1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay

102 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 551,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ THỊ NGỌC VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG VIỆCTHỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ TR

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ NGỌC

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG VIỆCTHỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1 Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, VỀ BÌNH

ĐẲNG DÂN TỘC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI VẤN ĐỀ NÀY Ở NƯỚC TA HIỆN NAY……… 9

1.1 Nhận thức chung về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc……… …91.2.Mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta

hiện nay……… 35

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở

NƯỚC TA HIỆN NAY……….………50

2.1 Thực trạng của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước tahiện nay……… .502.2 Một số giải pháp phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bìnhđẳng dân tộc ở nước ta hiện nay 82

KẾT LUẬN……… .…92 DANH MỤC TAIF LIỆU THAM KHẢO……….94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dântộc Giáo dục và đào tạo đã góp phần to lớn trong việc tạo ra những con người có tàinăng, trí tuệ, là nguồn lực quyết định đến thịnh suy của một đất nước Sự lạc hậu vàkém phát triển của một dân tộc, một quốc gia có nguyên nhân trực tiếp từ giáo dục vàđào tạo Đặc biệt là trong thời đại khoa học và công nghệ hiện nay, khi hàm lượngchất xám chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các sản phẩm lao động, thì dân tộc nào,quốc gia nào coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài sẽ tận dụng được cơ hội, điều kiện để vươn lên kịp với đà tiếnchung của thế giới

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tới86,2%, còn lại là các dân tộc thiểu số, chỉ chiếm 13,8% dân số cả nước Phần lớn, cácdân tộc thiểu số cư trú tập trung ở các vùng miền núi, nơi có điều kiện sinh sống còngặp nhiều khó khăn; đồng thời đây cũng là nơi có vị trí chiến lược quan trọng về kinh

tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái, sự thông thương với nước ngoài…, kẻthù hay tìm cách lợi dụng để phá hoại cách mạng nước ta ở những nơi này

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xâydựng, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ củanhân dân Đến nay, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước vẫn nhất quán vớinguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Thực tiễn cáchmạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh tính đúng đắn và khoa học của chínhsách dân tộc ở nước ta Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,hiện nay, giữa các dân tộc trong nước còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ pháttriển trên các lĩnh vực Điều này đã tác động và gây ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, cần phải có những giải pháp phùhợp nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn chính sách bình đẳng dân tộc ở nước ta

Xuất phát từ thực trạng thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trongnhững năm qua, giáo dục và đào tạo nước ta đã có tầm quan trọng đặc biệt trong việcthực hiện bình đẳng dân tộc Giáo dục và đào tạo có vai trò nâng cao dân trí, đào tạonguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cần phải đi trước một bước mới tạo được sự bình

Trang 6

đẳng thật sự về cơ hội phát triển cho các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số Có như vậy,khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc sẽ dần được xoá bỏ, dântộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, miền núi tiến kịp miền xuôi, bình đẳng dân tộc đượcthực hiện trên thực tế Đến lượt nó, khi bình đẳng dân tộc được thực hiện lại trở thành mộttrong những yếu tố tạo động lực phát triển cho giáo dục và đào tạo nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, nếukhông có kiến thức thì không thể bình đẳng với các dân tộc khác được Như vậy, giữagiáo dục và đào tạo với việc thực hiện bình đẳng dân tộc là có mối quan hệ tác độngqua lại, trong đó, phát triển giáo dục và đào tạo cả nước nói chung, phát triển giáo dục

và đào tạo vùng dân tộc thiểu số nói riêng là cơ sở quan trọng để thực hiện bình đẳngdân tộc

Do đó, tác giả chọn vấn đề: “Vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực

hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

Ở Việt Nam, liên quan đến đề tài, đã có nhều công trình nghiên cứu Xét theophạm vi và đối tượng nghiên cứu, có thể chia thành các nhóm như sau:

2.1 Nhóm nghiên cứu về giáo dục và đào tạo.

2.1.1 Các văn kiện của Đảng cộng sản và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục –

đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã nêu

rõ thực trạng giáo dục và đào tạo; định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đàotạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáodục và đào tạo từ nay đến năm 2000; những giải pháp chủ yếu; tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với giáo dục Về giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, trong Nghịquyết nêu rõ: “Đối với miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn, xoá “điểm trắng” về giáodục ở ấp, bản Mở thêm các trường dân tộc nội trú và các trường bán trú ở cụm xã, cáchuyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học để đào tạo cán bộ cho cácdân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo và quản lý” [19, tr 35 ]

Trang 7

- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp

hành trung ương khoá IX có Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2

khoá VIII và phương hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010.Phần kiểm điểm, đánh giá, nguyên nhân tập trung vào 5 nội dung lớn: quy mô giáo dục;chất lượng giáo dục; quản lý giáo dục; phát triển giáo dục vùng dân tộc và các vùng khókhăn; giải quyết các điều kiện phát triển Báo cáo đã nêu ra các chỉ tiêu cụ thể đối với cáccấp, bậc học, nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục… Liên quan tới giáo dục và đào tạovùng dân tộc thiểu số có chính sách ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộcthiểu số Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểusố… Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với các vùng này

- Chính phủ, số: 201/2001/QĐ-TTg, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về

việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010”, ngày 28/12/2001, đã nêu rõ

các vấn đề: tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay; bối cảnh và thời cơ, thách thức đối vớigiáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới; các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục; mục tiêuphát triển giáo dục đến năm 2010; các giải pháp phát triển giáo dục; tổ chức thực hiện chiếnlược Liên quan tới phát triển giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số, trong Chiến lược

đã nêu rõ: ưu tiên phát triển các cơ sở giáo dục ở những vùng còn đặc biệt khó khăn

- Quốc hội, luật số: 38/2005/QH11, Luật Giáo dục (2005) đã khẳng định giáo

dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của cả toàn dân.Luật nêu rõ mục đích, vai trò và căn cứ xây dựng luật, phạm vi điều chỉnh, quy định về

tổ chức và hoạt động giáo dục, những quy định chung về giáo dục… Liên quan tớichính sách ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ,trong Luật Giáo dục đã có qui định rõ tại Điều 82, Mục 3, Chương IV về chính sáchđối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, có điều kiệnkinh tế – xã hội còn đặc biệt khó khăn; Điều 89, 90 trong Mục 2, Chương V về chínhsách đối với người học, chế độ cử tuyển…

2.1.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục và đào tạo.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Tập văn bản các chế độ chính sách có liên

quan tới học sinh, sinh viên (lưu hành nội bộ), tổng hợp các Quyết định, Nghị định

3

Trang 8

của Chính Phủ, các Thông tư liên tịch của các Bộ liên ngành về chế độ chính sách có liên quan đến học sinh, sinh viên.

- Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Trung tâm Thông tin và tư vấn phát triển

(2005), Giáo dục Việt Nam 1945 – 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, nêu tổng

luận lịch sử phát triển giáo dục Việt Nam qua từng thời kỳ: 1945 – 1986; 1986 – 1990;

1990 – 1995; 1995 – 2000; 2000 - 2003; 2003 – 2005 Trong mỗi thời kỳ, các tác giảđưa ra số liệu cụ thể về số lượng trường, lớp, giáo viên ở từng cấp bậc học

- GS,TS Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên) (2007), Giáo dục Việt Nam những năm

đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, làm rõ một số vấn đề chung của giáo dục Việt

Nam những năm đầu thế kỷ XXI: tình hình, phương hướng phát triển giáo dục ViệtNam; hệ thống giáo dục quốc dân: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dụcnghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên

- Tác giả Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoa (Chủ biên) (2008), Giáo dục và đào tạo

– chìa khoá của sự phát triển, Nxb Tài chính, làm rõ về vai trò của giáo dục và đào tạo

trong tư duy và thực tiễn phát triển hiện đại; những thành tựu và yếu kém của hệ thốnggiáo dục; nguyên nhân của những yếu kém trong giáo dục và đào tạo; phát huy

tác dụng của giáo dục và đào tạo trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội

2.2 Nhóm nghiên cứu về vấn đề dân tộc (có đề cập đến bình đẳng dân tộc) ở nước ta.

2.2.1 Các văn kiện của Đảng Cộng sản và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, khẳng định: Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết,

tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước

- Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp

hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc phân tích rõ những thành tựu đã đạt

được, những mặt thiếu sót, yếu kém trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, đưa

ra quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn cán bộ trong tình hình hiện nay Dựa trên nhữngquan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc,Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nguyên tắc cơ bản là:

Trang 9

“bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”.

- Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X , đã có sự điều chỉnh về nguyên tắc trong chính sách dân tộc của nước ta phù hợp

với đặc điểm tình hình mới là: các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nambình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

- Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số

34/2006/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 -2010 xác định rõ mục tiêu: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức

xã người dân tộc thiểu số, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng,

có phẩm chất và năng lực, đảm bảo về tiêu chuẩn, cơ cấu dân tộc, trình độ…thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số

- Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số

07/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 – 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II ).

2.2.2 Các công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc (có liên quan đến bình đẳng dân tộc) ở nước ta.

- GS.TS Trịnh Quốc Tuấn (Chủ biên) (1996), Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện

nay - vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày nội

dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dântộc, phản ánh thực trạng tình hình các dân tộc ở nước ta, sự phát triển không đồng đều,tình trạng chênh lệch lớn trên nhiều lĩnh vực giữa các dân tộc, nguyên nhân của sựchênh lệch, các giải pháp khắc phục sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc

- GS.TS Phan Hữu Dật (Chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp

bách liên quan đến quan hệ dân tộc hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học KX 04 - 05 thuộc chương trìnhkhoa học và công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1996 – 2000 Nội dung chương I của đềtài trình bày: khái niệm dân tộc, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn

đề dân tộc Trong chương III của đề tài bàn đến chính sách dân tộc của Đảng Cộng

Trang 10

sản Việt Nam và quan hệ dân tộc ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương với chuyên đề Vấn đề dân tộc và chính

sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Chuyên đề phân tích tình hình, đặc điểm mối quan hệ giữa các dân tộc, tộc người trênthế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, từ đó đưa ra những cơ sở lý luận và thựctiễn cho việc xây dựng chính sách dân tộc của Đảng, nội dung và những phươnghướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc

- Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Bộ Khoa học và Công nghệ (2006),

Đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu giải pháp đảm bảo bình đẳng và tăng cường hợp

tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở miền núi”,

chủ nhiệm đề tài GS,TS Hoàng Chí Bảo Đề tài đưa ra giải pháp: đào tạo nguồn nhân lực

chất lượng cao cho các vùng dân tộc thiểu số và miền núi từ hệ thống

các trường DTNT, các trường đào tạo nghề, các trường đại học, cao đẳng

- Tô Văn Vỹ (2009), Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số cơ sở quan trọng

để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, Tạp chí Mặt trận Tổ quốc số 59 Trong bài

viết, tác giả đã nêu khái quát những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo vùngdân tộc thiểu số, tìm ra nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế, từ đó nêu ra nhữngvấn đề cần quan tâm trong sự nghiệp giáo dục của vùng Bài viết đề cập đến mối quan

hệ giữa phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số với việc thực hiện bình đẳng dân tộc

ở nước ta

Các công trình nghiên cứu trên đây đều trực tiếp (hay gián tiếp) có liên quan đếngiáo dục và đào tạo, bình đẳng dân tộc và mối quan hệ giữa hai vấn đến này ở nước ta,song vẫn còn thiếu những công trình lý luận phân tích một cách toàn diện, có hệ thốngmối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với việc thực hiện bình đẳng dân tộc theo góc độduy vật biện chứng để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu nhằm phát huy tốt vai tròcủa giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở lý luận về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc và mối quan hệgiữa hai vấn đề này, luận văn phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thựchiện bình đẳng dân tộc, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò

Trang 11

quan trọng này của giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ những vấn đề nhận thức chung về giáo dục và đào tạo; về bình đẳng dân tộc

- Phân tích mối quan hệ qua lại giữa giáo dục và đào tạo với thực hiện bình đẳngdân tộc ở nước ta

- Phân tích thực trạng vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bìnhđẳng dân tộc ở nước ta

- Đề ra những giải pháp phát huy tốt hơn vai trò của giáo dục và đào tạo trongviệc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Nghiên cứu về vai trò của giáo dục và đào tạo với việc thực thực hiện bình đẳngdân tộc ở nước ta từ khi có Văn kiện chuyên đề của Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp

hành Trung ương Đảng khoá VIII (1997) về định hướng chiến lược phát triển giáo

dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 cho đến nay.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam; đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua ở nước ta

có liên quan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã đứng vững trên cơ sở phươngpháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời vận dụng đồng bộ cácphương pháp chuyên ngành và phương pháp liên ngành:

- Phương pháp lôgíc - lịch sử

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thống kê, hệ thống hoá

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.

Ý nghĩa lý luận:

Luận văn góp phần làm luận cứ khoa học cho đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước về những vấn đề liên quan đến đề tài

Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Chương 1: Nhận thức chung về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc và mối quan hệ giữa hai vấn đề này ở nước ta hiện nay

Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay

Trang 13

Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, VỀ BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI VẤN ĐỀ NÀY Ở NƯỚC TA

HIỆN NAY 1.1 Nhận thức chung về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay.

1.1.1 Nhận thức chung về giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay.

a Quan niệm về giáo dục và đào tạo.

Giáo dục có thể hiểu một cách khái quát nhất là quá trình bao gồm tất cả cáchoạt động định hướng vào sự phát triển, rèn luyện năng lực (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo)

và phẩm chất (niềm tin, đạo đức, thái độ) ở con người để có được nhân cách đầy đủ vàtrở nên có giá trị tích cực đối với xã hội Hiểu một cách hẹp hơn, giáo dục là quá trìnhđược tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt và lĩnh hội nhữngkinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người Nhờ có giáo dục mà các các thế hệ conngười nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá của mỗi cộng đồng dân tộc và nền vănminh của cả nhân loại luôn được kế thừa, bổ sung

Cùng với khái niệm giáo dục, người ta còn dùng khái niệm đào tạo Đào tạo làquá trình phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ, tư cách… đòihỏi ở một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định Như vậy, đào tạođược hiểu là một dạng đặc thù của giáo dục, trong đó nó hướng nhiều về giáo dụcchuyên môn nghề nghiệp Trong thực tế, nhiều khi giáo dục được dùng theo nghĩarộng bao hàm cả đào tạo, Nhưng đầy đủ nhất là dùng cụm từ giáo dục và đào tạo

Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều tư tưởng, quan điểm cùng các kiểu giáo dụckhác nhau, phù hợp với từng thời kỳ phát triển xã hội nhất định C.Mác – Ph.Ănghen

và cả V.I Lênin, trong các nghiên cứu lý luận của mình, đều rất quan tâm đến vấn đềgiáo dục Sau này, trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, cho thấy giáo dục luôn có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Đến nay,

Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủnghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [5, tr 1]

Mục tiêu của giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay là đào tạo con người ViệtNam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,

Trang 14

trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡngnhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc.

