Thông qua việc điều tra nông hộ, phân tích sinh kế, tính toán lượng khí phát thải và so sánh tính chất tăng trưởng xanh của hai loại hình sinh kế, trên cơ sở đó hỗ trợ người dân lựa chọn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN QUANG KHẢI
ĐÁNH GIÁ CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ THEO HƯỚNG TĂNGTRƯỞNG XANH Ở XÃ
VÂN HÒA, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN QUANG KHẢI
ĐÁNH GIÁ CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH Ở XÃ
VÂN HÒA, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Cự
Hà Nội - 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và trích dẫn rõ ràng nguồn gốc
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Quang Khải
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Phạm Văn Cự, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉnh sửa cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Xin cảm ơn trung tâm ICARGC, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu phục vụ việc thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Sau đại học, Đại học Quốc Gia
Hà Nội đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Biến đổi khí hậu
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ UBND xã Vân Hòa, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội, phòng Tài nguyên môi trường huyện Ba Vì, thành phố Hà
Nô ̣i đã nhiệt tình cung cấp thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Ba Vì, ngày tháng năm Học viên cao học
Nguyễn Quang Khải
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Câu hỏi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 5
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN C ỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH, CÁC VẤN ĐỀ PHÁT THẢI VÀ SINH KẾ 5
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.1 Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh 5
1.1.2.Các nghiên cứu liên quan đến tính toán phát thải khí nhà kính 7
1.1.3.Tình hình nghiên cứu về sinh kế 18
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 19
1.2.1.Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh 19
1.2.2.Các nghiên cứu trong nước liên quan đến việc tính toán phát thải khí nhà kính 20 1.2.3.Tình hình nghiên cứu sinh kế ở trong nước 22
1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
Chương 2 34
CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 34
2.1 Phương pháp tính phát thải 34
2.1.1 Phương pháp tính phát thải mê-tan từ trồng lúa 34
2.1.2 Phương pháp tính phát thải mê-tan từ chăn nuôi bò sữa 36
2.2 Phương pháp xác định và đánh giá sinh kế 41
2.2.1.Phương pháp thu thập và tổng hợp số liê ̣u 41
2.2.2.Phương pháp đánh giá sinh kế 43
2.3 Dữ liệu về hiện trạng hai loại hình sinh kế 43
2.3.1 Hiện trạng trồng lúa và chăn nuôi bò sữa ở xã Vân Hòa 43
2.3.2 Số liệu nhiệt độ trung bình các tháng giai đoạn 2001-2010 45
Chương 3 48
Trang 6iv
CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ THEO HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG XANH Ở XÃ
VÂN HÒA, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 48
3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 48
3.2 Hiện trạng chuyển đổi sinh kế và vai trò của các nguồn vốn trong chuyển đổi sinh kế ở xã Vân Hòa 49
3.2.1 Hiện trạng chuyển đổi sinh kế 49
3.2.2 Vai trò của các nguồn vốn trong chuyển đổi sinh kế theo hướng tăng trưởng xanh 51
3.3 Sư thay đổi phát thải khi chuyển đổi sinh kế t ừ trồng lúa sang chăn nuôi bò sữa 53
3.3.1 Phát thải CH 4 từ trồng lúa ở xã Vân Hòa 53
3.3.2 Phát thải CH 4 của quá trình chăn nuôi bò sữa 55
3.4 Sự thay đổi thu nhập khi chuyển đổi sinh kế từ trồng lúa sang chăn nuôi bò sữa .59
3.4.1 Thu nhập từ lúa của người dân xã Vân Hòa 59
3.4.2 Thu nhập từ chăn nuôi bò sữa của người dân xã Vân Hòa 62
3.4.3 Đánh giá thu nhập từ hai loại hình sinh kế trên lượng phát thải 65
3.5 Đánh giá chuyển đổi sinh kế theo hướng tăng trưởng xanh 67
KẾT LUẬN 70
KHUYẾN NGHỊ 72
Trang 7UBND - Ủy ban nhân dân
UNEP - Tổ chức môi trường Liên Hợp Quốc VNĐ(Vnđ)
KHKT
- Đồng Viê ̣t Nam
- Khoa học kỹ thuật
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hệ số phát thải của một số quốc gia theo IPCC……….8
Bảng 1.2 Hệ số phát thải theo nhiệt độ ở Thổ Nhĩ Kỳ 9
Bảng 1.3 Hệ số phát thải từ lên men tiêu hóa của bò sữa đang vắt sữa ở một số khu vực 13
Bảng 1.4 Hệ số phát thải từ lên men tiêu hóa của bò sữa chưa vắt sữa ở một số khu vực 15
Bảng 1.5 Hệ số phát thải khí Mê-tan từ quản lý phân bón của bò sữa đang vắt sữa ở một số khu vực 16
Bảng 1.6 Hệ số phát thải khí Mê-tan từ quản lý phân bón của bò sữa chưa vắt sữa ở một số khu vực 17
Bảng 1.7 Số lượng vật nuôi thay đổi qua các năm (2003 - 2013) 30
Bảng 2.1 Hê ̣ số phát thải của lúa ở Việt Nam 35
Bảng 2.2 Tỷ số chuyển đổi CH4 áp dụng cho bò sữa 37
Bảng 2.3 Tính toán hệ số năng lượng thuần cho bò sữa 37
Bảng 2.4 Diện tích và năng suất lúa xã Vân Hòa 44
Bảng 2.5 Số lượng bò sữa ở xã Vân Hòa 45
Bảng 2.6 Nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Ba Vì và trạm Sơn Tây giai đoạn 2001-2010 46
Bảng 3.1 Phát thải CH4 từ lúa vu ̣ Đông Xuân ở xã Vân Hòa , huyện Ba Vì, TP.Hà Nội 53
Bảng 3.2 Phát thải CH4 từ trồng lúa vụ Hè Thu ở xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, TP Hà Nội 54
Bảng 3.3 Phát thải CH4 từ quá trình lên men tiêu hóa của bò sữa đang khai thác sữa ở xã Vân Hòa 56
Bảng 3.4 Phát thải CH4 từ quản lý phân bón của bò sữa chưa khai thác sữa 57
Bảng 3.5 Thu nhập từ lúa của người dân xã Vân Hòa, huyện Ba, thành phố Hà Nội từ 2003-2013 60
Bảng 3.6 Tính toán thu nhập từ bán bê con của các nông hộ chăn nuôi bò sữa 63
Bảng 3.7 Tính toán thu nhập từ sữa của các hộ chăn nuôi bò sữa xã Vân Hòa 64
Bảng 3.8 So sánh thu nhập/ đơn vị phát thải của hai loại hình sinh kế 65
Bảng 3.9 Bảng điều tra sinh kế nông hộ(chọn ngẫu nhiên) tại ba thôn Bơn, thôn Bặn và thôn Đồng Chay 66
Trang 9vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí địa lý xã Vân Hòa, huyện Ba vì, Thành phố Hà Nội 25
Hình 1.2 Bản đồ độ cao của huyện Ba Vì,Thành phố Hà Nội 26
