1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ dân tộc dao thời kì hiện đại

89 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 167,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dân tộc Dao là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn với tư cách là hai đại diện tiêubiểu của hai thế hệ thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại.Là một sinh viên ngành Ngữ Văn tại trường Đại học Sư phạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiến Thọ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệunêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưatừng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn

là TS Nguyễn Kiến Thọ - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọiđiều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặcbiệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 25 chuyên ngành Văn học ViệtNam, các cán bộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đãdạy dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập

Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính

là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên ngày 28 tháng 6 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

4 Nhiêm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

7 Cấu trúc đề tài

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

1.1 Giới thiệu chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.2 Một số thành tựu và hạn chế của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.2 Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.2.1 Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao

1.2.2 Nhà thơ Triệu Kim Văn - người nối dòng cho thơ Dao

Tiểu kết

Chương 2 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI .

2.1 Vấn đề cảm hứng trong thơ

2.2 Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

2.2.1 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài truyền thống

2.2.2 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài hiện đại

Tiểu kết

Trang 6

Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN

TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI 54

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 54

3.1.1 Vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ 54

3.1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 56

3.2 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 63

3.2.1 Vấn đề giọng điệu nghệ thuật trong thơ 63

3.2.2 Giọng điệu nghệ thuật trong thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại 66

Tiểu kết 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam khu vực miền núi phía Bắc thời

kì hiện đại, có phần đóng góp quan trọng của thơ dân tộc Dao Đây là một nềnthơ có những giá trị độc đáo, với hai đại diện tiêu biểu cho hai giai đoạn pháttriển từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, đó là Bàn Tài Đoàn và Triệu KimVăn Họ đã có những đóng góp đáng kể cho sự vận động, phát triển nền của thơdân tộc Dao nói riêng cũng như thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiệnđại; họ đã đưa tiếng nói tâm hồn của người dân tộc miền núi (dân tộc Dao) đếnvới đồng bào các dân tộc khác trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam

Bàn Tài Đoàn là người có công lớn trong việc đặt nền móng cho thơ cadân tộc Dao phát triển, đồng thời ông cũng là một nhà thơ dân tộc thiểu số rấttiêu biểu, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển ở giai đoạn đầu củathơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Bên cạnh đó, Triệu Kim Văn được coi làthế hệ kế tục, phát triển sự nghiệp thơ ca dân tộc Dao trong thời hiện đại Do

đó, nghiên cứu thơ Bàn Tài Đoàn và thơ Triệu Kim Văn trong tổng thể thơ caDao là một việc làm cần thiết Bởi qua đó ta sẽ khám phá được những nét bảnsắc đặc trưng nhất về sinh hoạt, văn hóa, tâm hồn người Dao, sự thay đổi trongcuộc sống cũng như văn hóa người Dao qua từng biến cố của lịch sử dân tộc.Đồng thời, thấy được những đóng góp riêng của hai nhà thơ trong việc chuyểntải thông điệp nghệ thuật để lưu giữ và phát triển bản sắc văn hóa Dao Qua đóthấy được cá tính thơ, với cách cảm, cách nghĩ mang đậm dấu ấn dân tộc Dao

Đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ dân tộcDao nói chung, thơ Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn nói riêng Tuy nhiên, chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển, những đặctrưng của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại trên cơ sở đối chiếu, so sánh, lí giải, tìm

ra những đặc điểm và quy luật vận động của thơ Dân tộc Dao qua hai gương mặtthơ vừa giàu cá tính, vừa có sự nhất quán khá rõ trong đặc trưng bản sắc của

Trang 8

dân tộc Dao là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn với tư cách là hai đại diện tiêubiểu của hai thế hệ thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại.

Là một sinh viên ngành Ngữ Văn tại trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên, là nơi đào tạo nguồn tri thức cho tất cả các dân tộc thiểu số khuvực miền núi phía Bắc, chúng tôi có điều kiện để tiếp cận với vốn tri thức vàvăn hóa của các dân tộc thiểu số cũng như dân tộc Dao Việc nghiên cứu thơBàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn trong mối quan hệ tổng thể sẽ phần nào giúpchúng tôi hiểu một cách toàn diện nhất bản sắc dân tộc Dao được phản ánhtrong thơ ca Đồng thời, đề tài này cũng sẽ là nguồn tài liệu bổ ích để giúpchúng tôi trong công tác học tập và giảng dạy sau này Đây cũng là nguồn tưliệu tham khảo cần thiết cho những ai quan tâm đến văn học dân tộc Dao nóiriêng và văn học dân tộc thiểu số nói chung

Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại” cho công trình nghiên cứu đầu tiên của mình.

2 Lịch sử vấn đề

Qua khảo sát bước đầu tình hình nghiên cứu thơ ca dân tộc Dao cũngnhư các dân tộc ít người khác mới chỉ bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XXtrở lại đây Mặc dù đã có một số thành tựu nhưng nhìn chung vẫn còn hạn chế,quy mô nhỏ lẻ và tản mạn, chưa có tính chất chuyên biệt đi sâu vào nghiên cứumột dân tộc cụ thể nào (đặc biệt là thơ ca Dao rất hạn chế) Tình trạng trên có lẽbởi ảnh hưởng văn học nghệ thuật các dân tộc ít người còn mờ nhạt, ít đượcquan tâm trong nhận thức và đánh giá của xã hội, dẫn đến nhiều tác giả, tácphẩm chưa được chú ý đúng mức như nó vốn có

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu mang tính chất tập hợp, tuyểnchọn và giới thiệu thơ văn các dân tộc thiểu số, các gương mặt nhà văn tiêu biểu

người dân tộc thiểu số như: “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại”,

(Nxb Văn hóa Dân tộc, 1995) của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lâm Tiến.Đây có thể coi là công trình nghiên cứu quy mô nhất về văn học các dân tộc thiểu

Trang 9

số Việt Nam hiện đại từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tuy nhiên, côngtrình nghiên cứu này cũng chỉ mới đi sâu nghiên cứu về một số tác giả, tác phẩmtiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở mức độ khái quát nhất, chứ chưa phác thảo về

diện mạo, đặc điểm thơ của từng dân tộc Cuốn “Nhà văn các dân tộc thiểu số

(đời và văn)” ( Nxb Văn hóa Dân tộc,2001) của Hội văn học nghệ thuật các dân

tộc thiểu số, cũng mới chỉ đề cập đến chân dung các tác giả người dân tộc thiểu sốtrong đó có hai nhà thơ Dao Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu như:

“Bản sắc dân tộc trong thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc” (Nxb Đại học Thái Nguyên, 2010) của nhiều tác giả

Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính chất tổng hợp trên, chúngtôi cũng đã khảo sát và tìm được một số công trình nghiên cứu, bài viết có tính

chất cụ thể về thơ ca Dao và hai nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn như: “Nhà

thơ Bàn Tài Đoàn cuộc đời và thơ văn” trong hội thảo thơ Bàn Tài Đoàn của Hội

văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng Hội thảo đã thu hút gần 20 bài tham luận củanhiều nhà nghiên cứu, phê bình có uy tín khi đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp

thơ văn Bàn Tài Đoàn Hay cuốn “Phja bjooc” của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng viết về nhà thơ Bàn Tài Đoàn, Luận văn thạc sĩ “Bản sắc Dao trong thơ

Bài Tài Đoàn”(2014) của tác giả Bàn Thị Quỳnh Dao đã bước đầu chỉ ra được

những nét đặc sắc nhất của văn hóa Dao đề cập trong thơ Bàn Tài Đoàn trên cácmặt: thiên nhiên, con người, văn hóa tinh thần, vật chất Bài

viết “Thơ ca dân tộc Dao- những mạch nguồn cảm hứng (Báo Văn Nghệ Thái

Nguyên, 2010) của tác giả Nguyễn Kiến Thọ chỉ ra những mạch nguồn và những

yếu tố làm nên nét độc đáo và đặc sắc của thơ Dao; “Triệu Kim Văn - đau đáu nỗi

niềm thơ Dao” (2011) cũng của Nguyễn Kiến Thọ, đã khái quát sơ lược về nhà thơ

Triệu Kim Văn cùng với những trăn trở của người trí thức trước sự mai một củavăn hóa Dao, những trăn trở trước cuộc sống ngày càng đổi thay này

Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm sao nhìn nhận thơ ca Dao trong một tổngthể vận động dưới góc độ đội ngũ tác giả trong quá trình tiếp biến và phát triển

Trang 10

thì nhìn chung chưa có Đề tài nghiên cứu của chúng tôi với tên: “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại” là một nỗ lực bước đầu để có thể lấp đầy khoảng trống