Để đạt được mục tiêu và đảm bảo tính chất của nền giáo dục Việt Nam, yêu cầuđối với nội dung giáo dục và đào tạo nước ta là: “đi đôi với truyền thụ kiến thức, đàotạo nghề nghiệp, nâng cao năng lực tư duy sáng tạo, cần đặc biệt quan tâm bồi dưỡngphẩm chất, đạo đức cho học sinh, sinh viên; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trongnhà trường Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin; giảngdạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường học; coi trọng giáo dục về lịch sử, văn hiếnViệt Nam; giới thiệu tinh hoa văn hoá nhân loại cho thế hệ trẻ Giáo dục, đào tạo phảitheo hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề, trong đó “dạy người” là mụctiêu cao nhất Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,

có bản lĩnh vững vàng Có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi, có chí học tập,rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp bước các thế hệ đi trước, góp phầnđưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường” [19, tr.10-11] Yêu cầu về nội dung giáo dụcphải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáodục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc vănhoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm, sinh

lý lứa tuổi của người học

Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáodục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường phảikết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chúng ta cần ra sức phấn đấu xây dựngmột nền giáo dục tiên tiến có quy mô, trình độ và cơ cấu ngành nghề hợp lý

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhiều tổ chứcchính trị – xã hội của nhân dân với quan điểm coi giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu, nền giáo dục Việt Nam đã có những bước chuyển mới, góp phần nâng caodân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước.Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam từng bước được kiện toànnhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong những năm đổimới và tạo tiền đề cho sự hội nhập quốc tế

Theo quy định tại Điều 4, Chương I, Luật Giáo dục (2005), hệ thống giáo dục

Trang 15

quốc dân có giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân:

- Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi, gồm có:

+ Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi

+ Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi

+ Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em

từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi

- Giáo dục nghề nghiệp gồm có:

+ Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối vớingười có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông

+ Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp,

từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng

- Giáo dục đại học gồm có:

+ Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theongành nghề đào tạo đối với người có bằng trung học phổ thông hoặc có bằng tốt nghiệptrung cấp; từ một năm ruỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấpcùng chuyên ngành

+ Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tuỳ theongành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt

Trang 16

nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người

có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành

+ Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người

Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau:

- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên

- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cấp cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng

cơ sở sản xuất và đảm bảo kinh phí hoạt động

- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp Tổ chứckinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạtđộng bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước

Nhà nước tạo điều kiện để các trường công lập giữ vai trò nòng cốt

Trong hệ thống giáo dục Việt Nam có trường của cơ quan nhà nước, tổ chứcchính trị, chính trị – xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Trường

Trang 17

của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng; bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo,cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh đó, trong hệ thống giáo dục Việt Nam còn có các loại trường chuyênbiệt, bao gồm trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường

dự bị đại học; trường, lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật; trường giáo dưỡng

Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp với các loại hình đào tạo Về

cơ bản đã xoá được “xã trắng” về giáo dục mầm non; trường tiểu học và trung học cơ

sở đã có tới xã; trường trung học phổ trung có tới huyện, phần lớn các huyện đều cónhiều trường trung học phổ thông Hệ thống các trường dạy nghề, trung cấp chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học tuy được phân bố chưa đều, nhưng ở hầu hết các địa phươngtrong cả nước cũng có ít nhất một trong các loại trường nói trên

Về qui mô học sinh, sinh viên đều tăng qua các năm học Đội ngũ nhà giáo ởcác cấp bậc học tiếp tục được phát triển Do số lượng giáo viên ở các cấp, bậc học đềutăng lên, dẫn đến tỷ lệ giáo viên trên lớp cũng có những chuyển biến đáng kể trong cảnước Đại bộ phận nhà giáo tận tuỵ với nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thầntrách nhiệm cao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên,

có trình độ lý luận chính trị, tin học và ngoại ngữ

Trong những năm qua, giáo dục nhận được sự quan tâm và ưu tiên từ Trungương đến địa phương Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đã tăng đáng kể ngay

từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII)

Cùng với việc kiện toàn trong hệ thống giáo dục quốc dân, mạng lưới trườnglớp, các cấp bậc học, đội ngũ nhà giáo…, thì những vấn đề quan trọng khác của nềngiáo dục và đào tạo nước ta hiện nay như: ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo đốivới vùng dân tộc thiểu số, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chủ trương xãhội hoá giáo dục… cũng đã có những bước chuyển biến đáng kể, đáp ứng phần lớnnhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Mặc dù vậy, so với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là từ khi chúng

ta bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều

Trang 18

hạn chế, bất cập Giáo dục và đào tạo phải đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu học tập củanhân dân, tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân có thể tham gia học tập ở các trình độ.Giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục cho mọi người và là một nền giáo dục thực sự

có chất lượng

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủtrương, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo Đại hội VII đã khẳng định phát triểngiáo dục (cùng khoa học, công nghệ) là quốc sách hàng đầu Đến Nghị quyết Trungương 2 (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, thì vai trò quan trọngcủa giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước ngày càng được khẳng định

và giáo dục đã thật sự được coi là quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh

tế – xã hội của nước ta Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 –

2010 đã xác định rõ những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục nước ta, đó là:

Thứ nhất, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Thứ hai, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại,

theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, phát triển giáo dục và đào tạo phải đảm bảo gắn với nhu cầu phát triển

kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố quốc phòng

Thứ tư, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân

Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn

2001 – 2010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới mộtcách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáodục; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chấn hưng đất nước,đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triểntrong khu vực và trên thế giới

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục đưa ra và dần đi đến hoàn thiện

Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (dự thảo lầnthứ 23), lấy ý kiến của các cơ quan, ban ngành, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn này đã nêu ra: trong vòng 20 năm tớiphấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại, khoa học, dân tộc làm nền tảng cho sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển bền vững đất nước, thích ứng với nền

Trang 19

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội học tập, có khảnăng hội nhập quốc tế.

Quan điểm lấy phát triển giáo dục và đào tạo (cùng với khoa học và công nghệ)làm “yếu tố cơ bản, coi đó là khâu đột phá” [19, tr 9] khi đất nước bước vào thời kỳmới của Đảng ta càng khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo trong sựphát triển toàn diện của đất nước Vì vậy, phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bảnquan trọng nhất

b Tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển ở nước ta hiện nay Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dânchủ văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo Điều đó chứng tỏ, tầmquan trọng đặc biệt của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển toàn diện ở nước tahiện nay Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá VIII) về định huớng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã nêu rõ: “Giáo dục – đào tạo đãgóp phần nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học,trung học và đội ngũ cán bộ đông đảo phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

và an ninh quốc phòng Trong nông nghiệp, công nghiệp và một số ngành khác, độingũ cán bộ và công nhân nước ta có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng một

số công nghệ mới” [19, tr 21] Điều này càng khẳng định vai trò quan trọng của giáodục và đào tạo đối với sự phát triển ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí.

