M t s bi n ph p n ng cao kh n ng c nh tranh h ng d t kim trong ho t ng xu t kh u c a c ng ty D t Kim ng Xu n tài liệu, g...
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ
án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về
luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt kim trong hoạt động xuất khẩu củacông ty Dệt Kim Đông Xuân
Trang 2MỞ ĐẦU
Sau hơn 10 năm chuyển đổi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ cơchế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa Nhà Nước, đó là sự chuyển hướng chiến lược và là bước ngoặt cơ bản đưa nền kinh tếnước ta thoát khỏi khủng hoảng đứng vững vươn lên Cho đến nay nền kinh tế nước ta đã đidần vào thế ổn định và phát triển
Hoạt động trong cơ chế thị trường tất cả các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp đều phải đượcgiải quyết trên thị trường Tất cả các mục tiêu, chiến lược kinh doanh nói chung và chiếnlược cạnh tranh nói riêng đều được định hướng thông qua thị trường, thị trường là nơi thửnghiệm sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh xuất nhập khẩu khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hoạt động xuất khẩu lànhân tố sống còn của doanh nghiệp Song để cạnh tranh trên thị trường là vấn đề khônghoàn toàn đơn giản do có sự tác động mạnh mẽ và rộng lớn của nhiều nhân tố khác nhau.Hơn nữa để cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thế giới như hiện nay là vô cùng khó khăn,nhất là cạnh tranh trong ngành dệt may nói chung và mặt hàng dệt kim nói riêng, do ngàycàng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này, khoa học công nghệ ngày càng pháttriển làm cho vòng đời công nghệ của sản phẩm bị rút ngắn càng gây sức ép cho các doanhnghiệp muốn đứng vững được trên thị trường kinh doanh, giữa các quốc gia lại có sự khácbiệt về luật pháp, cách sống, văn hoá và sự nhận thức của khách hàng những yếu tố nàyluôn vây quanh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp phải cónhững biện pháp để ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình
Đứng trước tình hình đó, các doanh nghiệp đều cố gắng tìm ra các biện pháp để nâng caokhả năng của mình Một trong những biện pháp đó không ngừng nâng cao chất lượng hànghoá, giảm giá thành sản phẩm đến mức hợp lý với chất lượng cải tiến, đa dạng hoá nhiềumặt hàng Để làm được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp đầu tư vào máy móc, thiết bị,nâng cao hàm lượng chất xám chứa trong sản phẩm Công tác này đã được các công ty chú
ý nhất là từ khi có chiến lược tăng tốc của Tổng công ty dệt may Việt Nam
Trang 3Nằm trong tình trạng chung đó, khả năng cạnh tranh của công ty Dệt Kim Đông Xuân cònmột số vấn đề cần được nâng cao Chính vì vậy, một số biện pháp nâng cao khả năng cạnhtranh mặt hàng dệt kim trong hoạt động xuất khẩu cũng là mối quan tâm của Ban lãnh đạocông ty Dệt Kim Đông Xuân - một doanh nghiệp dệt may đầu tiên có sản phẩm xuất khẩuđược cấp dấu "Chất lượng cao" của Việt Nam.
Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại công ty với mục đích hệ thống hoá và củng cốkiến thức đã được tiếp thu, áp dụng vào thực tiễn em đã quyết định chọn đề tài: "Một sốbiện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt kim trong hoạt động xuất khẩu của công
ty Dệt Kim Đông Xuân"
Do đề tài mang tính thực tế cao, thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nênkhông tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp củaThầy Cô giáo, các Cô Chú, trong công ty Dệt Kim Đông Xuân để bản báo cáo của em đượchoàn thiện
Kết cấu của bản báo cáo gồm 3 phần chính:
Chương 1: Những vấn đề về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty Dệt Kim Đông
Xuân
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng dệt kim trong hoạtđộng xuất khẩu tại công ty Dệt Kim Đông Xuân
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
I KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH
1.1 Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, trao đổi hàng hoá cũng sớm phát triển, tuy nhiên chỉđến khi xuất hiện trao đổi thông qua vật ngang giá là tiền tệ thì cạnh tranh mới xuất hiện, vàcạnh tranh đặc biệt phát triển trong nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa mà theo Mácnguyên nhân của nó là sự ganh đua, sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giànhgiật những thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch
Vì vậy khi nghiên cứu sâu về tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã pháthiện ra quy luật cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận và qua đó
đã hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giátrị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán được hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫnthu được lợi nhuận Và ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vẫn là một điềukiện và yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển,tăng năng suất lao động và sự phát triển của xã hội nói chung
Như vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá, trong cơ chế vậnđộng của thị trường, hay có thể nói, thị trường là một vũ đài thực sự của cạnh tranh, là nơigặp gỡ của các đối thủ mà kết quả của cuộc đua tài sẽ là sự tồn tại và phát triển của nhữngdoanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao
Trang 5Cuối cùng, ta có thể hiểu: "cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các đối thủthể hiện trên thị trường nhằm giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và là nơi tiêu thụhàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển".
Ngày nay, người ta tính toán rằng, tỷ lệ lợi nhuận đạt được ít nhất phải bằng tỷ lệ cho việcđầu tư cho những mục tiêu của doanh nghiệp Vì vậy, nếu một doanh nghiệp tham gia thịtrường mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu thì sẽ không thể tồntại được Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải là một quá trình lâu dài,nếu không muốn nói vĩnh viễn như là quá trình duy trì sự sống
1.2 Vai trò của cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh
Như phần trên chúng ta đề cập, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tếhàng hoá, đảm bảo cho việc tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sởhữu Trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường nói riêng thì các doanhnghiệp luôn tìm cách đưa ra các biện pháp hữu hiệu để duy trì chỗ đứng trên thị trường vàsau đó là nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để không ngừng đưa doanh nghiệp pháttriển và lớn mạnh Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thường xuyên cố gắng
để tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó đạt được mục đích cuối cùng củamình là thu được lợi nhuận
Khi sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thuđược được xác định theo công thức như sau:
= P.Q - C.Q
Trong đó: : Lợi nhuận của doanh nghiệp
P: Giá cả của hàng hoá
Q: Lượng hàng hoá bán được
C: Chi phí cho một đơn vị hàng hoá
Theo công thức trên thì để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có thể có các biện phápsau: tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để đạt được mục tiêu này doanh
Trang 6nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường băng cách áp dụng các tiến bộ củakhoa học công nghệ, các phương pháp sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra cho sản phẩm
có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, kiểu dáng đa dạng, phong phú và quan trọng là ít tốn kémchi phí nhất Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng cần có các chiến lược marketing thích hợp
để quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình đến khách hàng, giúp họ nắm bắt được các thôngtin quan trọng, cần thiết về sản phẩm như: đặc tính của sản phẩm, tính chất và những điềukiện sử dụng của sản phẩm và cả những dịch vụ kèm theo của sản phẩm
Trong thực tế chỉ trong một nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh mẽ, thì các doanh nghiệpmới có sự đầu tư thích hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, từ đó sản phẩm hànghoá mới được cải tiến về chất lượng, mẫu mã, giá cả Đây là vấn đề quan trọng đối với cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh và đặc biệt quan trọng hơn cả đối với những doanhnghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu
Từ những phân tích trên đây chúng ta dễ nhận thấy hàng hoá có chất lượng ngày càng tốt,mẫu mã ngày càng phong phú, đa dạng, đẹp và hấp dẫn hơn, đáp ứng được mọi yêu cầu củangười tiêu dùng trong xã hội Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọncác sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình Những lợi ích mà họ thu được từhàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ cócác dịch vụ trước, trong và sau khi bán được quan tâm nhiều hơn Đây chính những lànhững lợi ích mà người tiêu dùng có được từ cạnh tranh đem lại
Cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nước Vì để tồn tại vàphát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu áp dụngnhững thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đấtnước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao Ngày càng nhiều các doanh nghiệptham gia vào nền kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau như: tư nhân, trách nhiệm hữuhạn làm đa dạng các thành phần kinh tế đất nước Và đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnhtranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêudùng có thể lựa chọn được sản phẩm tốt, có chất lượng cao, giá rẻ
Ngoài ra, nói đến cạnh tranh là nói đến tính sống còn, gay gắt và cạnh tranh trên thị trườngquốc tế thì mức độ gay gắt và khốc liệt là hơn nhiều Hiện nay trên thị trường quốc tế có
Trang 7nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đãtạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, điều này không cho phép các doanh nghiệp hànhđộng theo ý muốn của mình mà không quan tâm đến nhu cầu thị trường và khả năng cạnhtranh của mình theo hai xu hướng: tăng chất lượng sản phẩm và hạ chi phí sản xuất Để cóđược điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nướcmình, từ đó tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọngđầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuậtvào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Những điều này
sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho mỗi quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để chosản xuất, trình độ khoa học công nghệ của đất nước không ngừng được cải thiện
Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lýgiữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của xã hội, cạnh tranh còn tạo ra môi trường tốtcho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt nàykhông phải bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không
có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốtnhững tiềm lực của mình Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế,thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanhnghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy kinh tế xã hội pháttriển
Tóm lại cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như từngdoanh nghiệp
Công ty Dệt Kim Đông Xuân là một công ty Nhà nước trực thuộc Tổng công ty dệt mayViệt Nam, hoạt động trong một lĩnh vực có nhiều doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực.Nếu nói riêng về lĩnh vực dệt kim thì trong nước cũng có đến năm doanh nghiệp cũng thamgia vào lĩnh vực này Đó là các doanh nghiệp: Dệt kim Hà Nội, dệt kim Thắng Lợi, dệt kimHoàng Thuỵ Loan ngoài ra còn có những doanh nghiệp nước ngoài có trình độ công nghệcao, kinh nghiệm lâu năm Chính vì vậy, công ty Dệt Kim Đông Xuân muốn tiếp tục tồn tại
và phát triển trong lĩnh vực sản xuất hàng dệt kim là một điều vô cùng khó khán, khốc liệt
Do đó công luôn phải chủ động trong việc tạo nguồn hàng sao cho đảm bảo tốt nhu cầu của
Trang 8khách hàng, chủ động trong việc giữ khách hàng cũ, tìm kiếm khách hàng mới, công tácnghiên cứu thị trường bắt đầu được chú ý, tham gia nhiều hội chợ triển lãm trong và ngoàinước nhằm giới thiệu, cung cấp những thông tin cần thiết quan trọng cho khách hàng Sựtín nhiệm của khách hàng và vị thế của công ty Dệt Kim Đông Xuân ngày càng được nângcao cũng là do cạnh tranh hàng hoá mà có được.