đó

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại” - luận văn nhằm

chỉ rõ những đặc điểm bản sắc văn hóa tộc người trong Dao mà chủ yếu là quathơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, những dấu ấn truyền thống trong thơ và

sự kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kì hiện đại, tức chỉ ra sự vận động thơDao trong xu thế chung của thơ ca dân tộc thiểu số

Đồng thời, qua việc nghiên cứu luận văn muốn chỉ ra những đóng góp tolớn của hai nhà thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn đối với sự phát triển củathơ Dao nói riêng và thơ ca dân tộc nói chung

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tham khảo và nghiên cứu các tài liệu sau:

-Toàn bộ những tập thơ của Bàn Tài Đoàn,bao gồm:

1 Muối cụ Hồ, Nxb Văn học 1960

2 Xuân về trên núi, Nxb Việt Bắc 1963

3 Có mắt thấy đường đi, Nxb Việt Bắc 1964.

4 Một giấc mơ, Nxb Việt Bắc 1965.

5 Kể chuyện đời, Nxb Việt Bắc 1968.

6 Tháng Tám đổi mới, Nxb Việt Bắc 1971.

7 Rừng xanh, Nxb Việt Bắc 1973.

8 Sáng cả hai miền, Nxb Văn học 1975.

9 Gửi đồng bào Dao, Nxb Văn hóa 1979.

10 Người Dao nghĩ gì, Nxb Văn hóa 1984.

11 Tuyển tập Bàn Tài Đoàn, Nxb Văn học 1992.

- Toàn bộ những sáng tác của Triệu Kim Văn gồm:

Trang 11

1 Con của núi, Nxb Văn hóa Dân tộc 2002.

2 Hoa nắng, Nxb Văn hóa Dân tộc 2010.

3 Lá tìm nhau, Nxb Văn hóa Dân tộc 1999.

4 Lối cỏ, Nxb Văn hóa Dân tộc 2004.

5 Lửa của mồ côi, Nxb Văn hóa Dân tộc 2002.

6 Mùa sa nhân, Nxb Văn hóa Dân tộc.1994.

7 Sùi nhuần viền viền (suối nguồn du du), Nxb Văn hóa Dân tộc

2010

8 Trời về, Nxb Văn hóa Dân tộc 2010.

- Các tác phẩm thơ của một số nhà thơ dân tộc khác nhằm so sánh, đốichiếu làm nổi bật những nét riêng trong thơ Dao nói chung, thơ Bàn Tài Đoàn vàTriệu Kim Văn nói riêng

- Các công trình bài viết về hai nhà thơ và một số tài liệu lý thuyết có liênquan

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài sẽ cố gắng làm sáng tỏ và đi đến khẳng định những đặc điểm nổibật trong thơ Dao (mà chủ yếu là hai tác giả Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn)

ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

- Về nội dung: Nét đặc sắc về đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc Dao(thiên nhiên, con người, những phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, đời sốngtâm linh…) thể hiện trong thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, chỉ ra sự

vận động thơ Dao, sự kế thừa những yếu tố truyền thống và phát triển trongthời kỳ hiện đại, có sự so sánh đối chiếu với các nhà thơ khác

- Về nghệ thuật: Nghiên cứu một số hình thức nghệ thuật trong thơ BànTài Đoàn - chủ yếu là dấu ấn truyền thống và Triệu Kim Văn - dấu ấn thơ hiệnđại (ngôn ngữ, hình ảnh, hình thức kết cấu, thể thơ, lối tư duy, diễn đạt…) Qua

đó chỉ ra được cái độc đáo, sự đột phá của thơ dân tộc Dao

Trang 12

- Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu những nét đặc sắc Dao trong thơ Bàn TàiĐoàn và Triệu kim Văn, đề tài đi đến khẳng định những đóng góp to lớn mà thơ

ca dân tộc Dao và hai nhà thơ Dao mang lại cho nền văn học nước nhà

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử văn học

- Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp xã hội học văn học

- Phương pháp tiếp cận văn học từ văn hóa

- Phương pháp thi pháp học

6 Đóng góp của luận văn

Nếu luận văn được thực hiện thành công,chúng tôi hy vọng sẽ có được một số đóng góp sau:

- Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt một cách tổng thể và toàn

diện về “Thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại”

- Chỉ rõ những đặc điểm bản sắc văn hóa tộc người trong Dao mà chủ yếu

là qua thơ Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, những dấu ấn truyền thống trongthơ và sự kế thừa phát triển thơ Dao trong thời kì hiện đại, tức chỉ ra sự vậnđộng thơ Dao trong xu thế chung của thơ ca dân tộc thiểu số

- Là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu học tập vềthơ ca các dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân tộc Dao nói riêng

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài có cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại.

Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại.

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện

đại.

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

1.1 Giới thiệu chung về thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Mỗi dân tộc đều có cội nguồn với tên gọi và bản sắc riêng của mình.Người Dao cũng có lịch sử riêng, với quá trình di cư khác với các dân tộc khác.Nguồn gốc dân tộc Dao qua huyền thoại là những mảnh chuyện được tổ tiêncủa người Dao chắp vá bằng những tình tiết hư cấu, về những lực lượng siêunhiên kì ảo với một thái độ kính trọng và suy tôn giống nòi Dân tộc Mường có

mo "Đẻ đất đẻ nước" kể về Ông Thu Tha, bà Thu Thiên là ông tổ làm ra đất ratrời và sinh ra người Mường Người H’Mông có “ông Chày, Bà Chày” nắn trờiđất tạo ra vũ trụ và đất trở dạ sinh ra người Mông Người Thái có thủy tổ là ôngTôn được kể trong thần thoại Ẩm ẹt luông,… Còn người Dao, trong kho tàngsách cổ của mình có ghi lại câu chuyện Quá Sơn Bảng Văn (Bình hoàng khoánđiệp) - một huyền thoại về gốc tích của người Dao, đó là Bàn Hồ

Trong bài ca Bàn Vương Xướng, người Dao quan niệm nguồn gốc vũ trụ

và dân tộc mình là do vị thần “Bàn Cổ” sáng tạo ra:

Thái cực tiên sinh, sinh Bàn Cổ Khai bảo nguyên niên vua ra đời Chưa có trời mà đã có đất

Trước có Ngọc Hoàng với Bàn Cổ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa thân Bàn Cổ ba trăm sáu hóa thân Mắt trái biến thành mặt trời đỏ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn

Trang 14

Cỏ tranh trên đồi là tóc biển

Cá nước dưới biển là tim gan Răng biến thành vàng bạc

Móng chân tay biến thành ngôi sao Chín khúc minh chu với lục tạng Ruộng đồng cày cấy là chân ông

Cái nôi của người Dao, xuất phát điểm chính là vùng đất Trung Quốc:

“Do nhiều biến cố lịch sử làm cho người Dao ở Trung Quốc phân tán thànhnhiều nhóm nhỏ và rời khỏi cái nôi của mình là đất Châu Dương và Châu Kinhtản mát đi các nơi để sinh sống, trong đó có một số nhóm đã vào Việt Nam”[38; 13] Quá trình di cư của họ kéo dài từ thế kỉ XIII cho đến những năm 40thế kỉ XX qua nhiều đợt khác nhau

Ngôn ngữ Dao được xếp vào hệ Mông - Dao Tiếng nói dân tộc Daođược chia thành hai phương ngữ với nhiều nhóm khác nhau: Phương ngữ kiềmmiền (có nhóm Dao Đại Bản, nhóm Dao Lô Gang, nhóm Dao Quần Chẹt,nhóm Dao Tiền) và phương ngữ kìm mùn (gồm nhóm Dao Quần Trắng, nhómDao Làn Tẻn, nhóm Dao Áo Dài) Sự đa dạng về ngôn ngữ là một cơ sở để thểhiện sự đa dạng trong văn hóa của dân tộc Dao

Có thể khẳng định, dân tộc Dao là một trong những dân tộc thiểu số có mặt

từ rất lâu đời ở Việt Nam Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển củamình, dân tộc Dao không chỉ góp phần vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước màcòn sớm hình thành một nền văn hóa đặc sắc, làm phong phú thêm truyền thốngcủa các dân tộc Việt Nam Trong những yếu tố góp phần cấu thành đời sống vănhóa tinh thần của dân tộc Dao, thơ ca là một yếu tố vô cùng quan trọng

