cán bộ NN thói quen tuân thủ PL, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, công tâm trong việc giải quyết công việc đối với người dân, chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định và hành vi của mình
Thứ tư, thực hiện cải cách tư pháp
Trong NNPQ và một xã hội công dân phát triển lành mạnh, vai trò của bộ máy tư pháp đặc biệt quan trọng Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49-NQ/TƯ năm 2005
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cải cách tư pháp cần được tiến hành trong tổng thể cải cách của BMNN, cải cách hành chính Nôị dung và các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư pháp ở nước ta tập trung vào những lĩnh vực hoạt động sau:
- Xây dựng các cơ quan tư pháp vững mạnh, trong sạch, từng bước hiện đại hoá Hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm: các Toà án nhân dân, các VKSND, các cơ quan điều tra; tổ chức luật sư, công chứng, giám định tư pháp và các chức danh tư pháp như thẩm phán, luật sư, công chứng viên, giám định viên…
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, gíam định, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động tư pháp khác
TC lại CQ điều tra, thi hành án theo nguyên tắc thu gọn đầu mối, thành lập cảnh sát tư pháp
- Đảm bảo nguyên tắc độc lập khi xét xử chỉ tuân theo PL của thẩm phán, hội thẩm nhân dân và một số hoạt động tư pháp khác như điều tra, truy tố Để nâng cao tính độc lập của hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như kiện toàn cơ cấu, tổ chức, cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, hoàn thiện các quy định PL; đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao đạo đức nghề nghiệp…
- Các hoạt động tư pháp phải đảm bảo tính dân chủ, giản tiện, minh bạch và hiệu quả Hoạt động
tư pháp phải thực sự baỏ vệ được các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
- Xử lý nghiêm minh, đúng PL, công bằng, kịp thời mọi hành vi vi phạm PL, giảm đến mức thấp nhất tình trạng oan, sai, tồn đọng các vụ việc
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống PL
Hoàn thiện hệ thống PL theo tiêu chí NNPQ là vấn đề rộng lớn, liên quan đến các lĩnh vực xây dựng PL, tổ chức thực hiện PL, phổ biến, giáo dục PL, xây dựng ý thức PL và văn hoá pháp lý Trong xây dựng PL cần chú ý đảm bảo cả về số lượng vầ chất lượng các văn bản PL, cả PL về nội dung và PL về thủ tục Hoàn thiện hệ thống PL theo hướng bảo đảm tính công bằng, minh bạch, tính khả thi của các quy định, tính đồng bộ và thống nhất của các văn bản, tính phù hợp giữa luật với các hình thức điều chỉnh khác Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa PL quốc gia với PL và thông lệ quốc tế
Xây dựng chiến lược phát triển khung PL nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi, an toàn cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng hợp tác phát triển, cạnh tranh lành mạnh
Xây dựng khung PL phục vụ chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đảm bảo sự ghi nhận
về nội dung và cơ chế thực thi các quyền, lợi ích chính đáng của công dân
Trang 6Tổ chức thực hiện PL, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động áp dụng PL của các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, xây dựng môi trường xã hội- pháp lý thuận lợi cho những hành vi hợp pháp Đảm bảo thực hiện tính tối cao của luật Trong hệ thống PL, các đạo luật phải chiếm ưu thế, điều
đó phản ánh tính tối cao của quyền lực nhân dân bởi các đạo luật được cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ban hành, quy định những vấn đề quan trọng, cơ bản của xã hội
Đảm bảo tính minh bạch, công khai của PL, NN phải đáp ứng nhu cầu thông tin về PL, về các hoạt động thực tiễn pháp lý cho cá nhân và tổ chức Cần triển khai chiến lược xây dựng ý thức PL
và thực thi PL của các tầng lớp nhân dân
Thứ sáu, đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội
Công cuộc cải cách BMNN ta trong giai đoạn hiện nay phải được tiến hành song song, đồng bộ với việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị theo hướng xây dựng NNPQ VN XHCN
- ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo NN và xã hội Xây dựng NNPQ không thể tách rời với việc đổi mới hệ thống chính trị Trước hết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng, nâng cao via trò, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với NN và xã hội
- Tổ chức chính trị-xã hội là nơi triển khai thực hiện chính sách của Đảng, PL của NN Vì vậy, các tổ chức chính trị- xã hội phải có bước đổi mới về cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động để góp phần vào việc xây dựng thành công NNPQ
- Dân chủ vừa là yếu tố cấu thành của NNPQ, vừa là mục tiêu vừa là động lực của NNPQ Dân chủ còn là điều kiện cho sự tồn tại của NNPQ Do đó, để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng NNPQ, cần thực hiện dân chủ hoá sâu sắc mọi mặt của đời sống NN, PL, xã hội Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng sự đồng thuận xã hội./