1.3 Các loại hình cạnh tranh
a Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻbán đắt Vì trên thị trường người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất nhưngngười mua lại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất có thể Giá cả cuối cùng là giá cả đượcthống nhất giữa người bán và người mua sau một quá trình mặc cả với nhau
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: là một cuộc cạnh tranh dựa trên sự cạnhtranh mua Khi số lượng hàng hoá bán ra (tức lượng cung) nhỏ hơn nhu cầu cần mua củangười mua (tức là lượng cầu) nghĩa là xảy ra sự khan hiếm hàng hoá thì cuộc cạnh tranh trởnên quyết liệt, giá cả sẽ tăng lên vì người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua đượchàng hoá cần mua
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệpvới nhau, họ thủ tiêu lẫn nhau để giành khách hàng và thị trường, cuộc cạnh tranh này dẫnđến giá cả hạ xuống và có lợi cho thị trường Trong khi đó các doanh nghiệp khi tham giathị trường không chịu được sức ép sẽ phải bỏ thị trường, nhường thị phần của mình cho cácdoanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn
b Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế thì cạnh tranh bao gồm:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùngmột ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để
Trang 9thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị của hàng hoá cá biệt do doanh nghiệp sản xuất ra nhỏhơn giá trị xã hội Kết quả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minhgiữa các doanh nghiệp trong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất Trongquá trình này xuất hiện sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau,kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
c Căn cứ vào mức độ cạnh tranh, gồm có:
- Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán vàkhông người nào có ưu thế để cung cấp một số lượng sản phẩm quan trọng mà có thể ảnhhưởng tới giá cả Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sựkhác biệt về quy cách, phẩm chất, mẫu mã Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cáchthích ứng với giá cả thị trường, họ chủ yều tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sảnphẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là cuộc cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm của
họ không đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau Mỗi nhãnhiệu đều mang hình ảnh hay uy tín độc đáo với người mua do sản phẩm là không đáng kể.Người bán có uy tín độc đáo với người mua do nhiều lý do khác nhau như khách hàng quenthuộc, gây được lòng tin người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như:quảng cáo cung cấp dịch vụ, sử dụng tín dụng ưu đãi trong giá cả đây là loại hình cạnhtranh phổ biến hiện trong xã hội hiện nay
- Cạnh tranh độc quyền: là cạnh tranh trên thị trường ở đó chỉ có một số người bán sảnphẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không độc nhất Họ có thể kiểmsoát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thị trường Thị trường có
sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Điềukiện ra nhập hoặc rút khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều cản trở: do vốn đầu tưlớn hay do độc quyền bí quyết công nghệ Trong thị trường này không có cạnh tranh giá cả
Trang 10mà một số người bán toàn quyền quyết định giá Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơntuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm, miễn là họ thu được lợi nhuận tối đa.
d Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh:
- Cạnh tranh lành mạnh: là cuộc cạnh tranh mà các chủ thể tham gia kinh doanh trên thịtrường dùng chính tiềm năng, nội lực của mình để cạnh tranh với các đối thủ Những nội lực
đó là khả năng tài chính, khả năng nhân lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về uy tín, hìnhảnh của công ty Trên thị trường hay của tất cả những gì tựu chung trong hàng hoá bao gồm
cả hàng hoá cứng (tức hàng hoá hiện vật) và hàng hoá mềm (tức hàng hoá dịch vụ)
- Cạnh tranh không lành mạnh: là cuộc cạnh tranh không bằng chính nội lực của công ty
mà dùng những thủ đoạn, mánh lới, mưu mẹo nhằm cạnh tranh một cách không công khaithông qua việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Nhà Nước yêu cầu và luồn lách qua những kẽ hởcủa pháp luật
2 MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG CỦA MICHAEL PORTER TRONG CẠNH TRANH
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường cũngđều phải chịu một áp lực cạnh tranh nhất định, mà hiện trạng cuộc cạnh tranh phụ thuộc vào
5 lực lượng cạnh tranh cơ bản được biểu diễn theo mô hình sau:
Nguy cơ đe doạ từ những ngườimới vào cuộc
Quyền lực
thương lượng
C C ÁC ĐỐI THỦ TIỀM ĐỐI THỦ TIỀM I TH TI M Ủ TIỀM ỀM
N NG ĂNG
C C ÁC ĐỐI THỦ TIỀM ĐỐI THỦ TIỀM I TH C NH TRANH TRONG Ủ TIỀM ẠNH TRANH TRONG
NG NH CU ÀNH CUỘC CẠNH TRANH GIỮA CÁC ỘC CẠNH TRANH GIỮA CÁC C C NH TRANH GI ẠNH TRANH TRONG ỮA CÁC A C C ÁC ĐỐI THỦ TIỀM
Trang 11ứng củangười mua
Nguy cơ đe doạ từ những sản phẩm thay thế
Hình 1: Mô hình 5 lực lượng của Michael Porter
Mô hình 5 lực lượng của Michael Porter được nhiều nhà phân tích vận đụng để đánh giá khảnăng cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành công nghiệp
* Nguy cơ đe doạ từ những người mới vào cuộc:
Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường những có khả năng mởrộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường của các doanh nghiệp khác Để hạn chế mối đe doạ này,các nhà quản lý thường dựng lên các hàng rào như:
- Mở rộng khối lượng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi phí
* Quyền lực thương lượng của người cung ứng:
Người cung ứng có thể chi phối đến doanh nghiệp là do sự thống trị hoặc khả năng độcquyền của một số ít nhà cung ứng Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất do tầm quantrọng của các sản phẩm được cung ứng, do đặc tính khác biệt hoá cao độ của người cung
S N PH M THAY ẢN PHẨM THAY ẨM THAY THẾ
Trang 12ứng với người sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phẩm mà nhà sản xuất phải chấpnhận và tiến hành, do liên kết của những người cung ứng gây ra
Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng đóng vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật liệu Khidoanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng quốc tế đóngvai trò quan trọng Mặc dù, có thể có sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp
có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất thì quyền lực thương lượng của nhà cung ứng bị hạnchế vẫn không đáng kể Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệptrước khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanhnghiệp phải biến được quyền lực thương lượng của người cung ứng thành quyền lực củamình
* Quyền lực thương lượng của người mua
Người mua có quyền thương lượng với doanh nghiệp (tức người bán) thông qua sức épgiảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ doanh nghiệp, đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốthơn với cùng một mức giá
Các nhân tố tạo nên quyền lực người mua gồm: khối lượng mua lớn, sự đe doạ của quá trìnhliên kết những người mua khi tiến hành thương lượng với doanh nghiệp, do sự tập trung lớncủa người mua đối với sản phẩm chưa được dị biệt hoá hặc dịch vụ bổ sung còn thiếu Quyền lực thương lượng của người mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thờinhững thay đổi về nhu cầu của thị trường, hoặc khi doanh nghiệp thếu khá nhiều thông tin
về thị trường (như các thông tin về đầu vào và thông tin về đầu ra) Các doanh nghiệp khác
sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để tung ra thị trường những sản phẩm thích hợphơn, với giá cả phải chăng hơn và bằng phương thức dịch vụ tốt hớn
* Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế:
Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử dụng sảnphẩm và dịch vụ thay thế Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trường của doanh nghiệp
Trang 13Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trường những sản phẩm thay thế có khả năng khác biệt hoácao độ với sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi hơn về dịch vụ haycác điều kiện về tài chính.
Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp thì mối đe doạ đối với doanhnghiệp càng lớn Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lượng hàng bán và ảnh hưởng đến lợinhuận của doanh nghiệp Nếu có ít sản phẩm tương tự sản phẩm của doanh nghiệp, doanhnghiệp sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi nhuận
* Cạnh tranh của các đối thủ trong ngành:
Cạnh tranh giữa các công ty trong một ngành công nghiệp được xem là vấn đề cốt lõi nhâtcủa phân tích cạnh tranh Các hãng trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sựkhác biệt hoá sản phẩm, hoặc sự đổi mới sản phẩm giữa các hãng hiện đang cùng tồn tạitrong thị trường Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần như cân bằngnhau, khi tăng trưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngàu càng tăng, khi các đối thủcạnh tranh có chiến lược đa dạng
Có một điều thuận lơi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là khả năng nắmbắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinh doanh, hoặc các thông tin về thịtrường Các doanh nghiệp sẽ có khả năng cạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời vàngược lại có thể mất lợi thế cạnh tranh bất cứ lúc nào nếu họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhaỵbén
Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (trừ doanh nghiệp nước sở tại) khi cùng tiến hànhhoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ có một phần bất lợi như nhau do cácquy định hạn chế của Chính Phủ nước sở tại Chính vì thế, doanh nghiệp nào mạnh về tàichính hoặc khoa học kỹ thuật hoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thế rất lớn Khácvới hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, doanh nghiệp khi tham gia thị trường nướcngoài cần có sự trợ giúp của các doanh nghiệp khác trong cùng quốc gia để có thêm khảnăng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc quốc gia khác Lúc đó có thểcoi sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranh giữa các quốc gia
Trang 14Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp làm cho giá cả các yếu tố đầu ra và những yếu
tố đầu vào biến động theo xu hướng khác nhau Tình hình này đòi hỏi doanh nghiệp phảilinh hoạt điều chỉnh các hoạt động cuả mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giànhthắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy, doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường,đưa ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao mẫu mã và giá cả phù hợp
3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨMXUẤT KHẨU
- Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng rất lớn đế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi tỷ giá hốiđoái giảm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tăng lên trên thị trường quốc tế vìkhi đó giá bán của doanh nghiệp thấp hơn giá bán của đối thủ cạnh tranh của nước khác, vàngược lại tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồngnghĩa với việc khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế giảm
- Lãi suất ngân hàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.Khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm cho giá thành sản xuất tănglên từ đó đẩy giá bán tăng lên, do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so vớiđối thủ cạnh tranh, đặc biệt các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực về vốn
Trang 15* Nhân tố chính trị pháp luật
Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu bởicác doanh nghiệp này hoạt động trên thị trường quốc tế với lợi thế mạnh trong cạnh tranh làlợi thế so sánh giữa các nước Chính trị ổn đinh, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả
* Nhóm nhân tố về khoa học kỹ thuật
Nhóm nhân tố này tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năngcạnh tranh của sản phẩm trên thị trường là chất lượng và giá cả Khoa học công nghệ hệnđại sẽ làm cho chi phí cá biệt của các doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàmlượng khoa học công nghệ cao Khoa học, kỹ thuật, công nghệ ảnh hưởng tới khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp trheo hướng cụ thể sau:
- Tạo ra những hệ thống công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và trang bị lại hoàn toàn cơ sởvật chất kỹ thuật
- Giúp doanh nghiệp trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin một cáchnhanh chóng và chính xác nhất
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao uy tín củadoanh nghiệp
* Các nhân tố về văn hoá xã hội
Phong tục tập quan thị hiếu lối sống, thói quen tiêu dùng, tôn giáo tín ngưỡng ảnh hưởngđến cơ cấu nhu cầu của thị trường doanh nghiệp tham gia và từ đó ảnh hưởng đến chínhsách kinh doanh của doanh nghiệp khi tham gia vào các thị trường khác nhau
Trang 16* Các nhân tố tự nhiên:
Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý của quốc gia, môi trườngthời tiết, khí hậu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theohướng tích cực hay tiêu cực Chẳng hạn tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuậnlợi, sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, có điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mởrộng thị trường Bên cạnh đó, những khó khăn ban đầu do điều kiện tự nhiên gây ra sẽ làmgiảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
* Số lượng các doanh nghiệp trong ngành hiện có và số lượng doanh nghiệp tiềm ẩn
Số lượng doanh nghiệp cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rất lớn đến khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Khi số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều thì thị phần của cácdoanh nghiệp cạnh tranh sẽ giảm khi đó doanh nghiệp muốn thống lĩnh thị trường hay làdoanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao nhất thì doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữacường độ cạnh tranh, ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Hơn nữa cạnhtranh sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt hơn nếu như có sự xuất hiện thêm một vài doanh
Trang 17nghiệp mới tham gia cạnh tranh Khi đó, các doanh nghiệp cũ với lợi thế về sản phẩm, vốn,chi phí cố định và mạng lưới kênh phân phối sẽ phản ứng quyết liệt đối với doanh nghiệpmới Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp mới có ưu thế hơn về công nghệ, chất lượng sảnphẩm, áp dụng các biện pháp để giành thị phần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh tranh củacác doanh nghiệp mới sẽ cao hơn nếu các doanh nghiệp cũ không sử dụng hữu hiệu công cụtrong cạnh tranh.
* Các đơn vị cung ứng đầu vào:
Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây ra những khó khăn làm giảm khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp trong những trường hợp sau:
- Nguồn cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài công ty độcquyền cung ứng
- Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung ứng nào khác thì doanh nghiệp sẽyếu thế hơn trong mối tương quan thế và lực đối với nhà cung ứng hiện có
- Nếu nhà cug cấp có đủ khả năng, đủ nguồn lực để khép kín sản xuất, có hệthống mạng phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì có thế lực đáng kể đối với doanh nghiệpvới tư cách là khách hàng
Tất cả những khó khăn đối với doanh nghiệp có thể gặp phải ở trên sẽ dẫn đến sự phụ thuộccủa doanh nghiệp vào các nhà cung ứng, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một haynhiều người cung ứng, nghiên cứu tìm hiểu nguồn đầu vào thay thế khi cần thiết và cần cóchính sách dự trữ hàng hoá hợp lý
* Sức ép của các sản phẩm thay thế
Sự ra đời của những sản phẩm thay thế là một yếu tố nhằm đáp ứng sự biến động của nhucầu thị trường theo xu hướng ngày càng đa dạng phong phú và cao cấp hớn và chính nó làmgiảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế
Trang 18Đặc biệt, nhiều sản phẩm thay thế được sản xuất trên những dây chuyền kỹ thuật công nghệtiên tiến hơn, do đó sức cạnh tranh cao hơn Sản phẩm thay thế phát triển sẽ làm giảm khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp không có sản phẩm thay thế.