Hình 1.3 Diện tích đât trồng cây nông nghiệp của xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội (2003 - 2013) 29
Hình 1.4 Diện tích và năng suất lúa qua các năm từ 2003-2013 30
Hình 1.5 Thu nhập bình quân của người dân xã Vân Hòa 2007-2013 32
Hình 1.6 Tỷ lệ lao động của xã Vân Hòa năm 2011 32
Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 43
Hình 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Vân Hòa 48
Hình 3.2 Thay đổi diê ̣n tích trồng lúa và diê ̣n tích trồng cỏ ở xã Vân Hòa……50
Hình 3.3 Phát thải CH4 ở quá trình lên men tiêu hóa đối với bò sữa chưa khai thác sữa ở xã Vân Hòa………55
Hình 3.4 Phát thải CH4 ở quá trình quản lý phân bón đối với bò đang khai thác sữa ở xã Vân Hòa………58
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Vân Hòa là một xã thuần nông thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Vì, đại đa số người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp Diện
tích đất nông nghiệp toàn xã năm 2000 là 1.081 ha, trong đó có 303 ha đất trồng
lúa, 5 ha đất trồng cỏ Tuy nhiên, năm 2013 thì diện tích đất trồng lúa giảm đi chỉ còn 200,2 ha trong khi dịên tích đất trồng cỏ nuôi bò sữa tăng lên 230 ha Số lượng bò sữa năm 2000 là 40 con, năm 2013 tăng lên là 2.431 con (UBND xã Vân Hòa, 2013) Nhờ có sự chuyển đổi sinh kế từ trồng lúa và các loại hoa màu cho năng suất thấp sang trồng cỏ để chăn nuôi bò sữa mà đời sống kinh tế xã hội của địa phương ngày một đi lên, nhiều bà con ở đây thoát nghèo Tuy nhiên, hạn chế của sự chuyển đổi sinh kế này là gì và sự chuyển đổi sinh kế này có thực sự bền vững hay không? Để trả lời câu hỏi này học viên đã lựa chọn nghiên cứu sự chuyển đổi sinh kế ở xã Vân Hòa
Sau khi có chính sách hỗ trợ của nhà nước và sự mạnh dạn chuyển đổi hướng sinh kế từ trồng lúa sang trồng cỏ nuôi bò sữa từ năm 2000 thì đời sống người dân xã Vân Hòa không ngừng được cải thiện Bản tính cần cù chịu khó và biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tận dụng tốt các nguồn lực tự nhiên
và xã hội, các hộ nông dân đã từng bước cải thiện đời sống kinh tế Cơ sở hạ tầng ngày một khang trang, bộ mặt nông thôn đã đổi mới Sinh kế chăn nuôi bò sữa theo hướng phát thải ít CO2 ngàymột phát triển Môi trường tự nhiên ít bị ảnh hưởng, một diện tích rộng lớn đất đai được bao phủ bởi màu xanh của cỏ, hạn chế albedo của mặt đất, chống xói mòn rửa trôi Điều này là hết sức quan trọng bởi Vân Hòa có địa hình dốc từ 42,57m - 268m (Hình 1.2) bao gồm rất nhiều quả đồi lớn nhỏ Vân Hòa còn là một trong 7 xã nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Vì, khu dự trữ sinh quyển, lá phổi xanh của thành phố Hà Nội Đất đai và khí hậu của xã Vân Hoà có nhiều tiềm năng để phát triển giống
cỏ voi (tên khoa học là Pennisetum purpurreum) (Nguyễn Thiện, 2009), là cơ sở
để phát triển sinh kế chăn nuôi bò sữa Đây có thể là sinh kế xanh đang được
Trang 112
định hướng, khuyến khích theo chiến lược tăng trưởng xanh, kinh tế xanh (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2000) Vân Hòa là địa phương điển hình diễn ra sự chuyển đổi sinh kế một cách hiệu quả, do đó học viên lựa chọn đây là khu vực nghiên cứu
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, người dân với các sinh kế nông hộ quy mô nhỏ là đối tượng chịu tác động và có tính dễ bị tổn thương cao (R Selvaraju and
et al, 2006), bởi vậy mà một sinh kế “xanh” có ý nghĩa quan trọng với người dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội và nâng cao mức sống, đồng thời giảm thiểu phát thải khí nhà kính Với mục tiêu đánh giá mô hình sinh kế chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cỏ nuôi bò sữa ở xã Vân Hòa có phải là mô hình kinh tế
xanh hay không, học viên lựa chọn đề tài “Đánh giá chuyển đổi sinh kế theo
hướng tăng trưởng xanh ở xã Vân Hoà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
Thông qua việc điều tra nông hộ, phân tích sinh kế, tính toán lượng khí phát thải
và so sánh tính chất tăng trưởng xanh của hai loại hình sinh kế, trên cơ sở đó hỗ trợ người dân lựa chọn loại hình kinh tế có tính bền vững, phù hợp với điều kiện kinh tế tại địa phương Đồng thời, luận văn cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm bảo đảm việc chuyển đổi sinh kế ở đây phù hợp với hướng tăng trưởng xanh - một trong những mô hình kinh tế đang được khuyến khích phát triển
2 Câu hỏi nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu : Chuyển đổi sinh k ế ở Vân Hòa có phải là mô hình sinh kế xanh hay không?
Cách tiếp cận : Hệ thống dựa trên khung sinh kế kết hợp các tiêu trí của tăng trưởng xanh
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát : Đánh giá tính chất tăng trưởng xanh của việc chuyển đổi sinh kế trồng lúa sang trồng cỏ nuôi bò sữa
Mục tiêu cụ thể: Đánh giá tác đô ̣ng của mỗi loa ̣i hình sinh kế tới tự nhiên và xã
hô ̣i dựa trên các tiêu trí của tăng trưởng xanh
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của sự chuyển đổi sinh kế từ trồng lúa sang trồng cỏ nuôi bò sữa đến tăng trưởng xanh
Trang 123
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại xã Vân Hoà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Số liệu nghiên cứu thực hiện từ năm 2000 đến năm 2014
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tính toán phát thải khí nhà kính
Phương pháp tính phát thải khí nhà kính áp dụng cho luận văn dựa vào phương trình của IPCC, với hệ số phát thải mặc định cho Việt Nam để tính toán
- Phương pháp xác định và đánh giá sinh kế
Phương pháp xác định và đánh giá sinh kế được sử dụng trong luận văn là phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu kết hợp với sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID
4 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phần kết luận thì luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về tăng trưởng xanh, các vấn đề phát thải và sinh kế
Trong chương này , chúng tôi tìm hiểu các tài liệu , các nghiên cứu đã có về tăng trưởng xanh, các vấn đề phát thải và sinh kế
