1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TK bộ đề LUYỆN HSG 9 2020

43 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 244 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, có một sốngười không biết đón nhận hạnh phúc khi mang những suynghĩ bi quan,tiêu cực - Bài học nhận thức và hành động + Cần có nhận thức đúng đắn về hạnh phúc trong mối quan

Trang 1

1 Bộ 87 đề luyện thi HSG 9, dung lượng hơn 600 trang, đáp án chi tiết.

2 Bộ hướng dẫn cách viết mở bài gián tiếp dễ dàng + hàng chục mở bài mẫu.

6 Tặng giáo án dạy thêm nếu cần

7 Tài liệu không đúng như giới thiệu = trả lại phí

8.  (300k) Tài liệu không như giới thiệu = trả lại phí

TK thêm: Bộ 13 bài văn HSG làm và 10 mwor bài theo từng dạng đề, gặp

đề dạng nào áp dụng mở bài đó Nhanh, ấn tượng, dễ học (Phí 100 k)

ĐT, Zalo: 0833703100 (Kết bạn Zalo để liên lạc được an toàn

Trang 2

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ CHÍNH THỨC

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN

NĂM HỌC 2019-2020 MÔN THI: NGỮ VĂN 9

Thời gian làm bài 120 phút, không kể thời gian giao đề

Phần I Đọc hiểu (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Nín đi em, bố mẹ bận ra tòa!

Chị lên bảy dỗ em trai ba tuổi

Thằng bé khóc, bụng chưa quen chịu đói

Hai bàn tay xé áo chị đòi cơm.

Bố mẹ đi từ sáng, khác mọi hôm

Không nấu nướng và không hề trò chuyện

Hai bóng nhỏ hai đầu ngõ hẻm

Cùng một đường sao chẳng thể chờ nhau?

Biết lấy gì dỗ cho em nín đâu

Ngoài hai tiếng ra tòa vừa nghe nói

Chắc nó nghĩ như ra đồng, ra bãi

Sớm muộn chi rồi bố mẹ cũng về

( trích bài thơ Hai chị em, Vương Trọng, 1985)

Trang 3

Câu 4 Thông điệp mà em tâm đắc nhất qua văn bản là gì ? Nêu lí do vì sao tâm

đắc thông điệp đó

Phần II Làm văn: (16 điểm)

Câu 1: (6 điểm) Đọc văn bản sau:

THƯỢNG ĐẾ CŨNG KHÔNG BIẾT

Thượng đế lấy đất sét nặn ra con người Khi Ngài nặn xong vẫn còn thừa ra một mẩu đất.

– Còn nặn thêm cho mày gì nữa, con người ? – Ngài hỏi

Con người suy nghĩ một lúc: có vẻ như đã đủ đầy tay, chân, đầu… rồi nói: – Xin Ngài nặn cho con hạnh phúc.

Thượng đế, dù thấy hết, biết hết nhưng cũng không hiểu được hạnh phúc là gì Ngài trao cục đất cho con người và nói:

– Này, tự đi mà nặn lấy cho mình hạnh phúc.

(Trích Những giai thoại hay nhất về tình yêu và cuộc sống, Tập 2, NXB

Công an Nhân Dân)

Suy nghĩ của em về bài học rút ra từ câu chuyện trên?

Câu 2: (10 điểm)

Nhận xét về “Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ Nhà phê bình Đồng Thị Sáo cho rằng hạnh phúc trong cuộc đời Vũ Thị Thiết là một thứ hạnh phúc vô cùng mong manh, ngắn ngủi Mong manh như sương như khói và ngắn ngủi như kiếp sống của đoá phù dung sớm nở, tối tàn.

