ĐẶT VẤN ĐỀ1.1Tính cấp thiết của đề tàiChăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Năm 2008, Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đối với xây dựng trang trại nhằm phát triển chăn nuôi bền vững. Vấn đề định hướng và giải pháp phát triển chăn nuôi bền vững, hiệu quả tăng thu nhập cho người nông dân là cần thiết và cấp bách, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng nông thôn mới ngày càng khởi sắc. Hơn nữa, nhìn trong tổng thể việc tái cơ cấu nền nông nghiệp hiện nay, việc tái cơ cấu ngành chăn nuôi cũng được tập trung đẩy mạnh. Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong…nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yêu hàng ngày của người dân. Một xu hướng tiêu dùng có tính quy luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung. Hiện nay cùng với sự phát triển của đất nước, mức sống ngày càng tăng, nhu cầu dinh dưỡng của con người cũng tăng lên. Minh chứng cụ thể là nhu cầu tiêu dùng sữa đã có sự thay đổi rõ rệt từ năm 1995 đến 2012 lượng sữa tiêu dùng tăng lên gấp 5 lần. Năm 2013 có khoảng 420.000 tấn sữa tươi nhưng chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu sản xuất trong nước còn lại phải nhập khẩu (Nguyễn Ngọc Giàu, 2013). Điều này cho thấy ngành chăn nuôi bò sữa là cần thiết. Chăn nuôi bò sữa đang là một ngành nông nghiệp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.Khi con bò sữa mới du nhập về Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng, loài vật nuôi của xứ ôn đới này không phù hợp với một đất nước nhiệt đới như chúng ta. Tuy nhiên, thực tế vài năm trở lại đây đã chứng minh, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển ngành chăn nuôi bò sữa gắn với chế biến nhờ ứng dụng công nghệ cao. Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho thấy số lượng đàn bò sữa tính đến 142014 tăng mạnh lên 2004 nghìn con, tăng 26000 con (tăng 14%) so cùng kì (http:agro.gov.vn).Ba Vì là một huyện thuộc thành phố Hà Nội với 30 xã, vùng có nhiều điều kiện thuận lợi trong chăn nuôi bò sữa. Theo Thống kê của phòng Kinh tế huyện Ba Vì, đến hết năm 2014 các mô hình trang trại phát triển khá phong phú, đàn bò sữa phát triển mạnh tại nhiều xã. Hiện nay tổng đàn bò sữa của Huyện đạt 8.100 con (Hồng Đạt,2015). Tản Lĩnh là xã thuộc vùng núi huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đây là vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm của huyện với tổng đàn năm 2014 là 2.457 con. Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ sữa tăng khiến cho chăn nuôi bò sữa tại đây có những thay đổi và ngày càng chứng tỏ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chăn nuôi bò sữa đang trở thành ngành có tác động mạnh mẽ tới thu nhập, tạo công ăn việc làm cho nông dân nhất là trong bối cảnh dân số ngày càng tăng. Tuy nhiên, đây là công việc đòi hỏi sự chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt, cơ sở hạ tầng thích hợp và kiến thức chăn nuôi, nhất là kĩ thuật vắt sữa nếu không đảm bảo kĩ bò sữa rất dễ mắc bệnh, sản phẩm sữa cũng sẽ bị hỏng. Bên cạnh đó, quy trình chăn nuôi hiện nay còn phải đối mặt với nhiều rủi ro đặc biệt là rủi ro về giống, rủi ro dịch bệnh, rủi ro về thị trường và rủi ro về tài chính. Trong điều kiện ngành còn tiềm ẩn nhiều rủi ro thì các giải pháp quản lý nhà nước có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển chung của toàn ngành.Để giúp người dân có những quyết định đúng đắn trong chăn nuôi bò sữa giúp các hộ tăng kết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lí nhà nước trong chăn nuôi bò sữa. Xuất phát từ thực tế trên, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu quản lí nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = = = = = =
NGUYỄN THỊ BẢO YẾN
NGHIÊN CỨU QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHĂN NUÔI BÒ SỮA TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI – 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = = = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHĂN NUÔI BÒ SỮA TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ơ
Tên sinh viên : NGUYỄN THỊ BẢO YẾN
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : ThS NGUYỄN THỊ MINH THU
HÀ NỘI – 2015
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Bảo Yến
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ của các cá nhân, tập thể trong và ngoài Học viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt Nam, toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thị Minh Thu- giảng viên bộ môn Kế hoạch và Đầu tư đã trực tiếp hướng
dẫn, dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến cô Cao Thị Minh Chi hội trưởng hội chăn nuôi bò sữa Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, cùng toàn thể cán bộ tại UBND xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện báo cáo
Xuân-Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Bảo Yến
Trang 5
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đốitượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầucủa con người Chăn nuôi bò sữa đang là một ngành nông nghiệp quan trọng manglại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Tản Lĩnh là xã thuộc vùng núi huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội, đây là vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm của huyện với tổng đànnăm 2014 là 2.457 con Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ sữa tăng khiến cho chănnuôi bò sữa tại đây có những thay đổi và ngày càng chứng tỏ vị thế quan trọng trongngành chăn nuôi Quy trình chăn nuôi bò sữa hiện nay còn phải đối mặt với nhiềurủi ro đặc biệt là rủi ro về giống, rủi ro dịch bệnh, rủi ro về thị trường và rủi ro về tàichính Trong điều kiện ngành còn tiềm ẩn nhiều rủi ro thì các giải pháp quản lý nhànước có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển chung của toàn ngành Để giúpngười dân có những quyết định đúng đắn trong chăn nuôi bò sữa giúp các hộ tăngkết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động đòi hỏi phải có sựtham gia tích cực của các cơ quan quản lí nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa Xuất
phát từ thực tế trên, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu quản lí
nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác quản lý nhà nước đối với chănnuôi bò sữa tại địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận vàthực tiễn quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa (2) Phân tích thực trạng công tácquản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đốivới chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nghiên cứu tìm hiểu địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nộigồm: điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội Bài viết sử dụng các phươngpháp nghiên cứu địa bàn gồm: phương pháp tiếp cận, phương pháp chọn điểmnghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp nhập và xử lý số liệu,phương pháp phân tích và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
Trang 6
Kết quả nghiên cứu và thảo luận, đề tài tìm hiểu thực trạng tình hình chănnuôi tại các nông trại và công tác quản lý nhà nước tại địa phương, đưa ra các giảipháp tháo gỡ khó khăn trong quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa Hiện nay,chăn nuôi bò sữa đang là ngành có hiệu quả kinh tế cao, tạo ra nguồn thu nhập ổnđịnh cho người chăn nuôi Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi, người dân vẫn gặpnhững khó khăn cần sự can thiệp của nhà nước để giải quyết các vấn đề đó Các giảipháp quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa được tìm hiểu là công tác quy hoạchvùng nuôi bò, cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi bò sữa, công tác quản lý giống bò,công tác thú y, công tác khuyến nông, quản lý thức ăn và thuốc thú y, quản lý côngtác thu mua sữa và quản lý môi trường chăn nuôi bò sữa
Qua thông tin và số liệu điều tra xác định được tại xã Tản Lĩnh chưa thựchiện quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa thanh khu chăn nuôi riêng xa khu dân cư màhoạt động chăn nuôi bò sữa tại đây vẫn mang tinh tự phát, nhỏ lẻ Địa phương nàyđang thiếu quỹ đất để quy hoạch vùng chăn nuôi và đồng cỏ phục vụ thức ăn xanhcho bò Cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi bò sữa đa số đã được đầu tư hiện đại, đạttiêu chuẩn yêu cầu về chuồng trại và trang thiết bị chăn nuôi Địa phương đã ápdụng nhiều phương pháp để quản lý giống bò như gắn mã số trên tai, cấp phiếu cáthể, cấp sổ theo dõi và kiểm định bò… tạo thuận lợi cho việc quản lý số lượng và cơcấu giống bò một cách khoa học Công tác thú y được trạm thú y xã tổ chức tiêmphòng theo quy định với 100% nông trại tham gia tiêm vacxin cho bò Các khóa tậphuấn được tổ chức thường xuyên và nội dung thiết thực nhằm đấy mạnh công táckhuyến nông tại xã đạt hiệu quả cao Ngoài ra xã đã thành lập Chi hội chăn nuôi bòsữa xã Tản Lĩnh là đơn vị trực tiếp quản lý tình hình bò sữa trên địa bàn Tổ chứcnày đã và đang đi vào hoạt động thu hút đông đảo hội viên tham gia một cách tíchcực Trong lĩnh vực quản lý thức ăn và thuốc thú y, các cấp chính quyền địa phươngthường xuyên kiểm tra chất lượng và giá cả tại các cơ sở kinh doanh để đảm bảoquyền lợi tốt nhất cho người chăn nuôi Công tác thu mua sữa được tiến hành dựatrên hợp đồng thu mua giữa công ty sữa với nông trại chăn nuôi Hợp đồng cónhững điều khoản được quy định chặt chẽ tạo cho người dân ý thức được tầm quantrọng và chủ động thực hiện tốt cam kết đã đề ra Tại xã hiện nay đa số nông trạitham gia kí kết hợp đồng thu mua sữa với Công ty sữa quốc tế IDP Đây là một
Trang 7
cách làm mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho người chăn nuôi Để môi trườngchăn nuôi bò sữa đảm bảo tiêu chí đúng quy định, 100% người chăn nuôi bò sữathực hiện các biện pháp tiêu độc khử trùng, vệ sinh chuồng trại… nhằm phòng dịchbệnh và tạo môi trường cho bò sữa phát triển tốt nhất Từ kết quả nghiên cứu phân
ra các yếu tố thuộc về người chăn nuôi, yếu tố thuộc về cán bộ quản lý và yếu tốthuộc về chính sách
Các giải pháp quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa là rất cần thiết ởđây, giúp phát triển chăn nuôi và ổn định đời sống của các hộ chăn nuôi Nhà nướccần có chủ trương, chính sách nhằm giải quyết những thách thức còn tồn tại đối vớingành chăn nuôi bò sữa Chính quyền địa phương nên tận dụng những vùng đất cóđiều kiện tự nhiên thích hợp để quy hoạch vùng chăn nuôi và đồng cỏ riêng cho bòsữa Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cũng là là giải pháp hữu hiệu, tạo điều kiệncho người chăn nuôi được tiếp cận với trang thiết bị hiện đại và mang lại hiệu quảkinh tế cao hơn Bên cạnh đó, cơ quan chức năng nên chú trọng phát triển giống bòsữa, tạo điều kiện cho người chăn nuôi sử dụng con giống tốt và mang lại năng suấtcao Đối với công tác thú y, khuyến nông, quản lý thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi,công tác thu mua sữa tươi, chính quyền phải có những giải pháp nhằm hỗ trợ sảnxuất và bảo bệ quyền lợi cho người chăn nuôi một cách tốt nhất Ngoài ra, vấn đềmôi trường trong chăn nuôi bò sữa cần quản lý chặt chẽ hơn, tăng cường các biệnpháp giữ gìn vệ sinh môi trường trên toàn xã Để thực hiện các giải pháp đạt hiệuquả, người dân cần có nhận thức đúng về lợi ích mang lại từ các chủ trương chínhsách của Nhà nước, các kế hoạch quản lý từ cấp trên ban hành để mọi người thựchiện một cách tự nguyện, đông đảo hơn Đề tài cũng đề xuất một số định hướng,giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước trong chăn nuôi
