Lý do chọn đề tài Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 chỉ rõ “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội du
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
5 Giả thuyết nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu HĐGDNGLL
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1 Quản lý
1.2.2 Chức năng của quản lý
1.2.3 Quản lý giáo dục
1.2.4 Quản lý nhà trường
1.2.5 Biện pháp, biện pháp quản lý
1.2.6 Chất lượng, chất lượng giáo dục
1.3 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí, quyền hạn và nhiệm vụ của trường THPT
1.3.2 Quản lý của hiệu trưởng trường THPT
Trang 22.2 Thực trạng HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai và Trường THPT Thanh Oai B
2.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới HĐGDNGLL
2.2.2 Thực trạng HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai
2.3 Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai
2.3.1 Công tác xây dựng kế hoạch quản lý HĐGDNGLL
2.3.2 Thực trạng công tác quản lý, tổ chức thực hiện HĐGDNGLL
2.3.3 Công tác chỉ đạo HĐGDNGLL
2.3.4 Công tác kiểm tra đánh giá HĐGDNGLL
CHƯƠNG III : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
3.1 Nguyên tắc lựa chọn phương pháp
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên
3.2.2 Xây dựng chương trình và kế hoạch HĐGDNGLL
3.2.3 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong HĐGDNGLL 3.2.4 Huy động các lực lượng tham gia HĐGDNGLL
3.2.5 Đưa các chủ đề về HĐGDNGLL phục vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội – giáo dục địa phương
3.3 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp
Trang 3KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
GD-ĐT Giáo dục – Đào tạo
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo cáo chính trị của Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 chỉ rõ “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá” chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”
Luật giáo dục năm 2005 cũng đã nêu : “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI lại nêu: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong
đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp”
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 nêu
“Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” Những giá trị đạo đức và năng lực nghề nghiệp của người học không chỉ được hình thành bằng giờ học trên lớp mà còn được rèn luyện, củng cố và
Trang 5phát triển thông qua các hoạt động giáo dục khác, trong đó có hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp góp phần quan trọng trong việc thực hiện nguyên lý giáo dục
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một bộ phận quan trọng của giáo dục phổ thông vì nó tạo điều kiện, môi trường thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động ngoài giờ học trên lớp, là sự tiếp nối, bổ sung hỗ trợ và là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa lý thuyết với hành động, lôi cuốn học sinh tham gia mở rộng hiểu biết, đặc biệt giúp người học rèn kỹ năng diễn đạt trước một tập thể lớn, tạo không khí vui tươi lành mạnh, tạo điều kiện để người học rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực sở thích của riêng mình Nội dung, hình thức của Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp rất đa dạng, phong phú sẽ thể hiện nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” của Đảng
Ở các nước có nền giáo dục hiện đại cũng như ở nước ta – các trường Trung học phổ thông có chất lượng giáo dục tốt đều là những cơ sở giáo dục làm tốt công tác giáo dục toàn diện cho học sinh Họ làm tốt việc dạy học trên lớp và tổ chức, quản lý tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh Trước thực tế, các trường THPT ngoại thành - thành phố Hà Nội, đặc biệt là những trường nông thôn của Hà Tây cũ, công tác giáo dục hoạt động ngoài giờ lên lớp còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, từ đó dẫn đến học lệch, học tủ, thờ ơ với thời cuộc, với lịch sử dân tộc, giảm sút về đạo đức và nhân cách, cuốn vào các tệ nạn xã hội của cơ chế thị trường Lý do quan trọng
đó đã thúc đẩy tôi nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B - huyện Thanh Oai – Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay” nhằm góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu về giáo dục toàn diện, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa có đủ đức, tài, sức khoẻ và nghề nghiệp, trung
Trang 6thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường đang tác động làm một
bộ phận thanh niên suy thoái về đạo đức, lý tưởng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận, thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B - huyện Thanh Oai – Thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B - huyện Thanh Oai – Thành phố Hà Nội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản lý Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
4 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT Thanh Oai
B - huyện Thanh Oai – Thành phố Hà Nội
5 Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một trong những nhiệm
vụ quản lý của các nhà trường phổ thông Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phù hợp với đối tượng và điều kiện nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh
ở cơ sở giáo dục
Trang 76 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông Thanh Oai B - thuộc huyện Thanh Oai – Thành phố Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận quản lý, quản lý giáo dục
- Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài…
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, phân tích số liệu, dữ liệu Xử lý và
sử dụng các thông tin đã thu thập trong quá trình nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý ở một số trường trung học phổ thông
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp các trường THPT, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp ở trường THPT Thanh Oai B, huyện Thanh Oai, thành phố
Hà Nội
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu HĐGDNGLL
Tìm hiểu lịch sử khoa học giáo dục nhân loại chúng ta thấy hoạt động dạy - học được nghiên cứu một cách có hệ thống từ rất sớm nhưng để hình thành và phát triển nhân cách của học sinh thì hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) có vai trò rất quan trọng Tuy nhiên vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ
Rabơlen (1494- 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kỳ phục hưng Ông đòi hỏi