Em hãy phân tích “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ

để làm sáng tỏ nhận xét trên

Trang 4

HƯỚNG DẪN CHẤM

Phần I Đọc hiểu (4,0 điểm)

Câu 1: Thể thơ tự do

Câu 2: Hoán dụ - gợi lên sự chia cách, mong manh, dễ đổ vở

Câu 3: Câu thơ gợi sự hồn nhiên, thơ ngây chưa hiểu hết nổi đau, mất mát săpđến với chúng

Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc đó là hạnh phúc giađình là tình cảm thiêng liêng nhất, quan trọng nhất Đừng vì ích kỉ cá nhân màlàm đổ vỡ để rồi những đứa trẻ vô tội phải chịu thiệt thòi, chia rẽ/

1 Yêu cầu về kỹ năng:

- HS có kỹ năng viết bài nghị luận xã hội với những lập luậnchặt chẽ; trình bày ý mạch lạc, rõ ràng

- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ; Văn viết trong sáng, cócảm xúc, không mắc các lỗi cơ bản về chính tả, dùng từ, đặtcâu, diễn đạt

2 Yêu cầu về nội dung:

- Giới thiệu ngắn gọn nội dung câu chuyện

+ Thượng đế là đấng toàn năng có khả năng “biết hết”, hiểuhết mọi chuyện và tạo nên con người nhưng không thể nàohiểu được “hạnh phúc” là gì nên không thể “nặn” được hạnhphúc để ban tặng cho loài người

+ Con người: được thượng đế trao tặng nên sẵn có đầy đủcác bộ phận cơ thể ( yếu tố vật chất) nhưng lại không sẵn có

1,0

1,0

1,0

Trang 5

hạnh phúc (yếu tố tinh thần).Vì thế, thượng đế yêu cầu conngười “tự đi mà nặn lấy cho mình hạnh phúc”.

+ Câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc: Hạnh phúckhông bao giờ sẵn có hay là món quà được ban tặng, hạnhphúc của con người do chính con người tạo nên

- Bàn luận về hạnh phúc:

+ Hạnh phúc là trạng thái tâm lí vui vẻ, thoải mái, dễ chịukhi thỏa mãn được một sở nguyện , một mong muốn nào

đó - Không sẵn có: Không bày ra để con người chiếm lĩnh

dễ dàng và tùy tiện sử dụng hoặc phung phí

+ Tự tạo ra: Hạnh phúc chỉ có được khi tự mình hình thành

và tự mình nỗ lực, cố gắng để đạt được

- Lí giải:

+Tại sao hạnh phúc không sẵn có

+Tại sao hạnh phúc phải do con người tạo ra?

- Chứng minh: Bằng những dẫn chứng từ thực tế cuộc sống

- Bàn luận

+ Hạnh phúc là khát vọng, là mong muốn, là đích đến củacon người trong cuộc sống Mỗi người có một quan niệm vàcảm nhận khác nhau về hạnh phúc Có thể nhận thấy hạnhphúc gắn liền với trạng thái vui sướng khi con người cảmthấy thỏa mãn ý nguyện nào đó của mình

+ Hạnh phúc không phải thứ có sẵn hay là món quà đượcban phát Hạnh phúc phải do chính con người tạo nên từ

1,0

1,0

1,0

Trang 6

những hành động cụ thể.

+ Khi tự mình tạo nên hạnh phúc, con người sẽ cảm nhậnsâu sắc giá trị của bản thân và ý nghĩa đích thực của cuộcsống Đó cũng chính là thứ hạnh phúc có giá trị bền vữngnhất

+Phê phán lối sống dựa dẫm, ỷ lại trông chờ hoặc theo đuổinhững hạnh phúc viển vông, mơ hồ Bên cạnh đó, có một sốngười không biết đón nhận hạnh phúc khi mang những suynghĩ bi quan,tiêu cực

- Bài học nhận thức và hành động

+ Cần có nhận thức đúng đắn về hạnh phúc trong mối quan

hệ với cuộc sống của bản thân Biết cảm thông, chia sẻ, hàihòa giữa hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc của mọi người.+ Biết vun đắp hạnh phúc bằng những việc làm cụ thể, biếttrân trọng, gìn giữ hạnh phúc

Câu 2: (10,0 điểm)

a Mở bài: điểm):

- Dẫn dắt, trích dẫn yêu cầu của đề bài

Loại không đáng thờ là loại chuyên chú về văn chương, loại đáng thờ là loạichuyên chú về con người Dù đã ra đời hơn 4 thế kỉ nhưng Chuyện người congái Nam Xương vẫn còn vang vọng mãi nỗi đớn đau và niềm khát khao hạnhphúc của người phụ nữ trong xã hội cũ Tuy nhiên hạnh phúc của họ giống như