bò sữa có trên địa bàn xã
Trang 8
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP xi
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHĂN NUÔI BÒ SỮA 4
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa 6
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa 7
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa 18
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa 20
2.2.1 Quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở một số quốc gia trên thế giới20 2.2.2 Quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở một số địa phương trong nước 26 2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa 29 2.2.4 Chủ trương chính sách về quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa 30
2.2.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan 31
Trang 9
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Tản Lĩnh 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 46
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 47
3.2.4 Phương pháp nhập và xử lý số liệu 48
3.2.5 Phương pháp phân tích 49
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 49
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52
4.1 Hệ thống văn bản chính sách về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa 52 4.2 Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội 57
4.3 Công tác lập kế hoạch quản lý của nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa 59
4.4 Thực hiện giải pháp quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 63
4.4.1 Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa 63
4.4.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi bò sữa 69
4.4.3 Công tác quản lý giống bò sữa 73
4.4.4 Công tác thú y trong chăn nuôi bò sữa 84
4.4.5 Công tác khuyến nông trong chăn nuôi bò sữa 87
4.4.6 Quản lý thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y 92
4.4.7 Quản lý công tác thu mua sữa 97
4.4.8 Quản lý môi trường chăn nuôi bò sữa 104
Trang 10
4.5 Yếu tố ảnh hưởng tới công tác QLNN đối với chăn nuôi bò sữa 106
4.5.1 Yếu tố thuộc về người chăn nuôi bò sữa 106
4.5.2 Yếu tố thuộc về cán bộ quản lý 108
4.5.3 Cơ chế chính sách 110
4.6 Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa xã Tản Lĩnh 112
4.6.1 Định hướng phát triển chăn nuôi bò sữa tại xã Tản Lĩnh 112
4.6.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với CNBS ở xã Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội trong thời gian tới 113
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
5.1 Kết luận 122
5.2 Kiến nghị 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC 128
Trang 11
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai xã Tản Lĩnh 36
Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu và lao động xã Tản Lĩnh 38
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của xã Tản Lĩnh giai đoạn 2012 - 201443 Bảng 3.4 : Phân bổ mẫu điều tra nông trại chăn nuôi bò sữa 48
Bảng 4.1 Hệ thống văn bản chính sách QLNN đối với CNBS từ trung ương đến địa phương 53
Bảng 4.2 Đánh giá về mức độ hiểu biết và thực hiện văn bản chính sách về CNBS tại xã Tản Lĩnh 55
Bảng 4.3 Công tác lập kế hoạch quản lý chăn nuôi bò sữa 59
Bảng 4.4 Đánh giá ý kiến của cán bộ quản lý và người chăn nuôi xã Tản Lĩnh về vấn đề quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa 65
Bảng 4.5 Diện tích đất trồng cỏ xã Tản Lĩnh từ năm 2012 đến năm 2014 66
Bảng 4.6 Đánh giá của nông trại CNBS về lượng cỏ sử dụng 67
Bảng 4.7 Đánh giá của nông trại về chất lượng cỏ 68
Bảng 4.8 Tình hình chuồng trại chăn nuôi bò sữa tại các nông trại điều tra 71
Bảng 4.9 Đánh giá chuồng trại chăn nuôi bò sữa 72
Bảng 4.10 Phân bổ đàn bò và số hộ tham gia chăn nuôi bò sữa của xã Tản Lĩnh năm 2014 74
Bảng 4.11 Tốc độ phát triển đàn bò sữa giai đoạn 2012 – 2014 76
Bảng 4.12 Quy mô chăn nuôi bò sữa ở các nông trại xã Tản Lĩnh năm 2014 78
Bảng 4.13 Chăn nuôi bò sữa của các nông trại ở các thôn nghiên cứu điểm theo quy mô giai đoạn 2012 – 2014 79
Bảng 4.14 Số lượng giống bò tại các nông trại điều tra 80
Bảng 4.15 Đánh giá của các nông trại về chất lượng giống bò 81
Bảng 4.16 Công tác quản lý giống tại các nông trại 82
Bảng 4.17 Tỷ lệ hộ tham gia tiêm phòng cho bò sữa 85
Trang 12
Bảng 4.18 Số lượng các khóa tập huấn và học viên tham gia tập huấn tại xã
Tản Lĩnh năm 2014 88 Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về chất lượng các khóa tập huấn 89 Bảng 4.20 Nông trại tham gia chi hội chăn nuôi bò sữa 90 Bảng 4.21 Một số biện pháp hỗ trợ đầu tư từ Công ty cổ phần sữa Quốc tế
IDP cho các nông trại CNBS trong năm 2014 92 Bảng 4.22 Đánh giá về chất lượng thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi tại địa.95 Bảng 4.23 Đánh giá của nông trại CNBS về việc tiêu thụ sữa tại địa phương 103 Bảng 4.24 Một số biện pháp vệ sinh môi trường chăn nuôi tại xã Tản Lĩnh 104 Bảng 4.25 Thông tin khái quát về trình độ của chủ hộ điều tra tại
xã Tản Lĩnh 106 Bảng 4.26 Thông tin khái quát về trình độ của cán bộ điều tra tại xã Tản Lĩnh .108 Bảng 4.27 Hệ số lương và mức thù lao của cán bộ thú y xã Tản Lĩnh 109
Trang 13
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP
Sơ đồ 2.1 Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa từ
trung ương tới địa phương 8
Sơ đồ 4.1 Hệ thống quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở Hà Nội 57
Sơ đồ 4.2 Các đơn vị tham gia thực hiện quản lý chăn nuôi bò sữa trên địa
bàn xã Tản Lĩnh 61
Sơ đồ 4.3: Các kênh tiêu thụ sữa tươi của xã Tản Lĩnh 98
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu bò sữa theo giai đoạn phát triển từ năm 2012 – 2014 77 Biểu đồ 4.2: Công tác quản lý giống bò tại các nông hộ 82 Biểu đồ 4.3: Đánh giá về việc tiêu thụ sản phẩm sữa bò tưoi ở xã Tản Lĩnh
103
Hộp 4.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân về công tác thú y 84 Hộp 4.2 Phun thuốc tiêu độc khử trùng 86 Hộp 4.3 Tổ chức các khóa tập huấn nâng cao trình độ chăn nuôi cho người 87 Hộp 4.4: Người dân bị ép giá khi mua thuốc thú y 97 Hộp 4.5: Đánh giá chất lượng sữa trong công tác thu mua sữa tươi 99 Hộp 4.6 Vấn đề chất thải của bò sữa gây ô nhiễm môi trường xung quanh 105 Hộp 4.7 Nhu cầu quy hoạch vùng nuôi và đồng cỏ phục vụ
chăn nuôi của người dân 111
Trang 14
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 15
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đốitượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầucủa con người Năm 2008, Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đối với xây dựng trangtrại nhằm phát triển chăn nuôi bền vững Vấn đề định hướng và giải pháp phát triểnchăn nuôi bền vững, hiệu quả tăng thu nhập cho người nông dân là cần thiết và cấpbách, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân, xây dựng nông thôn mới ngày càngkhởi sắc Hơn nữa, nhìn trong tổng thể việc tái cơ cấu nền nông nghiệp hiện nay, việctái cơ cấu ngành chăn nuôi cũng được tập trung đẩy mạnh Ngành chăn nuôi cung cấpcác sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong…nhằm đáp ứng cácnhu cầu tiêu dùng thiết yêu hàng ngày của người dân Một xu hướng tiêu dùng có tínhquy luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôingày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung.Hiện nay cùng với sự phát triển của đất nước, mức sống ngày càng tăng, nhu cầu dinhdưỡng của con người cũng tăng lên Minh chứng cụ thể là nhu cầu tiêu dùng sữa đã có
sự thay đổi rõ rệt từ năm 1995 đến 2012 lượng sữa tiêu dùng tăng lên gấp 5 lần Năm
2013 có khoảng 420.000 tấn sữa tươi nhưng chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu sản xuấttrong nước còn lại phải nhập khẩu (Nguyễn Ngọc Giàu, 2013) Điều này cho thấyngành chăn nuôi bò sữa là cần thiết
Chăn nuôi bò sữa đang là một ngành nông nghiệp quan trọng mang lại hiệuquả kinh tế cao cho nông dân.Khi con bò sữa mới du nhập về Việt Nam, nhiều ýkiến cho rằng, loài vật nuôi của xứ ôn đới này không phù hợp với một đất nướcnhiệt đới như chúng ta Tuy nhiên, thực tế vài năm trở lại đây đã chứng minh, ViệtNam hoàn toàn có thể phát triển ngành chăn nuôi bò sữa gắn với chế biến nhờ ứngdụng công nghệ cao Theo kết quả điều tra sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho thấy
số lượng đàn bò sữa tính đến 1/4/2014 tăng mạnh lên 2004 nghìn con, tăng 26000con (tăng 14%) so cùng kì (http://agro.gov.vn)
Trang 16có những thay đổi và ngày càng chứng tỏ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi.Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chăn nuôi bò sữa đang trở thành ngành có tácđộng mạnh mẽ tới thu nhập, tạo công ăn việc làm cho nông dân nhất là trong bốicảnh dân số ngày càng tăng Tuy nhiên, đây là công việc đòi hỏi sự chăm sóc nuôidưỡng đặc biệt, cơ sở hạ tầng thích hợp và kiến thức chăn nuôi, nhất là kĩ thuật vắtsữa nếu không đảm bảo kĩ bò sữa rất dễ mắc bệnh, sản phẩm sữa cũng sẽ bị hỏng.Bên cạnh đó, quy trình chăn nuôi hiện nay còn phải đối mặt với nhiều rủi ro đặc biệt
là rủi ro về giống, rủi ro dịch bệnh, rủi ro về thị trường và rủi ro về tài chính Trongđiều kiện ngành còn tiềm ẩn nhiều rủi ro thì các giải pháp quản lý nhà nước có vaitrò hết sức quan trọng với sự phát triển chung của toàn ngành
Để giúp người dân có những quyết định đúng đắn trong chăn nuôi bò sữagiúp các hộ tăng kết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người lao động đòihỏi phải có sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lí nhà nước trong chăn nuôi
bò sữa Xuất phát từ thực tế trên, tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu quản lí nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, phân tích các vấn đề bất cập trong quản lýnhà nước đối với chăn nuôi bò sữa hiện nay trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhànước đối với chăn nuôi bò sữa tại địa phương trong thời gian tới
Trang 17
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
chăn nuôi bò sữa
trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
nuôi bò sữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời cho các câu hỏi:
1 Thực trạng của công tác quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa trênđịa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội như thế nào?