3.2 Các nhân tố chủ quan
a Hàng hoá và cơ cấu hàng hoá trong kinh doanh
Điều quan trọng nhất đối với hoạt động của doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh làphải trả lời được các câu hỏi cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai?Như vậy có nghĩa là doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm, hànghoá Khi tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có hàng hoá đem bán ra thị trường
và phải làm sao để co hàng hoá của mình thích ứng được với thị trường nhằm tằng khả năngtiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện đadạng hoá các mặt hàng kinh doanh Thực chất của đa dạng hoá đó là quá trình mở rộng hợp
lý dạnh mục hàng hoá, tạo nên một cơ cấu hàng hoá có hiệu quả của doanh nghiệp Hànghoá của doanh nghiệp phải luôn được hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầuthị trường bằng cách cải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duytrì các hàng hoá đang là thế mạnh của doanh nghiệp Ngoài ra doanh nghiệp cũng cầnnghiên cứu tìm ra các hàng hoá mới nhằm phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ hànghoá Đa dạng hoá hàng hoá kinh doanh không chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trường, thu đượcnhiều lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh khi mà tình hìnhcạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt
Đi đôi với thực hiện đa dạng hoá mặt hàng, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnhtranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá hàng hoá vào một số loại hànghoá nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặc một vùng thị trường nhất định của mình.Trong phạm vi này doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả
Trang 19hơn đối thủ cạnh tranh, do đó doanh nghiệp đã tạo dựng được một bức rào chắn, đảm bảogiữ vững được phần thị trường của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm, tạo ra nétđộc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách hàng vào các hàng hoá củamình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Như vậy hàng hoá và cơ cấu hàng hoá một cách tối ưu là một trong những yếu tố quyết địnhkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
b Yếu tố giá cả
Giá cả của một hàng hoá trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu.Người bán và người mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới mức giá cuối cùng đảm bảohai bên cùng có lợi Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay không của khách hàng Trongnền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, khách hàng có quyền mua vàlựa chọn những gì họ cho là tốt nhất và cùng một loại hàng hoá với chất lượng tương đươngnhau chắc chắn họ sẽ lựa chọn sản phẩm có mức giá thấp hơn, khi đó lượng bán của doanhnghiệp sẽ tăng lên
Giá cả được thể hiện là vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá của hàng hoá: định giáthấp (như giá khi mới xâm nhập, giá giới thiệu), định giá ngang giá thị trường hay định giácao Việc định giá cần phải xem xét các yếu tố sau: lượng cầu đối với hàng hoá và tính tới
số tiền mà dân cư có thể để dành cho loại hàng hoá đó, chi phí kinh doanh và giá thành đơn
vị sản phẩm Phải nhận dạng đúng cạnh tranh để từ đó có cách định giá thích hợp cho mỗiloại thị trường
Với một mức giá ngang giá thị trường giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng đặc biệt làkhách hàng truyền thống, nếu doanh nghiệp tìm ra được các biện pháp hạ giá thành thì lợinhuận thu được sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh sẽ cao Ngược lại, với một mức giá thấphơn giá thị trường sẽ thu hút được nhiều khách hàng và tăng lượng bán, doanh nghiệp sẽ có
Trang 20cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn giáthị trường chỉ sử dụng được với các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này giúp chodoanh nghiệp thu được rất nhiều lợi nhuận (và đây là lợi nhuận siêu ngạch).
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sự lựa chọn cácchính sách giá thích thợp cho từng loại hàng hoá, từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sảnphẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường
Hoạt động xuất khẩu của công ty Dệt Kim Đông Xuân có 3 hình thức: xuất khẩu trực tiếp,gia công xuất khẩu và xuất uỷ thác, trong đó hoạt động gia công xuất khẩu chiếm tỷ trọnglớn Mặt khác, khách hàng của công ty thường là khách hàng quen biết lâu nên giá cảthường được thoả thuận với nhau trước, giữ vững trong thời gian dài và giá thường do công
ty và khách hàng cùng nhau quyết định Tuy nhiên đó là đối với những khách hàng truyềnthống còn đối với những khách hàng mới thì công ty cần linh hoạt hơn, có những mức giáthấp hơn khách hàng truyền thống nhằm thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị trườngxuất khẩu cho công ty
c Chất lượng hàng hoá
Nếu như trước kia giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay
nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng hàng hoá Trong thực tế, cạnh tranh bằng giá là
"biện pháp nghèo nàn" nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu được, mà ngược lại cùng một loạihàng hoá, chất lượng hàng hoá nào tốt đáp ứng được nhu cầu thì họ cũng sẵn sàng mua vớimột mức giá cao hơn, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang tronggiai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng cao hơn trước Chất lượnghàng hoá là hệ thống nội tại của hàng hoá được xác định bằng các thông số có thể đo đượchoặc so sánh được, thoả mãn các điều kiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của ngườitiêu dùng và xã hội Chất lượng hàng hoá được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sảnxuất và công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ quản lý
Chất lượng hàng hoá không chỉ tốt, bền, đẹp mà còn do khách hàng quyết định Muốn đảmbảo về chất lượng thì một mặt phải thường xuyên chú ý tới tất cả các khâu trong quá trình
Trang 21sản xuất, mặt khác, chất lượng hàng hoá không những được đảm bảo trước khi bán mà cònphải được đảm bảo ngay cả sau khi bán bằng các dịch vụ bảo hành Chất lượng hàng hoá thểhiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ:
+ Nâng cao chất lượng hàng hoá sẽ làm tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳsống của sản phẩm
+ Hàng hoá chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thích khách hàng muahàng và mở rộng thị trường
+Chất lượng hàng hoá cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình tài chính củadoanh nghiệp
d Tổ chức hoạt động xúc tiến
Trong kinh doanh thương mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả caonếu chỉ nghĩ rằng: "có hàng hoá chất lượng cao, giá rẻ là đủ để bán hàng" Những giá trị củahàng hoá, dịch vụ, thậm chí cả những lợi ích đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phảiđược thông tin tới khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng, cũng như những người cóảnh hưởng tới việc mua sắm Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần thực hiện tốt cáchoạt động xúc tiến thương mại
Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại là tập hợp nhiều nội dung khác nhau nhằmtăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại gồm một số nội dung sau:
- Hội chợ triển lãm
- Bán hàng trực tiếp
- Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác
Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền tin như đài, báo, truyền hình về hànghoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng nhằm làm cho khách hàng chú ý tới sự
có mặt của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ sẽ được cung cấp Quảng cáo phải tạo được
Trang 22sự khác biệt giữa hàng hoá của doanh nghiệp với các hàng hoá khác trên thị trường, làmtăng giá trị của hàng hoá bán ra Quảng cáo gây được ấn tượng cho khách hàng, tác độngvào tâm lý khách hàng để làm nảy sinh nhu cầu mua sắm của họ, từ đó làm tăng quy môkinh doanh của doanh nghiệp (nhờ tăng lượng bán) Và một tác dụng nữa của quảng cáo lànâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, là một phương tiện cạnh tranh với các đốithủ cạnh tranh.
Bện cạnh hoạt động trên, hiện nay các doanh nghiệp còn thực hiện các hoạt động nhưchiêu hàng, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng để giới thiệu về sản phẩm củadoanh nghiệp mình
Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến tác động mạnh đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp:
- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt giúp cho doanh nghiệp tăng lượng bán, tăngdoanh thu, lợi nhuân, thu hồi vốn nhanh
- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt sẽ tạo ra uy tín của sản phẩm trên thị trường,làm cho khách hàng biết đến và hiểu rõ kỹ càng công dụng của sản phẩm
- Tổ chức tốt hoạt động xúc tiến giúp cho doanh nghiệp tìm được nhiều bạnhàng mới, khai thác được nhiều thị trường, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển
Tuy nhiên công ty Dệt Kim Đông Xuân chỉ tham gia một số hội chợ nên kết quả do xúc tiếnthương mại đem lại là chưa cao và rõ rệt
Trang 23Qua dịch vụ sau bán hàng hoá của mình có đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêudùng không, để từ đó ngày càng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của mình Do vậy, dịch vụsau bán hàng là một biện pháp tốt tăng uy tín trong cạnh tranh.