Trang 7

chiếc li pha lê đứng trớc gió- mong manh dễ đổ vỡ Vì thế khi nhận xét về

“Chuyện người con gái Nam Xương” nhà phê bình Đồng Thị Sáo cho rằng hạnh phúc trong cuộc đời Vũ Thị Thiết là một thứ hạnh phúc vô cùng mong manh, ngắn ngủi Mong manh như sương như khói và ngắn ngủi như kiếp sống của đoá phù dung sớm nở, tối tàn.

b Thân bài: ( điểm)

* Giải thích ý nghĩa của lời nhận xét

- Nhận xét của nhà phê bình Đồng Thị Sáo đã đề cập đến hạnh phúc Đó

là một khái niệm trừu tượng Mỗi người có những cách cảm nhận khác nhau vềhạnh phúc Song có thể hiểu hạnh phúc là một trạng thái tinh thần mà con ngườithoả mãn những ước mơ, hy vọng của mình

- Hạnh phúc mong manh và ngắn ngủi: Hạnh phúc không tồn tại bền

vững, không tồn tại lâu dài Nó chỉ thoáng qua trong cuộc đời con người rồi tan

vỡ nhanh chóng

* Chứng minh lời nhận xét

Khẳng định nhận xét trên là đúng, vì “Chuyện người con gái NamXương” của Nguyễn Dữ kể về người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh nhưng cuộcđời của nàng lại không được hưởng niềm hạnh phúc lâu dài, bền vững

Luận điểm 1: giải thích thật mong manh, ngắn ngủi, kiếp sống của đoá phù dung sớm nở, tối tàn Æ Cách so sánh gợi cho ta nghĩ đến cuộc đời bất hạnh,khổ đau, số kiếp bạc bẽo của Vũ Nương

Luận điểm 2: Niềm hạnh phúc của Vũ Thị Thiết trong cuộc sống dương thế thật mong manh, ngắn ngủi:

Hạnh phúc ong manh, ngắn ngủi:

Dẫn chứng 1: Lấy chồng đa nghi, ghen tuông mù quáng là dự báo cho 1 cuộc

đời mong manh ngắn ngủi.

Trang 8

Dẫn chứng 2: Cuộc sum vầy chưa được bao lâu Trương Sinh phải lên đường

tòng quân Vũ Nương chưa được hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn đã phải sớm sống trong cảnh chia li Æ Điều này cũng dự cảm cho cuộc đời rất mong manh

vì “xưa nay chinh chiến mấy ai về”.

Dẫn chứng 3: Qua năm sau, Trương Sinh trở về và từ đây cuộc đời Vũ Nương

bắt đầu cho chuỗi đớn đau bất hạnh Hạnh phúc của một đời người chỉ tính bằng vài năm “qua năm sau” Æ Đó là một sự ngắn ngủi vô cùng

Æ Kết thúc cho cuộc đời nàng đúng như đóa phù dung sơm nở tối tàn.

- Nguyên nhân của niềm hạnh phúc mong manh, ngắn ngủi: Nguyênnhân trực tiếp là lời nói hồn nhiên vô tư của đứa con, là tính đa nghi, hay ghencủa anh chồng Trương Sinh; nguyên nhân sâu xa là do chiến tranh phong kiến

và chế độ nam quyền đã cướp đi quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ

nữ Đó chính là giá trị hiện thực của truyện

Luận điểm 3: Niềm hạnh phúc của Vũ Thị Thiết trong cuộc sống ở thuỷ cung cũng mong manh, chỉ là ảo ảnh.