Ngay từ rất sớm, đồng bào dân tộc Dao đã có một kho tàng văn học dângian truyền miệng phong phú, đặc sắc, với các thể loại như truyện cổ, tục ngữ,

ca dao.v.v Sách cổ của người Dao được sưu tầm và kiểm kê cho thấy phần lớn

Trang 15

là các bộ kinh thư, các sách về tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán Sách vănhọc tuy chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ nhưng có giá trị quan trọng Bên cạnh một số dân

ca (nhất là dân ca giao duyên) được những người biết chữ cổ chép lại còn khánhiều tập truyện văn học Các nhà nghiên cứu lúc đầu chỉ sưu tầm được 2 truyệnthơ, trong một dự án đã tìm thấy 23 truyện thơ lần đầu tiên được phát hiện

ởvùng người Dao như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "Bát Nương", "Lâu Cảnh",

"Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giaitruyện", "Thần sắt ca" Trong số đó, truyện thơ kể về hành trình tìm đất vất vảcủa người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả Một số truyện tuy có chủ đề khácnhưng trước khi đề cập đến nội dung chính cũng kể về cuộc hành trình của ngườiDao

Để đáp ứng những yêu cầu trong giao tiếp, sinh hoạt, lao động , ngườiDao đã dựa vào chữ Hán để sáng tạo ra loại chữ Nôm Dao riêng cho dân tộcmình Chữ viết Nôm ban đầu chủ yếu được người Dao dùng để ghi chép giaphả, sách cúng, về sau còn được sử dụng trong sáng tác văn học như thơ, truyệnthơ.v.v Qua quá trình đó, nền văn học viết dân tộc tộc Dao từng bước đượchình thành

Đồng bào dân tộc Dao vốn là những người có đời sống tinh thần phongphú, yêu văn chương và đặc biệt là thơ ca Tuy vậy, vì những lí do và điều kiện

cả chủ quan lẫn khách quan, cho nên họ chủ yếu truyền miệng các sáng tácmang tính dân gian (tập thể), số người Dao chuyên sâu sáng tác thơ ca để trởthành một tác giả là không nhiều Có thể nói, phải đến giữa thế kỉ XX, khi nhàthơ xuất sắc Bàn Tài Đoàn xuất bản những tập thơ liên tiếp như “Muối cụ Hồ”(1960), “Xuân về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấyđường đi” (1964), “Một giắc mơ” (1965), thì thơ ca Dao thời kì hiện đại mớithực sự được hình thành

Tiếp sau Bàn Tài Đoàn - người xây đắp nền móng, nhiều tác giả ngườiDao đã đóng góp những sáng tác của mình để cùng dựng nên ngôi nhà thơ dân

Trang 16

tộc Dao Có thể kể đến một số tác giả thơ như: Đặng Phúc Lường, Triệu ĐứcThanh, Bàn Thị Cúc, gần đây là các tác giả trẻ như Phùng Hải Yến, Tằng A Tài,

Lý Hữu Lương, Lý A Kiều.v.v

Đặc biệt, trong tiến trình hiện đại hóa thơ dân tộc Dao, phải nói đến sựghi dấu và đóng góp hết sức to lớn và quan trọng của nhà thơ Triệu Kim Văn.Với hàng loạt tập thơ độc đáo, giàu giá trị thơ ca và giá trị văn hóa như “Hoanúi” (1984), “Mùa sa nhân” (1994), “Lá tìm nhau” (1999), “Con của núi” (thơsong ngữ Dao - Việt, 2002), “Lửa của mồ côi” (2002), “Lối cỏ” (2004)…, TriệuKim Văn trở thành nhà thơ kế thừa, phát huy, làm giàu có và nâng tầm cao chothơ ca Dao Nó như một dấu mốc chuyển mình, tiếp tục hoàn thiện của thơ cadân tộc Dao thời kì hiện đại

1.1.2 Một số thành tựu và hạn chế của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

Một nền thơ ca của một dân tộc luôn gắn liền với đặc điểm đời sống vănhóa, tinh thần, lịch sử, kinh tế xã hội của dân tộc đó Cũng vì vậy, nó mangtrong mình những đặc điểm tự thân riêng biệt, với tất cả những thế mạnh và hạnchế Thơ ca dân tộc Dao cũng nằm trong quy luật ấy, với những thành tựu nổibật đồng thời vẫn mang những hạn chế đặc thù

Về thành tựu: Nếu nhìn tổng thế, có thể nói rằng thơ dân tộc Dao thời kì

hiện đại đạt được những thành tựu rất có nghĩa Nó thể hiện ở hai vấn đề cơbản: bám sát và thể hiện được vùng tâm thức sáng tạo riêng mang tính tộcngười; có tác giả tiêu biểu mang tính đại diện và kế thừa thế hệ Đây là hai yếu

tố hết sức quan trọng, thậm chí mang tính quyết định đối với sự hình thành vàphát triển của một nền thơ, giúp nó có thể đứng vững và phân biệt với các nềnthơ của dân tộc khác

Nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Dao, có thể thấy người Dao từtrong chiều sâu tâm thức luôn có ám ảnh về những cuộc thiên di, đồng thời họluôn ý thức rất cao về vị thế tộc người của mình Những điều này chính là nềntảng tạo thành vùng tâm thức sáng tạo riêng cho các nhà thơ dân tộc Dao Nó

Trang 17

không chỉ thể hiện trong các tác phẩm của những nhà thơ đã có bề dày sựnghiệp, mà thể hiện rất rõ ngay cả trong sáng tác của những tác giả trẻ Dễ nhậnthấy điều này, ví dụ như trường hợp thơ Lý Hữu Lương:

Cuộc thiên di truyền thuyết Những con thuyền mỏng như mắt lá Những con đỏ trên tay kiếm sắc Không có màu mây lãng du

(Bình nguyên đỏ)Các nhà thơ Dao cũng luôn luôn ý thức rất sâu sắc về vị thế tộc người của mình, dù bất kì hoàn cảnh nào, ví dụ như trường hợp thơ Triệu Kim Văn:

Nghìn năm sau đi theo cổ tích Những bông kê còn sót lại áo thầy tào Đeo lủng lẳng với hội đèn điệu múa Găm vào tâm thức con cháu Bàn Dao

(Quả kê còn lại)Cũng nhờ bám dễ sâu sắc vào vùng tâm thức sáng tạo của mình, thơ dântộc Dao đã sản sinh được những nhà thơ tiêu biểu, đại diện cho các thế hệ, kếthừa và phát triển nền thơ dân tộc mình ngày càng thành tựu Có thể kể đến, đạidiện cho thế hệ mở đầu là nhà thơ Bàn Tài Đoàn, đại diện thế hệ làm giàu có vàhiện đại hóa nền thơ dân tộc là nhà thơ Triệu Kim Văn, và thế hệ trẻ tiếp nốihiện nay có Tằng A Tài, Lý Hữu Lương.v.v Điều đó cho thấy thơ ca dân tộcDao mang trong mình một chiều sâu mạch ngầm để có những điều kiện pháttriển một cách mạnh mẽ và bền vững, vừa tạo nên vị trí riêng cho mình, vừađóng góp vào sự phong phú và sự phát triển chung của thơ ca đất nước

Về hạn chế: Nền thơ Dao tuy đạt được những thành tựu nhất định, đóng

góp vào thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam những giá trị độc đáo, nhưngđồng thời cũng vẫn còn những hạn chế đặc thù khó tránh Nổi bật nhất trong đó

là ở hai vấn đề: phát triển đội ngũ tác giả, tính trình hiện đại hóa

Trang 18

Trước hết có thể nói thơ ca Dao đã có những tác giả tiêu biểu xuất sắc(Bàn Tài Đoàn, Triệu Kim Văn) Tuy nhiên, đáng tiếc là đội ngũ tác giả thơ củadân tộc Dao khá ít ỏi, chưa đủ để tạo ra một lực lượng sáng tác tương xứng vớinhững tiềm năng văn hóa - văn học nghệ thuật của dân tộc mình Đã hơn nửathế kỉ trôi qua (từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay), thơ ca dân tộc Dao thời kìhiện đại chỉ đóng góp được thêm một vài tên tuổi người viết mới như ĐặngPhúc Lường, Triệu Đức Thanh, Tằng A Tài, Lý Hữu Lương Đây là sự bổ sungrất khiêm tốn so với chiều dài phát triển của một nền thơ ca.