2 Có những khó khăn gì trong công tác quản lý nhà nước đối với chăn nuôi
bò sữa ở xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội?
3 Nên có những giải pháp quản lý nhà nước nào để phát triển chăn nuôi bòsữa trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Công tác quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa tại địa bàn xã Tản Lĩnh,huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi về nội dung: Tập trung nghiên cứu những nội dung trong quản lý
nhà nước đối với phát triển chăn nuôi trong các nông trại chăn nuôi bò sữa Từ đótìm hiểu các biện pháp quản lý nhà nước để phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn
Phạm vi về không gian: Đề tài được tập trung nghiên cứu tại xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Phạm vi về thời gian: Tài liệu thu thập tùy theo yêu cầu từng nội dung nghiên
cứu Số liệu thứ cấp điều tra năm 2012-2014 Số liệu sơ cấp điều tra năm 2015
Trang 18
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CHĂN NUÔI BÒ SỮA
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là yêu cầu tối thiểu nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên líluận và nghiên cứu quản lý học Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thườngđược hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.Bản thân khái niệm quản lý
có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sựkhác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giảithích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất
và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lýgiải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Yếu tố tạo thành nên hoạt động quản lý
Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4yếu tố cơ bản sau cấu thành:
Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện
Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phương diện:
Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân
Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được
những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớnhơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể
Trang 19
Như vậy, quản lý được hiểu là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mụctiêu chung
2.1.1.2 Quản lý nhà nước
Khái niệm quản lý nhà nước nói chung được định nghĩa như sau: “Quản lý
nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.(Giáo trình quản lý hành chính nhà nước)
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước,được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nướcđược xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thểxem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:
nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nướctheo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các vănbản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng
bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạtđộng quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhànước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trựctiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhànước theo quy định của pháp luật
2.1.1.3 Quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa
Quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa là việc các cơ quan nhà nước sửdụng các công cụ, chính sách, chiến lược của mình để tác động, điều chỉnh quá trìnhsản xuất, kinh doanh liên quan đến chăn nuôi bò sữa Đó là sự tác động có tổ chức vàđiều chỉnh bằng quyền lực đối với các quá trình sản xuất kinh doanh, và hành vi hoạtđộng của con người để duy trì và phát triển ngành chăn nuôi bò sữa
Trang 20
Thông thường quá trình quản lý nhà nước trong chăn nuôi nói chung và chănnuôi bò sữa nói riêng là quá trình thiết kế mục tiêu quản lý và căn cứ vào đó các cơquan nhà nước mà sử dụng công cụ quản lý hiện hữu và phương pháp quản lý thíchhợp để điều tiết sự phát triển theo quỹ đạo và mục tiêu đã định Hiểu cụ thể hơn,quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa là việc chủ thể quản lý (cơ quan nhà nước)
sử dụng tất cả mọi phương tiện (chính sách, chiến lược… ) để tác động lên đốitượng quản lý (ngành chăn nuôi bò sữa, tổ chức cá nhân chăn nuôi bò sữa… ) nhằmđạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa
Chăn nuôi bò sữa có vai trò rất quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởngngành chăn nuôi Đặc thù của chăn nuôi là phải đầu tư vốn lớn, kiến thức kỹ thuậtcao nên rất cần sự quan tâm của các cơ quan chuyên môn để phát triển sản xuất vàđảm bảo chất lượng sản phẩm Những ảnh hưởng từ “cơn bão Mê – la – min” màngười nông dân phải gánh chịu đã quá rõ Từ đây cho thấy, để ngày chăn nuôi bòsữa phát triển bền vững và ổn định cần có sự quản lý vĩ mô của nhà nước bằngnhiều công cụ chính sách và biện pháp hữu hiệu, cụ thể là:
triển ngành chăn nuôi bò sữa Các điều luật càng chi tiết và đúng đắn, càng dễ kiểmsoát các hoạt động chăn nuôi, kinh doanh và các hoat động khác liên quan đénngành chăn nuôi bò sữa
nuôi bò sữa: xây dựng và phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, chính sách đầu tư (đầu
tư cơ sở hạ tầng, máy móc, trang thiết bị… ), chính sách phát triển nguồn nhân lực(tâp huấn cho người chăn nuôi các kỹ thuật chăm sóc cho đàn bò sữa, kỹ thuật vắtsữa, kỹ thuật sử dụng máy vắt sữa…
kêu gọi đầu tư hợp lý vào việc phát triển chăn nuôi bò sữa, thông qua việc khuyếnkhích các doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi bò sữa (tạo điều kiện cho thuêmặt bằng phát triển đồng cỏ, xây dựng chuồng trại, giảm thuế, hỗ trợ đào tạo laođộng thông qua các nguồn thuế khuyến nông, khuyến công)
Trang 21
với doanh nghiệp, người sản xuất với thị trường doanh nghiệp
Như vậy, nhà nước đóng vai trò rất lớn trong việc định hướng, quản lý, điềutiết và bảo vệ quyền lợi của người chăn nuôi trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa
2.1.3.1 Hệ thống văn bản chính sách
Quản lý nhà nước trong ngành chăn nuôi bò sữa thể hiện qua hàng loạt cáccông cụ chính sách hỗ trợ phát triển và quản lý ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt làđịnh hướng phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam Nhà nước ta đã và đangquan tâm đến vấn đề tam nông, các gói kích cầu về lãi suất vốn vay và kích cầutrong nông nghiệp về tư liệu sản xuất đã góp phần đẩy mạnh phát triển công nghiệp.Đồng thời tình hình thiên tai và dịch bệnh trong thời gian qua căn bản được kiểmsoát nên giảm thiểu các thiệt hại cho chăn nuôi bò sữa Muốn phát triển chăn nuôi
bò sữa theo hướng công nghệ cao, cần hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật,chỉnh sửa, bổ sung các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về giống hiện không còn phùhợp với thực tế sản xuất Ban hành và hướng dẫn, đào tạo kỹ thuật chọn lọc và nhân
và quản lý hệ thống giống bò sữa theo kịp công nghệ tiên tiến của thế giới Hìnhthành ít nhất một trung tâm đào tạo và huấn luyện kỹ thuật chăn nuôi, đào tạo kiếnthức quản lý trang trại đại gia súc cho các chủ trại, cán bộ kỹ thuật đang làm việc tạicác trang trại Trung tâm này được đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) của
tư nhân có sự hỗ trợ của Nhà nước.( Nguồn: Báo Điện tử Hội Nông dân Việt Nam,18/02/2014)
2.1.3.2 Hệ thống quản lý bộ máy nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa
Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với ngành chăn nuôi nói chung vàchăn nuôi bò sữa nói riêng đã được phân cấp quản lý và hoạt động quản lý gắn vớitừng cấp thì thực hiện một chức năng riêng Hoạt động này giúp mỗi cấp ngành,đơn vị xác định nhiệm vụ cụ thể và chính xác, tạo lập hướng đi đúng trong quá trìnhquản lý cũng như chăn nuôi Từ đó đạt hiệu quả chăn nuôi cao hơn, tạo sự quản lý
dễ dàng, mạch lạc Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với nông nghiệp nóichung, chăn nuôi bò sữa nói riêng được thiết lập theo ngành dọc như sau:
Trang 22