+ Sau khi gieo mình xuống bến Hoàng Giang, Vũ Nương được các nàngtiên rẽ một được nước đưa xuống thuỷ cung sống sung sướng Vũ Nương ngồitrên kiệu hoa giữa dòng nói những lời từ biệt với Trương Sinh rồi biến mất Đây

là những chi tiết kì ảo tạo một kết thúc có hậu cho câu chuyện, thể hiện ước mơ

về lẽ công bằng Nhưng hạnh phúc đó cũng chỉ mong manh, hư vô không cóthật trong cuộc đời

+ Những yếu tố kì ảo, hoang đường về cuộc sống sung sướng, hạnh phúccủa Vũ Nương ở thuỷ cung vừa thể hiện giá trị nhân đạo vừa thể hiện giá trịhiện thực

Luận điểm 4: Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ đã gửi đến chúng ta một bức thông điệp có được hạnh phúc gia đình đã khó, gìn

Trang 9

giữ hạnh phúc hạnh phúc ấy càng khó hơn Nếu ta không biết trân trọng, nângniu, gìn giữ hạnh phúc thì hạnh phúc thật mong manh, ngắn ngủi.

c Kết bài: (điểm):

+ Khẳng định lại vấn đề

+ Rút ra bài học liên hệ

CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH NHẬN ĐỊNH.

Vài lời gửi quý thầy cô thân yêu.

Mình xin giới thiệu quý thầy cô ôn luyện HSG Ngữ văn THCS về bố cục, cấu trúc của một bài nghị luận văn học khi chứng minh một nhận định Đây chỉ là bài tham khảo để anh em đồng nghiệp chia sẻ

với phương pháp dạy ôn luyện để làm sao các em nắm bắt nhanh

nhất mà hiệu quả nhất Thực tiễn cho thấy, khi ta không có một cấu

trúc cố định, cơ bản thì quá trình ôn luyện sẽ gặp nhiều khó khăn, các em cũng sẽ khó ghi nhớ lâu được Bố cục này chỉ mang tính tham khảo vì bản thân thấy trên nhóm chúng ta rất nhiều bậc tiền bồi, cao nhân, mình chỉ là giọt nước giữa đại dương mênh mông Mọi góp ý nên mang tính xây dựng để mọi người học hỏi

ĐỀ BÀI: Khi đánh giá về truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng:

“một truyện ngắn hay vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân cho chân lí giản dị của mọi thời”.

Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Qua truyện ngắn chuyện người con gái Nam Xương, hãy chứng minh làm sáng tỏ nhận định trên.

Trang 10

1 Mở bài: Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn

là cái mặt cắt của dòng đời ấy Nếu tiểu thuyết là thân cây thì truyện ngắn là một đường vân trên cái khoảng gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo mộc Truyện ngắn tuy hạn chế về chiều dài tác phẩm nhưng độ sâu của nó là thăm thẳm không cùng.

Bởi thế, khi đánh giá về một truyện ngắn hay có ý kiến cho rằng:

Trang 11

“ một truyện ngắn hay vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân cho chân lí giản dị của mọi thời ” (mở bài bạn Hoa A1)

1 Thân bài:

Bước 1: Giải thích nhận định

a Truyện ngắn là truyện có dung lượng, độ dài ngắn phản ánh một lắt cắt của

xã hội, thể hiện, gửi gắm một thông điệp, một tư tưởng một quan niệm nhânsinh của tác giá (lí giải này khác so với từ điển – ngắn gọn, dễ hiểu hơn)

b Chứng tích của một thời: Phản ánh được hiện thực của thời đại với những

vấn đề đời sống nổi cộm, bức thiết của nó

c Hiện thân của một chân lí giản dị của mọi thời: Thể hiện được những vấn

đề bản chất, cốt lõi của nhân sinh, những chân lí muôn đời, vượt qua giới hạncủa thời đại như: Hạnh phúc, tình yêu, quyền sống, quyền bình đẳng…



Đánh giá chúng toàn ý kiến: Ý kiến của Nguyễn Kiên không chỉ chia sẻ kinhnghiệm sáng tác của nhà văn mà còn nêu lên một yêu cầu cốt tử đối với nộidung truyện ngắn Đó là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

phút Hơn nữa cấp THCS cũng không đòi hỏi chiều sâu như cấp THPT)

* Vận dụng kiến thức lí luận văn học để khẳng định vấn đề:

– Văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống hiện thực và nhà văn là ngườithư kí trung thành của thời đại Vì thế tác phẩm không chỉ in dấu những đặcđiểm lịch sử xã hội của thời đại mà nó ra đời mà còn là là chứng tích của mộtthời - hiện thưc xã hội Qua mỗi chứng tích ấy, nhà văn gửi gắm về một chân lígiản dị của mọi thời Chân lí giản dị ấy phải là nhân sinh quan tiến bộ