giáo dục phải bao hàm nội dung “Trí dục, Đức dục, Thể dục và Mỹ dục” và
đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như việc học ở lớp và ở nhà, ngoài ra còn có các buổi tham quan ở xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp với các nhà văn, các nghệ sỹ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy, cô và trò về sống ở nông thôn một ngày
Đến thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiến người Nga A.S Makarenko vào thập niên 20, 30 của thế kỷ trước đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo
dục học sinh ngoài giờ lên lớp: “Tôi đã kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể hạn để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp học Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ hoạt động của trẻ” [24, tr.63] Trong thực tiễn công tác của mình, Makarenko đã tổ chức
các hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và công xã
F.E.Dzerjinski như: "Tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ tự do, tổ thử nghiệm khoa học tự nhiên, tổ Vật lý - Hoá học, tổ thể thao Việc phân phối
Trang 9các em học sinh vào các tổ ngoại khoá, câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các
tổ phải có kỷ luật trong quá trình hoạt động" [24, tr 173-174]
Cuốn sách “Giáo dục học” tập 3 của tác giả T.A.Ilina đã đề cập đến khái niệm, nội dung và các hình thức cơ bản của HĐGDNGLL
Cuốn sách “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông” tác giả I.X Marienco đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong
và ngoài trường học, nội dung và các hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí của người Hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường
Bộ trưởng Giáo dục Anh Rutl Kelly đã nhận xét “Các hoạt động giáo dục ngoài giờ, nhất là hoạt động ngoại khoá đã làm giàu chương trình học, tạo dựng niềm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh” [15] – Kelly outdoor learning
Qua một số quan điểm, nhận định của các nhà Giáo dục trên thế giới ta thấy HĐGDNGLL có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình giáo dục của các nhà trường
Ở Việt Nam nghiên cứu về HĐGDNGLL đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà giáo trong cả nước từ những năm 80 của thế kỷ trước trở lại đây Chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn trước cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (từ năm 1979 trở về trước): Điểm nổi bật của giai đoạn này là khái niệm “HĐGDNGLL” chưa được hình thành và chưa có tên gọi cụ thể như ngày nay Tuy nhiên, nội hàm
cơ bản của khái niệm đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh đề cập trong “Thư gửi
cho học sinh nhân ngày khai trường” tháng 9 năm 1945, Bác viết " nhưng các em cũng nên ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sỹ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước" Trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc”, Bác Hồ lại nhắc tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm này, Người viết: “Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng
Trang 10vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học” [30, tr.101]
Điều lệ nhà trường phổ thông ban hành tháng 6 năm 1976 và ban hành tháng 4 năm 1979, đã đề cập đến việc giảng dạy và giáo dục học sinh thông qua giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể Các mặt đó phải cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất Hoạt động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường tổ chức Hoạt động tập thể bao gồm: hoạt động văn hoá, chính trị, xã hội, các hoạt động ngoại khoá về khoa học, kỹ thuật, văn nghệ, thể thao của nhà trường và của địa phương Điều lệ trường phổ thông ban
hành tháng 4 năm 1979 ghi rõ: “Hoạt động tập thể góp phần giáo dục ý thức chính trị, khả năng học tập độc lập của học sinh, góp phần củng cố mở rộng kiến thức và phát triển mọi năng khiếu của học sinh theo chương trình và kế hoạch thống nhất Công tác giáo dục ở trường phổ thông tiến hành thống nhất theo đúng nội dung và trình tự quy định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và sách giáo khoa do Bộ ban hành và được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục: học tập văn hoá, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt động xã hội” và “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng
Ngoài các vấn đề giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khoá khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục được thêm phong phú”
+ Giai đoạn từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba đến nay: Nghị quyết TW14 ngày 11 tháng 1 năm 1979 của Bộ chính trị về cải cách giáo dục đã
khẳng định: “Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học mang tính chất toàn diện và kỹ thuật tổng hợp, nhưng có chú ý đến việc phát huy sở trường
Trang 11và năng khiếu các nhân cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ, giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và luyện tập quân sự” [ 36, tr 4-5]
Điều lệ trường Trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”
“ Điều 26 Các hoạt động giáo dục
1 Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động
2 Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá
về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.”
Để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục, đã có nhiều nghiên cứu xung quanh việc xác định khái niệm “HĐGDNGLL”, cũng như nghiên cứu nhằm
tổ chức có chất lượng HĐGDNGLL trong nhà trường Có thể chia ra theo các hướng:
* Hướng thứ nhất: là các nghiên cứu cơ bản, mang tính lý luận nhằm xác định nội hàm của khái niệm “HĐGDNGLL”, xác định mục tiêu, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, hình thức của HĐGDNGLL Có các công trình nghiên cứu sau:
Trang 12- Từ năm 1979, Viện Khoa học giáo dục đã thực hiện đề tài dài hạn
nghiên cứu về “Các HĐGDNGLL và sự hình thành nhân cách của học sinh”
do Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức học sinh chủ trì Đề tài đã được triển khai thực nghiệm từ năm học 1979-1980 tại một số trường cấp 1, cấp 2, cấp 3 ở Hà Nội, sau đó kết quả thực nghiệm đã được thể hiện ở một loạt bài trên tạp chí nghiên cứu giáo dục và tạp chí Thông tin khoa học giáo dục của một số nhà nghiên cứu như: Đặng Thuý Anh, Phạm Hoàng Gia, Lê Trung Trấn, Phạm Lăng
- Một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL do một nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục thực hiện như: Đặng Thuý Anh, Nguyễn Quang Dục, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thanh Bình