Chương 2: Các phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Trong chương này chúng tôi g iới thiê ̣u các phương pháp tính toán ,cách thu thâ ̣p số liê ̣u trong pha ̣m vi nghiên cứu và cách xử lý số liê ̣u đã thu thâ ̣p
Chương 3: Tác động của chuyển đổi sinh kế tới tăng trưởng xanh ở xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Đây là chư ơng giới thiê ̣u các kết quả chính của luâ ̣n văn , trong chương này chúng tôi trình bày các kết quả về phát thải khí nhà kính , đồng thời đánh giá chuyển đổi sinh kế chăn nuôi bò sữa theo hướng tăng trưởng xanh ở đi ̣a bàn nghiên cứu
Mô ̣t phần kết quả của bài báo đã được đăng trong kỷ yếu hô ̣i nghi ̣ : “Tăng
trưởng xanh”do Trung Tâm Nghiên Cứu Tài Nguyên và Môi trường , ĐHQGHN
Trang 134 ngày 22/11/2013 tổ chức dưới tiêu đề Tìm hiểu vai trò của sinh kế nuôi bò sữa với giảm thiểu biến đổi khí hâ ̣u ta ̣i xã Vân Hoà, huyê ̣n Ba Vì, Hà Nội
Trang 145
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH, CÁC
VẤN ĐỀ PHÁT THẢI VÀ SINH KẾ 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh
Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề tăng trưởng xanh và kinh tế xanh, các nghiên cứu này đã nêu nên những thách thức của nhân loại trong việc đương đầu với các cuộc khủng khoảng đã và đang xảy ra như cuộc khủng khoảng biến đổi khí hậu Việc cần thiết thực hiện một chính sách kinh tế phù hợp với thực tế các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày một khan hiếm Trong một phần tư thế kỷ qua, các nền kinh tế trên thế giới đã tăng gấp bốn lần
và đem lại lợi ích to lớn cho hàng trăm triệu người Tuy nhiên, 60% hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái phục vụ cho phát triển sinh kế hiện nay đang bị suy thoái hoặc sử dụng thiếu bền vững (UNEP, 2011) Điều này cho thấy sự tăng trưởng kinh tế của thế giới trong những năm qua chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách thiếu kiểm soát, chưa chú trọng tới việc phục hồi các nguồn tài nguyên thiên nhiên Việc xây dựng các mô hình tăng trưởng thân thiện với môi trường đang ngày càng trở nên cần thiết Thuật ngữ
“tăng trưởng xanh” dùng để mô tả con đường tăng trưởng kinh tế bằng cách sử
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo phương thức bền vững Nó được sử dụng trên toàn cầu nhằm cung cấp một khái niệm cho tăng trưởng kinh tế phù hợp với chuẩn mực Kinh tế xanh là con đường để phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu Tăng trưởng xanh có thể cung cấp những giải pháp cho bồi dưỡng và phát triển bền vững, bao gồm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu Không kết hợp giảm nhẹ biến đổi khí hậu và vấn đề thích ứng vào chính sách phát triển có khả năng làm suy yếu tăng trưởng kinh tế trong tương lai, sự cải thiện liên tục của các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) sau năm 2015 và cơ bản đời sống của người nghèo (ADB, 2009) Tăng trưởng xanh
có xu thế hợp nhất các trụ cột kinh tế và môi trường trong phát triển bền vững
Trang 15và làm gia tăng các nguồn vốn tự nhiên, “Một nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội vừa giảm thiểu đáng kể những rủi ro về môi trường và khủng hoảng sinh thái” (UNEP, 2011)
Nhìn chung các nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất rằng: tăng trưởng xanh, là một mô hình tăng trưởng tập trung vào hai trụ cột chính là kinh tế và môi trường Biến những hạn chế về mặt con người và những thảm họa thiên nhiên do các hoạt động của con người tạo ra thành cơ hội kinh tế, giúp nâng cao tăng trưởng kinh tế và giảm tác động xấu tới môi trường Việc sử dụng thông minh nguồn vốn tự nhiên là con đường để hướng tới phát triển bền vững
Tăng trưởng xanh và phát thải cacbon thấp có liên quan chặt chẽ với nhau, là
xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam Tăng trưởng xanh vừa là thách thức, song cũng là cơ hội mở ra cho các quốc gia trong tương lai Nhiều sản phẩm mới có có hàm lượng chất xám cao, cacbon thấp, thân thiện với môi trường, được sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người, cũng vì thế mà hàng triệu việc làm mới được tạo ra trên thế giới Có thể nói rằng tăng trưởng xanh với lượng cacbon thấp đang làm thay đổi phương thức sinh hoạt và tiêu dùng, kéo theo đó là sự thay đổi công
Trang 167
nghệ sản xuất và cả trong lĩnh vực nhận thức về văn hóa, xã hội Chính bởi vậy
mà vấn đề phát thải khí nhà kính được xã hội hết sức quan tâm, lấy làm cơ sở để xác định chiến lược tăng trưởng cho các quốc gia
1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến tính toán phát thải khí nhà kính
a Tính toán phát thải khí nhà kính từ trồng lúa
Sự phát thải khí nhà kính mà cụ thể là khí CH4 từ trồng lúa được tính toán theo rất nhiều các phương pháp khác nhau ở các quốc gia trên thế giới
Việc sử dụng phương trình để tính toán phát thải khí mê-tan (CH4) được sử dụng tương đối phổ biến, trong đó phải kể đến IPCC năm 1996 và 2006 IPCC năm 1996 đã tính phát thải mê-tan dựa vào phương trình tính toán như sau:
CH 4 – Rice = A x EF x 10 -12
(Với A là diện tích trồng lúa, EF là hệ số phát thải)
Trong khi đó, IPCC năm 2006 lại sử dụng công thức:
CH 4 – Rice = ∑ i, j, k (EF i, j, k x t i, j, k x A i, j, k x 10 -6 )
Trong đó: EF là hệ số phát thải, t là thời gian gieo trồng, A là diện tích gieo trồng Điều này xuất phát từ việc gieo trồng lúa chỉ xảy ra vào một khoảng thời gian nhất định trong năm Còn các giá trị i, j, k là điều kiện các hệ sinh thái của các khu vực gieo trồng khác nhau nên việc áp dụng công thức cũng khác nhau cho từng khu vực
Có thể nói cho đến nay việc sử dụng phương trình của IPCC (1996) để tính toán phát thải khí nhà kính vẫn là phương pháp cơ bản được nhiều quốc gia áp dụng Theo thống kê của IPCC năm 2000 thì đã có ít nhất 108 quốc gia đã sử dụng công thức trên để tính toán phát thải CH 4 từ lúa (IPCC, 2000), ví dụ ở Trung Quốc, hệ số phát thải EF được áp dụng cho phương trình này là EF = 22 (kg/mẫu anh) (Wang Xiaoqin and, 2010.)