Đi sâu vào các sáng tác thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại, có thể thấynền thơ này kế thừa một nền tảng văn hóa - văn học nghệ thuật đậm tính truyềnthống Qua suốt chiều dài phát triển, đặt trong sự vận động nói chung của thơ

ca Việt Nam, thơ ca dân tộc Dao còn ít đổi mới, cách tân Lối viết bám chặt vàothi pháp và mĩ học truyền thống một mặt đem lại cho thơ Dao một bản sắcriêng độc đáo, nhưng mặt khác lại khiến nó hạn chế trong sáng tạo, cách tân,hội nhập với xu thế hiện đại hóa, mất đi tính phong phú cần có

Có thể nói, vì những lí do và điều kiện đặc thù, đây không chỉ là vấn đềcủa thơ ca dân tộc Dao nói riêng, mà còn là vấn đề của thơ ca các dân tộc thiểu

số nói chung

1.2 Một số tác giả tiêu biểu của thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

1.2.1 Nhà thơ Bàn Tài Đoàn - người khởi nguồn của thơ Dao

1.2.1.1 Tiểu sử và con người

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (1913 - 2007) là người con của dân tộc Dao tiền,

là đại diện xuất sắc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

Sinh ra tại Nguyên Bình - Cao Bằng, Bàn Tài Đoàn phải lớn lên trong sựnghèo khó, vất vả Dù vậy, ông lại sớm được giác ngộ và đến với con đường lítưởng cách mạng khi ẩn trong những cánh rừng Hoàng Hoa Thám, Trần HưngĐạo luôn sục sôi khí thế đánh giặc Nhờ vậy, ông sớm được hun đúc và tôi luyệntrong mình một khí phách ngang tàng, bản lĩnh vững vàng Lớn lên trong những

Trang 19

câu chuyện kể của bản làng, những điệu hát Páo Dung say mê ngọt ngào, BànTài Đoàn dần kết tụ trong tâm hồn mình sự chân thành, hồn hậu, hào sảng Nó

là “mảnh đất ươm trồng” cho nhà thơ một hồn thơ xanh tươi và đầy thăng hoa

Quê hương ông vốn là một vùng quê nghèo đói, lạc hậu, phải chứng kiếncảnh nghèo túng đó ông đã có một quyết tâm lớn là phải làm việc gì đó để giúpquê hương mình thoát nghèo Ông đã tự học và đọc thông viết thạo được chữnôm Dao, ông đến với cách mạng và truyền bá những tư tưởng tiến bộ, cáchmạng mà mình tiếp thu được cho người dân quê mình

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942 Sau năm 1945, ônglàm công tác tuyên huấn trong Quân đội nhân dân Việt Nam Từ năm 1951 đếnkhi nghỉ hưu, ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó Giám đốc Sở Văn hóa tỉnhCao Bằng; Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên Ủy ban Trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam;

Ủy viên Hội đồng Văn học các dân tộc thiểu số

Bàn Tài Đoàn là nhà thơ hiến hoi luôn sáng tác song ngữ (bằng cả tiếngKinh và tiếng Dao) Các tác phẩm của ông đã trở thành di sản quý giá trongkho tàng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Ông đã vinh dựđược trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước vềVăn học nghệ thuật, năm 2001

1.2.1.2 Hành trình sáng tác

Với nhiệt tình tuổi trẻ, với niềm tin tuyệt đối vào cách mạng cộng với vốnhiểu biết về thơ ca dân gian và khả năng sẵn có của mình, ông đã làm những bài cacách mạng đầu tiên nhằm tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân dưới ánhsáng của Đảng Điểm lại những sáng tác của Bàn Tài Đoàn từ những ngày đầu gặpcách mạng đến nay, ta thấy đời thơ của ông gắn liền với cuộc đời cách mạng Cáchmạng đã chăm sóc, nuôi dưỡng cho tâm hồn thơ ông

Tâm sự trao đổi với đồng nghiệp về đời, về nghề viết, nhà thơ Bàn TàiĐoàn chia sẻ một cách rất bình dị nhưng sâu sắc, rằng: "Tôi sinh ra và lớn lên

Trang 20

trong một gia đình nông dân vùng cao, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc,sách không được học một chữ Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theoCách mạng, được Đảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụdân tộc Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn bỡ ngỡ,làm Cách mạng đã khó, làm thơ còn khó hơn".

Về thơ Bàn Tài Đoàn, có thể chia làm hai mảng chính Mảng thứ nhất lànhững bài thơ gắn với cuộc đời hoạt động, những miền đất và những con người

mà nhà thơ từng đi qua, từng gắn bó Đó là những cảm xúc trước những cuộcđời mới, trước những đổi thay tốt đẹp mà cách mạng đem lại cho ông cũng như

đồng bào Dao Những bài thơ tiêu biểu cho mảng thứ nhất này như: Muối cụ

Hồ, Khuổi sao, Từ rừng Trần Hưng Đạo, Gặp đồng chí Văn Đường số 9

Đó là những địa danh gắn với xứ Lạng:

Tràng Định, Thất Khê quê xứ Lạng Núi đồi đã lắm suối cũng nhiều Khuổi Sao đây là con suối nhỏ Suối nhỏ ngàn năm nước không nghèo

(Khuổi Sao)Hay là cảm xúc của một người con miền núi lần đầu tiên ra gặp biển, ông

đã thốt lên lời:

Biển rộng mênh mông nhìn không tận Gió biển hây hây mát đêm ngày Sóng biển dâng trào mặt trời ló Đêm lặng như tờ hứng bóng trăng

(Đến Sầm Sơn)

Từ những cảm xúc về cảnh hùng vĩ và thơ mộng của biển, nhà thơ mộngcủa biển, nhà thơ vui sướng với thực tại của đất nước và khối đại đoàn kết cácdân tộc Việt Nam cũng chung một Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cùngchung một bọc trứng:

Trang 21

Ta cưỡi từng con sóng bạc đầu Khắp nơi cùng về vui chung biển Miền xuôi miền ngược gặp được nhau

(Đến Sầm Sơn)Mảng thứ hai trong thơ ông là những bài thơ theo thể trường ca Có thểnói mảng thứ hai này là sở trường của ông Nhà thơ đã bám vào thể thơ truyềnthống 7 chữ kiểu cổ phong và phương thức lưu truyền thơ gắn với chuyện thơhay thơ ca các dân tộc thiểu số để phổ cập nhẹ nhàng những vấn đề thời sựhoặc thực tại của của đời sống, của các vị lãnh tụ như Lênin, Hồ Chí Minh

trong tập "Đường sáng", "Bước đường tôi đi"

Được xem là thế hệ nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên từ sau Cách mạngtháng Tám, ông đã đưa tất cả những gì thuộc về dân tộc mình vào trong thơ vớinhững cảm xúc, tấm lòng chân thành nhất của người con yêu quê hương đếncháy bỏng Do vậy, đọc thơ Bàn Tài Đoàn ta luôn cảm nhận được cái mộc mạc,giản dị, gần gũi, lời thơ đôi khi giống như kể mà chân thành khiến người đọckhông khỏi xúc động:

Một thân ngô cõng hai ba con Ngô con, ngô cái treo đầy gác Đánh giặc không lo bụng đói cồn

(Năm mới đến)Hay là những vần thơ viết về cha mẹ rất giản dị nhưng đầy tình cảm trước khi nhà thơ lên đường theo Cách mạng:

Chào mẹ, con đi xa đánh giặc

Ở nhà mẹ nhé, hãy yên lòng!

Con sẽ gửi thư tin mẹ biết

Tin con giết giặc, tin chiến công Mẹ nghe bố đọc thư con gửi Mẹ gật đầu: xứng dân tộc Dao

Trang 22

Bố viết thư: ở xa bản núi Nghe thư con, già trẻ tự hào

(Con đã lớn)Thơ Bàn Tài Đoàn mang đậm tính phô diễn, tự sự và trực diện Chẳng hạn khi viết về tội ác của giặc Mỹ, ông cũng viết rất trực diện, cụ thể như lời kể:

Trên đất Việt Nam còn có giặc Giặc Mỹ ngày càng độc ác hơn Miền Nam đã chịu nhiều năm khổ Miền Bắc nay lại cũng không yên.

Gặc Mỹ leo thang thả bom xuống Phá hoại xóm làng và ruộng nương Nhân dân mới về làng chưa ổn Lại phải sơ tán chạy vào rừng

(Đêm nằm không ngủ)Nhìn lại hành trình sáng tác của Bàn Tài Đoàn, có thể thấy, trọn cuộc đờisống và viết thơ của mình, với tình yêu bản làng quê hương đất nước, ông đãkhẳng định được tên tuổi của mình trong làng thơ Việt Nam Ông đã để lại một

di sản quý giá cho thơ ca dân tộc Dao nói riêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt

Nam nói chung, với một sự nghiệp sáng tác đồ sộ hơn chục tập thơ: “Muối cụ Hồ” (1960), “Xuân về trên núi” (1963), “Đường cụ Hồ” (1963), “Có mắt thấy đường đi” (1964), “Một giắc mơ” (1965), “Kể chuyện đời” (1968), “Tháng tám đổi mới” (1971), “Rừng xanh” (1973), “Sáng cả hai miền” (1975), “Gửi đồng bào Dao” (1979), “Nơi ta ở” (1979), “Bước đường tôi đi” (1985), “Muốn tìm bạn” (1977), “Người Dao nghĩ gì” (1984), “Tuyển tập Bàn Tài Đoàn” (1992).