- Một số lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận về HĐGDNGLL, của một
số nhà khoa học như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng
- Một số cuốn sách viết về HĐGDNGLL trong thời gian đầu những năm
80 của thế kỷ trước của các tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ
* Hướng thứ hai: Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn của các trường phổ thông trong tổ chức HĐGDNGLL mà tác giả là các giáo viên, CBQL ở các trường phổ thông
Qua hệ thống các nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đi sâu vào nghiên cứu cơ bản về HĐGDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung, phương pháp HĐGDNGLL Các nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL hầu như chưa được thực hiện nhiều và ít hiệu quả
Một số đề tài luận văn thạc sĩ về HĐGDNGLL cho một số cơ sở giáo dục cụ thể cũng đã được nghiên cứu:
Trang 13- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT quận Ba Đình – TP Hà Nội của Nguyễn Thị Mỹ Công,
ĐH Vinh, 2010;
- Biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS quận Hoàn Kiếm – TP Hà Nội của Đặng Chính Thao, Học viện Quản lý giáo dục, 2012
Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường THPT Thanh Oai B
1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1 Quản lý
Các nhà Luật học nghiên cứu các quy luật quản lý nhà nước; các nhà Xã hội học nghiên cứu về hoạt động quản lý mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, quốc gia; các nhà Kinh tế nghiên cứu về quản lý nền sản xuất xã hội Như vậy quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực Chính vì vậy, khi đưa ra các khái niệm quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, chúng tôi đưa
ra một vài khái niệm sau đây của một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu
về khoa học quản lý
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là người sáng lập ra thuyết quản
lý theo khoa học Theo ông thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr.89]
Henry Fayol (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính, cho rằng: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [14, tr.103] Trong định nghĩa này, ông đã nêu ra được năm chức năng cơ bản của quản lý
Trang 14Harold Koontz, được coi là người tiên phong của lý luận quản lý hiện đại, viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi cá thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [27, tr.29]
GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí viết trong tài liệu giảng dạy cho học viên cao học ngành Quản lý giáo dục: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”, hoặc “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho
“Quản lý là một hệ thống tác động khoa học nghệ thuật vào từng thành
tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra của hệ thống và từng thành tố của hệ thống” [40, tr.18]
Từ những định nghĩa điển hình đã nêu trên có thể khái quát:
Quản lý một đơn vị (cơ sở giáo dục ) với tư cách là một hệ thống xã hội
là một khoa học, một nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành phần của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhẳm đạt được các mục tiêu đề
ra trong quá trình hoạt động
Quản lý bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các tác động tương ứng, phù hợp nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản
lý để đạt tới những mục tiêu định sẵn
Trang 15Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống, gồm: Chủ thể quản lý; khách thể quản lý; cơ chế quản lý; mục tiêu chung
Quản lý tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý Quản lý có phạm vi tác động lên khách thể rất rộng, do đó ngày nay
nó được xem là nhân tố quan trọng nhất trong năm nhân tố quyết định thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội (Vốn, nguồn lực lao động, khoa học và kỹ thuật, tài nguyên và chất xám quản lý)
Như vậy, ta có thể hiểu quản lý một cách khái quát: quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực để hệ ổn định, phát triển đạt được mục đích đã đề ra
1.2.2 Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và tiến bộ của phân công -
hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản
lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Chức năng có vị trí quan trọng trong quá trình điều hành công việc
Chức năng quản lý khác với chức năng của cơ quan quản lý, chức năng của từng CBQL Chức năng quản lý do khách thể quản lý qui định, là điểm xuất phát để xác định chức năng của cơ quan quản lý và CBQL
Trong hoạt động quản lý, người quản lý phải thực hiện một dãy các chức năng quản lý, bởi mỗi chức năng quản lý có những nhiệm vụ cụ thể Tất
cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúng phản ánh lô-gíc bên trong của sự phát triển của hệ quản lý Để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, dù là nhiệm vụ trước mắt hay nhiệm vụ lâu dài, người quản lý phải bắt đầu từ việc xác định cái đích cần đạt tới, từ đó từng bước thực hiện nhiệm vụ của các chức năng quản lý Từ việc xây dựng kế hoạch đến việc kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm
Trang 16Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của chức năng quản lý Có rất nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên có những quan điểm chủ đạo sau đây:
* Theo F.W Taylo và Henri Fayol thì quản lý có 5 chức năng cơ bản sau đây:
1 Kế hoạch hoá; 2 Tổ chức thực hiện; 3 Ra lệnh (chỉ huy); 4 Phối hợp; 5 Kiểm tra
* Theo D.M Kruk, quản lý cũng có 5 chức năng sau:
1 Kế hoạch hoá; 2 Tổ chức thực hiện; 3 Phối hợp; 4 Chỉ đạo; 5 Kiểm tra
* Theo tài liệu tập huấn CBQL giáo dục của UNESCO thì quản lý có 7 chức năng:
1 Kế hoạch hoá; 2 Tổ chức; 3 Bố trí biên chế; 4 Chỉ đạo; 5 Phối hợp; 6 Tổng kết; 7 Quyết toán ngân sách
Trong thời gian gần đây các nhà khoa học thu gọn lại còn 4 chức năng
cơ bản sau đây:
1 Kế hoạch hoá: Là quá trình xác định các mục tiêu, mục đích, thành tựu tương lai của tổ chức Quyết định những con đường, biện pháp, cách thức tốt nhất để đạt được mục tiêu, mục đích đó
2 Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc của chúng Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ nối tiếp ngay sau khi các chức năng kế hoạch hoá và tổ chức
3 Chỉ đạo: Liên hệ, liên kết các thành viên trong tổ chức và động viên
họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 17Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