Một số quốc gia khác cũng sử dụng phương trình của IPCC để tính toán phát thải CH4, tuy nhiên mỗi quốc gia lại áp dụng với hệ số khác nhau
Trang 178
Bảng 1.1 Hệ số phát thải của một số quốc gia theo IPCC
Quốc gia EF và Khoảng EF theo
Wassmann và cộng sự, 1994 Thái Lan 16 (4 – 40) Towpryaoon và cộng sự, 1994
Mỹ (Bang Texas) 25 (15 – 35) Sass và Fisher, 1995
(Nguồn: Good Practice Guidance and Uncertainty Management in National
Greenhouse Gas Inventories, 2000)
Theo nhóm tác giả S.-S Yang 7 H.-L Chang, của Đài Loan (S S Yang and
H L Chang, 2001) trong nghiên cứu: “Phát thải khí CH 4 từ lúa ở Đài Loan” cho
rằng phát thải CH4 cao trong giai đoạn đẻ nhánh và thấp dần trong các giai đoạn sau, ở mùa thu hoạch thứ hai phát thải CH4 cao trong giai đoạn mới cấy và thấp dần trong giai đoạn canh tác lúa tiếp theo Lượng phát thải CH4 hàng năm dao động trong khoảng từ 12,3-49,3 g/m2 với giả định là hệ thống thủy lợi hoạt động liên tục: 61,5 g/m2 Bên cạnh phương trình tính toán phát thải khí nhà kính của IPCC, thì một phương trình khác cũng được sử dụng cho tính toán phát thải trong nông nghiệp Một nghiên cứu về phát thải khí nhà kính từ sản xuất nông
Trang 18Trong khi đó ở Thổ Nhĩ Kỳ (Filiz Onder and Kismet Akcasoy, 2002) việc tính toán phát thải khí mê-tan được áp dụng dựa vào phương trình sau:
Emission (Gg)= CRF(ha) x EF CH 4 (kg/ha/ngày) x GS (Gg x 10 -6 kg -1 )
Với CRF là diện tích canh tác, EF là hệ số phát thải, GS là thời gian gieo trồng
Hệ số phát thải CH4 được quốc gia này áp dụng phụ thuộc vào từng mức nhiệt
độ khác nhau
Bảng 1.2 Hệ số phát thải theo nhiệt độ ở Thổ Nhĩ Kỳ
Nhiê ̣t đô ̣ trung bình trong mùa
Trang 19(Nguồn: Methodology on GHG Emission Used by Turkey, 2002)
Một phương pháp khác để tính toán sự phát thải khí CH4 từ lúa là đo thực nghiệm trên cây lúa trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Theo tác giả K
R Manjunath và nhóm cộng sự, trong báo cáo: “Mẫu khí thải mê tan trong các
trong suốt quá trình sinh trưởng của cây lúa Một phép đo liên tục đã được thực hiện trên một khu vực rộng, việc ba lần lấy mẫu trong suốt giai đoạn sinh trưởng Thực hiện đo trong ngày thứ 20 của giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai trong khoảng từ ngày thứ 50 -> 60 và giai đoạn thứ ba khoảng ngày thứ 80 -
>85 kể từ khi gieo trồng (K R Manjunath and et al, 2011) Diện tích lúa ở vùng cao chiếm 15% của 150 Mha diện tích lúa toàn cầu nên lượng phát thải khí CH4từ khu vực này hạn chế hơn nhiều Diện tích đất lúa có hệ thống tưới tiêu, phụ
Trang 20b Về tính toán phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi
Theo báo cáo IPCC, quá trình phát thải khí mê-tan ở gia súc xảy ra trong hai quá trình: lên men tiêu hóa và quản lý phân bón Khoảng hai phần ba tổng số khí mê-tan sản xuất thông qua quá trình lên men tiêu hóa được sản xuất bởi bò sữa (W Smink and et al, 2005) Ở quá trình lên men tiêu hóa, phương pháp sử dụng
để tính dựa vào việc xác định, lượng năng lượng thô thu nhận theo yêu cầu của động vật để bảo trì hoạt động, phát triển, mang thai và cho con bú Sau đó lượng năng lượng thô và khí mê-tan được tính toán dựa vào tổng năng lượng thu nhận Bằng cách này thì tỷ lệ thức ăn có vai trò quan trọng trong việc tính toán khí mê-tan (W Smink and et al, 2005) Đến nay các phương pháp xác định lượng khí mê-tan thải ra từ bò sữa bao gồm: kỹ thuật đo thông qua các mô hình thực nghiệm và ước lượng phát thải thông qua các phương trình Đây là một trong những phương pháp phổ biến để tính phát thải khí mê-tan từ gia súc
Trong nghiên cứu về tính toán phát thải khí nhà kính của nhóm tác giả Filiz Onder Kismet Akasoy đã cho rằng khí CH4 được hình thành trong quá trình phân hủy cacbonhydrat bởi vi sinh vật, bên cạnh đó khí mê-tan này còn được sản xuất từ quá trình phân hủy phân gia súc trong môi trường yếm khí Phát thải
CH4 sinh ra từ quá trình lên men tiêu hóa được tính bằng cách sử dụng hệ số phát thải của các loại động vật (Filiz Onder and Kismet Akcasoy, 2002) Trong
đó hệ số phát thải áp dụng cho các khu vực cũng như mỗi loại động vật
Công thức tính toán lượng phát thải khí mê-tan từ chăn nuôi như sau:
Emission (Gg)= LP x EF CH 4 (kg Gg) x 10 -6 kg -1
Với LP (Livestock population) số lượng gia súc EF là (Emission Factor) hệ
số phát thải
Trang 21số phát thải của khu vực Châu Á Các hệ số phát thải CH4 (EF) lần lƣợt trong bốn bảng 1.3, bảng 1.4, bảng 1.5 và bảng 1.6 đƣợc IPCC áp dụng trong quá trình lên men tiêu hóa và quản lý phân bón đối với từng loại bò sữa, đang khai thác sữa và chƣa khai thác sữa Từ các bảng này cho thấy ở quá trình lên men tiêu hóa đối với bò sữa đang khai thác sữa hệ số đƣợc áp dụng là EF= 56(kg/con/năm), còn đối với bò sữa chƣa khai thác sữa hệ số đƣợc áp dụng là EF= 44(kg/con/năm) Cũng theo nội dung của bảng này ở quá trình quản lý phân bón hệ số áp dụng cho bò sữa đang khai thác sữa là EF = 16(kg/con/năm), đối với bò chƣa khai thác sữa hệ số đƣợc áp dụng là EF=1(kg/con/năm)
Trang 2243114 4A1a - Sữa 3.A.1.a.i - Bò sữa Mê tan Hệ số lên men tiêu hóa
đường ruột của bò sữa
Khu vực châu Á 56 kg/đầu gia
súc /năm
43116 4A1a - Sữa 3.A.1.a.i - Bò
sữa
Mê tan Hệ số lên men tiêu hóa
đường ruột của bò sữa
Khu vực châu Phi và Trung Đông
36 kg/đầu gia
súc /năm
Trang 23Mê tan Hệ số lên men tiêu
hóa của bò sữa
Mê tan Hệ số lên men tiêu
hóa của bò sữa
Khu vực châu Á 44 kg/đầu gia
súc /năm
43117 4A1b - Không
sữa
3.A.1.a.ii - – Gia súc khác
Mê tan Hệ số lên men tiêu
hóa của bò sữa
Khu vực châu Phi
Mê tan Hệ số lên men tiêu
hóa của bò sữa(chƣa
có sữa)
Khu vực Bắc Mỹ 69 kg/đầu gia
súc /năm
Trang 24Khu vực Bắc
Mỹ có khí hậu lạnh
gia súc /năm
43231 4B1a - Sữa 3.A.2.a.i -
Bò sữa
Mê tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm dưới 15o c
Khu vực châu Á
có khí hậu lạnh
gia súc /năm
43232 4B1a - Sữa 3.A.2.a.i -
Bò sữa
Mê tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 15 đến 25 oc
Khu vực châu Á
có khí hậu ấm
gia súc /năm
43233 4B1a - Sữa 3.A.2.a.i -
Bò sữa
Mê tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm lớn hơn 25oc
Khu vực châu Á
có khí hậu nóng
gia súc /năm
Trang 252006
Loại khí
kiện khu vực
Giá trị
Đơn vị
43224 4B1b – không
sữa