Dân trí là trình độ học vấn, trình độ hiểu biết về khoa học - kỹ thuật; tư chính trị, đạo đức và lối sống của nhân dân gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể vềkinh tế, văn hoá, chính trị - xã hội của dân tộc và quốc tế

tưởng-Trình độ học vấn là sự hiểu biết của nhân dân đối với những kiến thức phổ thông

về tự nhiên và xã hội Trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật là trình độ chuyên môn,khả năng thực hành về một lĩnh vực chuyên môn nào đó Lập trường tư tưởng – chínhtrị đúng, vững vàng, kiên định sẽ giúp con người có lý tưởng, có hoài bão, có sự địnhhướng trong tương lai; đạo đức nhất là đạo đức cách mạng sẽ giúp con người tự điều

Trang 20

chỉnh hành vi, hoạt động phù hợp với sự phát triển đi lên của xã hội; lối sống giản dị,văn minh, hiện đại sẽ dần loại bỏ những tập quán, thói quen, hủ tục lạc hậu.

Nâng cao dân trí là nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân Theo Chủ tịch HồChí Minh thì, nâng cao dân trí, trước hết là phải làm cho người dân “biết đọc, biếtviết”, sau đó phải học tập văn hoá Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ vănhoá thì không học tập được khoa học - kỹ thuật, không học tập được khoa học - kỹthuật thì không theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; nhưng phải chú ý học tậpchính trị vì nếu chỉ chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không học chính trị thì như ngườinhắm mắt mà đi

Nâng cao dân trí có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở nước ta hiện nay Nó là nhân tố cơ bản để phát huy nguồn nhân lực, làmột trong những yêu cầu của tiến bộ xã hội Vì vậy, vấn đề nâng cao dân trí trở thànhvấn đề cấp bách trong quá trình phát triển đi lên của nước ta

Như chúng ta đã biết, trình độ dân trí được đo bằng nhiều chỉ báo và được hìnhthành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó học vấn được xem như là chỉ báo quantrọng nhất Giáo dục và đào tạo là thiết chế quan trọng trong việc nâng cao trình độhọc vấn và phổ cập tri thức nói chung, mang lại cho cá nhân và cộng đồng những trithức cơ bản đã được xã hội công nhận Vì thế, giáo dục và đào tạo đã trở thành mộttrong các nhân tố góp phần nâng cao dân trí (cùng với khoa học – công nghệ và hệthống truyền thông đại chúng)

Giáo dục và đào tạo là phương thức chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để phát triển trítuệ, trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng, chuyên môn nghề nghiệp góp phần nângcao trình độ dân trí, cung cấp cho xã hội nguồn lao động có kỹ thuật cao – nhân tốquyết định đến sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây cũngchính là mặt trận hàng đầu trong công cuộc xây dựng cách mạng xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta hiện nay, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm từ giáo dục mầm nonđến giáo dục đại học, với các loại hình trường công lập và ngoài công lập, phương

thức đào tạo đa dạng chính quy và thường xuyên Đây là tiền đề quan trọng để xâydựng một xã hội học tập, nâng cao trình độ học vấn cũng như trình độ hiểu biết khoahọc - kỹ thuật, trang bị lập trường tư tưởng – chính trị vững vàng, đạo đức và lối sốngvăn minh cho quần chúng nhân dân

Trang 21

Giáo dục mầm non với mục tiêu giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách Giáo dục phổ thông vớimục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ vàcác kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hìnhthành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và tráchnhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống laođộng, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học

có sứ mệnh to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước Trình độ học vấn, trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật, lậptrường tư tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống - những nhân tố quan trọng của trình

độ dân trí được nâng cao chủ yếu là thông qua hệ thống giáo dục này

Trong thời đại ngày nay, một quốc gia được coi là giàu mạnh khi quốc gia đó

có nền kinh tế mạnh, có trình độ văn hoá, khoa học và công nghệ tiên tiến, chính trị ổnđịnh, và một tiêu chí đặc biệt quan trọng là quốc gia đó phải có một trình độ dân trícao Một quốc gia có trình độ dân trí cao bao giờ cũng là một quốc gia có một nềngiáo dục phát triển mạnh mẽ, thoả mãn nhu cầu học tập của nhân dân

Để trở thành một quốc gia có trình độ dân trí cao, thì giáo dục xã hội được thựchiện bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau, trong đó, con đường quan trọng nhất

là tổ chức dạy học trong nhà trường nhằm giúp học sinh, sinh viên nắm vững tri thứckhoa học và kinh nghiệm xã hội, hình thành phương pháp tư duy năng động và sángtạo và kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống Như vậy giáo dục trực tiếp bồidưỡng trình độ học vấn, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật, lậptrường tư tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống lành mạnh cho mỗi cá nhân, đó là conđường nâng cao dân trí xã hội

Thứ hai, giáo dục và đào tạo góp phần cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu

cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương

là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có được trong một thời điểm xácđịnh, tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhâncách…) của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội Đây làtài nguyên quan trọng nhất, cơ bản nhất của quốc gia, là yếu tố quyết định của lực

Trang 22

lượng sản xuất.

Khi xem xét đánh giá nguồn nhân lực ở bất kỳ quốc gia nào, người ta không chỉquan tâm về số lượng mà còn quan tâm về chất lượng với các yếu tố khác nhau như:năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, khả năng biến trí thức thành kỹ năng laođộng… Để đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng được những đòi hỏi ngàycàng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần đến một

hệ thống các giải pháp đồng bộ, từ giải pháp về giáo dục và đào tạo, về chăm sóc sứckhoẻ, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống, đến giải pháp về pháttriển văn hoá, tạo ra các động lực kích thích tính tích cực của con người…Trong hệthống các giải pháp đó, phát triển giáo dục và đào tạo chiếm vị trí hàng đầu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã đề ra mục tiêu phấn đấuđến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để thực hiện mụctiêu chiến lược mà Đại hội VIII đã đề ra, chúng ta cần khai thác và sử dụng nhiềunguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyếtđịnh, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hanhẹp Trong Hội nghị lần hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Đảng ta đã nêu rõ:nguồn nhân lực là “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chấttốt đẹp, được đào tạo, bồi bưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liềnvới một nền khoa học, công nghệ hiện đại Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạonguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học và công nghệ” [21, tr 8].Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: " Phát triểngiáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản

để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"[20, tr.108] Một trongnhững mục tiêu chung phát triển giáo dục của nước ta đến năm 2010 là: ưu tiên nângcao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học – công nghệtrình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếpgóp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Như vậy, trong quan niệm của Đảng và Nhà nước, phát triển mạnh giáo dục vàđào tạo là yếu tố không thể thiếu để phát huy nguồn lực con người trong công nghiệphoá, hiện đại hoá, là yếu tố tham gia một cách trực tiếp và đóng vai trò quyết định

Trang 23

trong chiến lược phát triển con người ở nước ta hiện nay.