4 Kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn
1.2.3 Quản lý giáo dục
Các nhà lý luận về quản lý giáo dục Liên Xô trước đây đã đưa ra một
số định nghĩa về khái niệm quản lý giáo dục, như M M Mechti Zade đã nêu:
“Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ,
kế hoạch hoá, tài chính ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng” [42, tr.34]
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý giáo dục (và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [42, tr.35]
Quản lý giáo dục có thể được hiểu một cách tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
Trang 18Một hệ thống giáo dục hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ mà
xã hội giao phó khi các tế bào trường học vận hành tốt, đạt được mục tiêu đề
ra Thực chất của việc quản lý giáo dục là các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương hoạch định cơ chế, chính sách, kế hoạch, chiến lược tạo điều kiện thuận lợi để các hoạt động của nhà trường đạt được các mục tiêu đề ra Bản chất của việc quản lý hoạt động giáo dục tức là làm sao đưa hoạt động đó
từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục
1.2.4 Quản lý nhà trường
Trường học là tế bào chủ chốt trong hệ thống giáo dục Công tác quản
lý nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường và các hoạt động ngoài xã hội Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:
+ Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục và các kế hoạch, biện pháp giáo dục
+ Thành tố con người: Cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
+ Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập
Vấn đề đặt ra trong quá trình quản lý nhà trường là vận hành để các thành tố trên có sự gắn bó, hỗ trợ, điều phối, bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu đề ra
Theo M.I.Kôn-đa-cốp: “Không ai đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là: Hệ thống xã hội -
sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường, để đảm bảo tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [48]
Theo GS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [22, tr 9]
Trang 19Theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục và đào tạo trong nhà trường”
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và về bản chất là cơ bản nhất của quản lý giáo dục Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này
Vì vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của giáo viên, hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục Có thể nói rằng, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quản lý dạy học - giáo dục
Như vậy, xét một cách đầy đủ: Quản lý nhà trường phổ thông là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục Nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục Trọng tâm của nó là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới về vật chất Do công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau:
- Quản lý hoạt động dạy- học;
- Quản lý HĐGDNGLL;
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức;
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của các đoàn thể trong nhà trường;
- Quản lý sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính
1.2.5 Biện pháp, biện pháp quản lý
- Đại từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý - NXB Văn hoá – Thông tin, Biện pháp: “Cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”
Trang 20- Biện pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý để đạt được mục tiêu quản lý
Vậy, biện pháp quản lý HĐGDNGLL được thực hiện thông qua biện pháp quản lý tác động lên các nội dung của HĐGDNGLL, các đối tượng tham gia thực hiện quá trình HĐGDNGLL nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL, đạt được các mục tiêu giáo dục
Cũng có thể nói rằng, biện pháp quản lý HĐGDNGLL là cách thức thực hiện các nội dung HĐGDNGLL hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục
1.2.6 Chất lượng, chất lượng giáo dục
1.2.6.1 Chất lượng
Theo Từ điển Tiếng Việt (1999 - NXB Văn hóa Thông tin): Chất lượng
là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Một sự vật là một thể thống nhất giữa số lượng và chất lượng
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam chất lượng là “Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính
ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác Chất lượng
là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với
sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật
Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó
Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng”
Trang 211.3 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí, quyền hạn và nhiệm vụ của trường THPT
Theo Điều lệ trường THPT, trường THCS và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo):
Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân:
Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung học :
a) Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
b) Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật c) Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
d) Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công đ) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
e) Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
Trang 22g) Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội h) Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
i) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Quản lý của hiệu trưởng trường THPT
Khi xác định vai trò, vị trí của người Hiệu trưởng - người chịu trách nhiệm chính đối với hoạt động quản lý nhà trường, Luật Giáo dục ban hành năm 2005 ở điều 54 mục 1 quy định: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng được quy định trong Điều lệ Trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT):
a) Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
b) Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường;
c) Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
d) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
đ) Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên; thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
e) Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh;
Trang 23g) Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
h) Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường;
i) Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành; thực hiện công khai đối với nhà trường;
k) Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