3.A.2.a.ii Gia súc khác
-Mê- tan Hệ số phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm lớn hơn 25oc
Khu vực Trung Đông có khí hậu nóng
1 kg/đầu
gia súc /năm
43234 4B1b – không
sữa
3.A.2.a.ii Gia súc khác
-Mê- tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm dưới 15o c
Khu vực châu Á
có khí hậu lạnh
1 kg/đầu
gia súc /năm
43235 4B1b - không
sữa
3.A.2.a.ii Gia súc khác
-Mê -tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ
43236 4B1b - không
sữa
3.A.2.a.ii Gia súc khác
-Mê -tan Hệ sô phát thải từ
quản lý phân bón
Nhiệt độ trung bình hàng năm lớn hơn 25oc
Khu vực châu Á
có khí hậu nóng
2 kg/đầu
gia súc /năm
Trang 2618
c Tính phát thải khí mê tan từ cỏ voi
Để tính phát thải CH4 từ cỏ nói chung có nhiều phương pháp, nhưng riêng với cỏ voi, do đặc điểm sinh trưởng thích hợp với đất mùn khô nên trên thế giới
đã áp dụng phương pháp tính phát thải dựa vào sinh khối
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về sinh kế
a Khái niệm sinh kế
Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính là khả năng, tài sản (bao gồm các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống Song sinh
kế không chỉ đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn, chỗ ở mà sinh
kế còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các thông tin, kỹ thuật quyền sở hữu, kỹ năng
và các mối quan hệ…(Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ thực hiện nhằm để sống cũng như để đạt được những
mục tiêu và ước nguyện của họ (DFID, 2001)
b Các nghiên cứu về sinh kế
Khái niệm “Sinh kế bền vững” (Sustainable livelihoods) lần đầu tiên được
dùng vào khoảng những năm 90 của hai tác giả Chambers và Conway, đã định
nghĩa: “Sinh kế bền vững bao gồm năng lực con người và kế sinh nhai gồm
lương thực thực phẩm và tài sản của họ” Sinh kế bền vững là một khái niệm
quan trọng được một tổ chức phát triển của Anh DFID phát triển bao gồm năm chỉ báo là nguồn lực tự nhiên, nguồn lực kinh tế, nguồn lực vật chất, nguồn lực con người và xã hội, gọi là khung sinh kế bền vững Theo DFID một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi sau những căng thẳng hay cú sốc
để duy trì hay tăng cường tài sản của mình trong hiện tại và tương lai trong khi không phá hoại tài nguyên thiên nhiên (DFID, 1999) Với mục tiêu của DFID
là giảm tỷ lệ đói nghèo cùng cực xuống một nửa vào năm 2015 ở các nước nghèo Tuy nhiên cách tiếp cận của DFID là làm sao cho người dân hiểu biết
về nghèo đói, mức độ cũng như các chỉ số đói nghèo
Trong một nghiên cứu về sinh kế ở khu vực Tanzania, nhóm tác giả đã chỉ ra việc cần thiết phải lựa chọn các biện pháp thích ứng, phù hợp cho các đối tượng
Trang 2719
dễ bị tổn thương Trong đó, đối tượng dễ bị tổn thương nhất là các đối tượng có trình độ học vấn thấp, ít tài sản Các tác giả đã nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới các nguồn vốn dễ bị tổn thương, bao gồm sự thay đổi về dân số Nghiên cứu này đã thực hiện điều tra các yếu tố nội sinh và ngoại sinh bằng việc thăm dò kinh tế xã hội, những cơ hội và thách thức ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và phát triển sinh kế bền vững của khu vực nghiên cứu (Hubert E Meena and Paul O„Keefe, 2007) Nếu thực hiện tốt các biện pháp thích ứng mà nghiên cứu nêu ra thì chính các đối tượng này là những người được hưởng lợi nhiều nhất
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Các nghiên cứu về tăng trưởng xanh
Các nghiên cứu trong nước cũng tập trung vào phân tích nội hàm của “tăng
trưởng xanh” Tăng trưởng xanh đang là xu hướng phát triển chung của nhiều
quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Theo định nghĩa tăng trưởng xanh của Việt Nam là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, bằng cách nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế theo hướng bền vững Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam nêu lên tầm quan trọng của phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, thiên nhiên
và thông qua định hướng chiến lược năm 2004 “Trong định hướng chiến lược”
này mối quan hệ qua lại giữa phát triển kinh tế và tài nguyên – môi trường đã được xem xét và đánh giá thông qua 19 lĩnh vực ưu tiên, trong đó có 9 lĩnh vực
về Tài nguyên và Môi trường (Võ Thanh Sơn, 2012) Nội dung của chiến lược
tăng trưởng xanh của Chính phủ Việt Nam đã nêu rõ: “Tăng trưởng xanh” là
một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người,
Trang 2820
góp phần tạo ra việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân (Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2012)
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước liên quan đến việ c tính toán phát thải khí
nhà kính
a Vai trò và tính toán phát thải khí nhà kính đối với khí hậu Trái Đất
Thành phần khí quyển bao gồm 78% khí ni-tơ, 21% khí ô-xi còn lại 1% các khí khác như hơi nước, khí mê-tan, khí các cacbonic… gọi chung là khí nhà kính Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ trong thành phần khí quyển, song các khí nhà kính có vai trò hết sức quan trọng, giữ ổn định khí hậu trái đất Theo các nhà khoa học, nhờ có hiệu ứng nhà kính mà nhiệt độ trái đất trung bình khoảng 15oc, nếu không có hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ trung bình của Trái Đất vào khoảng -18oc Thành phần khí quyển ổn định ít thay đổi đã giúp cho năng lượng đi tới Trái Đất và từ Trái Đất thoát ra ngoài không trung được cân bằng, sự tăng nồng
độ các khí nhà kính dễ dẫn tới phá vỡ sự cân bằng đó (Nguyễn Đức Ngữ, 2008) Các nhà khoa học cũng đồng ý rằng sự tăng nồng độ khí nhà kính là nguyên nhân gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay Chính vì vậy mà việc xác định nồng độ khí nhà kính cũng như tính toán phát thải khí nhà kính có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu
Trong các khí nhà kính tồn tại trong tự nhiên hiện nay thì khí mê-tan được xem là loại khí quan trọng thứ hai do con người tạo ra, chỉ sau khí cacbonic Tuy nồng độ của khí mê-tan trong không khí ít hơn khí cacbonic nhưng lại bền vững trong tự nhiên hơn Nguồn phát thải khí mê tan chủ yếu từ sự phân giải yếm khí của thực vật trong đầm lầy, phân gia súc… Các nhà khoa học đã tính toán rằng nồng độ khí mê-tan hiện nay đã tăng lên 145% so với thời kỳ tiền công nghiệp (Nguyễn Đức Ngữ, 2008) Khoảng một nửa lượng mê tan tăng trong khí quyển hiện nay là do con người tạo ra Chính bởi vậy, việc tính toán mức độ phát tải khí mê-tan nói riêng và các khí nhà kính nói chung có nhiều ý nghĩa, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay Trong nghiên cứu này, học
Trang 2921
viên chỉ đề cập đến các phương pháp tính phát thải mê tan, một trong các khí nhà kính quan trọng nhất
b Các nghiên cứu liên quan đến tính toán phát thải khí nhà kính ở Việt Nam
Theo hướng nghiên cứu tính toán lượng phát thải CH4 trên thế giới, các nghiên cứu ở Việt Nam tập trung theo hai hướng tính theo mô hình thí nghiệm
và theo phương trình của IPCC
Nghiên cứu tiêu biểu áp dụng phương trình của IPCC để tính lượng phát thải
khí nhà kính có thể nói đến là bảng: “Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt
Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu” của Bộ Tài
Nguyên Và Môi Trường do nhóm tác giả Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Đức Hải, Hoàng Mạnh Hòa, Nguyễn Mộng Cường, Bùi Huy Phùng biên soạn Theo báo cáo này lượng phát thải CH4 từ trồng lúa trong năm 2000 là 1.782,37 nghìn tấn bằng 37.429,77 nghìn tấn CO2 tương đương, chiếm tỷ lệ 57,5 % lượng phát thải trong nông nghiệp Trong khi đó ở lĩnh vực chăn nuôi, quá trình lên men tiêu hóa phát thải 368,12 nghìn tấn bằng 7.730,52 nghìn tấn CO2 tương đương, chiếm tỷ lệ 11,9% lượng phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp Ở quá trình quản lý phân bón trong chăn nuôi phát thải 164,16 nghìn tấn CH4, tương đương 3.447,36 nghìn tấn CO2, chiếm tỷ lệ 5,3% lượng phát thải trong nông nghiệp (Bộ Tài nguyên Môi trường 2000; Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường, 2000) Nghiên cứu này đã sử dụng hệ số phát thải mặc định của IPCC bên cạnh đó cũng sử dụng một số hệ số áp dụng riêng cho Việt Nam
Một hướng nghiên cứu khác là tính toán lượng phát thải CH4 bằng các mô hình thí nghiệm của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Thành và cộng sự trong nghiên
cứu: “Tình hình phát thải khí mê tan (CH 4 ) do hoạt động canh tác lúa nước ở khu vực Đồng bằng Sông Hồng”, Nghiên cứu chỉ ra rằng canh tác lúa nước là
một trong những nguồn phát thải khí CH4, một trong các loại khí gây nên hiệu ứng nhà kính Bằng việc sử dụng mô hình thực nghiệm đặt tại 5 tỉnh Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nội, với số lượng 10 mẫu /tỉnh vào vụ mùa năm 2010 Kết quả cho thấy tốc độ phát thải CH4 trung bình tại khu vực nghiên cứu nhỏ nhất tại Thái Bình là 39,5mg CH4/m2/giờ và cao nhất tại Nam
Trang 3022
Định 61,3mg CH4/m2/giờ Trong giai đoạn sinh trưởng của cây lúa khoảng 9 tuần sau khi cấy, cường độ phát thải lớn nhất đồng thời nêu ra quan hệ giữa phát thải với một số tính chất của đất trồng như độ PH Cũng theo hướng nghiên
cứu này, tác giả Nguyễn Việt Anh, Đại học Thủy Lợi, trong nghiên cứu: “Một
số kết quả nghiên cứu trong quản lý nước mặt ruộng nhằm giảm phát thải khí
mê tan tiết kiệm nước và không giảm năng suất lúa trên đất phù sa trung tính Đồng bằng Sông Hồng” nghiên cứu đã sử dụng hai mô hình thí nghiệm trên
cùng một khu vực nghiên cứu, cùng giống lúa, và cùng một kỹ thuật canh tác lúa vùng Đồng bằng Sông Hồng trong cùng một khoảng thời gian Mô hình thứ nhất
áp dụng với chế độ nước tưới ngập nông thường xuyên ở mức nước từ 30-60mm trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây lúa Trong khi mô hình thứ hai áp dụng chế độ để lộ mặt ruộng liên tục từ 5-7 ngày trong một thời kỳ(cuối thời kỳ đẻ nhánh, chín vàng…) (Nguyễn Việt Anh, 2006) Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra lượng phát thải CH4 trung bình vụ mùa của ba năm 2003, 2004, 2005 và vụ xuân hai năm 2004, 2005 Cũng như ảnh hưởng của chế độ tưới đến lượng bốc, thoát hơi nước và năng suất trên cây lúa trong khu vực nghiên cứu
Nhìn chung các nghiên cứu tính toán lượng phát thải khí nhà kính bằng việc
sử dụng phương trình của IPCC ở nước ta không nhiều Tuy nhiên đây vẫn là một phương pháp tính toán tiêu biểu cho kết quả tương đối chính xác và thực hiện trong thời gian nghiên cứu ngắn
1.2.3 Tình hình nghiên cứu sinh kế ở trong nước
Các nghiên cứu trong nước tập trung khai thác nguyên nhân dẫn tới nghèo đói, một phần do quá trình khai thác và sử dụng thiếu kiểm soát nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhiều nghiên cứu đã nêu ra tính dễ bị tổn thương của các đối tượng là người già, phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là tại các vùng miền núi, ven biển Những nơi mà con người thường xuyên phải đối mặt với thiên tai Trong
các nghiên cứu đó phải kể đến nghiên cứu “Sinh kế của cộng đồng nghèo vùng
ven biển Việt Nam” của tác giả Mai Thanh Cúc Nghiên cứu đã đề cập đến các
phương pháp tiếp cận và phân tích sinh kế của cộng đồng dân cư nghèo vùng ven biển, bãi ngang Trong đó nêu ra thực trạng, khó khăn trong việc tiếp cận
Trang 3123
các nguồn vốn, đồng thời phân tích, tổng hợp và đề xuất các giải pháp để cộng đồng phát triển bền vững (Mai Thanh Cúc, 2006)
Trong một nghiên cứu khác “Những yếu tố tác động tới nghèo và giải pháp
giảm nghèo đối với người dân sống trong Khu Bảo Tồn Biển Vịnh Nha Trang”
của tác giả Nguyễn Thị Bích Hảo đã nêu thực trạng trong sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang Khi diện tích đánh bắt giảm do việc quy hoạch khu bảo tồn, sản phẩm đánh bắt hạn chế do chưa kịp tái sinh, thói quen sinh hoạt trong sản xuất cũng như sinh hoạt hàng ngày không dễ thay đổi, quá trình chuyển đổi sinh kế từ đánh bắt sang nuôi trồng mới chỉ dừng lại ở mô hình thí điểm Hơn nữa việc nuôi trồng thủy hải sản đòi hỏi những điều kiện nhất định trong đó có yếu tố về kỹ thuật chăn nuôi và môi trường không bị
ô nhiễm, trong khi cả hai điều kiện trên lại là điểm yếu của cộng đồng dân cư nơi đây Nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất nhằm mục đích giảm nghèo cho cộng đồng đó là giảm qui mô hộ gia đình để giảm số người ăn theo Tăng công suất đánh bắt để ngư dân có thể đánh bắt xa bờ, phát triển du lịch theo mô hình (homestay), đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho người dân (Nguyễn Thị Bích Hảo, 2009)