Bước 3: Chứng minh

Nam Xương là phản ánh cuộc chiến tranh phi nghĩa, một chế độ nam quyền

Trang 12

độc đoán, một xã hội đầy rẫy bất công. Vũ Nương nếm trải hạnh phúc vợchồng chưa được bao lâu thì đã tiễn biệt chồng tòng quân đi lính đánh giặc.Chiến tranh nào mà chẳng có mất mát, đau thương, không ai dám chắc rằngchồng của mình sẽ bình an trở về Người ra đi chiến trận thì người ở nhà lo lắng

bất an như một câu thơ đã viết“Xưa nay chinh chiến mấy ai về”.

Chiến tranh phi nghĩa như là một cơn sóng thần ập đến và cuốn đi hết sựhạnh phúc êm ấm trong mỗi gia đình Mẹ thì xa con, vợ lìa chồng, con cái thìthiếu đi tình thương của cha, khiến cho bầu không khí gia đình trở nên lo âu,sầu muộn, đau thương Nếu như cuộc chiến tranh phi nghĩa không nổ ra thìngười mẹ già kia có thể đã không nhớ con đến sức cùng lực kiệt để rồi lìa xa cõiđời, người vợ đã không phải nhớ chồng da diết để rồi gây ra nỗi oan ức cho bảnthân để rồi lại chạy đến cõi chết như một sự thanh minh, đứa con cũng chẳng vìlời nói thơ ngây của mình mà gay ra nỗi oan khuất  Nghệ thuật: Chọn một tìnhhuống truyện từ lời nói vô tình của đứa trẻ để đẩy xung đột, kịch tính câuchuyện lên cao, có ý nghĩa sâu sắc là một nghệ thuật đặc sắc của nhà vănNguyễn Dữ Có thể xem chi tiết ấy như một người tí hon mang sứ mệnh khổnglồ

Chứng tích trong Người con gái Nam Xương còn phản ánh chế độ nam quyền độc đoán, phi lí, bất công Đó là khi Trương Sinh nghe lời con trẻ

về người đàn ông đêm nào cũng đến, tính ghen tuông đến mù quáng của TrươngSinh lại nổi lên khiến chàng nổi đóa, rồi làm um lên, đánh đập, mắng chửi vàđuổi nàng đi Trương Sinh đã ngày càng leo thang xung đột gia đình, bất chấpmọi lời thanh minh, biện hộ của Vũ Nương và làng xóm Bỏ ngoài tai tất cả lờinói, Trương Sinh kiên quyết cho rằng vợ mình đã thất tiết, bội bạc và đẩy VũNương vào con đường tự vẫn để chứng minh sự trong sạch và thủy chung củamình Sự độc đoán trong chế độ nam quyền phi lí trong con người Trương Sinh

là đại diện cho xã hội trọng nam khinh nữ cổ hủ Đó cũng là chứng tích về một

Trang 13

xã hội phong kiến bất công tàn bạo, nơi mà lời nói của những người phụ nữ như

Vũ Nương trở nên vô nghĩa, bé nhỏ lạc lỏng, nơi mà họ không thể bảo vệ đượccuộc sống của mình, nơi mà những người đức hạnh như Vũ Nương phải chịu

cuộc sống bất hạnh và cái chết oan nghiệt Chuyện người con gái Nam Xương

đúng là một chứng tích của một chế độ xã hội cổ hủ, bất công A

Luận điểm 2: Chuyện người con gái Nam Xương không chỉ phản ánh chứng tích của một thời mà còn là hiện thân cho chân lí giản dị của mọi thời Trướchết đó là khát vọng của tình yêu và hạnh phúc gia đình Đó là cảnh Vũ Nươngtiễn chồng với những tâm trạng yêu thương, nhớ nhung, lo lắng Lúc tiễn chồng