f Phương thức thanh toán
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phương thức thanh toán khác nhaunhư: thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngân hàng, mở L/C giúp cho hoạt động muabán được diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người bán và người mua.Việc lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý sẽ có tác động kích thích đối với khách hàng,tăng khối lượng tiêu thụ và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
g Yếu tố thời gian
Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật như hiện nay làm thay đổi nhanh chóng nếpnghĩ, sở thích hay nhu cầu của người tiêu dùng cũng như sự rút ngắn chu kỳ sống của sảnphẩm Đối với các doanh nghiệp yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kinh doanhhiện đại chính là thời gian và tốc độ chứ không còn là yếu tố truyền thống như : nguyên vậtliệu hay lao động
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã làm cho các cuộc cạnh tranh ngàycàng trở nên gay gắt khốc liệt hơn và trong cuộc chạy đua này ai biết nắm bắt thời cơ và đitrước thì người đó sẽ chiến thắng
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động thu thập và xử lý thông tin thịtrường, phải biết nắm bắt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của thị trường, nhanhchóng tổ chức kinh doanh tiêu thụ thu hồi vốn trước khi chu kỳ sản phẩm kết thúc
Trang 24Hiện nay ở nhiều nước phát triển cạnh tranh bằng thời gian là một biện pháp rất quan trọngmang tính sống còn của doanh nghiệp Đi trước một bước trong cạnh tranh là đã giành đượcchiến thắng quan trọng trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, tăng tính cạnhtranh của doanh nghiệp
Ngoài các yếu tố trên vốn và quy mô doanh nghiệp cũng sẽ tác động rất lớn tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp cũng như việc nâng cao khả năng cạnh tranh Uy tín của mộtdoanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng, đó là cơ sở để doanh nghiệp dễ dàng giànhthắng lợi trong cạnh tranh vì họ đã có một lượng khách hàng tín nhiệm, quen thuộc Uy tíncủa doanh nghiệp được hình thành trong một thời gian dài hoạt động trên thị trường và đó làmột tài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phải biết giữ gìn và phát huy
4 CÁC CHỈ TIÊU TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANHNGHIỆP
Việc đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là rất quan trọng đối với bất kìmột doanh nghiệp nào để xác định được khả năng hiện tại của bản thân doanh nghiệp và xácđịnh sức mạnh của các đối thủ cần quan tâm
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp tính theo doanh thu:
Công thức:
Trong đó:
GTt: Tốc độ tăng trưởng thời kỳ nghiên cứu
DTt: Doanh thu thời kỳ nghiên cứu
DTt-1: Doanh thu kỳ trước
1 1
DT
DT DT Gt
Trang 25Ý nghĩa: chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng lên hoặc giảm đi của thị phần của doanh nghiệptrên thị trường, đồng nghĩa với sự lớn lên hay giảm
sút sức canh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp theo lợi nhuận
Công thức:
Trong đó:
Grt : Tốc độ tăng trưởng thời kỳ nghiên cứu
Prt : Lợi nhuận kỳ nghiên cứu
Prt-1: Lợi nhuận kỳ trước đó
Ý nghĩa: có tác dụng giống với chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tính theo doanh thunhưng phản ánh thực chất và chính xác hơn về một doanh nghiệp vì nó so sánh về tốc độtăng lợi nhuận và lợi nhuận mới tực sự phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp có hai cách xác định thông dụng với những tác dụng khácnhau:
Pr Pr
Gr
Trang 26Ý nghĩa: chỉ tiêu này nói lên mức độ rộng lớn của thị trường của một doanh nghiệp và vaitrò vị trí của doanh nghiệp đó trong thị trường Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này, ta
có thể đánh giá mức đọ hoạt động có hiệu quả hay không của doanh nghiệp trong việc thựchiên chiến lược thị trường, chiến lược Maketing, chiến lược cạnh tranh và hỗ trợ cho việc đề
ra các mục tiêu của doanh nghiệp
Tuy nhiên, chỉ tiêu trên có một nhược điểm là khó có thể đảm bảo tính chính xác khi xácđịnh nó, nhất là khi thị trường mà doanh nghiệp đang tham gia quá rộng lớn vì nó gây nhiềukhó khăn trong việc tính được chính xác doanh thu thực tế của các doanh nghiệp Mặt kháccông việc này cũng đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí
Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính toán hơn nhiều so với chỉ tiêu trên nó khắc phục đượcnhững nhược điểm của những chỉ tiêu trên
Do các đối thủ cạnh tranh mạnh thì sẽ có nhiều thông tin hơn nên lưa chọn phương phápnày người ta có thể lựa chọn từ 2-5 doanh nghiệp mạnh nhất tuỳ theo đặc điểm của mỗi lĩnhvực cạnh tranh
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh sát thực nhất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp kinhdoanh Bên cạnh đó còn giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tin về các đối thủ cạnh tranhmạnh nhất và các thị phần họ chiếm giữ thường là những khu vực có lợi nhuận cao mà rất
có thể doanh nghiệp cần chiếm lĩnh trong tương lai
Những chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh chung của toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn nếu xét riêng về hoạt động xuất khẩu thìkhả năng cạnh tranh được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Trang 27* Tốc độ tăng của hoạt động xuất khẩu qua các năm:
Công thức
Trong đó: EGt : Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EXt: Kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EXt-1: Kim ngạch xuất khẩu kỳ trước
Ý nghĩa: qua chỉ tiêu này ta có thể thấy được tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu giữa hai nămliền nhau để biết xem khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp qua thời gian là tăng hay giảm
và tăng, giảm với tỷ lệ là bao nhiêu Nếu tăng thì chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp có phần tăng lên, còn nếu giảm thì khả năng đó có thể giảm và doanh nghiệp cần tìm
ra nguyên nhân của sự giảm sút đó để năm sau có thể khắc phục
Thị phần của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt kim cũng như chỉ tiêu ởphần trên, thị phần trong hoạt động xuất khẩu bao gồm hai cách tính:
Cách 1:
Thị phần của KNXKHDK của doanh nghiệp
doanh nghiệp so =
với tổng KNXK Tổng KNXKHDKcủa các DN trong nước
Trong đó: KNXKHDK: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt kim
Ý nghĩa của chỉ tiêu này: cho biết độ lớn về kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp so vớikim ngạch chung của toàn nghành trong nước, từ đó thấy được vị trí của doanh nghiệp tronghoạt động xuất khẩu chung của toàn nghành Sự biến động của chỉ tiêu qua các năm sẽ giúp
1 1
EX
EX EX EG
Trang 28doanh nghiệp đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình trong hoạt động xuất khẩu, có sựtăng lên hay giảm đi và nguyên nhân từ đâu.
Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia hoạt động xuất khẩu hàng may mặc
ở trong nước là một con số không nhỏ và rất khó kiểm soát nên để có được số liệu về tổngkim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của tất cả các doanh nghiệp trong nước một cách chínhxác là rất khó nên ta có thể tính cách thứ hai như sau:
Cách 2:
Thị phần của KNXKHMM của doanh nghiệp
doanh nghiệp so với =
đối thủ mạnh nhất KNXKHMM của đối thủ mạnh nhất
Trong đó:KNXKHMM: kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc
Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh độ lớn về kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của doanhnghiệp mình so với một số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường Từ đây có thể sosánh được thị phần của doanh nghiệp mình trên thị trường với thị phần của một số doanhnghiệp mạnh khác để phân tích xem với quy mô, tiềm lực hiện nay của công ty như vậy thìhoạt động xuất khẩu của công ty đã thực sự hiệu quả chưa Ngoài ra còn biết thêm các thôngtin về đối thủ, thị phần xuất khẩu họ chiếm giữ và lấy đó làm căn cứ cho công ty có thểnghiên cứu và tìm ra những chiến lược cạnh tranh cho phù hợp
Đánh giá khả năng cạnh tranh là một việc làm cần thiết đối với mọi doanh nghiệp vì qua đómỗi doanh nghiệp có thể đưa ra những mục tiêu, chiến lược cạnh tranh thích hợp với tìnhtrang hiện tại của công ty mình Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc là một hoạt động đượcrất nhiều doanh nghiệp trong nghành may quan tâm và vì thế số lượng các doanh nghiệptham gia xuất khẩu ngày càng tăng, làm cho cục diện cạnh tranh ngày càng gay gắt Thuộcmột trong số những doanh nghiệp đó công ty Dệt Kim Đông Xuân cũng đã không ngừng
Trang 29phấn đấu để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm khẳng định vị thế trên thị trườngxuất khẩu hàng may mặc
5 MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
A ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆNHIỆN NAY
5 1 Môi trường luật pháp
Mỗi quốc gia có một hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc
tế, bao gồm luật thương mại quốc tế, luật đầu tư nước ngoài, luật thuế giữa các nướcthường ký kết các hiệp định, hiệp ước và dần hình thành nên luật khu vực và luật quốc tế.Thực tế thế giới trong những năm qua đã chỉ ra: cùng với sự xuất hiện các liên minh kinh tế,liên minh chính trị, liên minh thuế quan đã xuất hiện những thoả thuận mới, đa dạng songphương, hoặc đa phương tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh buôn bán trong khu vực
và quốc tế
Vì vậy, có thể khẳng định rằng trên cơ sở nắm chắc luật quốc gia và các hiệp định giữa cácnước mới cho phép các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc lựa chọnquốc gia, khu vực kinh doanh, hình thức kinh doanh, mặt hàng kinh doanh để làm tăng lợinhuận và hạn chế rủi ro
Luật của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh giữa các nước với nhau.Trong điều kiện này buộc các quốc gia phải điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp vớinhững quy định về luật pháp của quốc gia mà mình đang hoạt động Những tác động chủyếu của luật đối với hoạt động của một doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ :
- Các quy định về giao dịch: hợp đồng, sự bảo vệ các bằng sáng chế, phát minh, luật bảo hộnhãn hiệu thương mại, bí quyết công nghệ, quyền tác giả và các tiêu chuẩn kế toán
- Môi trường luật pháp chung: luật môi trường, những quy định tiêu chuẩn về sức khoẻ và
an toàn
Trang 30- Luật thành lập doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực kinh doanh.