Nếu nhắc đến văn học Tày ta có Nông Quốc Chấn, thì văn học Dao ta cóBàn Tài Đoàn Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho văn học Dao nói riêng

và văn học dân tộc thiểu số nói chung Với những cống hiến của mình cho thơ

Trang 23

ca dân tộc Dao và thơ ca cách mạng ông xứng đáng đáng là một cây cao bóng

cả trong làng thơ văn dân tộc thiểu số Việt Nam

1.2.2 Nhà thơ Triệu Kim Văn - người nối dòng cho thơ Dao

1.2.2.1 Tiểu sử và con người

“Tôi tự hào là đứa con của đại ngàn, với những cánh rừng nguyên sinh âm

u, mây buông sương ủ, nơi núi đá tai mèo dựng đứng như bờm ngựa chiến Tôisinh ra trên tay người mẹ nghèo hiền lành, buổi chập chững theo các anh chị lên

nương ngơ ngác nghe kể đầy gùi cổ tích ” (Trích “Đối khúc đại ngàn”) Đó là

những lời của nhà thơ dân tộc Dao đỏ Triệu Kim Văn - nhà thơ người Dao đầu tiêncủa Bắc Kạn đang tự viết về mình Có thể nói, sau Bàn Tài Đoàn, tên tuổi TriệuKim Văn đã góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca dân tộc Dao nóiriêng và thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói chung

Triệu Kim Văn sinh ngày 14/7/1945 ở vùng quê nghèo khó Cao Sơn, huyệnBạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Vùng đất ấy với núi cao sừng sững như đỡ lấy bầutrời, nơi bản làng ẩn trong mây núi bao phủ, nơi có những bài láu ton (hát ru) độcđáo vừa là môi trường sống, vừa là không gian văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn conngười, vừa là nguồn cảm hứng trong các sáng tác của Triệu Kim Văn

Mười ba tuổi Triệu Kim Văn biết nói tiếng Kinh, lúc này ông đi học tạitrường thiếu nhi vùng cao Việt Bắc Ông tâm sự: Thuở ấy mọi người đặt choông biệt danh “con mọt sách” vì khi ông biết tiếng Kinh ông đã đọc rất nhiều,

cả kho sách văn học của thư viện nhà trường đều được ông đọc bằng hết Họchết lớp 7, ông tiếp tục sang trường Bổ túc Công - Nông học lớp 8, sau đó ônghọc sư phạm và giảng dạy tại trường trung cấp Công nghiệp nhẹ của Bộ côngnghiệp Năm 1973 ông thi vào đại học tổng hợp Hà Nội, ra trường ông về côngtác tại Ban dân tộc tỉnh ủy Bắc Thái, rồi công tác tại huyện ủy Bạch Thông.Đến năm 1997, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Từ đó, ông hoạtđộng chuyên bên văn học nghệ thuật và giữ chức chủ tịch hội Văn học nghệthuật tỉnh Bắc Kạn cho đến lúc nghỉ hưu

Trang 24

Cuộc đời Triệu Kim Văn là một minh chứng sống động cho sự nỗ lực tựvượt lên chính mình, bằng nền tảng là cội nguồn cốt cách văn hóa của dân tộcDao để hòa mình vào dòng chảy chung của đời sống văn hóa - văn học ViệtNam Trong suốt cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của mình, dù

ở đâu, dù lúc nào, dù làm gì, nhà thơ Triệu Kim Văn vẫn luôn như một conchim của núi rừng, uống nước khe ngậm lúa nương mà hót lên những bài cacủa quê hương xứ sở

đó, ông viết nhiều, viết đều, viết khỏe, nhưng chủ yếu là đăng trên báo và tạp chí

Mãi đến năm 1989 ông mới ra mắt tập thơ đầu tiên: “Hoa núi”.

Với lòng yêu văn chương và sự hăng say, miệt mài trong lao động nghệ

thuật, đến nay Triệu Kim Văn đã xuất bản 11 tập thơ: Hoa núi(1989), Mùa sa nhân (1994), Lá tìm nhau (1999), Con của núi (Thơ song ngữ Dao - Việt 2002), Lửa của mồ côi (2002), Lối cỏ (2004), Hoa nắng (Thơ thiếu nhi 2010), Suối nguồn du du (Thơ song ngữ Dao - Việt 2010), Trời về (2010), Sợi mưa hiền (2011), Tuyển tập Triệu Kim Văn (2017).

Quá trình phấn đấu không miệt mài của Triệu Kim Văn đã tạo nên nhữngtác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc và phong cách sáng tác của riêng mình Ông

đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng như: Giải thưởng chính thức của Ban văn

học dân tộc Hội nhà văn Việt Nam cho tập thơ “Mùa sa nhân” (1997), giải

Trang 25

thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho tập thơ

“Con của núi” (2002), giải thưởng của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu

số Việt Nam cho tập thơ “Trời về” (2010) Huy chương vì sự nghiệp văn học

nghệ thuật Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp văn học nghệ thuật các dân tộcthiểu số Việt Nam Đây là những ghi nhận xứng đáng cho một tài năng, mộthồn thơ đẫm cốt cách của dân tộc Dao

Dù đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng và ghi nhận trong sángtác thơ ca, nhưng khi chia sẻ về quan điểm sáng tác thì nhà thơ Triệu Kim Vănchỉ khiêm tốn, giản dị cho rằng: “Sáng tác là một phần của cuộc sống Và thơ làtình yêu, là nhịp đập của trái tim” [62.tr64] Đến với thơ, Triệu Kim Văn chỉnghĩ đơn giản và chân thành: Thơ là tiếng nói của tâm hồn, nghĩ sao thì nói vậy,

chỉ đơn giản thế thôi Là người “Con của núi”, ông nghĩ về sứ mạng cao cả của thơ ca thật mộc mạc Suy nghĩ ấy được thể hiện khá rõ qua bài “Thơ củi” Trong bài, ông ví mình như cây củi và luận bàn về các thứ củi: Củi gộc, củi mòn, củi cành và cả củi mục để rồi đi đến khẳng định về một thứ thơ gần gũi

với cuộc sống, phục vụ cuộc sống:

Củi tôi hái từ con tim Cánh rừng con tim rộng dài không đo được Lửa cháy hết rồi tôi ngồi khóc Nhớ chàng mồ côi kiếm củi đổi hạt kê…

Câu thơ tôi cùng lầm lụi chốn quê Thật đúng với những ý nhận xét của Mai Liễu trong Chân dung bút tích

nhà văn Việt Nam hiện đại, Triệu Kim Văn là thế, không vồ vập, kiểu cách, cứ

lặng lẽ trong đời mà lại làm được ít nhiều sự xáo trộn trong thơ Những lời bộcbạch tâm tình trong bài thơ trên là một âm bản đáng tin cậy nhất để người đọc hiểu

về quan niệm sáng tác của nhà thơ, một quan niệm giản dị, chân thành và sâu sắc.Suy cho cùng, giản dị chính là tận cùng của mọi mĩ học Quan niệm thẩm

Trang 26

mĩ ấy sẽ là ngọn đuốc bền bỉ trên con đường sáng tạo đầy chông gai thử tháchnhưng cũng đầy hạnh phúc của nhà thơ Triệu Kim Văn.