Sơ đồ 2.1 Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa từ
trung ương tới địa phương
thực hiện chức năng QLNN về chăn nuôi bò sữa trong phạm vi cả nước Các côngviệc cụ thể của Cục chăn nuôi như sau:
- Quản lý giống, nhập giống bò, tinh bò sữa (bao gồm tinh cao sản và tinhphân ly)
- Nhập giống cỏ, thức ăn chất lượng cao
- Quản lý nhập khẩu, kiểm dịch sữa bột
Cục chăn nuôi
Sở NN & PTNT Trung tâm khuyến nông Chi cục thú y
Trung tâm phát triển chăn nuôi
Nông trại chăn nuôi bò sữa
Trang 23
- Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa của thành phố Hà Nội
- Đưa ra các cơ chế chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa
- Thống kê báo cáo tham mưu chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa
- Tư vấn, giám sát thực hiện dự án
- Tư vấn giúp người nông dân phát triển chăn nuôi
2.1.3.3 Lập kế hoạch quản lý
Kế hoạch quản lý đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển và chănnuôi bò sữa Nó được xây dựng, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thựchiện phương án hành động trong tương lai Kế hoạch quản lý với đặc thù là một công
cụ quản lỹ kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân là một hệ thống bao gồm nhiều nộidung hoạt động Kế hoạch đó có thể chia thành: Chiến lược phát triển, quy hoạchphát triển, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn, chương trình, dự án
Trong chăn nuôi bò sữa, kế hoạch quản lý được lập rõ ràng và thực hiện mộtcách nghiêm ngặt để có thể giám sát hoạt động chăn nuôi một cách hiệu quả nhất
Kế hoạch quản lý bao gồm:
pháp đã được lựa chọn trong chiến lược kế hoạch 5 năm, trong đó phân bổ chỉ tiêucho từng năm Ở Việt Nam nói chung và trong chăn nuôi bò sữa nói riêng, đây làhình thái chủ yếu của kế hoạch, là định hướng khung cho quá trình phát triển kinh tếnói chung và ngành chăn nuôi bò sữa cũng thường sử dụng kế hoạch 5 năm Đây là
kế hoạch mang tầm vĩ mô, thực hiện các mục tiêu lớn, vì vậy cần thời gian thựchiện lâu dài hiệu quả Đối với chăn nuôi bò sữa, kế hoạch quản lý 5 năm thường ưutiên các nhiệm vụ sau:
Trang 24
- Đẩy mạnh các hình thức liên kết, hợp tác, chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻsang quy mô trang trại tập trung, công nghiệp, kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sữa
và môi trường chăn nuôi tại nông hộ
- Nhân rộng các mô hình chăn nuôi bò sữa theo hướng cơ giới hóa, hiện đạihóa, ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ mới; củng cố các hợp tác xã chăn nuôi
bò sữa gắn kết sản xuất, cung cấp dịch vụ và thu mua tiêu thụ sản phẩm; nâng caonăng lực của đội ngũ làm công tác giống, thú y, khuyến nông bò sữa
- Nâng cao chất lượng con giống, giám định và chứng nhận giống bò sữa
hiện nhiệm vụ phát triển ngành chăn nuôi Kế hoạch hàng năm được xây dựng căn
cứ vào mục tiêu và định hướng chiến lược, vào phương pháp, nhiệm vụ của kếhoạch 5 năm và vào kết quả phân tích tình huống Các hoạt động triển khai kếhoạch hàng năm thường cụ thể hơn, đòi hỏi việc phân bổ thời gian hộ lý trong năm
để thực hiện công việc Các nhiệm vụ thường ở kế hoạch hàng năm như sau:
- Xây dựng các nhà máy chế biến thức ăn cho bò sữa
- Thiết kế đồng cỏ cao cấp phục vụ đủ cho chăn nuôi bò sữa
- Phát triển hệ thống phân phối sản phẩm sữa và các sản phẩm từ sữa đến tayngười tiêu dùng
- Hoàn thành quy hoạch mặt bằng các khu chăn nuôi bò sữa tập trung ,hướng dẫn xây dựng chuồng trại theo mẫu cơ bản có đủ các khu phụ trợ và sử lýmôi trường phù hợp, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và đẩy nhanh tiến độ mua bò
- Trang bị dụng cụ cho kỹ thuật viên cơ sở Rà soát lại các định mức kinh tế
kỹ thuật để cấp kinh phí mua sắm vật tư dụng cụ hỗ trợ chăn nuôi bò sữa
trong một năm Từ kế hoạch năm, các hoạt động sẽ được phân bổ và triển khai đềuđặn trong năm Việc thực hiện kế hoạch đều đặn hàng kì kết hợp với việc quản lýgiúp cho quá trình làm việc hiệu quả và tránh gặp phải rủi ro Nhiệm vụ cụ thể của
kế hoạch hàng kỳ như sau:
- Quản lý kiểm tra dịch bệnh định kỳ 4 lần/năm cho bò sữa, ngăn chặn sự lâylan dịch bệnh
Trang 25
- Quản lý việc tư vấn, hướng dẫn đào tạo tập huấn nâng cao kiến thức và taynghề cho người chăn nuôi Quản lý tổ chức các lớp tập huấn đào tạo năng lực cán
bộ chuyên môn, đa dạng hóa hình thức tập huấn, kết hợp tập huấn với tham gia thực
tế trong và ngoài nước, liên kết các trường kỹ thuật chuyên nghiệp để tập huấn theocấp độ chuyên sâu và cấp chứng nhận về chăn nuôi bò sữa cho học viên
- Quản lý quy mô của bò qua việc nhập giống và sinh sản
trong việc quản lý nhất Vì đây là hoạt động ngắn hạn yêu cầu việc quản lý thường nhật đểđem đến kết quả tốt nhất trong quá trình chăn nuôi bò sữa Quản lý việc thực hiện kế hoạchhàng tháng bao gồm việc quản lý hầu hết các lĩnh vực trong quá trình chăn nuôi bò sữanhư quản lý giống, quản lý việc thực hiện công tác thú y, quản lý thức ăn, thu mua
2.1.3.4 Thực hiện biện pháp quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa
a) Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa
Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa: Việc phát triển chăn nuôi bò sữa theovùng là yêu cầu khách quan và là sự cần thiết để phát triển chăn nuôi bò sữa ổn địnhbền vững Do vậy việc quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa là vấn đề đầu tiên cần phảilàm Quy hoạch phải trên cơ sở thực tế từ diện tích đất đai, số hộ có khả năng pháttriển chăn nuôi, quy mô chăn nuôi của hộ, khả năng đầu tư mà xác định quy môchăn nuôi của vùng qua từng giai đoạn Việc quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa cótác động tốt tới tư tưởng yên tâm đầu tư của người chăn nuôi cũng như doanhnghiệp chế biến, mục tiêu và sự chỉ ñạo của chính quyền địa phương được xác định
rõ ràng Vì vậy quy hoạch phải lâu dài, ổn định, các địa phương phải xác định chănnuôi bò sữa là mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương.Tạo quỹ đất để phát triển chăn nuôi bò sữa lâu dài theo hướng đầu tư thâm canh,công nghiệp, quy mô lớn, ngoài khu dân cư Có chính sách khuyến khích chuyểnđổi, chuyển nhượng, dồn điền, đổi thửa tạo quỹ đất để giao đất, cho thuê đất đốivới các tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khả thi đã được các cơ quan có thẩm qyềnphê duyệt Chuyển đổi diện tích đất canh tác kém hiệu quả như các vùng trung du,đồi gò, bãi ven sông sang phát triển chăn nuôi trang trại Cần thực hiện tốt cácchính sách cho từng trường hợp cụ thể như:
Trang 26
người nhận để khuyến khích những người có nguồn lực (vốn, lao động, kỹ thuật )đầu tư lập trang trại chăn nuôi bò sữa
quỹ đất cụ thể để đưa ra mức khoán hoặc cho thuê cụ thể Đối với vùng đất có điềukiện thuận lợi nhưng quỹ đất hạn chế thì cần tổ chức đấu thầu công khai, đảm bảodân chủ, minh bạch
để người dân có đất tự nguyện và chấp thuận mức đền bù theo tính đặc thù của sảnxuất nông nghiệp
Quy hoạch đồng cỏ: là một phần trong quy hoạch vùng chăn nuôi bò Việcquy hoạch đồng cỏ có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển đàn bò sữa Trongquy hoạch vùng đồng cỏ cần lưu ý đến các vấn đề như diện tích đồng cỏ, loại cỏ cầntrồng…Khuyến khích các địa phương dành đất cho trồng cỏ chăn nuôi bò, đặc biệt
là khu vực đất dốc không bằng phẳng tại các bãi ven sông, khu vực đồi gò
b) Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi bò sữa
Quy hoạch chuồng trại và thiết bị chăn nuôi: Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi phải
có sự đầu tư thích hợp về chuồng trại và thiết bị chăn nuôi Để khai thác tiềm năngcon giống, người chăn nuôi cần xem xét đánh giá những ưu điểm, nhược điểm củacác mẫu chuồng trại, thiết bị chăn nuôi đã và đang sử dụng để có hướng cải tiến vàkhắc phục, áp dụng những tiến bộ mới về chuồng trại, máng ăn, máng uống phù hợpvới yêu cầu trong chăn nuôi bò sữa và phù hợp với đặc điểm khí hậu của từng vùng