Nhóm tác giả Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh đã nghiên cứu“Quan hệ
giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam” và nêu vấn đề khái
niệm nghèo về tiền, thường được áp dụng trong nghiên cứu về đói nghèo trên thế giới, tuy nhiên, tình trạng nghèo đói không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập mà còn được xác định qua các chỉ báo về mức sống, kinh tế xã hội
mà gia đình đó có được Mặc dù vậy việc lựa chọn các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn còn chưa rõ ràng Nghiên cứu đã khám phá quan hệ giữa tình trạng nghèo về tiền với các đặc trưng kinh tế xã hội ở nông thôn Việt Nam thông qua cách tiếp cận sinh kế và tìm kiếm các chỉ báo về kinh tế xã hội phù hợp cho việc đo lường Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra có ít nhất 10 chiều
đo lường cho tình trạng nghèo đa chiều và bốn nhóm tài sản sinh kế (Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh, 2012) Với mục tiêu áp dụng tri thức bản địa vào
cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng, tác giả Ngô Quang Sơn đã viết: “Tri
Trang 32Tựu chung các nghiên cứu về sinh kế trên thế giới và ở Việt Nam rất đa dạng phản ánh nhiều mặt các hoạt động kinh tế của con người Từ việc phân tích các mô hình sinh kế dưới nhiều góc độ đến việc đưa ra gợi ý để đảm bảo cho một sinh kế bền vững cho cộng đồng Từ các nghiên cứu này cho thấy sự chuyển đổi sinh kế của người dân theo xu hướng tăng trưởng xanh, giảm lượng phát thải khí nhà kính ngày càng được áp dụng rộng rãi Do đó tính toán sự phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt trong trồng lúa và chăn nuôi gia súc là công việc cần thiết hiện nay để đảm bảo một nền kinh tế phát triển bền vững
1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Là một trong bảy xã miền núi của huyện Ba Vì, xã Vân Hòa nằm cách trung tâm của huyện Ba Vì 18 km, cách thị xã Sơn Tây 12 km và cách trung tâm Hà Nội 55 km Vân Hòa có tuyến giao thông huyết mạch là Tỉnh lộ 84B, nối liền các huyện thị phía tây Thành phố Hà Nội
Địa giới hành chính xã Vân Hòa tiếp giáp với các xã sau:
Phía Đông giáp với xã Kim Sơn - thị xã Sơn Tây, phía Tây giáp với hai xã
Ba Vì và Khánh Thượng, phía Nam giáp với xã Yên Bài, phía Bắc giáp với xã Tản Lĩnh và xã Xuân Sơn - thị xã Sơn Tây Với vị trí địa lý này xã Vân Hòa khá thuận lợi trong giao thông đi lại cũng như trao đổi hàng hóa giữa các địa phương
Trang 3325
lân cận Hơn nữa xã Vân Hòa nằm cách nhà chế biến sữa của Công ty sữa quốc
tế Ba Vì chỉ khoảng 2 km, vị trí thật đắc địa để phát triển sinh kế chăn nuôi bò sữa tại địa phương
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí địa lý xã Vân Hòa, huyện Ba vì, Thành phố Hà Nội
(Nguồn: Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Ba Vì)
Trang 3426
b Đặc điểm địa hình
Hình 1.2 Bản đồ độ cao của huyện Ba Vì,Thành phố Hà Nội
(Nguồn: Nguyễn Quang Khải cùng cộng sự, 2013)
Xã Vân Hòa có địa hình dốc dần từ Tây sang Đông với một phần diện tích thuộc vườn quốc gia Ba Vì Xã có tới 2/3 diện tích là đồi núi, nằm trong dải trung du với đỉnh Tản Viên có độ cao 1200m, chuyển rất nhanh xuống đồng bằng trũng Hà Nội cao xấp xỉ 10m qua dải chuyển tiếp nghiêng thoải và đều với địa hình đồi và đồng bằng đồi cao từ 15 –35 – 40m (Lê Thị Hải Uyên, 2012) Với kiểu địa hình này làm cho nước mưa rơi xuống rễ ràng chảy xuống các vùng đất thấp hơn gây nên hiện tượng úng lụt cục bộ tại các vùng đất thấp, trong khi ở các vùng đất cao đất lại chưa được bổ xung độ ẩm cần thiết giúp cho cây
Trang 3527
trồng phát triển Qua kinh nghiệm thực tế cho thấy với lớp cỏ voi được gieo trồng trên mặt đất đã một mặt tăng cường độ ẩm trong đất, điều hòa lượng nước mưa trên bề mặt, hạn chế hiện tượng ngập úng cục bộ đồng thời cỏ voi cũng là
nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa
c Thời tiết và khí hậu
Xã Vân Hòa nằm trong khu vực đông bắc bộ, thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng nên chịu ảnh hưởng rõ rệt của kiểu thời tiết nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình là 17,9oC, tháng lạnh nhất là tháng 1(16,52oC), nhiệt độ thấp nhất có thể tới 6,5oC Mùa hè bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình là 26,1oC, tháng nóng nhất là tháng 7(28,69oC), ngày nóng nhất trong mùa có thể lên tới 38,2oC
Từ độ cao 400m trở nên là khu vực luôn có khí hậu ẩm do chịu tác động của khí hậu rừng nhiệt đới
Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, phân bố không đều giữa các khu vực Vùng xung quanh chân núi có lượng mưa < 1.731,4mm/năm, vùng núi cao và sườn đông mưa rất nhiều 2.587,6mm/năm Số ngày mưa tại chân núi Ba Vì từ
130 - 150 ngày/năm, tại cột mốc 400 m từ 169 - 201 ngày/năm, bình quân là 189 ngày/năm
Lượng mưa hàng năm tương đối lớn song phân bố không đồng đều giữa các khu vực tại khu vực phía chân núi Ba Vì có lượng mưa lớn hơn các khu vực bên ngoài Thời gian mưa trong năm phân phối không đồng đều, lượng mưa từ tháng
6 đến tháng 10 chiếm hơn 90% tổng lượng mưa cả năm Chính sự phân bố lượng mưa không đồng đều trong năm phần nào ảnh hưởng đến việc canh tác lúa và các loại hoa màu của các hộ nông dân tại Vân Hòa
d Chế độ thủy văn, đất đai
Xã Vân Hòa có các hồ chứa nước nằm dưới chân dãy núi Ba Vì cùng một hệ thống các kênh mương nội đồng trên 50km dẫn nước tưới tiêu cho nông nghiệp
Hệ thống thủy lợi của Vân Hòa chủ yếu nằm dưới chân các quả đồi nên thường xuyên bị bồi lắng sau mỗi trận mưa, nguồn kinh phí đầu tư cho lạo vét tu sửa,
Trang 3628
xây mới các còn nhiều hạn chế Tới nay địa phương mới có 12km kênh mương kiên cố, còn lại là mương đất gây khó khăn không nhỏ cho việc tưới tiêu nhất là đối với cây lúa nước
Vân Hòa là địa phương có nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ với tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3290,98 ha, đất nông nghiệp có diện tích 1.115,7ha (UBND xã Vân Hòa, 2013) trong đó có 230 ha đất trồng cỏ còn lại là lúa hai vụ
và các loại hoa màu khác
Đặc điểm thổ nhưỡng: đại bộ phận đất đồng cỏ là những đồi phù sa cổ, một