Sở dĩ giáo dục và đào tạo được coi là “then chốt” để phát triển nguồn nhân lực

là vì trong các yếu tố cấu thành nên chất lượng lao động, thì hầu hết các yếu tố đều cóchịu sự tác động của giáo dục và đào tạo Muốn có năng lực chuyên môn, trình độ taynghề hay khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động tốt…đòi hỏi người lao độngphải được đào tạo một cách bài bản, khoa học ngay từ dưới mái trường Muốn có mộtthể lực tốt, ngoài chế độ ăn uống, thì công tác giáo dục thể chất đóng vai trò quantrọng Giáo dục thể chất không những giúp cho con người có thể lực tốt mà nó còn cótác dụng bổ trợ rất nhiều cho các kỹ năng, kỹ xảo trong các hoạt động sản xuất củacon người được nhanh nhẹn hơn, hoạt bát hơn

Giáo dục và đào tạo là con đường không thể thiếu để nâng cao trình độ vănhoá, trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý

và năng lực thực tiễn của người lao động Trong bối cảnh xã hội hiện đại, với nềnkhoa học tiên tiến và quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu lao động xã hội rất đa dạng,càng đòi hỏi người lao động phải được đào tạo qua hệ thống nhà trường, có kiến thứcsâu rộng, có nghiệp vụ, có phương pháp tư duy năng động…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp giáo dục mà chúng taxây dựng hiện nay có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung thành với sự nghiệpcách mạng của dân tộc, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua mọi tháchthức, đưa nước phát triển hoà nhịp chung với các nước trong khu vực và quốc tế Giáodục phổ thông có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng nhân cách và địnhhướng nghề nghiệp để đào tạo công nhân kỹ thuật Các trường dạy nghề, trường trung cấpchuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đang tham gia vào quá trình đào tạo công nhân, nhânviên kĩ thuật lành nghề, chuyên gia giỏi cho các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học, côngnghệ và quản lí nhà nước, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lượng, đápứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trongbài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã nêu rõ: “Phát triển mạnh giáo dục nghề nghiệp chothanh niên mà trọng tâm là đào tạo công nhân lành nghề có khả năng tiếp thu và ứng dụngcác loại công nghệ thích hợp, kể cả công nghệ hiện đại Khuyến khích và hướng dẫn dạynghề tại các doanh nghiệp Mở rộng quy mô

Trang 24

với cơ cấu hợp lý và nâng cao chất lượng giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhânlực có trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài” [19, tr 11].

Tại Mục 3 và Mục 4, Chương II, Luật Giáo dục (2005) của nước ta đã quy định:giáo dục nghề nghiệp có mục tiêu là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghềnghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tácphong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìmviệc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Đâychính là đội ngũ công nhân lành nghề, có trình độ và tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng; giáo dục đại học có mục tiêu chung làđào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiếnthức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ,đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, giáo dục Việt Nam đã và đang khởi đầu thực hiện nhiệm vụ đào tạonguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho khoa học và công nghệ Với vaitrò cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội ở nước tahiện nay, giáo dục và đào tạo ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc thay đổi nềnsản xuất vật chất của xã hội

Thứ ba, giáo dục và đào tạo góp phần bồi dưỡng nhân tài

Nhân tài là những nhân vật xuất chúng, có năng lực trí tuệ đặc biệt, có tầm nhìn

xa, trông rộng, có khả năng phát hiện và giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả nhữngvấn đề phức tạp, nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống ở từng giai đoạn lịch sử Nhân tàixuất hiện trong các thời đại, ở nhiều lĩnh vực

Từ những mầm mống tư chất về trí tuệ hay thể lực, với một phương pháp tiêntiến, nền giáo dục hiện đại có thể sớm phát hiện để bồi dưỡng làm phát triển hết tàinăng của con người

Mỗi quốc gia hiện nay đều quan tâm tới việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài,đồng thời có chính sách trọng dụng nhân tài Nhân tài được đào tạo, bồi dưỡng, đượctạo mọi điều kiện tốt nhất để làm việc, họ sẽ có những cống hiến hết sức to lớn, đemlại vẻ vang cho đất nước

Việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phải dựa trên việc thực hiện phổ cập giáodục một cách rộng rãi, qua đó mà sàng lọc, lựa chọn, phát hiện nhân tài từ cơ sở, ở

Trang 25

mọi địa phương, mọi vùng dân cư Mặt khác phải có sự đầu tư thích đáng, nhằm đảmbảo cơ sở, điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính nhất định, để hiện thực hoá các chủtrương, biện pháp nhằm thực hiện tốt nhất tư tưởng chiến lược về đào tạo, bồi dưỡngnhân tài.

Hiện nay, ở nước ta đã tổ chức nhiều trung tâm giáo dục chất lượng cao với hệthống trường chuyên (dạy các môn văn hoá cơ bản), các trường năng khiếu đã tiếnhành tuyển chọn những học sinh có năng khiếu để đào tạo, bồi dưỡng bằng nhữngphương pháp sư phạm thích hợp

Bên cạnh đó, việc đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề bậc cao, kỹ sư, cửnhân tài năng (nhất là cho các ngành mũi nhọn như bưu chính viễn thông, dầu khí…)đang dần được chú trọng Những trung tâm giáo dục và đào tạo lớn của cả nước như:Đại học quốc gia, trường đại học Sư phạm, trường đại học Bách Khoa… là nơi đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng sáng tạo, nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ đỉnh cao, là nơi hội tụ những nhân tài khoa học xuấtsắc, sinh viên tài năng hàng đầu của cả nước

Nhiều đề án gửi người đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước bắt đầu từnăm 2000 đã được Chính phủ phê duyệt Đây là hình thức đào tạo, bồi dưỡng nhân tàimang tính ưu việt nhằm bồi dưỡng nhân tài, phát triển tiềm năng trí tuệ của con người,

đó là tiềm năng của mọi tiềm năng, tài sản vô giá của cả dân tộc và thời đại

Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài ở nước ta chưa đuợc quan tâm đúng mức,chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Thiếu cơ chế,chính sách trọng dụng cán bộ khoa học và nhà giáo có trình độ cao Trong hợp tácquốc tế về giáo dục, chưa chú ý đúng mức đến nội dung và mục tiêu giáo dục; chưathực hiện tốt quản lý nhà nước đối với các chương trình hợp tác quốc tế

Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành trung ương khoá IX, đã nêu

rõ nhiệm vụ đào tạo nhân tài của nền giáo dục nước ta hiện nay là: “Đặc biệt chú trọngphát triển nhân tài, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách tổ chức, phát hiện, đàotạo, bồi dưỡng, sử dụng, thu hút nhân tài vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các cơ quanNhà nước, tạo môi trường thuận lợi để phát huy nhân tài Trước mắt, sớm có chính sách

sử dụng và tôn vinh các nhà giáo và cán bộ khoa học có trình độ cao (giáo sư, phó giáo

sư, tiến sĩ khoa học) Xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp dạy

Trang 26

học và đội ngũ giáo viên tại các trường phổ thông chuyên, đào tạo nghề kỹ thuật bậccao, kỹ sư và cử nhân tài năng, tập trung vào các ngành mũi nhọn ” [21, tr 48].