Áp dụng kỹ thuật chống nóng cho bò và hệ thống máng uống tự động Chuồng trạiđảm bảo nguyên tắc “ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè”, cũng như đảm bảo
vệ sinh môi trường
Hệ thống đường giao thông: đường vận chuyển sữa và thức ăn trong nôngtrại không được trùng với đường vận chuyển chất thải chăn nuôi Tạo hệ thốngđường giao thông thuận tiện để thu mua sữa dễ dàng và nhanh chóng, vì việc vậnchuyển sữa từ các nhà máy sữa đến hệ thống thu mua đều đều nằm ở các trục đườnglớn và các công ty thu mua thường sử dụng xe có trọng tải lớn Đối với các hộ chănnuôi để phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại thì vấn đề giao thức ăn, vận
Trang 27
chuyển con giống, mua bán sản phẩm nông nghiệp được thực hiện thường xuyênmỗi ngày nên việc xây dựng hệ thống đường giao thông lớn là hết sức cần thiết
a) Quản lý giống bò sữa
Việc quản lý giống bò trên thực tế bao gồm thực hiện việc gắn số tai cho bò sữa,
bò đực giống và bò sinh sản Ghi chép các thông tin về giống, nguồn gốc, xuất xứ, cácchỉ tiêu kĩ thuật của từng con bò vào phiếu cá thể Những con bò đạt tiêu chuẩn về giốngđược cấp giấy chứng nhận huyết thống bò Những hộ chăn nuôi bò sử dụng phươngpháp thụ tinh nhân tạo thì sau mỗi một lần phối giống, cán bộ kĩ thuật ghi chép nhữngthông tin liên quan đến bò mẹ và tinh đực giống đưa cho chủ hộ để theo dõi trong nhữnglần phối giống sau
Bò được quản lý giống sẽ có lý lịch ba đời Nhờ có số tai và phiếu cá thểkèm theo từng con bò, khi phối giống cho bò, người chăn nuôi sẽ không cho nhữngcon bò có cùng huyết thống phối giống với nhau Đặc biệt, đối với những hộ chănnuôi phối giống cho bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo, thì việc quản lý giống
bò sẽ có nhiều thuận lợi Chủ hộ chăn nuôi chỉ cần đưa cho kỹ thuật viên phiếu cáthể, người kỹ thuật viên sẽ căn cứ vào các thông tin trong phiếu lựa chọn loại tinhthích hợp nhất phối giống cho bò Bà con có thể yên tâm vì sẽ không có hiện tượngđồng huyết xảy ra, bê sinh ra đảm bảo chất lượng
b) Công tác thú y trong chăn nuôi bò sữa
Nguy cơ lớn nhất đe dọa tới sự thành bại trong chăn nuôi và năng suất chấtlượng sản phẩm chăn nuôi là vấn đề dịch bệnh Do vậy, phải chuẩn bị tốt công tác thú y
để bảo vệ thành quả chăn nuôi đặc biệt khi chăn nuôi phát triển theo vùng mật độ chănnuôi lớn Bên cạnh đó cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong công tác vệ sinh môitrường, phòng chống dịch bệnh tầm vĩ mô, toàn vùng quy hoạch Ngân sách của nhànước hỗ trợ các loại vắc xin tiêm phòng như lở mồm long móng, tụ huyết trùng, …Nhà nước cần thực hiện tốt việc phòng dịch và đảm bảo vệ sinh môi trường, tiến tớixây dựng vùng chăn nuôi, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh Trong đó chú trọng vàocông tác tiêm phòng và vệ sinh phòng bệnh, cụ thể là việc tiêm phòng
Tiêm phòng là một trong những biện pháp phòng ngừa dịch bệnh một cáchhữu hiệu Hiện nay việc tiêm phòng được thực hiện thông qua hai hình thức: Tiêmphòng bắt buộc đối với một số bệnh nguy hiểm có bệnh có khả năng lây lan sang
Trang 28
người (lở mồm long móng) và bệnh có nguy cơ bùng phát thành dịch (tụ huyếttrùng) Tiêm phòng tự nguyện đối với các bệnh có ảnh hưởng đến sản lượng, chấtlượng sữa bò
Hệ thống thú y giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, xử lý kip thời không đểlây lan dịch bệnh Các biện pháp phòng trừ khi có dịch gây thiệt hại lớn đến chănnuôi và ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
c) Công tác khuyến nông trong chăn nuôi bò sữa
Đào tạo, tập huấn: Những việc làm hướng tới hiệu quả nhằm mưu sinh chocon người, để kiếm sống chúng ta đều gọi đó là một nghề nghiệp, đã là nghề thìphải học nghề mới có thể làm nên nghề phục vụ mưu sinh, chăn nuôi bò sữa hoàntoàn gọi là một nghề thậm chí là một nghề đòi hỏi có trình độ cao về nhận thức và làmột nghề có khả năng áp dụng khoa học công nghệ cao, khả năng áp dụng cơ giớihóa, công nghiệp hiện đại Chăn nuôi bò sữa cũng đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về congiống, chuồng trại, đồng cỏ, thiết bị và thức ăn chăn nuôi có chất lượng cao Vì vậy,
để nâng cao hiệu quả chăn nuôi rất cần đầu tư chiều sâu cho công tác đào tạo nghềchăn nuôi bò sữa đồng thời để thay đổi thói quen tập quán cố hữu của nông dân.Đào tạo kỹ thuật phù hợp theo từng nhóm hộ Chọn và xây dựng hộ chăn nuôi điểnhình để chuyển giao kỹ thuật, xây dựng những hộ này trở thành cơ sở đào tạo chonông dân trong vùng Cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, các khoá tập huấn chuyên
đề cho các chủ hộ về kỹ thuật cũng như nghiệp vụ quản lý trang trại; đồng thời cácchủ trang trại lớn cần có biện pháp thu hút công nhân có trình độ chuyên môn vềlàm việc lâu dài và ổn định cho các trang trại của mình Xây dựng cơ chế điều hành
và hoạt động của hệ thống cán bộ kỹ thuật tại cơ sở đảm bảo hoạt động có hiệu quả
Hỗ trợ, khuyến khích: Hướng dẫn, khuyến cáo các hộ nông dân, trang trại sửdụng con giống có năng suất và chất lượng tốt hiện có ở trong nước, đồng thờikhuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại nhập khẩu nguồn gen,giống bò sữa có năng suất và chất lượng cao hơn Cần có sự đầu tư trong công tácquản lý giống bò sữa, có hệ thống sổ sách và cán bộ kĩ thuật ghi chép lý lịch theodõi phả hệ, không để xảy ra tình trạng đồng huyết, cận huyết
Ngoài ra khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoahọc kĩ thuật vào sản xuất, nâng cao giá trị và hiêu quả kinh tế Tăng cường công tác
Trang 29
truyền thông về khoa học công nghệ trong chăn nuôi Xây dựng mô hình chăn nuôi,sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm ứng dụng khoa học công nghệ mới Đối vớinhững lĩnh vực mới, nhà nước cần có sự đầu tư hỗ trợ để các hộ chăn nuôi, trang trạihọc tập theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm
d) Quản lý thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y
Quản lý chất lượng:
Thời gian qua, công tác quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y đãđược các cấp, các ngành, địa phương quan tâm và có những chuyển biến đáng kể Tuynhiên, chất lượng một số mặt hàng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y còn thấp Đặc biệtthời gian gần đây, lợi dụng tình hình giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao, công tác quản
lý chất lượng vật tư nông nghiệp còn nhiều bất cập, một số tổ chức, cá nhân, doanhnghiệp đã đưa ra thị trường một số lượng lớn thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, kém chấtlượng, hàng giả gây thiệt hại cho người nông dân và bức xúc trong dư luận xã hội
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y đã đạt tiêu chuẩn GMP (tiêuchuẩn thực hành tốt), nhưng các đại lý bán thuốc lại không đạt tiêu chuẩn này.Thuốc được sản xuất ra từ các nhà máy thì rất tốt nhưng điều kiện bảo quản tại cácđại lý bán lẻ không tốt, nên thuốc không còn đạt chuẩn GMP nữa Do vậy, việc thựchiện GMP trong thuốc thú y mới chỉ là nửa chừng Ngoài ra, trình độ của bác sỹ thú
y còn hạn chế, nông dân thì hầu như không phân biệt được các loại thuốc khiến choviệc sử dụng thuốc thú y không đạt hiệu quả như mong muốn Đối tượng gánh chịuhậu quả là người chăn nuôi Hiện nay, đa số các đại lý bán thuốc không bảo đảmyêu cầu về bảo quản thuốc Phòng bảo quản thuốc phải có điều hòa nhiệt độ, để giữnhiệt độ phòng ở mức 20oC, tối đa là 25oC Tóm lại, hầu hết các loại thuốc để càngmát càng tốt, riêng vắcxin thì phải được bảo quản trong tủ lạnh, có loại phải đểtrong ngăn đá Do đó, Nhà nước cần quản lý thật chặt về điều kiện bảo quản, chấtlượng thuốc tại các đại lý, cửa hàng kinh doanh thuốc thú y
Trang 30
doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh mặt hàng này để tạo sự công bằng giữa nhà sảnxuất và người tiêu dùng
Khi các đơn vị sản xuất thức ăn có quyết định điều chỉnh giảm giá bán, nhưng