Tiểu kết

Có thể nói, thơ ca dân tộc Dao thời kì hiện đại là một nền thơ độc đáo, cónhững đóng góp quan trọng và tích cực cho đời sống văn hóa dân tộc Dao nóiriêng, thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung Với những điều kiện đặcthù, thơ ca Dao đạt những thành tựu đáng ghi nhận, đồng thời cũng mang trong

nó những hạn chế nhất định Soi chiếu qua thơ của hai tác giả đại diện xuất sắcnhất là Bàn Tài Đoàn và Triệu Kim Văn, ta không chỉ thấy được những đặcđiểm đặc sắc nổi bật mà còn thấy cả mạch vận động từ truyền thống đến hiệnđại của nền thơ dân tộc Dao

Trang 27

Chương 2 NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG TRONG THƠ DÂN TỘC DAO THỜI KÌ HIỆN ĐẠI

2.1 Vấn đề cảm hứng trong thơ

Lao động sáng tạo nghệ thuật nói chung, đặc biệt là sáng tạo văn chươngnói riêng, không thể không dựa trên cảm hứng Nếu không có cảm hứng, nhàvăn nhà thơ sẽ không được khơi gợi ý tưởng cũng như không thể thăng hoa khitriển khai tác phẩm của mình Nó là tiên đề mang tính quyết định đến sự ra đờicủa một tác phẩm

Các nhà lí luận nghiên cứu phê bình đã định nghĩa cảm hứng là “trạng

thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền vớimột tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúccủa những người tiếp nhận tác phẩm” [65, tr.44] Như vậy, có thể thấy, cảmhứng là yếu tố rất quan trọng, vừa chi phối quá trình sáng tạo của tác giả, vừachi phối quá trình cảm thụ đón nhận của bạn đọc

Thơ được coi như một thể loại văn học phản ánh cuộc sống theo mộthình thức thẩm mĩ đặc thù Nó thể hiện những tâm trạng, xúc cảm mạnh mẽbằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và âm hưởng Định nghĩacủa Sóng Hồng khẳng định: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi.Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng.Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệthuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ quanhững lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường” [65, tr.310] Có thểnói, nếu nhà thơ không có cảm hứng thì sẽ không có bài thơ, và ngược lại, mộtbản thảo không chứa đựng những xúc cảm mãnh liệt thì nó chưa phải bài thơ

Để có được những mạch nguồn cảm hứng sáng tạo, nhà thơ phải biết ýthức về bản thân và con người, có tình yêu và sự gắn bó với cộng đồng và đờisống quanh mình, quan tâm, suy tư, trăn trở với các vấn đề xã hội - quê hương -

Trang 28

đất nước Chỉ khi nào sống thật lòng mình, sống hết lòng mình, khi đó nhà thơmới tìm thấy chính mình, tức là biết mình đang là ai, đang thuộc về đâu, đanghướng sự quan tâm và nỗi niềm suy tưởng của mình về điều gì Từ những điềunhỏ bé và gần gũi thân quen nhất như một bông hoa, cuốn sách, ngôi nhà, gócvườn, người hàng xóm, bản tin thời sự, đến những điều lớn lao hơn như thânphận con người, lịch sử quê hương, câu chuyện văn hóa,… tất cả những mốiquan tâm trăn trở ấy của nhà thơ sẽ chính là mạch nguồn khơi gợi cảm hứngcho sự sáng tạo thơ ca.

Tìm hiểu về mạch nguồn cảm hứng chính là một yếu tố quan trọng vàcăn bản để ta chỉ ra được nhà thơ/nền thơ đó thuộc về cội nguồn lịch sử nào,không gian văn hóa nào, cộng đồng tộc người nào, và nó đặt trong một tiếntrình vận động ra sao

2.2 Những mạch nguồn cảm hứng trong thơ dân tộc Dao thời kì hiện đại

2.2.1 Mạch nguồn cảm hứng từ những đề tài truyền thống

Có thể nhận thấy một điều rất rõ, thơ ca Dao chủ yếu bắt nguồn cảmhứng từ những mảng đề tài đậm tính truyền thống Nổi bật lên trong đó lànhững đề tài như: tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống; ý thức về tộc người; tìnhyêu với quê hương, đất nước Đáng chú ý, đặc điểm này thể hiện rõ ràng và nổibật, đậm nét nhất là ở giai đoạn mở đầu của thơ ca Dao thời kì hiện đại, tức lànhững thập niên giữa thế kỉ XX, với thơ của những tác giả như Bàn Tài Đoàn,Triệu Đức Thanh.v.v

2.2.1.1 Tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống

Mỗi người đều được sinh thành, nuôi dưỡng và sống trong môi trườngcủa cộng đồng mình, gắn bó với nó như những điều không thể tách rời Sự gắn

bó ấy có thể thường bắt nguồn từ những gì gần gũi, thân thuộc, bình dị nhất

-đó là cảnh sắc thiên nhiên, và đằng sau -đó là những điều mang ý nghĩa lớn laosâu sắc - đó là cuộc sống Vì vậy, một trong những tình cảm thường trực, sâusắc của con người chính là tình yêu với thiên nhiên, cuộc sống

Trang 29

Với bất kì một người bình thường nào, tình cảm đó đã trở thành một thứhết sức tự nhiên Còn với một nhà thơ, những người vốn tinh tế, nhạy cảm, giàusuy tư, thì tình yêu thiên nhiên và cuộc sống lại càng trở nên sâu đậm, tạonguồn cảm hứng lớn cho sáng tác của họ Thơ ca của các nhà thơ dân tộc Daothời kì hiện đại cũng thể hiện rõ điều này.

Đọc thơ của các nhà thơ người Dao, chúng ta có thể hình dung và cảmnhận bức tranh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt và lao động của đồng bào Dao.Trước hết, đó là một bức tranh thiên nhiên vừa khắc nghiệt, vừa tươi đẹp, kì vĩ

(Bản Chang - Bàn Tài Đoàn)Vùng đất Nguyên Bình (Cao Bằng) với đá núi cây rừng nhiều hơn đồngruộng được Bàn Tài Đoàn - người con dân tộc Dao của mảnh đất này, miêu tảđầy ấn tượng trong thơ:

Đất châu Nguyên Bình bao la rộng Ruộng đồng thì ít, núi nhiều thay Phía Nam núi đất, rừng xanh biếc Phía Bắc đá nhọn chọc trời mây

(Phai Khắt, Nà Ngần - Bàn Tài Đoàn)Điều đáng nói là, có thể thấy rằng thiên nhiên ở đây tuy đầy khắc nghiệt

và thử thách, nhưng mang trong mình những vẻ tươi đẹp chỉ nó mới có được

Vẻ đẹp và sức sống ấy có lẽ chỉ các nhà thơ Dao - những người luôn mạnh mẽ,lạc quan, nghị lực, mới phát hiện và cảm nhận được:

Trang 30

Con suối Khuổi Sao có nhiều thứ

Cá lội tìm rêu, tôm múa theo

Đá to đá nhỏ ngồi bên suối Sớm chiều nghe suối chảy reo vui

(Khuổi Sao - Bàn Tài Đoàn)

Rõ rằng, họ đã vượt lên những trở ngại, khó khăn mà điều kiện tự nhiênvốn đặt ra như vậy, để luôn luôn có cái nhìn tươi tắn, tin yêu với cuộc sống bảnlàng, núi rừng Thiên nhiên tạo hóa dù thế nào cũng vẫn chỉ là vô tri vô giác, nó

có tươi đẹp hay không, có đáng yêu hay không, có sức sống hay không, tất cả là

do đôi mắt và tâm hồn của người nhìn ngắm Như vậy, càng thấy rằng ngườiDao mà ở đây là các nhà thơ Dao có tâm hồn khoáng đạt, có tình yêu quêhương bản làng mạnh mẽ đến thế nào

Không chỉ phác họa và tái hiện bức tranh thiên nhiên núi rừng, các nhàthơ Dao còn hướng ngòi bút đi sâu vào cuộc sống lao động nghèo khó lam lũnhưng gắn bó, gần gũi

Điều đầu tiên dễ nhận thấy, đó là sự nghèo khó, thiếu thốn vất vả và sựlam lũ nhọc nhằn trong đời sống hằng ngày của người Dao nơi núi cao:

Ngẩng đầu thấy núi cao chót vót Cúi đầu thấy đá chồng chất nhau Bắc gùi xuống đất trên khe đá

Nó mọc lên không chịu ra hoa Con khóc đòi ăn cơm chấm muối

Mẹ tìm đâu hạt muối cho con?

(Muối Cụ Hồ - Bàn Tài Đoàn)Người Dao xưa đã trải qua những năm tháng tăm tối, quẩn quanh giữanúi rừng, bị bủa vây bởi cái đó nghèo không lối thoát Đó là những kí ức thấmđẫm nước mắt:

Trang 31

Nhớ mẹ kể từ thời còn nhỏ Chuyện đời tổ tiên họ Bàn ta Trên lưng cái địu đeo nghèo khổ Quanh quẩn núi rừng chẳng lối ra

(Nhớ lời mẹ kể về họ Bàn - Bàn Tài Đoàn)Vượt lên trên tất cả những thử thách đầy khắc nghiệt của điều kiện khókhăn ấy, người Dao cần mẫn trong lao động, để hôm nay mỗi một thành quảđều thấm đẫm những giọt mồ hôi:

Từng giọt mồ hôi thấm vào đá núi Cổng trời hiên ngang mang dáng mẹ Cao nguyên.

Mã Pì Lèng xưa núi đá xưa Nay đã thành những con đường lớn.