Nhà trường thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của mình hay không một phần quyết định vào phẩm chất và năng lực của người Hiệu trưởng Trong những điều kiện hoàn cảnh thực tiễn gần nhau, có trường với Hiệu trưởng quản
lý giỏi đã trở thành trường đạt nhiều thành tích về dạy học và giáo dục; nhưng với Hiệu trưởng quản lý không hiệu quả thì nhà trường không phát triển, chất lượng dạy học và giáo dục thấp Vai trò tổ chức, quản lý của Hiệu trưởng có ý nghĩa rất to lớn đối với mọi hoạt động của nhà trường
Người Hiệu trưởng trong nhà trường xã hội chủ nghĩa không phải chỉ tổ chức dạy và học theo yêu cầu xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một “công cụ của chuyên chính vô sản” Chính vì vậy, Hiệu trưởng phái có sự giác ngộ sâu sắc về chính trị, có những hiểu biết sâu rộng
về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Hiệu trưởng tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đường lối giáo dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp Hiệu trưởng phải hiểu rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội dung giáo dục, nắm chắc các phương pháp giáo dục, các nguyên tắc tổ chức giáo dục xã hội chủ nghĩa Người Hiệu trưởng phải là nhà tổ chức giáo dục xã hội chủ nghĩa có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín về chuyên môn, là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên Hiệu trưởng phải có năng lực tổ chức mọi hoạt động giáo dục trong trường, làm sao để các chủ trương, đường lối, các nội dung, phương pháp giáo dục được thực hiện một cách có hiệu quả Do vậy,
Trang 24năng lực tổ chức thực tiễn của người Hiệu trưởng quyết định hiệu quả quản lý giáo dục Trong công tác tổ chức thực tiễn, người Hiệu trưởng phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt là phải biết quản lý con người, có những kỹ năng cần thiết làm việc với con người Chính vì vậy, lao động quản
lý của Hiệu trưởng vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người Hiệu trưởng để quản lý nhà trường đã được nêu trong Chuẩn hiệu trưởng trường trung học (THCS, THPT) gồm 3 tiểu chuẩn:
- Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, với 5 tiêu chí;
- Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, với 5 tiêu chí;
- Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản lý nhà trường, với 13 tiêu chí;
Điều lệ Trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT) quy định: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”
Trang 25“Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là công tác giáo dục ngoại khoá Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khoá, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của học sinh đối với hoạt động nào đó; đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở
để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này” T.A ILina [ 43, tr.61-62]
“HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học- kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hoá văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường ) [ 23, tr.7] Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động giáo dục được thực hiện ngoài thời gian học tập trên lớp, nhằm lôi cuốn đông đảo học sinh tham gia để mở rộng hiểu biết, tạo không khí vui tươi lành mạnh, tạo cơ hội
để học sinh tự chọn các chuẩn mực đạo đức, nghệ thuật, rèn luyện thói quen sống trong cộng đồng và phát huy tối đa năng lực, sở thích của cá nhân
HĐGDNGLL là một hoạt động giáo dục được thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm góp phần thực thi quá trình đào tạo học sinh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng của đời sống xã hội Hoạt động này
do nhà trường quản lý, tiến hành ngoài giờ dạy học trên lớp (theo chương trình, kế hoạch dạy học) Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, được diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình đó được thực hiện mọi lúc, mọi nơi
1.4.1.2 Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL ở trường THPT nhằm các mục tiêu sau:
+ Rèn luyện các kỹ năng cơ bản của con người Việt Nam (phù hợp với lứa tuổi) như: Kỹ năng tư duy, tự quản, tổ chức, giao lưu, hoạt động xã hội, hoạt động tập thể, kiểm tra đánh giá, tự hoàn thiện, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
Trang 26+ Hình thành, củng cố hệ thống thái độ đúng đắn, phẩm chất đạo đức trong sáng, có xúc cảm, tình cảm sâu sắc với con người, quê hương đất nước, đối với nghĩa vụ công dân tương lai, với Đảng, với dân tộc
+ Bồi dưỡng khả năng tri giác thẩm mỹ, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm
mỹ và sáng tạo ra cái đẹp, đưa cái đẹp vào cuộc sống Rèn luyện thói quen lao động, ý thức lao động, tình yêu lao động Rèn luyện thân thể, rèn luyện sức khoẻ
+ Củng cố và mở rộng kiến thức cơ bản, phổ thông mà học sinh đã học trên lớp; đồng thời mở rộng vốn sống, hiểu biết thực tiễn xã hội của các em
1.4.1.3 Vị trí của HĐGDNGLL
“ HĐGDNGLL có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động
tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh, vì nó có nội dung phong phú hơn, các hình thức giáo dục đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, phạm vi tiến hành rộng hơn, khả năng liên kết các lực lượng giáo dục dồi dào hơn”[ 23, tr.18]
Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là những bộ phận của quá trình
sư phạm toàn diện, thống nhất Trong quá trình giảng dạy, ngoài việc truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học một cách có hệ thống, còn phải luôn luôn có hiệu quả giáo dục (giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua các môn học) và tạo cơ sở cho toàn bộ quá trình giáo dục đạt hiệu quả Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho học sinh về ý thức, hành vi, kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật còn phải tạo cơ sở cho các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp Vì vậy, quá trình giáo dục không những được thực hiện qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn qua các HĐGDNGLL
Kết quả giáo dục đó chính là: “Nhân cách - sức lao động” được hình thành ở học sinh Đó là sự hình thành thái độ, kỹ năng của học sinh
HĐGDNGLL là một bộ phận cấu thành trong hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục trong nhà trường được chia làm hai bộ phận:
- Hoạt động dạy học trên lớp;
Trang 27- HĐGDNGLL
Mỗi bộ phận đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chúng đều góp
phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục Nó thực sự là bộ phận quan trọng