về tới các đại lý kinh doanh lại không thực hiện đúng theo quy định Việc đại lý kinhdoanh thức ăn chăn nuôi cố tình giữ giá bán sản phẩm đã ảnh hưởng rất lớn đến chi phíđầu tư và lợi nhuận của người chăn nuôi, vì nông dân thường có rất ít thông tin về diễnbiến giá cả trên thị trường, nên các đơn vị quản lý cần đảm bảo cung cấp đủ thông tinkịp thời cho người dân trong quá trình mua bán thức ăn chăn nuôi
Bên cạnh đó, hầu hết các cửa hàng đều không niêm yết công khai bảng giáthuốc Việc này là vi phạm quy định về thương mại Nhà nước cần lập lại trật tự của
hệ thống bán thuốc thú y từ Trung ương xuống địa phương, cần áp dụng quy chuẩnGMP cho các cửa hàng bán lẻ thuốc thú y Như vậy mới bảo đảm thuốc đủ chấtlượng tới tay người dân
e) Quản lý công tác thu mua sữa tươi
Quản lý chất lượng:
Chăn nuôi bò sữa cần phải ở gần trạm thu gom với đầy đủ các thiết bị bảoquản và kiểm tra chất lượng sữa, vì sữa ở môi trường bình thường nếu sau 2 giờ
tốt hệ thống thu gom Xây dựng trạm dịch vụ kỹ thuật phát triển chăn nuôi trongvùng, là đầu mối tổ chức việc thu gom bảo quản sữa và dịch vụ kỹ thuật Trạm hoạtđộng xâu chuỗi với cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, liên kết với các hộ chăn nuôi để tổchức điểm thu gom sữa tại các khu vực đảm bảo thuận lợi cho hộ chăn nuôi nhậpsữa Tại những khu vực có nhiều hộ chăn nuôi, lựa chọn hộ chăn nuôi để tổ chứcthu gom sữa theo hình thức liên kết hộ chăn nuôi với trạm dịch vụ kỹ thuật hoặcdoanh nghiệp, hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi
Tổ chức các công ty thu mua sữa hoặc cung cấp dịch vụ đầu vào thông quahợp đồng với hộ chăn nuôi, tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi và trạm dịch vụ kỹthuật Việc thu gom sữa hiện nay còn gặp phải một số khó khăn như sau: Khâu thumua rất quan trọng đối với chất lượng sản phẩm vì phải bảo quản sữa Sữa bò cóhàm lượng dinh dưỡng cao, dễ bị vi khuẩn phân hủy Sữa được vắt từ bò mẹ với
Trang 31
không thể đưa vào chế biến các sản phẩm chất lượng cao Trong vòng 1h đầu phải
phát triển thường ở vùng núi cao, cách xa các đô thị lớn, hệ thống giao thông chưatốt nên khâu vận chuyển cũng gặp nhiều khó khăn
Các trang thiết bị của những cơ sở thu gom sữa còn lạc hậu, manh mún, tựphát chỉ có một số thiết bị chuyên dùng: máy phát điện, bồn làm lạnh, còn thiếunhiều về công nghệ bảo quan nên đã làm giảm chất lượng sữa
Quản lý giá sữa:
Việc thu mua sữa hiện nay còn qua quá nhiều người thu gom trung gian nên giásữa người dân bán được thì thấp trong khi giá sữa đến nhà máy lại cao, người tiêu dùng
là những người phải gánh chịu những thiệt thòi đó qua giá sử dụng sữa Như vậy việc
tổ chức thu gom và bảo quản sữa là một việc làm cực kỳ cần thiết và quan trọng Do
đó, việc xây dựng trạm dịch vụ kỹ thuật phát triển chăn nuôi trong vùng làm đầu mối tổchức việc thu gom bảo quản sữa và dịch vụ kỹ thuật Trạm hoạt động xâu chuỗi với cán
bộ kỹ thuật tại cơ sở, liên kết với các hộ chăn nuôi để tổ chức điểm thu gom sữa tại cáckhu vực đảm bảo thuận lợi cho hộ chăn nuôi nhập sữa
Tổ chức các công ty thu mua sữa hoặc cung cấp dịch vụ đầu vào thông qua hợpđồng với hộ chăn nuôi, tổ hợp tác, hợp tác xã chăn nuôi và trạm dịch vụ kỹ thuật
Những việc làm đó vừa đảm bảo chất lượng sữa vừa đảm bảo quyền lợi chongười bán sữa được giá cao và người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm sữa tốt màgiá thành lại hợp lý
f) Quản lý môi trường chăn nuôi bò sữa
Việc đảm bảo môi trường chăn nuôi là đặc biệt quan trọng đối với chăn nuôi
bò sữa Muốn có sản phẩm sạch thì trước hết phải có môi trường chăn nuôi sạch vàsản xuất sạch
Hiện nay, các nông hộ chăn nuôi chủ yếu theo hình thức chăn nuôi nông hộ,nhỏ lẻ nên chất thải thường không được thu gom và xử lý đúng quy định Hầu nhưcác hộ không có hệ thống xử lý chất thải từ các hoạt động chăn nuôi Chất thải chănnuôi thường thải trực tiếp ra ngoài môi trường Hiệu quả sử dụng sản phẩm từ hầmBiogas ở hộ gia đình vẫn chưa thật sự hiệu quả, chủ yếu các nông hộ chỉ sử dụngkhí gas vào hoạt ñộng nấu nướng Lượng khí dư còn lại sẽ bị thải trực tiếp ra ngoài
Trang 32
môi trường góp phần làm tăng hiệu ứng nhà kính Chất thải chăn nuôi nếu khôngđược xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước ảnh hưởngnghiêm trọng tới môi trường sống của con người và môi trường chăn nuôi, gây dịchbệnh ảnh hưởng ñến sức khỏe con người và năng xuất vật nuôi, vệ sinh an toàn thựcphẩm Với chăn nuôi bò sữa thì môi trường chăn nuôi còn quan trọng hơn vì nó cònảnh hưởng tới chất lượng sữa Do vậy muốn phát triển chăn nuôi không thể khôngđầu tư xử lý môi trường chăn nuôi Đưa các biện pháp xử lý môi trường chất thảitrong chuồng nuôi và thu gom nước thải của các hộ để xử lý trước khi thải ra môitrường Xử lý môi trường chăn nuôi cần đầu tư đồng bộ các công trình xử lý, đảmbảo xử lý nước thải, chất thải và khí thải
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa
2.1.4.1Yếu tố thuộc về người chăn nuôi bò sữa
a) Kiến thức và trình độ chăn nuôi của người dân
Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa, điều tiênquyết là người dân phải có nhận thức đúng về hoạt động chăn nuôi Trình độ cao, khảnăng tiếp thu những kiến thức tốt là tiền đề để phát triển chăn nuôi bò sữa một cách bềnvững Nếu người dân có kiến thức về chăn nuôi kém thì cho dù nông hộ có quy môchăn nuôi lớn và nguồn vốn dồi dào cũng không thể thực hiện chăn nuôi có hiệu quảđược Đây là vấn đề rất quan trọng, quyết định quá trình chăn nuôi cũng như thành bạicủa việc chăn nuôi bò sữa của mỗi nông hộ Vấn đề còn tồn tại hiện nay là nhiều hộchăn nuôi còn gặp khó khăn nhưng ít có cơ hội được tập huấn, trao đổi suy nghĩ, nhữngvấn đè khó khăn gặp phải với mọi người Vì vậy các thắc mắc không được giải thích vàgiải quyết, dẫn đến tình trạng kiến thức của người dân còn hạn chế và không được nângcao Đây là một vấn đề mà các tổ chức tập huấn cần quan tâm Để người dân có kiếnthức và trình độ chăn nuôi tốt thì đòi hỏi các cấp quản lý có liên quan tuyên truyền, phổbiến, tập huấn thường xuyên để họ được trang bị đầy đủ kiến thức về chăn nuôi , Đốivới các khóa tập huấn không nên theo số lượng mà nên hạn chế số học viên và tậphuấn theo phương pháp học qua thực hành để học viên nhớ lâu hơn những kiến thức
đã được học
Trang 33
b) Quy mô đất đai của nông hộ
Quy mô đất đai của nông hộ bao gồm đất đai chăn nuôi bò và vùng đồng cỏ.Đây cũng chính là nguồn lực chăn nuôi của hộ Muốn tham gia chăn nuôi bò sữa thìnông hộ phải có diện tích đất đai và đồng cỏ tối thiểu để xây dựng chuồng trại vàtạo nguồn thức ăn xanh cho bò Nếu không có nguồn lực này thì người dân phải cócác biện pháp thuê, thầu để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi Quy mô đất đai càng lớn thìquy mô chăn nuôi của nông hộ càng có diện tích để phát triển hơn
c) Quy mô chăn nuôi bò sữa của nông hộ
Hộ gia đình đặc trưng là chăn nuôi nhỏ lẻ do vậy để quản lý được quy mô còngặp nhiều khó khăn Quy mô càng lớn thì càng cần nhiều biện pháp áp dụng quản lýmột cách có hệ thống Chăn nuôi quy mô lớn là xu hướng phát triển đàn của đa số nông
hộ hiện nay, nếu không quản lý chặt chẽ từ cấp địa phương sẽ gây khó khăn cho cácban ngành cấp cao trong vấn đề chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách
2.1.4.2Yếu tố thuộc về cán bộ quản lý
a) Trình độ chuyên môn
Việc xây dựng cơ chế điều hành và hoạt động của hệ thống cán bộ kĩ thuật,cán bộ quản lý tại cơ sở đảm bảo việc hoạt động có hiệu quả hơn Trình độ chuyênmôn của người quản lý ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý trong chăn nuôi bò sữa.Trong mỗi địa phương, mỗi vấn đề quản lý thường có các cán bộ quản lý chuyênmôn như cán bộ thú y, cán bộ khuyến nông,…Để quản lý các hoạt động chăn nuôitốt, ngoài kinh nghiệm chăn nuôi, người quản lý cần có trình độ, hiểu biết nhất định
để quy hoạch, phân tích và điều hành công việc Trình độ càng cao thì khả năngquản lý và thực hiện công việc càng hiệu quả và ngược lại Hiện nay ở cấp xã, cáctrạm thú y chỉ tuyển cán bộ kĩ thuật có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng trở lên( không tuyển trình độ trung cấp) để đảm bảo việc làm việc có kết quả tốt