- Luật lao động
- Luật chống độc quyền và các hiệp hội kinh doanh
- Luật giá cả
- Luật thuế, lợi nhuận
Mỗi nhà kinh doanh đều phải thông hiểu chế độ luật pháp ở các nước mà họ đang kinhdoanh Có nhiều cách để tìm hiểu hệ thống luật pháp đó như: tìm hiểu thông qua các vănphòng của các cơ quan luật pháp địa phương (quốc gia), hoặc có thể tìm hiểu bằng cách làmviệc với các hãng luật quốc tế Điều khó khăn nhất là phải hiểu được luật chơi hợp pháp vàsau đó các quyết định nên mềm dẻo, linh hoạt để tuân thủ các điều luật này
5.2 Môi trường chính trị
Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh đặc biệtđối với hoạt động kinh doanh quốc tế Tính ổn định về chính trị của các quốc gia sẽ là mộttrong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động Không có sự ổn định vềchính trị sẽ không có điều kiện để phát triển, ổn định kinh tế, lành mạnh hoá xã hội Chính
vì vậy khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế doanh nghiệp phải am hiểu môitrường chính trị ở quốc gia đó và các nước trong khu vực Sự ổn định về chính trị thể hiện ởchỗ: thể chế, quan điểm chính trị có được đa số nhân dân đồng tình hay không, đặc biệt làđảng cầm quyền có đủ uy tín và độ tin cậy đối với nhân dân và các doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh trong và ngoài nước
5.3 Môi trường kinh tế
Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế các doanh nghiệp phải có kiến thức nhấtđịnh về kinh tế Nó sẽ giúp các nhà kinh doanh xác định được những ảnh hưởng của doanhnghiệp đối với nền kinh tế nước chủ nhà và nưóc sở tại, thấy được sự ảnh hưởng của quốcgia đó với doanh nghiệp mình Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế
Trang 31của một quốc gia nói riêng và trên thế giới nói chung có tác động trực tiếp đến hoạt độngkinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế Tính ổn định
về kinh tế chủ yếu là ổn định về nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát.Đây là điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng, nó phân phối tối ưu nguồn tài nguyên khanhiếm tạo cho người sử dụng phải cạnh tranh với nhau Nếu dựa trên tiêu thức phân bố cácnguồn lực và cơ chế điều khiển nền kinh tế, có thể phân chia nền kinh tế thế giới thành cácnhóm như: đi theo mô hình kinh tế thị trường và đi theo mô hình kinh tế chỉ huy Nếu dựatrên hình thức sở hữu tài sản thì có sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng và sở hữu hỗn hợp.Hai tiêu thức phân loại nền kinh tế này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa quản
lý các hoạt động kinh tế và quyền sở hữu các yếu tố sản xuất
5.4 Môi trường văn hoá và con người
Việc thuê mướn công nhân, buôn bán của doanh nghiệp đều được điều chình và quản lý bởicon người Vì vậy doanh nghiệp cần phải cân nhắc sự khác nhau giữa các nhóm dân tộc và
xã hội để dự đoán, điều hành các mối quan hệ và hoạt động của mình Sự khác nhau giữacon người đã làm gia tăng những hoạt động kinh doanh khác nhau ở nhiều quốc gia trên thếgiới
Văn hoá là những giá trị có thể học hỏi, chia sẻ và liên hệ mật thiết với nhau, nó cung cấpnhững định hướng cho các thành viên trong xã hội Văn hoá được hiểu như một tổng thểphức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cảnhững khả năng mà con người có được Văn hoá quy định hành vi của mỗi người thông quamối quan hệ giữa người với người trong tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó sựkhác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các nhà kinh doanh phảisớm có những quyết định về kinh doanh vào môi trường đó
Trong môi trường văn hoá những nhân tố giữ vai trò cực kỳ quan trọng là tập quán, lốisống, tôn giáo và ngôn ngữ Các nhân tố này được coi là hàng rào chắn các hoạt động giao
Trang 32dịch, kinh doanh Mỗi quốc gia, thậm chí trong từng vùng khác nhau, các dân tộc khác nhau
có tập quán, có lối sống, ngôn ngữ riêng, do đó nhà kinh doanh cần phải biết rõ và hànhđộng cho phù hợp với từng hoàn cảnh của môi trường mới
Thị hiếu, tập quán của mỗi người tiêu dùng ảnh hưởng lớn đến nhu cầu vì mặc dù hàng hoá
có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họchấp nhận Vì vậy nắm bắt được tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng thì doanh nghiệp cóđiều kiện mở rộng khối lượng cầu một cách nhanh chóng Chính thị hiếu và tập quán củangười tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân tộc và chịuảnh hưởng của các yếu tố văn hoá lịch sử tôn giáo
Ngôn ngữ cũng là yếu tố quan trọng trong nền văn hoá của mỗi quốc gia, nó cung cấp chocác nhà kinh doanh một phương tiện quan trọng để giao tiếp trong kinh doanh quốc tế Đốivới các công ty đa quốc gia hoạt động kinh doanh muốn mở rộng trước hết đòi hỏi phảithống nhất về mặt ngôn ngữ Để giải quyết tình trạng sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhautrong giao tiếp có thể có những hướng sau:
- Phiên dịch và nhà phiên dịch: một doanh nghiệp có thể thuê người phiên dịch bên ngoàihoặc có những nhân viên phiên dịch chuyên nghiệp Tuy nhiên doanh nghiệp sẽ không tránhkhỏi những lỗi do người phiên dịch thiếu kinh nghiệm hoặc do thiếu kiến thức chuyên môn
để tránh bớt những lỗi này thì thông tin phải được dịch đi dịch lại nhiêu lần qua nhiều ngườidịch khác nhau để kiểm tra độ chính xác của thông tin Vì vậy điều tối ưu là người phiêndịch phải có kiến thức tốt và hiểu biết tốt về vấn đề mà mình đang dịch
- Thuê cố vấn hay các chuyên gia Trong một số trường hợp như đàm phán với Chính Phủhoặc làm việc với các phương tiện thông tin đại chúng và nhìn chung kinh doanh ở nhữngthị trường hoàn toàn mới và xa lạ với mặt hàng mới thì doanh nghiệp cần thuê cố vấn hoặcxin ý kiến của các chuyên gia Điều này sẽ góp phần mang lại cho doanh nghiệp những cơhội mới, hạn chế rủi ro trong kinh doanh
Tôn giáo cũng có ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày của con người và do đó ảnhhưởng đến các hoạt động kinh doanh Ví dụ, thời gian mở cửa hoặc đóng cửa, ngày nghỉ,ngày lễ, lễ kỷ niệm vì vậy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được tổ chức phùhợp với từng loại tôn giáo
Trang 33Việc nghiên cứu môi trương kinh doanh quốc tế trên khía cạnh văn hoá đòi hỏi phải sắpxếp, phân loại các quốc gia theo nhóm nước có đặc điểm khá tương đồng và các nước cóđặc điểm khác nhau.