Như vậy, với vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đã thực sự trởthành quốc sách hàng đầu và là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi

1.1.2 Nhận thức chung về bình đẳng dân tộc

a Quan niệm về bình đẳng dân tộc

Khái niệm dân tộc

Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu rất đa nghĩa, đa cấp độ Điều đó, mộtphần là do dân tộc được xem xét từ nhiều quan điểm, lập trường và góc độ khác nhau;mặt khác, do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ởnhiều quốc gia, khu vực trên thế giới Đứng trên quan điểm mácxít và dưới góc độtriết học chính trị, khái niệm dân tộc được hiểu là một cộng đồng xã hội ổn định cónhững đặc trưng cơ bản sau:

- Có chung một lãnh thổ – không gian sinh tồn

- Có chung một phương thức sinh hoạt vật chất kinh tế

- Có chung một ngôn ngữ

- Có chung những nét tâm lý biểu hiện trong bản sắc văn hoá

Trên thế giới hiện nay có những quốc gia nhiều dân tộc, gọi là quốc gia đa dântộc, những cũng có quốc gia chỉ có một dân tộc, gọi là quốc gia dân tộc Vì thế màkhái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Khái niệm dân tộc hiểu

theo nghĩa rộng tương ứng với quốc gia, đất nước Với khái niệm này, đặc trưng lãnh thổ rất được chú trọng Khái niệm dân tộc hiểu theo nghĩa hẹp chỉ những tộc người, những thành phần dân tộc trong quốc gia đa dân tộc Với khái niệm này, đặc trưng

tâm lý dân tộc và các yếu tố về ý thức dân tộc là nổi bật Trong các quốc gia đa dân

tộc, thường có dân tộc trội lên về mặt dân số được gọi là: dân tộc đa số; còn các dân tộc còn lại là: dân tộc thiểu số.

Trong phạm vi của luận văn, nghiên cứu và sử dụng khái niệm dân tộc là theonghĩa hẹp: chỉ những tộc người, thành phần dân tộc trong quốc gia đa dân tộc

Trang 27

Khái niệm bình đẳng và bình đẳng dân tộc

Khái niệm bình đẳng xét ở đây cũng chính là nói tới bình đẳng xã hội Đây làmột trong những khái niệm được quan tâm nhiều nhưng cũng là phức tạp nhất tronglịch sử loài người Đứng trên quan điểm mácxít và góc độ triết học chính trị, kháiniệm bình đẳng (hay bình đẳng xã hội) được hiểu là sự như nhau (giống nhau, đềunhau, tương ứng ) một cách hợp lý về vấn đề nào đó (quyền lợi, nghĩa vụ, sự đánhgiá, sự ưu tiên ) trong các lĩnh vực xã hội (kinh tế, văn hoá, chính trị ) của nhữngchủ thể (cá nhân hoặc cộng đồng) mà không phân biệt sự khác nhau nhất định của cácchủ thể này (nam, nữ; giàu, nghèo; dân tộc này, dân tộc khác…)

Theo nghĩa như vậy, bình đẳng là sự giống nhau nhưng lại là hợp lý, phù hợp

với điều kiện cụ thể và nó khác với chủ nghĩa bình quân là sự giống nhau một cách

máy móc, thuần tuý áp dụng một tiêu chuẩn như nhau cho những con người, cộngđồng vốn dĩ khác nhau

Bình đẳng dân tộc là một mặt của bình đẳng xã hội nói chung (bên cạnh bìnhđẳng giới, bình đẳng giữa các thế hệ…) Đó là sự như nhau một cách hợp lý giữa cácdân tộc trong cùng một quốc gia đa dân tộc hay giữa các quốc gia dân tộc trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số,sắc tộc hay chủng tộc, dân tộc cư trú nơi này hay nơi cư trú khác, trình độ phát triểncủa dân tộc cao hay thấp, bản sắc dân tộc hay chế độ kinh tế, chính trị khác nhau.Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, chỉ đề cập tới vấn đề bình đẳng dântộc trong một quốc gia đa dân tộc Vì vậy, khi nói tới bình đẳng dân tộc ở Việt Nam lànói đến bình đẳng giữa các dân tộc - tộc người hay còn gọi là các thành phần dân tộctrong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng dân tộc, có thể rút ra một sốquan điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, chỉ có giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thông qua cuộc cách

mạng vô sản, mới có thể giải quyết triệt để vấn đề bình đẳng dân tộc

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C Mác và Ph.Ănghen đã khẳng định: “Hãy xóa bỏ nạn người bóc lột người thì nạn dân tộc này bóclột dân tộc khác cũng bị xoá bỏ” và “khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội

bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng biến mất”

Trang 28

[38, tr 624] Theo các ông, giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử đi đầu trong cách mạng

vô sản giải phóng tất cả quần chúng nhân dân lao động khỏi áp bức, bót lột, bất công.Thực hiện xoá bỏ mọi đặc quyền đặc lợi và bất bình đẳng dân tộc Giai cấp công nhân

là đại diện cho nguyện vọng chân chính của đa số dân tộc Sau khi giành được chínhquyền từ tay giai cấp tư sản, giai cấp công nhân trở thành lực lượng lãnh đạo toàn dânxây dựng xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa, qua đó, dần từng bước để các dân tộcđược bình đẳng trong thực tế

Thứ hai, bình đẳng dân tộc và quyền bình đẳng dân tộc là một trong những nội

dung cơ bản trong Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin và cùng những nộidung khác trong Cương lĩnh tạo cơ sở để cho các Đảng xây dựng chính sách dân tộcđúng đắn trong quốc gia

V.I Lênin khẳng định: “nguyên tắc bình đẳng dân tộc hoàn toàn gắn liền chặtchẽ với việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc và bất kỳ một sự vi phạm nào đếnquyền lợi của một dân tộc thiểu số đều bị bác bỏ” [36, tr 179] Các dân tộc có quyềnbình đẳng trong Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm các nội dungchủ yếu sau:

- Các dân tộc không được áp bức, đè nén nhau và càng không được xâm lược lẫn nhau

- Các dân tộc cùng có nghĩa vụ và quyền lợi một cách hợp lý

- Tôn trọng bản sắc của các dân tộc

- Không để quá chênh lệch trong phát triển giữa các dân tộc

- Quyền bình đẳng dân tộc phải được ghi nhận trong các văn bản pháp lý và phải được tuân thủ trong thực tế

Thứ ba, xét về nội dung, bình đẳng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin là mang tính toàn diện, mà trước hết là bình đẳng về chính trị

Bình đẳng về chính trị: Trước hết, đó là quyền tự quyết dân tộc trong độc lậphoặc liên kết dân tộc, trong việc lựa chọn con đường phát triển của mình… Các dântộc bị áp bức và phụ thuộc đều có trách nhiệm trong cuộc đấu tranh giành độc lập Cácdân tộc có vai trò trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Các dân tộc đều có quyền nhưnhau trong phấn đấu, tham gia vào xây dựng hệ thống chính trị (tổ chức Đảng, Nhànước, chính trị - xã hội)…

Trang 29

Bình đẳng về kinh tế: Các dân tộc đều là các chủ thể trong xây dựng nền kinh

tế mới xã hội chủ nghĩa Các dân tộc đều được làm chủ trong sử dụng tư liệu sản xuất,được phát huy thế mạnh nguồn lực của mình Các dân tộc được giúp đỡ, liên kết, hợptác để phát triển kinh tế Người lao động của các dân tộc đều có quyền có việc làm vàđược hưởng thụ những phần tương ứng với thời gian và sức lực mình bỏ ra

Bình đẳng về văn hoá: Các dân tộc đều có trách nhiệm xây dựng nền văn hoámới Các dân tộc, một mặt phải giữa gìn bản sắc văn hoá dân tộc mình, mặt khác phảitôn trọng, tiếp thu sáng tạo bản sắc văn hoá của các dân tộc khác Các dân tộc cóquyền có tiếng nói, chữ viết riêng, đồng thời tôn trọng ngôn ngữ chung…