(Cung đường mùa xuân - Triệu Đức Thanh)

Dù hôm nay, mọi thứ đã đổi thay, đời sống đã yên ấm hơn xưa, nhưng kí

ức về những tháng năm du canh du cư đầy gian khổ vẫn không thể nào phai mờtrong tâm trí, người Dao Nó cũng như lời nhắc nhở người Dao dù bất kì hoàncảnh nào cũng phải nhớ cội nguồn, phải gắn bó với quê hương, dù thế nào vẫnphải nhớ trên núi vẫn là nơi người Dao ở:

Đã trải qua bao đời ta cực khổ Chặt gốc, ăn ngọn, sống du cư Mưa hoà gió thuận còn tạm đủ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn) Dường như, cũng chính cuộc sốngnơi núi cao nhiều khó khăn và thách thức đã tôi luyện trui rèn cho con người

nơi đây những tính cách, phẩm chất đầybản lĩnh Thơ là người, đọc thơ các nhà thơ Dao chúng ta cũng hình dung cảmnhận được tính cách và đời sống tinh thần của người Dao

Trang 32

Chỉ với những câu thơ ngắn gọn và giản dị, nhà thơ Bàn Tài Đoàn đãkhái quát một cách tinh tế và sâu sắc về cá tính và cốt cách người Dao Đó lànhững con người mạnh mẽ ngang tàng, chân thành thủy chung tình nghĩa:

Người Dao nghèo khổ mà hiên ngang…

Dũng cảm, yêu thương, lòng chân thật Thuỷ chung với bạn, với nước non

(Cái gì đẹp nhất - Bàn Tài Đoàn)Trong khi đó, nhà thơ Triệu Kim Văn còn phát hiện và chỉ ra sự lãngmạn, tinh tế, giàu khát vọng ước mơ của những người Dao luôn tràn trề sức trẻ:

Trai gái nhanh tay Tiếng gọi vọng khắp đồi

Mà em cứ cúi tìm những ước mơ nho nhỏ Những nẹp chỉ màu sợi mềm thật đỏ

(Mùa sa nhân - Triệu Kim Văn)Hình tượng những sợi chỉ màu như là biểu tượng đẹp đẽ cho tình yêu,cho ước vọng trong tâm hồn người Dao, một lần nữa được hiện lên trong bứctranh thơ - bức thổ cẩm ngôn từ ấm áp yêu thương của Bàn Tài Đoàn:

Em còn đang say sưa thêu áo Tìm kiếm lấy chỉ xanh chỉ hồng Thêu đẹp hình hoa, hình sóng bão

Áo che người xuân hạ thu đông

(Xuân đến sớm - Bàn Tài Đoàn)Con người là tâm điểm trong bức tranh đời sống dân tộc Dao, từ đó lantỏa và tụ thành những vẻ đẹp của đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào nơiđây Con người xây nhà cửa, tạo làng bản, dựng quê hương, và quá trình ấy đãkết tinh lại thành những đặc sắc về phong tục tập quán bản làng Các nhà thơDao đã miêu tả, tái hiện, ghi khắc rất sống đọng và ấn tượng những những nétđộc đáo trong phong tục tập quán ấy của người Dao

Trang 33

Nhà thơ Bàn Tài Đoàn đã tái hiện lại những lệ lục lễ tiết trong các sinh hoạt cộng đồng đồng của người Dao:

Lệ làng bạc trắng mấy chục lạng Rượu thịt mấy gánh đè lên đầu.

(Đêm không ngủ - Bàn Tài Đoàn)

Vẻ đẹp văn hóa kết đọng và lan tỏa qua những câu chuyện cổ, những điệu hát dân gian mà các bà, các mẹ vẫn kể vẫn hát cho cháu con qua bao đời:

Truyện cổ tích con nghe mẹ kể Đoạn vui mẹ “lượn”, mẹ say sưa

(Con của mẹ - Bàn Tài Đoàn)

Ý thức về dân tộc, các nhà thơ Dao càng thêm yêu quý trân trọng những

di sản văn hóa tinh thần mà cha ông nhiều đời truyền nối để lại, kết tinh tronglời ăn tiếng nói, trong những tập tục đặc sắc của tộc người mình:

Tiếng cha ông chút héo gầy Vẫn tường gan ruột đông tây một dòng Muốn thành người lớn đàn ông

Quá tăng sắc cấp hàm phong chữ thầy

Xe duyên trời đất cao đày Đón đưa cũng thế một ngày hội hoa

( Lối cỏ - Triệu Kim Văn)Trải qua một chiều dài lịch sử nhiều gian khó của những năm tháng cứđâu có thể dựng nhà làm nương là đi, hôm nay người Dao đã bỏ được lệ tục ducanh du cư lạc hậu Hạnh phúc và yên lòng biết bao khi đồng bào Dao hôm nay

đã làm giàu đẹp quê hương ngay ở nơi mình sinh sống:

Nơi nào rừng xanh nhiều gỗ quý

Ta coi rừng xanh là ruộng nương

Ta coi rừng cây là thóc gạo Nuôi sống người Dao, đẹp quê hương

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn)

Trang 34

Người Dao có một phong tục rất đặc biệt, đó là cứ vào ngày mùng mộttết mọi người dạy rất sớm để đi lấy nước ở khe núi lấy lộc đầu năm:

Dạy mùng một mọi người dậy sớm Hứng nước khe lấy lộc nghĩa lộc ân

(Con sẽ về - Triệu Kim Văn)Tết của người Dao rất nhộn nhịp, tết là một dịp để họ có thể đi chơi, đichợ, thịt lợn, không khí rất đầm ấm Đây cũng là ngày mà mọi người quây quầnbên nhau, cạnh bàn thờ tổ tiên, cùng nhau cạn ly rượu tết:

Đào năm nay nở muộn Tết đã đến nơi rồi

Đi xa mà chẳng muốn Một đôi ngày thảnh thơi Một đôi ngày quê chơi Bánh chưng tay tự gói Khẩu thết và khẩu sli Của hương rừng cỏ nội Chợ xa nhiều việc vội Thịt lợn vật trong chuồng Bát tiết canh nóng hổi Với đủ tim-gan-lòng Đêm ba mươi ấm nồng

Cả nhà vui họp mặt Khói hương thờ nghi ngút Gần lại cùng tổ tiên Năm mới chạm mái nhà Chén rượu ngon uống cạn Mấy khi về với bản

Đầu xuân ai tính ngày

(Ngày xuân ở quê - Triệu Kim Văn)

Trang 35

Người Dao cũng có phong tục gói bánh chưng truyền thống, nhưng bánhchưng của họ không phải là bánh chưng tép tròn hay bánh chưng vuông, mà làloại bánh chưng dẹt hai đầu và lồi ở giữa:

Cái bánh chưng hai đầu vẫn dẹt Biết cất lời gì để đón khách xa

(Con sẽ về - Triệu Kim Văn)Người Dao cũng có tết thanh minh, họ đi tảo mộ, đây là dịp để người cònsống bày tỏ lòng biết ơn đối với người đã khuất Đây thực sự là một phong tụcrất đẹp không những chỉ của người Dao mà còn của rất nhiều dân tộc khác ởnước ta:

Ngày thanh minh Những linh hồn dưới mộ cũng không ngủ được

Vì người trần gian lũ lượt đi trẩy hôi

Cả đi đắp mộ cho người nhà Khói hương nghi ngút trời xa

……

Ngày thanh minh Trở thành ngày vui vẻ Ngày mang ơn

Và cả biết ơn Mỗi người ta cũng thánh thiện hơn

(Ngày thánh thiện - Triệu Kim Văn)Phải là người am hiểu và quan sát rất kỹ những phong tục lễ tết của dântộc mình thì ông mới có thể khắc họa nó một cách sinh động và giàu màu sắcnhư vậy trong thơ Qua đây ta có thể hiểu thêm hơn về đời sống văn hóa củađồng bào miền núi nói chung và dân tộc Dao nói riêng

Bên cạnh phong tục những ngày tết dân tộc Dao còn có lễ cấp sắc Đây làmột lễ rất quan trong đối với người Dao Người con trai dân tộc Dao từ mười