Kinh doanh ở nước ngoài, các doanh nghiệp thường phải cố gắng thích nghi với môi trườngvăn hoá của các nước sở tại nhằm nâng cao vị trí cuả mình trên thương trường quốc tế Chỉtrên cơ sở đó họ mới có thể nâng cao hiểu biết của mình về văn hoá tương ứng với việc mởrộng hoạt động kinh doanh ở nước ngoài
Như vậy, tuỳ thuộc vào nhu cầu và trình độ hiểu biết về văn hoá mà công ty sẽ có nhữnghoạt động thích ứng và hiệu quả Nếu nhu cầu và trình độ hiểu biết về văn hoá đối với nước
sở tại còn ở mức thấp thì doanh nghiệp chỉ nên kinh doanh với một doanh nghiệp nướcngoài vào một nước mà hoạt động của doanh nghiệp ở đó hạn chế Ngược lại, nếu nhu cầu
và trình độ am hiểu nền văn hoá nước sở tại cao thì khi đó doanh nghiệp có thể tiến hànhkinh doanh với nhiều nước, nhiều doanh nghiệp khác nhau và doanh nghiệp có điều kiệnthuận lợi trong việc mở rộng các chức năng và biện pháp hoạt động của mình
5.5 Môi trường cạnh tranh
Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh doanh hoạt động trong môi trường và điều kiện kinhdoanh không giống nhau và môi trường này luôn thay đổi khi chuyển từ nưóc này sangnước khác Hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, một số doanh nghiệp có khả năng nắm bắtnhanh cơ hội và biến cơ hội thuận lợi thành thắng lợi Nhưng cũng không ít doanh nghiệpluôn gặp phải khó khăn, thử thách rủi ro cao vì phải đương đầu cạnh tranh với những công
ty quốc tế có nhiều lợi thế và tiềm năng hơn
Sự khác nhau truyền thống giữa kinh doanh nội địa và kinh doanh quốc tế ở chỗ kinhdoanh quốc tế thường có khoảng cách địa lý lớn hơn, xa hơn Điều đó làm cho công ty kinhdoanh quốc tế luôn gặp phải khó hăn hơn, vì họ phải chi phí nhiều hơn cho hoạt động kinhdoanh của công ty Tuy nhiên ngày nay do sự phát triển nhanh chóng và hiện đại của hệthống thông tin và giao thông vận tải đã làm cho những khó khăn về thông tin và địa lýgiảm dần
Trang 34Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã góp phần làm tăng khả năngcạnh tranh của một doanh nghiệp Sự can thiệp hay giúp đỡ nhiều hay ít của Chính Phủtrong một chừng mực nhất định đã thúc đẩy hay cản trở hoạt động kinh doanh Việc áp dụngnhững thành tựu khoa học giúp doanh nghiệp giảm bớt những rủi ro trên thị trường quốc tế
vì vậy hoạt động kinh doanh quốc tế đã thúc đẩy các doanh nghiệp đương đầu với các đốithủ cạnh tranh mới
B NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN TRONG CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC
TẾ HIỆN NAY
Hiện nay, trong quá trình thâm nhập hay mở rộng trực tiếp cho một thị trường nước ngoàithì một yêu cầu đối với bất cứ một doanh nghiệp nào là phải tìm cách thích nghi sản phẩm,hàng hoá của mình với thị trường cần chiếm lĩnh Việc thích nghi hoá sản phẩm, hàng hoáphải được xem xét trên các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: hàng hoá phải được thích nghi hoá theo các đặc trưng vật lý của nó: bao gồm 2loại thích nghi với những mức độ và yêu cầu khác nhau:
* Thích nghi bắt buộc:
Những quy đinh pháp lý của thị trường nước ngoài là nắt buộc đối với doanh nghiệp Vì thếkhi đưa một sản phẩm vào một thị trường nước ngoài thì cần tính đến những tiêu chuẩn bắtbuộc của thị trường đó Chúng bao gồm:
- Các định mức về an toàn sản phẩm, chẳng hạn một số nước quy định về vật liệu an toàndùng cho đồ chơi trẻ em
- Các định mức về an toàn vệ sinh: nhiều nước, nhất là các nước phát triển, có những quyđịnh ngặt nghèo về vệ sinh thực phẩm và kiểm tra chặt chẽ điều đó như các điều kiện bảoquản, bảo vệ, vô trùng
Trang 35- Các định mức kỹ thuật: không phải nước nào cũng dùng điện thế 220V với tần số 50Hz vàcác phích cắm tròn mà lại dùng điện thế 110V tần số 60 Hz Nhiều nước Âu Mỹ khôngdùng các đơn vị đo lường như met, kilogam mà dùng pound, mile
Những quy định về tiêu chuẩn trên tạo các rào cản phi thuế quan đối với các hàng hoá nhậpkhẩu, bắt buộc các doanh nghiệp phải thích ứng sản phẩm của mình đối với quy định đó
* Thích nghi cần thiết:
Mỗi thị trường nước ngoài đều có nhứng đòi hỏi riêng biệt đối với hàng hoá nhập khẩu Vìthế để chiếm lĩnh được khách hàng mục tiêu thì phải tính đến các nhu cầu và mong muốncủa khách hàng tại đó Điều đó có nghĩa là: không phải chỉ đơn thuần xuất khẩu, nhà xuấtkhẩu phải nghiên cứu thị trường thật kỹ bao gồm cả việc nghiên cứu các hoạt động kíchthích và kìm hãm mua hàng, những gì có thể đem lại cho nhà doanh nghiệp một sự hiểu biếtđầy đủ về cái mà người tiêu dùng nước ngoài đang chờ đợi: khẩu vị của họ là gì, thói quentiêu dùng, tần số tiêu dùng và những đặc trưng khí hậu là gì Đó là điều kiện cho các doanhnghiệp tham gia xuất khẩu, tức là nếu nhà sản xuất và xuất khẩu hiểu rõ thị trường nướcngoài như thị trường nước họ thì đó là cơ hội để doanh nghiệp thành công tại thị trường đó
Thứ hai: hàng hoá phải thích nghi hoá theo các đặc trưng dịch vụ của nó:
Các hàng hoá công nghiệp, hàng hoá chuyên ngành và cả hàng hoá tiêu dùng nữa đều đòihỏi phải được theo giõi trong quá trình lắp đặt, bảo dưỡng và sửa chữa cũng như các chỉdẫn sử dụng rõ ràng và bằng tiếng của nước được bán, ngoài sự tham gia kỹ thuật thườngxuyên hoặc tạm thời
Như vậy, nhu cầu về dịch vụ sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào loại hàng hoá song cũng tuỳ theotrình độ kỹ thuật của nhân công địa phương, trình độ văn hoá, chi phí tại chỗ cho việc sửachữa một giải pháp tốt đáng được quan tâm dối với các nhà xuất khẩu lẫn tiêu dùng làcung cấp các hàng hoá đơn giản hơn và chắc chắn hơn so với thiết bị dành cho người tiêudùng của nước phát triển nếu điều đó có thể làm được, để nếu cần có thể bảo dưỡng mộtcách đơn giản, ít tốn kém và giảm tần số của những lẫn hỏng hóc
Trang 36Thứ ba: thích nghi hoá theo các đặc trưng có tính biểu tượng của hàng hoá:
* Nhận thức về biểu tượng:
Mọi đồ vật dù là thông thường nhất hay đơn điệu nhất cũng phản ánh một điều gì đó trong
tư duy của mỗi người, nó gợi lên sự chắc chắn hay mong manh, tin cậy hay không tin cậy,cao cấp hay tầm thường tất cả những suy tưởng này tuỳ thuộc vào nền văn hoá của mỗinước, văn hoá của từng tầng lớp xã hội của nước đó Như vậy, điều quan trọng là phải trừutượng hoá nhận thức có tính biểu tượng của từng nước và từng đoạn thị trường, hoặc tốt hơnnữa nếu xác định được biểu tượng của từng loại khách hàng tiềm năng đối với hàng hoá củadoanh nghiệp
Sự nghiên cứu này cần đạt đến một mức độ thích nghi nhất định với nhận thức ở thị trường
đó khi phân biệt một cấp độ thứ nhất (bản thân các biểu tượng) và một cấp độ thứ hai (kếthợp nhiều biểu tượng vào một sản phẩm):
- Cấp độ thứ tương đối dễ nhận biết, đó là nhận thức mà mỗi nền văn hoá hoặc tiểu văn hoá
có được về màu sắc, hình dáng, về một số đồ vật hay nhân vật nào đó Chẳng hạn như ởTrung Quốc màu trắng là màu tang tóc, còn màu đen là màu thông thường như các màukhác, màu đỏ biểu trưng cho máu, tức là cái chết hoặc ngược lại là sự sống Như vậy, cầnhết sức thận trong khi sử dụng màu này nếu nó là màu chính của sản phẩm
- Cấp độ thứ hai khó nhận biết hơn vì nó thường có vẻ nghịch lý và mâu thuẫn Chẳng hạntại một số vùng theo thanh giáo thì người sử dụng một hàng hoá đẹp sẽ không tin và sự chắcchắn của nó vì theo quan niệm của họ một số đồ vật vừa tốt lại vừa đẹp không thể đi liềnvới nhau thành một cặp Tại một số nơi khác hình ảnh súc vật in trên một số sản phẩm cóthể làm liên tưởng đến cái chết (như hình ảnh con cá ở Châu Phi) hay sự không sạch sẽ (nhưhình con cừu ở Đức)
* Nhận thức về hình ảnh hàng hoá:
"Máy của Đức rất chắc chắn, giầy của Ý là tốt nhất thế giới, thép Thuỵ Điển không gì sánhđược " là những nhận thức thực hay hư trong ý nghĩ của mọi người, thậm chí là khẳng
Trang 37định về giá trị của sản phẩm của các nước khác nhau Đó là hình ảnh của "Made in" thật khóthay đổi.