đi lính, hành động rót chén rượu đầy của Vũ Nương với những lời nói chânthành tha thiết: “chàng đi chuyến này…” đó đâu chỉ là lời chia tay tiễn biệt mà

cả một nỗi thương nhớ đong đầy trong cả lo âu “chỉ e việc quân khó liệu, thếgiặc khôn lường…” là lời tâm tình lo lắng, xót thương đến quặn lòng của nàngtrước những nguy hiểm nơi chiến trường mà Trương Sinh phải đối mặt “Nhìntrăng soi thàn cũ lại sửa soạn áo ré gửi người ải xa…” đây mới là những nứcthang tưởng tượng cảnh cơ đơn, thương nhớ chồng khôn nguôi của người vợ trẻnhư hình ảnh người chinh phụ “nhớ chồng đăng đẳng đương lên bằng trời”

Đó là khát vọng sống, khát vọng bình đẳng giữa con người với conngười Vũ Nương thanh minh, giải thích như để cứu vãn hạnh phú gia đìnhnhưng đành bất lực Nàng chỉ còn biết chọn cái chết để minh oan Nhà văn đểcho Vũ Nương cái chết như một lời tố cáo xã hội bất công, bất bình đẳng để rồingười tốt như VN không còn chỗ dung thân Hạnh phúc trong cuộc đời Vũ ThịThiết là một thứ hạnh phúc vô cùng mong manh, ngắn ngủi Mong manh nhưsương như khói và ngắn ngủi như kiếp sống của đoá phù dung sớm nở, tối tàn

Bước 4: Mở rộng, phản đề

Một tác phẩm văn chương nói chung, truyện ngắn hay nới riêng muốn bất hủcùng với thời gian, năm tháng, sống mãi trong lòng bạn đọc thì nó phải thực

Trang 14

hiện được sứ mệnh thiêng liêng, cao cả là phản ánh lát cắt của cuộc sống, tưtưởng nhân sinh của người cầm bút Nếu muốn trở thành một thứ văn chương

“đáng thờ”, nó phải là một tác phẩm mang trái tim của thời đại và phải luônhướng đến cuôc sống con người Đúng như nhà văn Nam Cao đã từng quan

niệm rằng: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn” Và

nếu như một tác phẩm văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng khôngmang trong mình một sứ mệnh của “Người sứ giả đưa tin”, không phản ánh mộtđoạn của dòng đời, không phải là một lát cắt của cuộc sống thì nó sẽ “chết”ngay sau khi ra đời Hoặc sẽ khiến người ta vô tình mà lãng quên hay thậm chí

là bị bỏ rơi giữa dòng thời gian đang mãi trôi Đó là lí do ta hiểu vì sao nguyễn

Dữ viết 20 truyện trong tác phẩm “truyền kì mạn lục nhưng chỉ Chuyện ngườicon gái Nam Xương” mới là tác phẩm nổi tiếng

Bước 5: Bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận.

cũng mang đến một bài học sâu sắc, có tính triết lí cao với người sáng tác vàngười tiếp nhận Trước hết, đối với người sáng tác thì phải phản ánh một hiệnthực, lát cắt của cuộc sống, phải thể hiện một tư tưởng, tình cảm, quan niệmnhân sinh tiến bộ và cả giá trị nhân đạo sâu sắc Đấy mới là điều làm bất tử chongười nghệ sĩ, tạo ra tiếng vang lớn cho tác phẩm đến muôn đời!

Còn với người tiếp nhận thì phải sống hòa mình với tác phẩm, phải cảm nhậntinh tế, sâu sắc, giải mã được ẩn số đằng sau những con chữ vô hồn, phải vuivới cái vui của nhân vật, phải buồn trước cái buồn của nhân vật, phải phiêu lưutrường tình cùng nhân vật trong suốt mạch cảm xúc của tác phẩm Không

Trang 15

những thế, trách nhiệm của người đọc còn là sáng tạo ra tác phẩm và truyềnthông điệp của nhà văn đến mọi người.