trong hoạt động giáo dục ở trường phổ thông
HĐGDNGLL là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và
xã hội
Từ những lý luận trên, chúng ta thấy HĐGDNGLL là một trong hai hoạt
động giáo dục cơ bản trong nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục được
thể hiện như sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Quan hệ giữa dạy học trên lớp và hoạt động giáo dục giáo dục
ngoài giờ lên lớp trong việc giáo dục học sinh
1.4.1.4 Chức năng của HĐGDNGLL
+ Củng cố, bổ sung kiến thức các môn văn hoá, khoa học Trong trường
THPT, việc dạy học trên lớp được tiến hành theo chương trình kế hoạch của
Bộ GD&ĐT ban hành Vì thế, trong khuôn khổ thời gian có hạn, việc mở
rộng, khắc sâu kiến thức gặp nhiều khó khăn Những HĐGDNGLL sẽ góp
phần củng cố, mở rộng những kiến thức đã học ở trên lớp
+ Trực tiếp rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tài năng và thiên hướng
nghề nghiệp cá nhân, hình thành mối quan hệ giữa con người với đời sống xã
hội, với thiên nhiên và môi trường sống
Hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quá trình giáo dục học sinh
Hoạt động Dạy - Học và
Giáo dục trên lớp
Mục tiêu giáo dục: Nhân cách học sinh ; Phát triển toàn diện
Trang 28+ Thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tạo điều kiện cho học sinh hoà nhập vào đời sống xã hội
+ Phát huy tác dụng của nhà trường đối với đời sống, tạo điều kiện để huy động cộng đồng tham gia xây dựng trường học và phát huy tác dụng trong công tác giáo dục
1.4.1.5 Tính chất của HĐGDNGLL
+ Phạm vi hoạt động rộng
HĐGDNGLL là một hoạt động phong phú, đa dạng Nó diễn ra trên tất
cả các mặt hoạt động của nhà trường, nhằm phục vụ cho việc nắm tri thức khoa học trên lớp và giáo dục kỷ luật, nền nếp cho học sinh
+ Mang quy luật đặc thù của quá trình giáo dục học sinh
HĐGDNGLL là một hoạt động xã hội đặc biệt của con người Nó là một quá trình biến đổi phức tạp bên trong tâm lý và tính cách của học sinh HĐGDNGLL phải thống nhất giữa Trí- Đức; giữa tình cảm- lý trí; giữa nhận thức và hành động HĐGDNGLL có khả năng giáo dục to lớn: làm nảy sinh các năng lực, phẩm chất, tình cảm mới Qua luyện tập học sinh không chỉ hiểu mà còn biết cách làm, biết tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
+ Đa dạng về mục tiêu
Mục tiêu trí dục: nhằm mở rộng khắc sâu kiến thức cho học sinh
Mục tiêu đức dục: giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong, tình cảm, ý chí nghị lực cho học sinh
Mục tiêu sức khoẻ: rèn luyện sức khoẻ cho học sinh
Mục tiêu thẩm mỹ: bồi dưỡng khả năng cảm thụ và sáng tạo cái đẹp, đưa cái đẹp và cuộc sống
Mục tiêu lao động: xây dựng thói quen, ý thức và tình yêu với lao động + Mang tính năng động của chương trình, kế hoạch
Các HĐGDNGLL phải được xây dựng kế hoạch dựa trên cơ sở kế hoạch của trường, có sự liên kết chặt chẽ với các đoàn thể trong trường Đồng
Trang 29thời tranh thủ sự ủng hộ, đóng góp ý kiến của các đoàn thể và Ban đại diện cha mẹ học sinh trong quá trình hoạt động
+ Phong phú đa dạng về nội dung và hình thức hoạt động, tính phức tạp khó khăn của kiểm tra đánh giá
HĐGDNGLL mang tính tự giác, tự quản cao không áp đặt Cần chú ý tới nguyện vọng, sở trường, hứng thú của học sinh, hướng các em vào hoạt động sáng tạo để nâng cao hiệu quả Việc đánh giá phẩm chất con người đòi hỏi sự chính xác và tế nhị Đó là một việc phức tạp Tuy vậy mỗi hoạt động trong nhà trường đều phải kiểm tra đánh giá Có như vậy mới khuyến khích được những hoạt động tốt có hiệu quả, đồng thời điều chỉnh, khắc phục những hoạt động chưa tốt, chưa phù hợp và hiệu quả chưa cao
1.4.1.6 Nội dung và hình thức HĐGDNGLL ở trường THPT
+ Nội dung của HĐGDNGLL: HĐGDNGLL ở trường THPT rất phong phú và đa dạng, thể hiện ở nhiều hình thức hoạt động khác nhau
* Theo thông tư số 23/TT ngày 15 tháng 10 năm 1988 của Bộ Giáo dục
và Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh có 5 nội dung sau:
- Hoạt động chính trị xã hội
- Hoạt động phục vụ học tập, tìm hiểu khoa học
- Hoạt động lao động công ích xã hội
- Hoạt động văn hoá nghệ thuật
- Hoạt động thể thao quốc phòng, tham quan du lịch
* Theo Điều lệ trường phổ thông: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; các hoạt động xã hội, từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh”
Trang 30* Căn cứ theo cách phân chia ở trên, đồng thời với thực tế HĐGDNGLL của học sinh THPT hiện nay, ta có thể thấy HĐGDNGLL bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Giáo dục về chính trị, xã hội, đạo đức, pháp luật
- Tìm hiểu, ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ học tập
- Hoạt động công ích, xã hội
- Hoạt động văn hoá- nghệ thuật
- Hoạt động thể thao quốc phòng, tham quan du lịch
- Giáo dục môi trường, dân số, phòng chống tệ nạn xã hội
* Phân chia nội dung theo chủ đề, chủ điểm hàng tháng
Tháng 9 Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước
Tháng 10 Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia đình
Tháng 11 Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo Tháng 12 Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tháng 1 Thanh niên với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tháng 2 Thanh niên với lý tưởng cách mạng
Tháng 3 Thanh niên với vấn đề lập nghiệp
Tháng 4 Thanh niên với hòa bình, hữu nghị và hợp tác
Tháng 5 Thanh niên với Bác Hồ
Tháng 6, 7, 8 Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng
Cách phân chia nội dung HĐGDNGLL như trên chỉ có tính chất tương đối khái quát để các nhà trường định hướng hoạt động ở trường mình một cách cụ thể Trong thực tế, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng trường mà nhà quản lý có thể chỉ đạo nội dung HĐGDNGLL theo những cách khác nhau để vận dụng một cách có hiệu quả
Trang 31- Quản lý đội ngũ GVCN thực hiện HĐGDNGLL
- Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn thực hiện HĐGDNGLL
- Quản lý HĐGDNGLL của học sinh
- Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính phục vụ cho HĐGDNGLL
- Quản lý sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường thực hiện HĐGDNGLL
b) Quản lý các nội dung HĐGDNGLL theo kế hoạch và chương trình giáo dục của cấp học
Kết luận: Chức nămg của quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra đánh giá; nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật sử dụng các thành tố tổng hợp tác động đến hệ thống bằng các phương pháp thích hợp