Với những nhận thức đó, doanh nghiệp có thể tạo ra trò chơi trên cái mà nó biết về tất cảnhững ý tưởng đó sao cho có lợi nhất, tức là giấu đi những gì không thuận lợi cho hàng hoácủa nó Tuy nhiên, trong khi hàng hoá được liên kết với một hình ảnh dân tộc hoặc mộtvùng nào đó thì sẽ có một tên gọi tương ứng và trong mọi trường hợp, khi đặc tính của hànghoá nhập ngoại "Made in" ở nước khác có giá trị gây thiệt hại cho hàng hoá địa phương thìkhông nên trình bày nó như một hàng hoá xa lạ bằng cách lựa chọn nước mà ta có thể liênkết liên doanh một cách thuận lợi nhất
II NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1 LỢI THẾ CẠNH TRANH:
Lợi thế cạnh tranh là ưu thế đạt đựơc của doanh nghiệp (so với các doanh nghiệp khác cùngngành) một cách tương đối dựa trên các nguồn lực và năng lực sản xuất của doanh nghiệp
đó Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thường đạt mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình
Tỷ lệ lợi thế đạt được của doanh nghiệp (so với các doanh nghiệp khác cùng ngành) thườngđược xác định bằng một tỷ số nào đó Có hai loại tỷ số cơ bản là lợi nhuận trên doanh thu vàlợi nhuận trên tài sản
* Lợi nhuận trên doanh thu:
Doanh thu - tổng chi phí Tổng chi phí
ROS = = 1-
Doanh thu Doanh thu
Chi phí 1 đvị sản phẩm x khối lượng sản phẩm
=
Giá 1 đvị sản phẩm x tổng khối lượng sản phẩm
Chi phí 1 đvị sản phẩm
= 1 -
Trang 38Giá 1 đvị sản phẩm
Do đó để có tỷ suất ROS cao hay tổng lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành, doanhnghiệp phải có mức chi phí/ 1 đơn vị thấp hơn của đối thủ cạnh tranh (nghĩa là tạo ra lợi thếcạnh tranh bên trong), hoặc làm cho sản phẩm của mình khác với đối thủ cạnh tranh như:khác biệt hoá sản phẩm, để tạo ra giá cao hơn đối thủ cạnh tranh (tức là tạo ra lợi thế cạnhtranh bên ngoài), hoặc thực hiện đồng thời cả hai cách trên Trước đây, các nhà kinh tếthường nhấn mạnh một nhân tố nào đó có liên quan đến chi phí hoặc khác biệt hoá sảnphẩm, nhưng ngày nay người ta thường chấp nhận lợi thế cạnh tranh là kết quả của đa nhântố
* Yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh
4 yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bao gồm: hiệu quả, chất lượng, đổi mới, nhạy cảm vớikhách hàng Đây là các yếu tố chung xây dựng nên lợi thế cạnh tranh, chúng biểu thị 4 cách
cơ bản để giảm chi phí và đa dạng hoá mà bất kỳ một doanh nghiệp nào sản xuất một sảnphẩm hay một dịch vụ nào cũng có thể áp dụng
Năng lực của doanh nghiệp được hình thành từ những kỹ năng trong việc khai thác, phốihợp các nguồn lực và hướng các nguồn lực vào mục đích sản xuất Những kỹ năng nàythường trực trong công việc hàng ngày của doanh nghiệp, được thể hiện qua cách thức raquyết định và quản lý các quá trình nội bộ của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đã đề ra
Để có những năng lực riêng biệt, ít nhất doanh nghiệp phải có một nguồn lực độc đáo và kỹnăng cần thiết để khai thác nguồn lực đó, hoặc một khả năng quản lý hữu hiệu để quản lýcác nguồn lực chung
Tuy nhiên khi đã có được lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ duy trì được lợi thế trongbao lâu, nói cách khác là khi nào các đối thủ cạnh tranh cũng đạt được lợi thế đó Điều đóphụ thuộc vào 3 yếu tố: độ cao của rào cản bắt chước, khả năng đổi mới của đối thủ cạnhtranh và sự vận động tổng thể của môi trường ngành
Thường thì nguồn lực dễ bị sao chép hơn các kỹ năng, năng lực dựa trên cơ sở hữu hìnhthường dễ bị bắt chước hơn các năng lực dựa trên cơ sở vô hình Do đó để duy trì được lâu
Trang 39dài lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp phải tích cực nâng cao trình độ quản lý nâng cao uy tíncủa doanh nghiệp, giữ vững các bí quyết công nghệ và chiến lược Marketing.
Khi một doanh nghiệp thực hiện một chiến lược, tức là ký một cam kết dài hạn dựa trênnhững cơ sở, những nguồn lực và năng lực nhất định Như vậy, một khi các đối thủ cạnhtranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phương thức kinh doanh nào đó, thì các đốithủ này cũng chậm trong việc sao chép các lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp đượcđổi mới
Sự vận động tổng thể của môi trường ngành thể hiện ở mức độ năng động của ngành.Những ngành nào năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm nhanh nhất.Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh tranh là rất nhiều vàmôi trường năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do đó lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp trở nên tạm thời
2 CÁC CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH:
Sau khi tìm hiểu lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải phân tích, đánh giá và lựa chọn chiếnlược cạnh tranh thích hợp tuỳ từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ thể Sự phù hợp của mộtchiến lược cạnh tranh có thể được xác định thông qua việc kiểm tra tính nhất quán của cácmục tiêu và các chính sách đã để xuất, sự phù hợp với nguồn lực, với môi trường, cùng khảnăng khai thác và truyền đạt thông tin
Mục tiêu chiến lược cạnh tranh thể hiện ý định của doanh nghiệp trong việc khai thác lợi thếcạnh tranh của mình trên toàn bộ thị trường, hoặc trên một số đoạn thị trường hạn chế Mụctiêu chiến lược được hình thành dựa trên phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của doanh nghiệp, thể hiện qua mô hình sau:
Trang 40Nhân tố bên trong Nhân tố bên ngoài
doanh nghiệp Doanh nghiệp
Bằng cách kết hợp lợi thế và mục tiêu chiến lược, có 3 dạng chiến lược cạnh tranh phổ biến
là chiến lược nhấn mạnh chi phí, chiến lược khác biệt hoá và chiến lược trọng tâm hoá Cácchiến lược này có thể sử dụng riêng rẽ hoặc được kết hợp với nhau
2.1 Chiến lược nhấn mạnh chi phí
Chi phí được coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Chi phí càng thấp thì doanh nghiệp càng có lợi thế cạnh tranh cao so vớicác đối thủ Cụ thể:
- Doanh nghiệp có thể đạt mức giá thấp hơn đối thủ mà vẫn đảm bảo lợi nhuận bằng các đốithủ, hoặc đạt mức lợi nhuận cao hơn khi mức giá trong ngành là bằng nhau
- Khi cạnh tranh trong ngành tăng và các đối thủ bắt đầu cạnh tranh bằng giá, thì doanhnghiệp sẽ đứng vững hơn trong cạnh tranh vì chi phí sản xuất thấp hơn đối thủ của mình
Để theo đuổi chiến lược cạnh tranh nhấn mạnh chi phí, doanh nghiệp phải có ưu thếcạnh tranh bên trong hay còn gọi là khả năng làm chủ chi phí Điều đó có nghĩa là doanhnghiệp phải có thị phần tương đối lớn (phân đoạn thị trường thấp), có nhóm khách hàng ổnđịnh, hoặc phải có những thuận lợi trong sản xuất và trong quản lý nguyên vật liệu Phân