b) Thù lao
Vấn đề thù lao cho các cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật trong chăn nuôi cònnhiều vấn đề tồn tại Lương của cán bộ chăn nuôi đã áp dụng đúng theo pháp luật vềlao động của Việt Nam; nhưng chăn nuôi bò sữa là nghề thường xuyên phải đối mặtvới những rủi ro lớn, vấn đề trợ cấp thù lao khi có dịch vẫn còn chưa hợp lý Mộttrong những nguyên nhân khiến cho công tác kiểm soát phòng chống dịch tại các
Trang 34
địa phương gặp khó khăn là do thù lao dành cho cán bộ thú y ở cơ sở quá thấp khi
có dịch bệnh xảy ra
2.1.4.3Yếu tố thuộc về chính sách
Cơ chế chính sách trong chăn nuôi bò sữa là phương tiện để chủ thể quản lý
sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý ( ngành chăn nuôi bò sữa, tổ chức, cánhân chăn nuôi bò sữa…) nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra Chính nhờ có
cơ chế và chính sách với tư cách là phương tiện truyền dẫn tác động quản lý củaNhà nước mà Nhà nước truyền tải được ý định của mình tới mội tổ chức và cá nhân
có liên quan đến hoạt động chăn nuôi bò sữa sinh sống và hoạt động trên toàn lãnhthổ Việt Nam và các khu vực, phạm vi tác động cụ thể
Đối với ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay, nhà nước đặc biệt quan tâm chỉđạo phát triển chăn nuôi bò sữa Để thúc đẩy chăn nuôi phát triển, nhà nước đã sửdụng các chiến lược, chính sách, chương trình cụ thể
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa
2.2.1 Quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Quản lý nhà nước về chăn nuôi bò sữa ở Đài Loan
Đài Loan có vị trí địa lý trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới với diện tích
kiện tự nhiên đó Đài Loan không phải là nơi phù hợp cho chăn nuôi bò sữa Tuy nhiên,
do nỗ lực thực hiện cải tiến trong chương trình đánh giá di truyền, nuôi dưỡng, quản lýthức ăn, hệ thống thu mua sữa, thị trường, Đài Loan đã có những bước tiến vượt bậctrong chăn nuôi bò sữa
Bắt đầu từ năm 1975 thông qua chương trình phát triển kinh tế 4 năm, Liênhiệp Hội đồng tái thiết nông thôn (JCRR) đề xuất dự án nhằm xúc tiến sản xuất sữa
Từ dự án này, mỗi nông hộ bắt đầu chăn nuôi 2 con bò sữa Cuối năm 1964, tổng sốnông trại sản xuất sữa đạt 356 nông trại nuôi 4.915 con bò sữa và sản xuất được11.283 triệu tấn sữa hàng năm Sự tăng trưởng nhanh chóng của sản lượng sữa cùngvới việc nhập khẩu sữa bột gây ra cuộc khủng hoảng về sữa Năm 1970, chính phủĐài Loan đã có những chương trình hỗ trợ và chương trình thúc đẩy phát triển nôngthôn (thành lập 23 làng sản xuất sữa) và nhập khẩu bò sữa từ New Zealand Do vậy,
Trang 35
tổng số trang trại chăn nuôi bò sữa đã đạt 1.321 trang trại và số lượng bò sữa là22.000 con Đến năm 2002 Đài Loan chính thức gia nhập WTO nghành bò sữa gặpphải khủng hoảng Chính vì vậy, chính phủ Đài Loan đã thực hiện một số giải phápnhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng này như: thành lập quỹ với nguồn thu từthuế nhập khẩu sữa bột để tái đầu tư cho nghành chăn nuôi bò sữa, thành lập ủy banphát triển sữa chương trình sữa học đường Như vậy, từ năm 1975 ngành chăn nuôi
bò sữa Đài Loan bắt đầu từ quy mô 2con bò sữa/ hộ tang lên 34 con / hộ vào năm
1986 và hiện nay đã có vùng đạt quy mô 150 con/ trang trại
Bên cạnh đó, Chính phủ đã có chiến lược nhăm cải thiện năng suất của đàn
bò sữa hiện có, thụ tinh nhân tạo và cấy truyền phôi Từ năm 1962 Đài Loan đã lậpquỹ xoay vòng để nhập tinh bò sữa từ Mỹ, Canada, Nhật và Hà Lan đồngthời thànhlập trung tâm thụ tinh nhân tạo để lấy tinh từ những bò đực giống tốt nhất trongnước Bên cạnh đó, từ năm 1985 các trang trại cũng nhập bê cái tốt từ Mỹ, Úc, Nhật
và New Zealand Đài Loan kết thúc việc nhập khẩu bò từ năm 1997
Mặt khác, hội đồng nông nghiệp tiến hành thực hiện chương trình phát triểnđàn bò từ thập kỷ 70 Với chương trình này các số liệu thu được về sản lượng bòsữa , chất lượng sữa được thu thập, phân tích, đánh giá nhằm bình tuyển và chọn lọcnhững con giống tốt nhất để đưa vào đàn giống quốc gia Thông qua chương trìnhnày cho đến nay toàn bộ đàn bò sữa ở 16 trang trại sản xuất bò giống tham giachương trình này Đài Loan phấn đấu trong 2 năm tiếp theo sẽ có 40 trang trại bòsữa giống tham gia chương trình này
Gần đây, kỹ thuật cấy truyền phôi đãphát triển mạnh nhằm rút ngắn khoảngcách thế hệ và tăng nhanh số lượng bò giống tốt
Song song với định hướng quy hoạch vùng chăn nuôi và chính sách vềgiống, Đài Loan đã thực hiện chính sách về giống, chính sách phát triển thức ăn thôxanh phục vụ chăn nuôi bò sữa Đầu tiên, các trang trại chăn nuoi bò sữa trồng cỏPangola có nguồn gốc từ Philippine và Mỹ, cỏ Napier từ Hawaii nhưng do số lượng
bò sữa tăng nhanh nên cỏ trồng không đáp ứng đủ nên họ bắt đầu nhập khẩu cỏ khôAlfafa và Bermuda từ năm 1971 Bên cạnh đó, các nguồn phế phẩm phụ sẵn có nhưngọn mía, dây khoai lang, dây lạc, thân lá lạc, than cây ngô và các sản phẩm phụcủa quá trình chế biến đậu nành, bã men rượu,bột khoai được sử dụng có hiệu quả
Trang 36
Đến năm 1980, hội đồng nông nghiệp đã giới thiệu chương trình về khẩuphần ăn cân bằng cho bò sữa và cuốn cẩm nang 103 mẫu khẩu phần ăn cân bằngđược xuất bản vào năm 1984 Thông qua chương trình này năng suất sữa đã tang từ13.43 kg/ngày/con lên 18.32 kg/con/ngày
Sau đó, chương trình mở rộng nuôi dưỡng bò sữa bằng khẩu phần hỗn hợphoàn chỉnh TMR (Total mixed ration) được thực hiện từ năm 1992 Chủ trang trạicài đặt máy TMR và làm theo chương trình đó
Để có những thành công này, không thể không nhắc đến một chính sách khánăng động, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với ngành chăn nuôi bò sữa đó làviệc xây dựng và phát triển hệ thống thu mua sữa và chiến lược tiếp cận thị trường
Trước đây, việc thu nhận và vận chuyển sữa tươi được chuyển thẳng tới nhàmáy sữa hoặc thông qua các trạm thu mua sữa Gần đây nhằm nâng cao khả năngcạnh tranh về chất lượng sữa những xe tải lớn chở sữa đã được sử dụng để thu nhậnsữa từ các trang trại sau đó chuyển đến nhà máy chế biến sữa
Về giá sữa, trước năm 1966 giá sữa tươi được xác định trên cơ sở tỉ lệ mỡsữa và số lượng vi khuẩn được tính thêm vào như là một thông số để định giá Từnăm 1999, Hội đồng Nông nghiệp đã đưa ra hệ thống giá 4 cấp dựa trên lượng tếbào soma (somatic cell count) và số lượng vi khuẩn, nếu số lượng vi khuẩn trên1.000.000 giá sữa sẽ giảm xuống 0.154 USD/kg Mặt khác, do cung và cầu giữa cácmùa không cân bằng nên căn cứ vào hệ thống giá 3 mức nên giá sữa ở mùa nóng( từ tháng 7 tới tháng 9), mùa ẩm (tháng 4, tháng 5, tháng 10 và tháng 11) và mùalạnh (tháng 12 tới tháng 3) đã được cố định là 0,7 USD, 0,638 USD và 0,423 USD.Chênh lệch giá giữa mùa đông và mùa hè đạt tới 65% ( tương đương 0,277USD)
Tại các nhà máy chế biến sữa ngoài việc dùng sữa tươi để chế biến sữa lỏngcòn dùng sữa tươi để chế biến thành sữa đặc, sữa lên men và kem…
Các chính sách này đã giúp cho ngành bò sữa đứng vững và phát triển.Thành tựu đã đạt được của ngành chăn nuôi bò sữa tại Đài Loan trong những nămqua như sau:
Trong vòng 30 năm qua, Chính phủ đã thành lập được 23 làng sản xuất sữa;nơi mà các nông dân bắt đầu chuyển từ việc sản xuất sữa như một nghề phụ sangmột ngành nông nghiệp chính sử dụng nhiều vốn, kỹ thuật vào lao động Theo số
Trang 37
liệu thống kê, 600 nông dân đã sản xuất lượng sữa có giá trị 231 triệu USD vào năm
2002 Số lượng đàn bò sữa có xu hướng giảm nhưng sản lượng sữa giảm khôngđáng kể cứng tỏ sản lượng sữa/con/năm tăng, cụ thể là năm 1996 sản lượng sữatrung bình 5000kg/con/năm tăng lên 5700 kg/con/năm Số lượng trang trại cũnggiảm dần nhưng số lượng bò sữa gần như ổn định như vậy quy mô trang trại tăng(từ 66 con năm 1996 lên 83 con năm 2005)
Từ những kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa ở Đài Loan, ta thấy được việc quản