3 Kết bài:

Có thể khẳng đinh rằng, nhận định của nhà phê bình văn học NguyễnKiên là hoàn toàn chính xác cho mọi tác phẩm có giá trị thật sự Tôi xin mượnlời của nhà phê bình Nguyễn Văn Siêu để thay lời kết: “Văn chương có hai loại,loại đáng thờ và loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là chuyên chú ở vănchương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” Chuyện người con gáiNam Xương có thể xem là một tác phẩm đáng thờ Có lẽ vì thế mà hơn 400 nămqua nó vẫn là một tác phẩm sống mãi trong lòng bao thế hệ bạn đọc

Trang 16

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ CHÍNH THỨC

KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN

NĂM HỌC 2019-2020 MÔN THI: NGỮ VĂN 9

Thời gian làm bài 120 phút, không kể thời gian giao đề

Câu 1: (3,0 điểm)

Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ trích

bài Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn của Trần Đăng Khoa:

"Ôi, đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu

Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo

Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão

Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong trái tim người

Như đá vững bền, như đá tốt tươi

(Viết tại Đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa Mùa khô 1981)

Câu 2 (7.0 điểm)

“Nơi anh đến là biển xa, nơi anh tới ngoài đảo xa.

Từ mảnh đất quê ta giữa đại dương mang tình thương quê nhà.

Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa

Ngàn bão tố phong ba ta vượt qua, vượt qua….”

(Nơi đảo xa - Thế Song)

Từ lời bài hát trên, bằng những hiểu biết xã hội, em hãy viết một bài nghịluận trình bày suy nghĩ của em về hình ảnh những người chiến sĩ ngày đêm bảo

vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Câu 3: (10 điểm)

Trang 17

Cùng viết về tình cha con nhưng hai tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao và Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lại có những khám phá sáng tạo riêng,

độc đáo Bằng cảm nhận của mình về tình cha con trong hai tác phẩm, hãy làmsáng tỏ nhận định trên

Hết

Giám thị không giải thích gì thêm.

Trang 18

HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ THANG ĐIỂM

MÔN: Ngữ văn-Lớp 9

điểm Câu 1 (3,0 điểm)

Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ trích

bài Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn của Trần Đăng Khoa:

"Ôi, đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu

Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo

Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão

Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong trái tim người

Như đá vững bền, như đá tốt tươi "

(Đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa Mùa khô 1981)

3,0 điểm

* Các biên pháp tu từ trong đoạn thơ:

- Điệp từ: "đảo","sinh tồn", "chúng tôi"

- Nhân hóa: "Đảo vẫn sinh tồn"

- So sánh: "Chúng tôi" như "hòn đá ngàn năm trong trái tim người",

như "đá vững bền, như đá tốt tươi"

1,0diểm

* Học sinh phân tích được tác dụng:

- Điệp từ "đảo" "sinh tồn" (đảo Sinh Tồn, đảo thân yêu, sinh tồn

trên mặt đảo, đảo vẫn sinh tồn) vừa giới thiệu về hòn đảo linh thiêng của

Tổ quốc vừa thể hiện được sức sống mãnh liệt của hòn đảo giữa biển khơi

cũng như người lính đảo Điệp từ "chúng tôi" - nhấn mạnh hình tượng

trung tâm của đoạn thơ - người lính đảo - những người đang đối mặt với

2 điểm

Trang 19

khó khăn khắc nghiệt nơi đảo xa.

- Hình ảnh nhân hóa "Đảo vẫn sinh tồn" sự trường tồn của biển đảo

quê hương

- Đặc biệt hình ảnh so sánh: "Chúng tôi" như "hòn đá ngàn năm

trong trái tim người", như "đá vững bền, như đá tốt tươi" Khẳng định sự

kiên cường bất khuất của những chiến sỹ nơi đảo xa Dù không có mưa

trên đảo, dù khắc nghiệt của gió bão biển khơi nhưng họ vẫn bền gan

vững chí để giữ gìn biển đảo quê hương

Câu 2: (7.0 điểm)

* Yêu cầu về hình thức:

- Xác định đúng kiểu bài nghị luận xã hội

- Bố cục mạch lạc, diễn đạt trôi chảy, văn viết có hình ảnh

* Yêu cầu về nội dung:

- Việt Nam là một quốc gia nằm ven biển Lãnh thổ bao gồm đất liền,

thềm lục địa và rất nhiều hải đảo Bên cạnh những người chiến sĩ bảo vệ

chủ quyền của đất nước trên đất liền, trên không, chúng ta không thể

không nghĩ tới những người chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biển đảo thiêng

liêng của Tổ quốc

- Các anh là những người sống trong một hoàn cảnh có nhiều khó khăn

gian khổ: sống giữa biển khơi, đầy nắng gió, thường xuyên gặp phải bão

tố,… Cuộc sống của các anh thiếu thốn phương tiện so với người dân ở

đất liền: thiếu nước ngọt, thiếu sách báo…

7,0 điểm

0,5

3 điểm

Trang 20

- Xa gia đình, xa người thân nên nhiều khi phải trải qua những nỗi buồn

da diết vì nhớ nhà

- Tuy đầy gian khổ và khó khăn nhưng những điều này không làm giảm đi

ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống bình yên của

người dân, nhất là những ngư dân trên biển cả

- Đất nước được toàn vẹn, cuộc sống vẫn phát triển bình thường, hằng

ngày các em được bình yên đến trường, bữa cơm mỗi ngày không thiếu

những sản phẩm của biển cả, …nhờ có một phần không nhỏ công sức và

sự hi sinh thầm lặng của các anh

* Mở rộng, nâng cao vấn đề

- Để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc ta đặc biệt là chủ quyền

biển đảo các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu nơi “đầu sóng ngọn gió”

để bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc …Công việc của các anh vốn

vất vả nay lại càng vất vả hơn

- Hình ảnh của các anh, chiến sĩ ngoài biển đảo là những hình ảnh đẹp của

sự hi sinh vì nghĩa lớn

- Trước tấm gương của các anh, thế hệ trẻ chúng ta cần phấn đấu học tập

tốt để góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, đồng thời lên án hành

động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ dân tộc của các thế lực xấu…

- Mỗi học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần có những

hành động và việc làm thiết thực nhất để động viên chia sẻ với các anh cả

về mặt vật chất và tinh thần

c Kết bài: Khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt

Nam, thể hiện quyết tâm bảo vệ biển đảo của Tổ quốc

3,0điểm

0,5 điểm

Câu 3 (10,0 điểm)

Cùng viết về tình cha con nhưng hai tác phẩm Lão Hạc của Nam

Cao và Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lại có những khám phá

10,0 điểm

Trang 21

sáng tạo riêng, độc đáo Bằng cảm nhận của mình về tình cha con trong

hai tác phẩm, hãy làm sáng tỏ nhận định trên

I Yêu cầu về kĩ năng:

Nắm vững kỹ năng làm bài văn nghị luận văn học Bố cục hợp lí,

lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng tiêu biểu Diễn đạt, hành văn

trong sáng, lời văn đẹp, ấn tượng

II Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần

đảm bảo các nội dung cơ bản

1 Giới thiệu khái quát

- Dẫn dắt vấn đề: Có thể đi từ tình cha con trong văn học

- Nêu vấn đề: Cùng viết về tình cha con nhưng hai tác phẩm Lão Hạc của

Nam Cao và Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lại có những khám

phá sáng tạo riêng, độc đáo

1,0điểm

2 Cảm nhận về tình cha con qua hai tác phẩm

2.1 Tình cha con trong "Lão Hạc"

- Giới thiệu khái quát về nhân vật lão Hạc

- Tình thương của lão Hạc dành cho con bộc lộ qua nhiều chi tiết:

+ Lão luôn day dứt vì không có tiền cưới vợ cho con Bao tình thương

yêu, lão gửi gắm qua con chó Vàng- kỉ vật duy nhất còn lại của đứa con

Cách lão gọi "cậu Vàng", cách lão chăm sóc, trò chuyện, cưng nựng con

chó Vàng, nỗi đau đớn khi lão phải bán đi con chó …

+ Ở nhà, tuy sức tàn lực kiệt nhưng lão vẫn cố gắng bòn vườn, tích cóp

tiền cho con về cưới vợ và có chút vốn làm ăn Lão thà chịu đói khổ chứ

nhất quyết không tiêu vào số tiền dành dụm của con

+ Lão thà chết chứ nhất định không chịu bán mảnh vườn của con

4,5 điểm

(1,5điểm)

Ngày đăng: 29/11/2020, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w