ít diện tích còn lại là những đồi phiến thạch sét Loại đất đồng cỏ phù sa cổ có cấu trúc: lớp trên cùng bao gồm cát pha màu xám, thành phần cơ giới nhẹ, cũng
có nơi là sét pha màu vàng đỏ, dày trung bình 40 – 50 cm, nhưng cũng có nơi dày hàng mét (Nguyễn Đăng Khôi, 1972)
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Vân Hòa là một xã miền núi nằm áp sát sườn phía đông của dãy núi Ba Vì,
có khí hậu và điều kiện đất đai tự nhiên thuận lợi, thích hợp cho việc phát triển các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị kịnh tế cao Số liệu từ các báo cáo của UBND xã Vân Hòa cho thấy năm 2003 giá trị kinh tế của toàn xã ước đạt 41,2
tỷ đồng (UBND xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 2003) Năm 2012 tổng giá trị kinh tế toàn xã ước đạt 157,5 tỷ đồng (UBND xã Vân Hòa, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội, 2012) Trong đó cơ cấu nghề đã có nhiều dịch chuyển theo hướng sản xuất hàng hóa mà chủ yếu ở đây chính là sữa và các sản phẩm từ sữa Cũng chính nhờ vào hướng sản xuất chăn nuôi bò sữa mà các chỉ số về kinh
tế, xã hội của địa phương Vân Hòa trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến theo hướng đi lên Cơ cấu màu vụ, cây trồng, vật nuôi cũng từ đó mà có phần thay đổi Các loại cây hoa màu khác, có giá trị kinh tế thấp kể cả lúa dần được thay thế bằng cỏ voi, ngô và sắn tạo nguồn thức ăn cho bò sữa Các loại vật nuôi truyền thống như lợn, gà cho nguồn thu nhập không ổn định dần được thay thế bằng bò sữa Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiêm vụ phát triển kinh tế
xã hội của địa phương Vân Hòa cho thấy hướng phát triển kinh tế của địa phương chính là bò sữa Các biểu đồ sau cho thấy sự dịch chuyển diện tích cây
Trang 3729
trồng và thay đổi cơ cấu vật nuôi Qua điều tra nông hộ tại địa phương cho thấy cây cỏ voi có đặc điểm sinh trưởng phù hợp hơn với hệ thống thủy văn, đất đai cũng như điều kiện khí hậu của địa phương Một mặt tạo lớp phủ bề mặt, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất, giảm lượng Albedo bề mặt, giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính, góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu Mặt khác, do đặc điểm cây cỏ voi có nhu cầu nước ít hơn so với cây lúa nên rất phù hợp với đặc điểm thủy văn của địa phương Vân Hòa Hình 1.3 thể hiện sự dịch chuyển diện tích từ trồng lúa cũng như một số loại hoa màu khác sang trồng cỏ voi, ngô, sắn làm thức ăn cho bò sữa Kể từ năm 2008 trở lại đây diện tích trồng cỏ tăng nhanh, trong khi diện tích trồng lúa ở cả hai vụ ở xã Vân Hòa giảm Điều này đã phản ánh thực trạng chuyển dịch về cơ cấu kinh tế từ trồng lúa sang chăn nuôi bò bò sữa tại xã
Hình 1.3 Diện tích đât trồng cây nông nghiệp của xã Vân Hòa, huyện Ba Vì,
Thành phố Hà Nội (2003 - 2013)
(Nguồn: Báo cáo kết qủa thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội xã Vân Hòa)
Hình 1.4 đã cho thấy trong giai đoạn 2003-2013 diện tích cũng như năng suất lúa ở cả hai vụ đông xuân và hè thu đều có sự thay đổi, phụ thuộc nhiều vào tình hình thời tiết, bệnh dịch trên cây trồng từng năm Riêng vụ mùa năm 2010,
do tình hình thời tiết diễn biến phức tạp nên nhiều loại sâu bệnh hại cây trồng, làm giảm năng suất lúa từ 18 ta/ha xuống còn 30 tạ/ha Số liệu từ cá báo cáo của UBND xã Vân Hòa cho thấy năm 2009 diện tích đất trồng lúa vụ hè thu của xã
là 295 ha thì đến năm 2013 diện tích chỉ còn 200,2 ha Cũng trong các báo cáo
Trang 3830
của UBND xã Vân Hòa thì năm 2007 diện tích lúa vụ đông xuân của xã Vân Hòa là 186,3 ha thì đến năm 2013 chỉ còn lại 115 ha Diện tích trồng lúa bị sụt giảm là do người dân đã sử dụng diện tích đất trống lúa (những thửa ruộng cao)
để trồng cỏ và các loại thức ăn cho bò sữa
Hình 1.4 Diện tích và năng suất lúa qua các năm từ 2003-2013
(Nguồn: Báo cáo kết qủa thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội xã Vân Hòa)
Bảng 1.7 cho thấy sự thay đổi số lượng cũng như chủng loại vật nuôi của xã Vân Hòa qua các năm từ 2003 đến 2013 Số liệu cho thấy số lượng trâu đã sụt giảm nhanh qua các năm, trong khi đàn bò đỏ sụt giảm trong khoảng từ năm
2008 trở lại đây Điều này có thể xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chính vẫn là kinh tế Một nguyên nhân nữa dẫn tới sự sụt giảm đàn trâu là thời gian nuôi dài, trong khi diện tích chăn thả ngày một thu
Trang 39(Nguồn: Báo cáo kết qủa thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội xã Vân Hòa)
Nhờ có chính sách hỗ trợ của nhà nước và sự mạnh dạn thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi mà chẳng những thu nhập của người dân xã Vân Hòa tăng lên một cách đáng kể mà môi trường tự nhiên ở đây cũng cũng được cải thiện Ở (Hình 1.6) thể hiện sự thay đổi thu nhập của người dân xã Vân Hòa qua các năm từ 2007 đến 2013 Để có được điều này người dân xã Vân hòa đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng, kết hợp với sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự vào cuộc của các doanh nghiệp cũng như của các ngân hàng Thu nhập của người dân nhờ quá trình chuyển đổi sinh kế cũng vì thế mà được nâng dần qua từng năm Biểu đồ sau đây cho thấy sự thay đổi trong thu nhập của người dân xã Vân Hòa
Trang 4032
Hình 1.5 Thu nhập bình quân của người dân xã Vân Hòa 2007-2013
(Nguồn: Báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của xã Vân Hòa)
Theo số liệu điều tra dân số năm 2011, dân số xã Vân Hòa là 9.048 người với 2.192 hộ, bình quân 4,1 người/hộ Tỷ lệ tăng tự nhiên: 1,4%, Thành phần dân tộc, 44% dân tộc Kinh, còn lại 56% dân tộc thiểu số Mật độ dân số của cả
xã là 534 người/km2, xã được chia ra thành 12 thôn, mỗi thôn là một điểm dân
cư Năm 2011 tổng số người trong độ tuổi lao động của xã 5.130 người trong đó lao động nông nghiệp bằng 4.076 người chiếm 79,45% tổng lao động toàn xã, lao động phi nông nghiệp 1.054 người, chiếm 20,55% tổng lao động toàn xã Lao động qua đào tạo là 460 người, chiếm 8,96% tổng lao động
Hình 1.6 Tỷ lệ lao động của xã Vân Hòa năm 2011
(Nguồn: Phòng kinh tế huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội)
Với tỷ lệ gia tăng dân số và đặc điểm của lực lượng lao động như trên ta thấy Vân Hòa có nguồn nhân lực tại chỗ dồi dào, đa số người chăn nuôi có kiến