Bình đẳng về xã hội: Các dân tộc đều có quyền học tập, lựa chọn học tiếng nói,chữ viết của dân tộc mình trong giáo dục Các dân tộc đều có quyền được chăm sócsức khoẻ, chữa bệnh Các dân tộc đều được động viên tham gia thể dục thể thao, cảithiện giống nòi…

Nội dung bình đẳng dân tộc theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin mangtính toàn diện Tuy vậy, các mặt của bình đẳng có những vị trí khác nhau Bình đẳng

về mặt chính trị là tiền đề để tiến tới bình đẳng về kinh tế, văn hoá, xã hội Bình đẳng

về kinh tế là nền tảng cơ sở củng cố các nội dung bình đẳng khác Bình đẳng về vănhoá, xã hội không chỉ là kết quả mà còn là động lưc phát triển kinh tế, chính trị

Thứ tư, để thực hiện bình đẳng dân tộc phải đấu tranh khắc phục những lệch lạc

của chủ nghĩa dân tộc mà biểu hiện cơ bản của nó là chủ nghĩa sô vanh nước lớn vàchủ nghĩa dân tộc hẹp hòi

Lênin đã từng nói: Tôi đã nói rằng đặt vấn đề về chủ nghĩa dân tộc nói chungmột cách trừu tượng chẳng có lợi gì cả Cần phải phân biệt chủ nghĩa dân tộc của dântộc đi áp bức với chủ nghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức, chủ nghĩa dân tộc của mộtdân tộc lớn và chủ nghĩa dân tộc của một dân tộc nhỏ Chủ nghĩa dân tộc sai trái làdựa trên sự khẳng định, tuyệt đối hoá tính biệt lập, đặc thù của một dân tộc, đề cao dântộc mình, phủ nhận hoặc xem thường dân tộc khác Chủ nghĩa dân tộc loại này thườngbiểu hiện dưới hai hình thức: chủ nghĩa sô vanh nước lớn của dân tộc thống trị mà đặcđiểm của nó là thái độ miệt thị các dân tộc khác, đối xử không bình đẳng với các dântộc thiểu số có trình độ phát triển thấp hơn và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi – bế quan toảcảng một cách mù quáng không muốn tiếp thu những tinh hoa văn hoá,

Trang 30

những mặt tích cực của các dân tộc khác.

Tóm lại, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét vấn đề bìnhđẳng dân tộc; đấu tranh nhằm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên các lĩnhvực của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; gạt bỏ đi biểu hiện sai trái củachủ nghĩa dân tộc dưới mọi hình thức , là nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

về bình đẳng dân tộc

Tư tưởng chủ yếu của Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, phù hợp với lịch sử và văn hoá, đất nước vàcon người Việt Nam, đồng thời giải đáp những nhu cầu về lý luận và thực tiễn củacách mạng Việt Nam Một trong những vấn đề lớn mà Hồ Chí Minh quan tâm là vấn

-đề dân tộc, trong đó có tư tưởng về bình đẳng dân tộc

Thứ nhất, bình đẳng dân tộc chỉ có thể thực hiện được khi dân tộc ta được độc

lập, nhân dân ta được tự do, đất nước ta được thống nhất và có chủ quyền

Bình đẳng dân tộc gắn bó mật thiết với sự nghiệp giải phóng dân tộc và giữvững nền độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Một trong những tư tưởnglớn của Hồ Chí Minh là “không có gì quý hơn độc lập tự do”, Người coi trọng quyềnlợi quốc gia Mục tiêu độc lập dân tộc phải thực hiện trước tiên, trong lúc các nhiệm

vụ, mục tiêu khác phải phục tùng và thực hiện từng bước; tiến hành cách mạng giảiphóng dân tộc, mở đường cho cách mạng xã hội chủ nghĩa Đây chính là điều kiện tiênquyết cho dân tộc ta tiến tới được sống bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới,các dân tộc trong nước được chung sống bên nhau một cách bình đẳng

Thứ hai, bình đẳng dân tộc gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng con

người, giải phóng xã hội

Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn

đề giai cấp ở nước ta Khi đất nước sống trong cảnh lầm than nô lệ, Người đã dồn toàn

bộ sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đem lại tự do cho nhân dân HồChí Minh là người đã nêu cao tư tưởng thống nhất đất nước: “Nước Việt Nam là một,dân tộc Việt Nam là một” [33, tr 436] Người luôn đấu tranh với thủ đoạn xảo quyệtchia để trị của kẻ thù Người luôn quan tâm giáo dục bồi dưỡng tư tưởng, tình cảmđoàn kết dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Nam Bắc một nhà cho đảng viên, cán bộ, cho

Trang 31

đồng bào các dân tộc và nhân dân cả nước Trong những năm kháng chiến gian khổ,Người vẫn thường xuyên quan tâm đến đời sống nhân dân, phát triển kinh tế, văn hoá,

y tế… Khi đất nước được giải phóng, Người đặt nhiệm vụ nâng cao đời sống nhân dânlên hàng đầu Người nói rằng, độc lập để làm gì nếu như nhân dân không được ấm no,hạnh phúc, con em không được vui chơi, học tập…

Thứ ba, để thực hiện bình đẳng dân tộc, các dân tộc phải đoàn kết, tương trợ

giúp đỡ nhau cùng phát triển

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc Trong 54 dân tộc anh em, có những dân tộcvốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thuở ban đầu, có nhiều dântộc từ nơi khác lần lượt di cư tới Dân tộc Kinh chiếm tỉ lệ lớn nhất trong dân cư, cótrình độ phát triển cao hơn Các dân tộc thiểu số nước ta gắn bó với dân tộc đa số vàgắn bó với nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cả lúc thuận lợi cũng nhưlúc khó khăn, ở nước ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôntính dân tộc thiểu số Do đó cũng không có tình trạng dân tộc thiểu số, chống lại dântộc đa số Truyền thống tốt đẹp ấy là cơ sở xây dựng chính sách bình đẳng dân tộc ởnước ta Vì thế phải luôn giữ gìn, vun đắp mối quan hệ anh em ruột thịt và thực hiệnđoàn kết, thống nhất, bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc

Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc tình hình, đặc điểm các dân tộc ở nước ta.Người quan tâm tới việc thực hiện chính sách dân tộc, coi vấn đề dân tộc có tầm quantrọng chiến lược Khi nói về vấn đề dân tộc, Người luôn nhắc đến ba nguyên tắc “đoànkết, bình đẳng, tương trợ” Ba nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cáchmạng Việt Nam

Thứ tư, thực hiện bình đẳng dân tộc, trước hết, phải làm cho miền núi tiến kịp

miền xuôi, làm cho đồng bào các dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy đủ hơnnhững quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số Tình trạng pháttriển không đồng đều, sự chênh lệch về trình độ giữa các dân tộc ở nước ta trên các lĩnhvực còn khá rõ rệt Hồ Chí Minh rất am hiểu và thông cảm với đời sống khó khăn củađồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là đồng bào sống ở vùng cao Người viết: "Dưới chế