Trang 36

lăm đến hai mươi tuổi đều phải trải qua nghi lễ này Bởi chỉ có trải qua nghi lễnày họ mới được công nhận là người lớn, mới được tham gia các hoạt động xãhội, được làm thầy cúng… Còn nếu không làm lễ này thì họ sẽ không được coi

là người lớn, không được ngồi mâm trên, không dược làm thầy cúng, khôngđược công nhận là con cháu Bàn Vương Chính vì vậy mà khi sống nếu chưalàm lễ này thì khi chết con cháu phải làm hộ, vì chỉ có thế họ mới được siêuthoát, mới được trở về với tổ tiên Lễ cấp sắc được xem như là một tờ giấythông hành, hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tục lệ này, nhà thơ Triệu Kim Văn đãphản ánh nó trong thơ của mình Nhà thơ Triệu Kim Văn tìm lại những trầmtích văn hóa ẩn sâu trong từng nét hoa văn trên vạt áo thầy tào, qua bao đời vẫn

in đậm trong tâm trí con cháu người Dao:

Tôi về đêm quá tăng cấp sắc Những bản kê còn sót lại áo thầy tào Đeo lủng lẳng với hội đèn điệu múa Găm vào tâm thức con cháu Bàn Dao Tôi về đêm quá tăng cấp sắc

Bạc đầu làm đứa trẻ con Chợt rưng rưng trước chùm kê lúc lắc Biết hạt gieo cỏ nảy mầm

(Quả kê còn lại - Triệu Kim Văn)Qua đây ta thấy được vai trò của lễ cấp sắc đối với người Dao là vô cùngquan trọng Đây là một phong tục đẹp cần được quan tâm đúng mức hơn Vìnhư đã biết ở Nhật Bản cũng có một nghi lễ người ta giành cho những đứa trẻ

nhỏ gọi là “lễ trưởng thành” Lễ này được tổ chức rất vui, có ý nghĩa nhân văn

và giáo dục rất lớn Chính vì vậy, nó trở thành nét đẹp văn hóa nếu như gạt bỏnhững thủ tục rườm rà, lạc hậu Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngườiDao đã có cuộc sống đầy đủ hơn và có sự tiến bộ hơn trong việc thể hiện cáctập tục, nghi lễ trong đời sống hàng ngày

Trang 37

Ở miền núi cũng như các vùng quê khác trên đất nước ta đều có văn hóachợ Chợ ở miền núi chủ yếu là chợ phiên, chợ phiên có thể năm ngày mộtphiên, một tháng hai phiên hay một tháng một phiên Do đặc điểm là chợ phiênnên chợ họp thường rất đông vui:

Chợ đông như hội Chợ của người dân nghèo lặn lội Chợ của gái trai

Chợ họp bên đồi Mỗi năm chỉ một Hỏi tìm tình Chẳng ai bán ai mua Chỉ thấy má hồng môi thắm Trai tài gái sắc chen đua Chỉ nghe câu sli, câu lượn Trong sương trong nắng ban trưa

(Chợ tình Xuân Dương - Triệu Kim Văn)Tất cả những điều từ nhỏ bé giản dị đến lớn lao ý nghĩa đó, từ bức tranh thiên nhiên hiểm trở hùng vĩ mà tươi đẹp cho đến đời sống sinh hoạt, tính cách

Trang 38

con người, phong tục tập quán bản làng,… đã khẳng định sâu sắc tình yêu và sựgắn bó của người Dao với cuộc sống vùng quê núi rừng miền cao.

2.2.1.2 Ý thức về tộc người

Mỗi một cộng đồng đều có một diễn trình lịch sử của mình, từ hìnhthành, lớn mạnh, phát triển, hoàn thiện.v.v Trong diễn trình lịch sử ấy, người

ta cùng nhau từng bước hình thành nên ý thức về tộc người của mình Nó chính

là một điều vừa tự nhiên vừa sâu sắc, một trong những yếu tố cốt lõi làm nênbản sắc, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác

Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người Tộc ngườitheo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sửtrên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặcđiểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngônngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với cáctộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người)

Ý thức tộc người bao hàm sự tự khẳng định của cộng đồng qua trường kìlịch sử gồm cộng đồng kí ức, cộng đồng hiện tại và cả cộng đồng tương lai vớinhững giá trị chính trị, đạo đức cùng khát vọng về sự phát triển Ý thức tộc ngườivừa hòa nhập tự nhiên vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân vừa có khảnăng tạo ra khoảng cách để xác lập đời sống riêng của tộc người Ý thức tộc

người, do vậy, là sản phẩm văn hoá đồng thời là điểm xuất phát của sáng tạo vàgìn giữ văn hoá tộc người Ý thức tộc người là nhân tố trực tiếp làm nên tinhthần, cốt cách của dân tộc

Theo các truyền thuyết, tư liệu lịch sử văn hóa về người Dao, thủy tổ củangười Dao là Bàn Hồ (Bàn Vương) ở phương Bắc xa xôi, vốn từ trên trời giángxuống trần gian Do lập nhiều công trạng đánh đông dẹp bắc, nên Bàn Hồ đượcBình Hoàng gả cung nữ Ông sinh được 6 người con trai và 6 người con gái 12con lấy 12 họ khác nhau, lập ấp sinh sống ở các vùng khác Do đất chật, ngườiđông, chiến tranh liên miên, nên các dòng họ Dao phân tán đi khắp ngả

Trang 39

Thái cực tiên sinh, sinh Bàn Cổ Khai bảo nguyên niên vua ra đời Chưa có trời mà đã có đất

Trước có Ngọc Hoàng với Bàn Cổ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa thân Bàn Cổ ba trăm sáu hóa thân Mắt trái biến thành mặt trời đỏ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn

Cỏ tranh trên đồi là tóc biển

Cá nước dưới biển là tim gan Răng biến thành vàng bạc

Móng chân tay biến thành ngôi sao Chín khúc minh chu với lục tạng Ruộng đồng cày cấy là chân ông

(Bàn Vương xướng)Những cuộc thiên di của họ vô cùng vất vả, gian khổ, phải vượt qua khôngbiết bao nhiêu sông, núi, rừng hoang cách trở Họ bị chết hàng loạt vì đói khát, vì

bị kẻ thù truy sát, tộc người bản địa sát hại.v.v Mỗi cuộc thiên di là cả họ ngườiDao cùng kéo đi, đông đến hàng ngàn, hàng vạn người Thứ mà mỗi cuộc thiên di

họ đều phải mang theo và bảo vệ nghiêm cẩn như báu vật là những vật thờ tổ tiên.Trong cuộc thiên di, khi qua con sông, qua ngọn núi, người Dao đều bày lễ cúngrất linh đình tưởng nhớ tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ cho chuyến vượt sông, leonúi Những đồ cổ của tổ tiên truyền lại được bày ra trong lễ cúng Cuộc thiên di vôcùng vất vả, khốc liệt và sự tồn tại của người Dao cho đến ngày hôm nay, theo suynghĩ của họ, là nhờ sự phù hộ của tổ tiên Chính vì lẽ đó, người Dao rất coi trọngviệc thờ cúng thần linh và tổ tiên Những vật dụng của tổ tiên

Trang 40

được họ giữ gìn cẩn trọng như báu vật và trong những buổi lễ truyền thống, họmang “kho báu” đó ra để dâng tổ tiên bằng lòng thành kính với những nghi lễtối cổ.

Lịch sử của người Dao có thể nói là lịch sử của những cuộc thiên di Nó

là một ám ảnh in hằn trong tâm thức của đồng bào Dao Thơ ca của các nhà thơDao đã dành một sự trăn trở, suy tư thường trực về những cuộc thiên di này

Sau bước chân miệt mài của cuộc đời, nhà thơ Bàn Tài Đoàn không khỏi

có những suy tư nặng trĩu khi nghĩ về những cuộc du canh du cư trải dài lịch sửcủa đồng bào Dao:

Gác tay lên trán, lòng tôi nghĩ Đêm nằm khó ngủ nhớ đồng bào Bao nhiêu đời, bước chân chưa nghỉ Cuộc sống du canh dân tộc Dao

(Người Dao suy nghĩ gì - Bàn Tài Đoàn)

Là một người con dân tộc Dao đã cùng đồng bào trải qua bao nhiêu cựckhổ và long đong, thấu hiểu những bước chân mưu sinh đầy bất trắc, ôngkhông khỏi xót xa thương cảm khi nghĩ về đồng bào của mình:

Làng xóm không nơi nào ổn định Bốn phương trời: nay ở, mai đi…

Đã trải qua bao đời ta cực khổ Chặt gốc, ăn ngọn, sống du cư Mưa hòa gió thuận còn tạm đủ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ

(Trên núi vẫn là nơi ta ở - Bàn Tài Đoàn)Không chỉ các nhà thơ thuộc thế hệ đầu của thời kì hiện đại, mà đến thơcủa các nhà thơ trẻ người Dao đương đại cũng vẫn thể hiện rất sâu sắc nỗi ámảnh trong tiềm thức về những cuộc thiên di của tổ tiên mình:

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:33

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w