để thực hiện mục tiêu đề ra Thực chất Quản lý HĐGDNGLL là quản lý các đối tượng tham gia tổ chức thực hiện HĐGDNGLL; quản lý các nội dung và hình thức của HĐGDNGLL nhằm thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT THANH OAI B
2.1 Vài nét về Trường THPT Thanh Oai B
Trường THPT Thanh Oai B được thành lập năm 1973 Khởi đầu có 5 lớp với 248 học sinh Trường nằm trên địa bàn dân cư số 2 của huyện cách Quận
Hà Đông của TP Hà Nội 12 km Trường thu nhận học sinh của 12 xã phía Bắc của huyện Thanh Oai
Năm 1985 do tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện, trường tách
ra một bộ phận giáo viên để thành lập trường THPT Trần Hưng Đạo
Trường THPT Thanh Oai B nằm giữa hai xã Bình minh và Tam Hưng đã được Chủ tịch nước phong tặng đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
và đơn vị Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới
Dự báo quy mô phát triển của Trường THPT Thanh Oai B tới năm 2015 được cho ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Dự báo quy mô phát triển HS của Trường cho tới năm 2015
Về đội ngũ giáo viên và cán bộ công chức của nhà trường:
- Tổng số giáo viên và CNVC: 98 người đều đạt trình độ đào tạo chuẩn
và trên chuẩn
- Năm học 2011 - 2102 có 45 người đạt chiến sỹ thi đua, giáo viên giỏi
và lao động xuất sắc
Trang 33 Về cơ sở vật chất nhà trường:
- Trường có khuôn viên với diện tích trên 2,3 ha
- Có hệ thống phòng học thoáng mát, sân chơi rộng trên 6000 m2, có bãi tập, đường chạy cho học sinh rèn luyện thể chất
- Môi trường tự nhiên trong lành : Có vườn hoa cây cảnh, ao sen, hệ thống cây xanh bóng mát quanh năm
Về bộ máy tổ chức của Nhà trường:
- Lãnh đạo Trường bao gồm: 1 Hiệu trưởng ; 3 Phó hiệu trưỏng
- Trường có 8 tổ chuyên môn và 1 tổ hành chính, trong đó 3 tổ đạt danh hiệu lao động giỏi được UBND Thành phố tặng bằng khen, 4 tổ đạt danh hiệu lao động giỏi cấp cơ sở
- Tổ chức cơ sở Đảng với 43 đảng viên Có 28 năm liền đạt danh hiệu
“Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh” và nhiều năm đạt danh hiệu “Cơ
sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu”
- Tổ chức Công đoàn luôn đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc của ngành GD&ĐT
- Tổ chức đoàn Thanh niên Cộng sản HCM có nhiều thành tích được tặng cờ thi đua xuất sắc
- Nhà trường được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
Thành tích nổi bật trong những năm gần đây:
- Trường luôn có truyền thống đoàn kết Mỗi cán bộ đảng viên, giáo viên đều nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
- Số giáo viên giỏi ngày càng nhiều
- Số học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng thường đứng ở tốp cao của các trường THPT trong Thành phố
- Trường nhiều năm liền đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc của ngành GD-ĐT
- Được tặng bằng khen của Bộ trưởng bộ GD & ĐT
- Được tặng 3 bằng khen của Chính phủ
- Đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng ba, Huân chương lao động hạng nhì
Trang 34 Kết quả học tập của học sinh: Năm học 2010-2011 và học kỳ I năm
Khá (%)
Trung bình (%)
Yếu (%)
Kém
( học sinh bị đình chỉ học 1 năm) (%)
Yếu (%)
Kém (ở lại lớp và bị đình chỉ học 1 năm) (%)Năm học 2010-20011 16,4 70,7 12,7 0,2
Kỳ I năm học 2011-2012 15.8 60.9 21.4 1.9 0.0
(Nguồn lấy từ Ban thi đua trường THPT Thanh Oai B)
2.2 Thực trạng HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai và Trường THPT Thanh Oai B
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục, 2005)
Vì vậy, trong các nhà trường nói chung và các trường THPT nói riêng, không chỉ quan tâm đến kế hoạch dạy học mà rất cần quan tâm đến kế hoạch hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thực chất là một phần rất cơ bản, quan trọng của kế hoạch giáo dục, vì nó tạo điều kiện thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục Thông qua các HĐGDNGLL tiềm năng của học sinh mới có cơ hội bộc lộ, phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh
Trang 35Hệ thống câu hỏi dạng test đã được chúng tôi sử dụng để khảo sát thực trạng HĐGDNGLL và việc quản lý các HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai Chúng tôi đã xây dựng 05 mẫu phiếu điều tra và 01 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến (xem Phụ lục) Các phiếu khảo sát được thực hiện với các đối tượng:
+ CBQL, bao gồm: Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng: 11 người
+ Giáo viên, bao gồm: GVCN, các giáo viên bộ môn: 160 người (GVCN có 104 người )
+ Bí thư và Phó bí thư Đoàn trường là giáo viên: 06 người
+ Học sinh ở cả 03 khối lớp: 810 học sinh thuộc 03 trường THPT Ở mỗi trường, chúng tôi lấy ý kiến 06 lớp đại diện cho 03 khối (mỗi khối 02 lớp): 10, 11 và 12; những lớp lấy ý kiến được đánh giá là những lớp bình thường, để có thể đại diện cho số đông học sinh trong các nhà trường
+ Phụ huynh học sinh: 105 phụ huynh là Hội trưởng Hội phụ huynh của
90 lớp – (3 trường: Thanh Oai A, Thanh Oai B, Nguyễn Du)
Chúng tôi tiến hành khảo sát tại 03 trường THPT của huyện Thanh Oai trong năm 2011: Trường THPT Thanh Oai A, Trường THPT Thanh Oai B và Trường THPT Nguyễn Du Mẫu điều tra này tuy chưa lớn, nhưng chúng tôi
đã cố gắng sử dụng phương pháp chọn mẫu, nên cũng phản ánh một cách tương đối đầy đủ tình hình quản lý HĐGDNGLL của các trường THPT ở huyện Thanh Oai trong giai đoạn hiện nay
Để tăng tính khách quan hơn khi đưa ra các nhận định, chúng tôi có kế thừa các kết quả điều tra của các nghiên cứu trước đây Ngoài ra, đã trực tiếp gặp và phỏng vấn một số giáo viên đã và đang giảng dạy tại các trường THPT của huyện Thanh Oai
Để xử lý số liệu thu được chúng tôi dùng phương pháp thống kê toán học, tính tỷ lệ % trên tổng số các đối tượng được khảo sát để so sánh giữa các mức độ khác nhau
Trang 362.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới HĐGDNGLL
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới HĐGDNGLL Trong đó có những yếu tố cơ bản sau:
2.2.1.1 Nhận thức của CBQL và giáo viên trong nhà trường, đặc biệt là nhận thức của học sinh về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
a) Nhận thức về vị trí, vai trò của HĐGDNGL:
Nhận thức rõ về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của HĐGDNGLL là rất quan trọng, đặc biệt là đối với người làm công tác quản lý giáo dục Nếu người quản lý nói riêng và giáo viên cũng như học sinh nói chung có nhận thức đầy
đủ, toàn diện về HĐGDNGLL chắc chắn hiệu quả giáo dục thu được là rất cao, chúng tôi đã tiến hành thăm dò, khảo sát tại 03 trường THPT ở huyện Thanh Oai, kết quả cho thấy:
Hầu hết các trường có nhận thức chưa đầy đủ về vai trò và tác dụng, thậm chí còn thiếu chính xác về HĐGDNGLL Một số còn cho rằng đó là những hoạt động của nhà trường, của đoàn thanh niên như là một hoạt động chuyên biệt và gần như giao toàn bộ trách nhiệm cho đoàn thanh niên, nếu có phải hoạt động thì là hoạt động chung của toàn trường Mặc dù hiện nay có hẳn chương trình do Bộ GD&ĐT cung cấp để hoạt động theo chủ đề hàng tháng, nhưng đa số giáo viên chưa quan tâm đúng mức Họ vẫn cho HĐGDNGLL là hàng thứ yếu, việc học văn hoá là quan trọng nhất, nhằm phục vụ cho thi tốt nghiệp và thi vào các trường đại học, cao đẳng
Kết quả điều tra về nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về vị trí
và vai trò của HĐGDNGLL ở 3 nhà trường trên 3 đối tượng: CBQL, giáo viên và học sinh như sau:
Trang 37HĐ vui chơi giải trí 14,5%
* Nhận thức của giáo viên
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về HĐGDNGLL
Qua các biểu đồ trên cho thấy:
* Đối với CBQL: 34.5% cho rằng đó là hoạt động đoàn thể, 24.3% cho
rằng đó là hoạt động vui chơi giải trí và hoạt động ngoại khoá, chính vì vậy các hoạt động này lãnh đạo nhà trường giao cho đoàn thanh niên quản lý và tổ chức, theo chương trình của đoàn cấp trên và một số hoạt động của nhà
Trang 38trường Tuy nhiên, hiện nay cũng có tới 41.1% CBQL cho rằng HĐGDNGLL
là hoạt động giáo dục học sinh
Nhận thức của CBQL về vai trò của HĐGDNGLL còn chưa cao Từ chỗ nhận thức chưa đầy đủ như vậy nên dẫn tới việc đầu tư thời gian và vật chất, cũng như các điều kiện khác của nhà trường cho HĐGDNGLL bị xem nhẹ và còn rất hạn chế Đa số CBQL chưa chú trọng tới hoạt động này, chủ yếu công việc giao phó cho đoàn thanh niên chịu trách nhiệm
* Đối với giáo viên: Chỉ có 36% giáo viên cho rằng HĐGDNGLL là
hoạt động giáo dục Có tới 33.2% cho rằng đó là hoạt động của đoàn thể và 30.8% cho rằng đó là những hoạt động ngoại khoá, vui chơi giải trí (như: thi văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan du lịch )
Tóm lại: Nhận thức của giáo viên và cả cán bộ quản lý về
HĐGDNGLL còn chưa cao Nhiều giáo viên cho rằng đó là hoạt động của đoàn thanh niên Vì vậy GVCN lớp ít quan tâm đến việc thực hiện các chủ đề hoạt động theo phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT Nếu phải làm họ thường giao cho cán bộ lớp thực hiện nếu có gì cần hỏi hoặc tham vấn thì GVCN thường chỉ đến cán bộ đoàn Giáo viên bộ môn tiến hành dạy lồng nghép các chủ đề vào bộ môn của mình một cách qua loa đại khái (như: dạy hướng nghiệp, môn giáo dục công dân )
* Đối với học sinh: Chỉ có 23.6% cho rằng HĐGDNGLL là hoạt động
giáo dục Và có tới 76.4% cho rằng đó là những hoạt động của đoàn, hoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi giải trí
Nguyên nhân: Các em chịu sự ảnh hưởng từ các thầy, cô nên đa số học
sinh còn rất mơ hồ về HĐGDNGLL Hơn nữa tâm lý của học sinh và phụ huynh cho rằng, nhiệm vụ chính của học sinh là phải học làm sao để đạt được điểm số các môn văn hoá thật cao, thi đỗ tốt nghiệp và thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Các em coi HĐGDNGLL là những hoạt động giải trí, thư giãn làm bớt căng thẳng sau những giờ học trên lớp
Trang 39b) Nhận thức về nội dung của HĐGDNGLL:
Tìm hiểu nhận thức về nội dung là bao gồm những nội dung nào được đưa vào HĐGDNGLL Căn cứ nội dung HĐGDNGLL nêu trong điều 26 – Điều lệ Trường trung học cơ sở, Trường trung học phổ thông và Trường phổ
thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Thông tư số: BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), chúng tôi
12/2011/TT-thấy, cơ bản CBQL và giáo viên có những ý kiến tương đối giống nhau Còn
về phía học sinh, nhiều em chưa biết hoặc biết rất ít về nội dung của HĐGDNGLL Kết quả điều tra thu được như sau:
Bảng 2.4 Nhận thức về nội dung của HĐGDNGLL
Đối tượng điều tra CBQL Giáo viên Học sinh
Tỷ lệ nắm rõ ND
Qua bảng thống kê trên chúng tôi thấy rằng những nội dung về HĐGDNGLL mà CBQL nắm được tương đối đầy đủ, tương đối thống nhất với ý kiến của giáo viên Tuy nhiên còn 4/11 CBQL chiếm 36.36% còn bàng quan, thờ ơ không quan tâm tới HĐGDNGLL
Đối với giáo viên có tới 42/160 người chiếm tỷ lệ 26.25% cũng không trả lời được các câu hỏi về nội dung HĐGDNGLL và nhiều giáo viên chỉ trả lời được rất ít nội dung
Còn đối với học sinh thì rất ít em biết về nội dung HĐGDNGLL, có 512/810 em chiếm tỷ lệ 63.21% không biết gì về nội dung này, mặc dù ở cấp trung học cơ sở các em cũng đã được tiếp cận với HĐGDNGLL
Qua khảo sát CBQL, giáo viên và học sinh chúng tôi nhận thấy thực trạng chung nhận thức về HĐGDNGLL ở các trường THPT huyện Thanh Oai chưa thực sự đầy đủ Việc nhận thức đúng vai trò, vị trí của HĐGDNGLL
là rất quan trọng Nó quyết định tới chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường Nếu nhận thức đúng về tầm quan trọng của HĐGDNGLL thì chắc
Trang 40chắn rằng CBQL sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết và tổng thể để thực hiện hoạt động này, đồng thời sẽ huy động mọi tiềm năng có được để phát huy tối đa
vai trò của HĐGDNGLL
Thực tế cho thấy có nhiều lý do, lý do chủ quan (về phía CBQL, giáo viên
và học sinh) chưa quan tâm và cả lý do khách quan (nhà trường chưa có điều kiện thực hiện hoặc các điều kiện bị hạn chế), nên HĐGDNGLL còn được thực hiện rất ít, và thực hiện cũng chỉ là hình thức đơn điệu qua loa, sơ sài
Cũng từ phía CBQL và giáo viên chưa coi trọng HĐGDNGLL, từ đó làm cho học sinh cũng thiếu thông tin, hiểu biết về hoạt động này, do vậy các
em nghĩ đơn giản đó chỉ là những hoạt động vui chơi giải trí thông thường, chứ không hiểu đó là những hoạt động phong phú, đa dạng và có tính giáo dục cao giúp các em hoàn thiện nhân cách
c) Nhận thức của giáo viên và phụ huynh học sinh về tác dụng của HĐGDNGLL
Do điều kiện các trường THPT ở Thanh Oai là các trường ở vùng nông thôn, nên việc nhận thức của cha mẹ các em đối với HĐGDNGLL còn rất hạn chế, họ cho rằng đó là những hoạt động vui chơi, không phục vụ cho việc học tập của các em Do đó, đội ngũ giáo viên cũng bị ảnh hưởng rất lớn, và họ coi nhẹ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Đội ngũ giáo viên cho rằng các em học sinh ở nông thôn phải làm việc nhà, không có điều kiện để đầu tư thời gian cho các hoạt động này
Điều tra trên các đối tượng là giáo viên và phụ huynh HS về tác dụng của
HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh THPT thu được kết quả như sau:
Bảng 2.5 Quan niệm của GV và phụ huynh HS về tác dụng của
HĐGDNGLL đối với việc giáo dục học sinh THPT
Mức độ
Đối tượng khảo sát
Tốt ( %)
Bình thường ( %)
Ít tác dụng ( %)