lý nhà nước trong chăn nuôi bò sữa được thực hiện rất tốt Nổi bật nhất đó là việcthực hiện áp dụng các chính sách hợp lý và hiệu quả giúp cho việc chăn nuôi bò sữa
ở nước này đi đúng hướng và ổn định
2.2.1.2 Quản lý nhà nước về chăn nuôi bò sữa ở Israel
Israel là đất nước có diều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai ít ( tổng diện
miền bắc vào mùa đông Chính điều kiện đó đã khiến cho việc chăn nuôi bò sữakhông thể chăn thả ở đồng cỏ tự nhiên Tuy nhiên, nhờ áp dụng nhiều biện pháp laitạo giống hiện đại và quy trình chăn nuôi tiên tiến, được ví tính hóa khiến nghànhchăn nuôi bò sữa của Israel luôn đứng vị trí hàng đầu thế giới Những con bò sữacủa Israel cho lượng sữa rất cao, trung bình khoảng 11.000 lít/năm, cá biệt có concho tới 19.000 lít/năm
Ở Israel, chăn nuôi bò sữa được thực hiện chủ yếu ở hai mô hình hợp tác xã
là Kibbutz và Moshaw Kibbutz được coi là một đơn vị kinh tế độc lập mang tínhhợp tác xã Ở đó người chăn nuôi làm việc cùng nhau, nghĩa vụ và quyền lợi ngangnhau Mỗi Kibbutz thường nuôi từ 300 con bò trở lên, mỗi năm sản xuất ra hơn60% lượng sữa bò của Israel Moshav là một hình thức liên hiệp các hộ chăn nuôitại một vùng nhất định, các thành viên ở đây làm việc trong một đơn vị lẻ Lượngsữa ở Moshav thấp hơn do lượng nuôi ở đây cũng ít hơn so với các Kibbutz Ngoài
ra, còn có một số nhỏ các hộ chăn nuôi cá thể ở các trang trại biệt lập Những con
bò nuôi ở Kibbutz và Moshav luôn có số lượng cao hơn so với các trang trại riêngbiệt Do đó, phần lớn người chăn nuôi thường tham gia các mô hình hợp tác đểgiảm bớt chi phí và rủi ro
Trang 38
Mặt khác, để kiểm soát chất lượng đầu vào (con giống) và đầu ra của sảnphẩm sữa Israel sử dụng ngân hàng giữ liệu vi tính hóa Đó là một ngân hàng dữliệu cho phép sử dụng nội dung và chất lượng, cũng như các thông tin về di truyền,chuồng trại và chăm sóc sức khỏe từng con bò, cụ thể:
Về tổng thể, đàn bò sữa Israel được lai tạo từ giống bò sữa hosteinfriesan Israelrael, chúng có đặc điểm thích nghi với điều kiện khí hậu khắcnghiệt và đa dạng
Hầu hết đàn bò ở Israel được thụ tinh nhân tạo bằng dòng tinh chọn lọc vàkết tinh từ các con bò đực giống Israel Israel có tiềm năng xuất khẩu tinh chấtlượng cao, chủ yếu sang các vùng có diều kiện khí hậu khắc nghiệt
Hầu như Israel không có đất trồng cỏ và do hầu hết dĩnh dưỡng đàn bò sữadựa vào tổng tỉ lệ phối trộn (TMR) Thức ăn này nhìn chung được chuẩn bị trongtrung tâm dinh dưỡng vùng của trung ương, phục vụ đàn bò trong khu vực Chế độ
ăn của đàn bò sữa Israel gồm một tỉ lệ cao tương đối các phụ phẩm nông nghiệp vàbán thực phẩm, làm giảm giá thành thức ăn trong lúc giảm ô nhiễm môi trường…
Công nghệ chăn nuôi bò sữa Israel sử dụng công nghệ tiên tiến trong nước đãthay đổi ngành chăn nuôi, đem ngành chăn nuôi đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt
Hệ thống này chuyển những thông tin liên quan đến hoạt động chung của con bòđến máy tính, kiểm tra bệnh cũng như tình trạng sức khỏe của con bò…
Phần mềm hệ thống thức ăn ở Israel this toán số lượng lương thực đòi hỏi đểmang lại hiệu quả kiểm tra và hiệu quả dinh dưỡng tối ưu Hướng dẫn thức ăn làmột bộ phận cơ động lưu trữ thông tin về quá trình cho ăn, phân phối thức ăn, thôngtin được chuyển đến máy tính trung tâm và được dùng để phân tích cách cho ăn
Khi vắt sữa, sữa được đưa đến một phòng thí nghiệm và kiểm tra chất lượngtiếp tục đưa qua bộ phận xử lý vi sinh rồi mới có thể được chế biến thành bơ,yaourt, fromage hay các sản phẩm sữa khác thong qua hệ thống tự động tổng quát.Israel cung cấp hơn 1000 sản phẩm sữa các loại cho người tiêu dùng
Trang 39
Các nông trại bò sữa được đặt ở Kibbutz (chiếm 60% sản lượng quốc gia) vàcác Moshav (40% sản lượng quốc gia) Ở 1 Moshav nuôi trung bình khoảng 50 convắt sữa, trong lúc ở Kibbutz khoảng 300 con
Sản xuất sữa ở nông trại tùy thuộc quota sản xuất Những quota này ấn địnhgiá do chính phủ kiểm soát Những thủ tục này giúp cân bằng sản xuất giữa cung vàcầu trong lĩnh vực sản xuất sữa, trong lúc cho phép tiếp tục phát triển và thu lợinhuận hợp lý
Như vậy ta thấy, ở Israel tuy địa hình và khí hậu không ủng hộ việc chăn nuôi
bò sữa, nhưng nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ - kĩ thuật cao, cùng với
sự quan tâm đầu tư của nhà nước, Israel đã đạt được những bước tiến nhất định trongviệc cải tạo khắc phục khó khăn và chăn nuôi bò sữa đạt hiệu quả kinh tế cao
2.2.1.3 Quản lý nhà nước về chăn nuôi bò sữa hữu cơ tại Mĩ
Sữa hữu cơ là cụm từ mới xuất hiện trong những năm gần đây Theo quyđịnh của bộ nông nghiệp Mỹ “sữa hữu cơ” là sữa của những con bò phải được chănthật trên đồng cỏ và phải được ăn thức ăn hữu cơ (thức ăn được sản xuất mà không
sử dụng bất kỳ hóa chất nào) và không được điều trị bằng hormone hay kháng sinh.Trang trại chăn nuôi bò sữa hữu cơ quản lý tốt có thể giảm thiểu được rất nhiều rủi
ro liên quan đến sức khỏe cộng đồng và môi trường với các trang trại chăn nuôi bòsữa thông thường
Chăn nuôi bò sữa hữu cơ tốt cho người chăn nuôi và có lợi về kinh tế Chođến nay, doanh thu hằng năm của sữa hữu cơ trên toàn nước Mỹ ít nhất đạt 750triêu USD Tính theo giá trị kinh tế thì chăn nuôi hữu cơ là ngành có nhiều tiềmnăng tạo ra nhiều việc làm ở vùng nông thôn Để chứng minh điều đó đã có một sốnghiên cứu về các tác động về mặt kinh tế của sản xuất hữu cơ so với sản xuấtthông thường tại hai bang phát triển bò sữa là Vermont và Minnsenota Qua phântích hiệu quả kinh tế tại hai bang cho thấy: tại Vermont có 180 trang trại bò sữa hữu
cơ đã tạo ra doanh thu 76 triệu USD, tổng số việc làm là 1009 việc tăng 34 triệuUSD trong tổng sản phẩm của bang và 26 triệu USD thu nhập tăng đối với ngườilao động Có 114 trang trại hữu cơ ở bang Minnesota đã tạo ra doanh thu 76 triệu
Trang 40
USD thu nhập gia tăng cho người lao động Kết quả thấy rằng tác động về mặt kinh
tế của người chăn nuôi hữu cơ lớn hơn so với chăn nuôi thông thường đối vớinhững chủ trang trại có cùng trình độ Đặc biệt, tại Vermont doanh thu từ các trangtrại chăn nuôi bò sữa hữu cơ tăng 3% thu nhập người lao đông tăng 39% và việclàm tăng 83% so với trang trại thông thường Tại Minnesota, các giá trị của trangtrại hữu cơ tăng tương ứng là 4,9,11 và 14% so với trang trại thông thường
Mĩ là một nước phát triển trong việc chăn nuôi bò sữa Qua việc quản lýnghiêm ngặt của Nhà nước từ khâu chăn thả đến thức ăn của bò và quản lý tốt dịchbệnh, chăn nuôi bò sữa của Mĩ đã đạt được hiệu quả kinh tế nhất định, mang lạinguồn thu nhập cao cho người lao động Cùng với đó, các con số đã chứng minhcho ta thấy chăn nuôi bò sữa là ngành tạo ra doanh thu lớn cho đất nước này
2.2.2 Quản lý nhà nước đối với chăn nuôi bò sữa ở một số địa phương trong nước
2.2.2.1 Quản lý nhà nước về chăn nuôi bò sữa ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng có truyền thống và có điềukiện chăn nuôi bò Tuy nhiên hiện nay, trong tổng số đàn bò của ĐBSCL có gần200.000 con, nhưng chỉ có 1.500 con bò sữa (trong đó 1.000 con ở Long An), sảnlượng sữa có 2000 tấn/năm so với sản lượng sữa đạt 52.000 tấn/năm (gấp 25 lần)miền đông Nam Bộ
Tình trạng trên đặt ra cho các nhà quản lý về chăn nuôi bò sữa ở ĐBSCLnhiều vấn đề cần giải quyết, mặc dù phát triển chăn nuôi bò sữa ở ĐBSCL có nhiềuthuận lợi căn bản
Vinamilk ở Cần Thơ Đây là yếu tố quyết định đầu tiên của sự phát triển bò sữa ởĐBSCL
Tuy nhiên cần xác định rõ vùng phát triển bò sữa tốt nhất là trong phạm vibán kính cách nhà máy tối đa 100-120km Nơi phát triển bò sữa ở quá xa nhà máy
sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc vận chuyển nhanh sữa tươi về nhà máy
Ở mỗi vùng, cần tạo lập các trạm lạnh để thu nhận sữa Những trạm này đảmtrách một số xã có đàn bò sữa tối thiểu từ 200-300 con, với lượng sữa từ 1500-2500 lít/ngày, đủ công suất đặt một bồn lạnh Các hộ nuôi bò sữa cách trạm tối đa 5km, đưa sữađến trạm tối đa 1 giờ sau khi vắt là tốt nhất Nếu phát triển bò sữa quá phân tán, các