độ thực dân, phong kiến, đồng bào rẻo cao rất khổ cực Ngày nay, đồng bào rẻo cao được

tự do bình đẳng, không bị áp bức bóc lột như trước kia Nhưng đời sống vật chất,

Trang 32

văn hoá chưa được nâng cao mấy Đó là vì cán bộ lãnh đạo không chú ý đầy đủ tớiđồng bào rẻo cao" [33, tr 232] Người luôn mong muốn phải tạo mọi điều kiện chomiền núi tiến kịp miền xuôi Do đó, Người chủ trương: đồng bào các dân tộc phảicùng nhau vươn lên làm chủ nước nhà, Đảng và Nhà nước chú trọng đào tạo, bồidưỡng, cất nhắc đội ngũ cán bộ miền núi; phải vận động giúp đỡ đồng bào định canh,định cư, phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…nâng cao đời sống vật chất chođồng bào; phải phát triển bình dân học vụ, xoá mù chữ trong đồng bào các dân tộc, tôntrong phong tục tập quan, tiếng nói của đồng bào…

Quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng dân tộc

Ngày nay, thấm nhuần các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta có những quan điểm về bình đẳng dân tộc cơ bảnsau đây:

Thứ nhất, bình đẳng dân tộc và thực hiện bình đẳng dân tộc là vấn đề có ý

nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam

Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta luôn quan tâm đếnchính sách đoàn kết, tương trợ trên nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, do đó đãgiành được thắng lợi to lớn đem lại nền độc lập, tự do cho đất nước Bước vào thời kỳđổi mối, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã thể hiện tinh thần đổi mới tư duy, lý luận vềvấn đề dân tộc, vè giải quyết các quan hệ dân tộc nhằm thực hiện bình đẳng giữa cácdân tộc

Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội” (1991), Đảng ta chỉ rõ nội dung của vấn đề dân tộc cần giải quyết là: thực hiệnchính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc…, chống tư tưởng dân tộclớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc

Các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội IX của ĐảngCộng sản Việt Nam đều khẳng định tầm quan trọng chiến lược của vấn đề dân tộc,BĐDT Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 7 (lần 2) khoá IX, Đảng ta đã chỉ rõ: các dântộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển,cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh vớimọi âm mưu chia rẽ dân tộc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định:

Trang 33

các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng,giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Như vậy, trong mọi giai đoạn cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay,Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến bình đẳng dân tộc, thực hiện chínhsách bình đẳng dân tộc, coi đó là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam.Thực tiễn đã chứng minh sự đúng đắn và nhất quán của những chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc

Thứ hai, bình đẳng dân tộc góp phần quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng

xã hội nói chung

Thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay thực chất là khắc phục tìnhtrạng chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống

Do đó, giải quyết vấn đề bình đẳng dân tộc đã trở thành một bộ phận không thể thiếutrong chính sách dân tộc của Đảng nhằm thực hiện bình đẳng xã hội nói chung Việcthực hiện bình đẳng xã hội là mục tiêu bao trùm, do đó nó có ý nghĩa quyết định đếnviệc thực hiện bình đẳng dân tộc; ngược lại, thực hiện bình đẳng dân tộc sẽ góp phầnthực hiện bình đẳng xã hội

Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta đã đạt được những thànhtựu quan trọng bước đầu Tuy nhiên, những tồn tại, khó khăn, trở ngại còn rất lớn, cómặt còn khá nặng nề, một bộ phận đồng bào dân tộc thiếu đất, không có đất canh tác,sức sản xuất miền núi còn thấp, đời sống của đại đa số đồng bào các dân tộc còn ởmức thấp, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh Vì vậy, tiến trình để đi tớibình đẳng xã hội không thể thực hiện được nếu như không quan tâm đầy đủ đến việcthực hiện bình đẳng dân tộc, khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa dântộc thiểu số và dân tộc đa số trên các lĩnh vực của đời sống Như vậy, thực hiện bìnhđẳng dân tộc đã góp phần quan trọng việc thúc đẩy tiến trình đi đến bình đẳng xã hội

ở nước ta

Thứ ba, bình đẳng dân tộc ở nước ta phải được thực hiện trên tất cả các mặt của

đời sống xã hội

Thực hiện bình đẳng dân tộc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

là nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển của các dân tộc trên phạm

vi cả nước Đây là việc làm vừa có ý nghĩa thời sự cấp bách vừa có ý nghĩa chiến

Trang 34

lược lâu dài.

Thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôntạo mọi điều kiện cho các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số phát triển về kinh tế –

xã hội như: đầu tư xây dựng cơ cấu kinh tế ở miền núi và vùng các dân tộc thiểu sốtrên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đẩy nhanh việcứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào qui trình sản xuất và đời sống Xây dựngchính sách kinh tế – xã hội phù hợp với những đặc thù của các vùng miền núi, vùngđồng bào dân tộc thiểu số… Thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực chính trị, theoquan điểm của Đảng ta, thực chất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân các dân tộc

ở cơ sở, địa phương và cả nước; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”… Thực hiện bình đẳng dântộc trên lĩnh vực văn hoá là nhằm tiến tới xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc Trong đó, việc bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số đóng vaitrò quan trọng nhằm tạo ra sự phát triển hài hoà trong nền văn hoá đa dân tộc, đảm bảo tínhthống nhất trong đa dạng của nền văn hoá Việt Nam… Thực hiện bình đẳng dân tộc trênlĩnh vực xã hội có ý nghĩa sâu sắc đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Đảng ta luôncoi bình đẳng dân tộc về mặt xã hội giữa các dân tộc là một vấn đề cấp bách quan trọng vớinhững nội dung như: các dân tộc đều được học tập, không hạn chế về mặt thời gian lẫn cấpbậc học Các dân tộc có quyền lựa chọn học tập bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mìnhhay dân tộc khác, hoặc ngôn ngữ địa phương…

Thứ tư, thực hiện bình đẳng dân tộc trước hết phải phát huy nội lực, tinh thần

tự cường của mỗi dân tộc, đồng thời tăng cường sự đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫnnhau giữa các dân tộc

Phát huy nội lực của từng dân tộc kết hợp với nâng cao hiệu quả hợp tác, giúp

đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở nước ta không thể giải quyết bên ngoài mối quan hệgiữa cái chung và cái riêng Con đường phát triển đi lên của mỗi dân tộc chỉ có thểthực hiện bằng chính nội lực của dân tộc mình, đó là tiềm năng, sức mạnh của từngdân tộc – tộc người được tạo nên từ tổng thể các điều kiện lịch sử, tự nhiên, văn hoá,

xã hội… của dân tộc - tộc người đó

Thực hiện nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc, Đảng ta luôn chủ trương

30

Trang 35

phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăngcường sự đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng nhau xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc, giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc,đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh địa phương để làm giàucho mình và đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đấtnước Đây cũng con đường để thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa cácdân tộc, tạo những tiền đề cần thiết để xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, nhanh chóng đưamiền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộcđều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

b Tầm quan trọng của bình đẳng dân tộc trong chính sách dân tộc ở nước ta

Quán triệt cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta ngay từ đầu

đã xây dựng những nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc ở Việt Nam là: bìnhđẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau giữa các dân tộc Những nguyên tắc này đượcthực hiện thống nhất trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, phù hợp vớiđặc điểm của dân tộc, đồng thời có sự hoàn thiện, sâu sắc, cụ thể hơn qua các kỳ Đạihội Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, những nguyên tắc trong chính sách dântộc của nước ta được Đảng xác định rõ và chặt chẽ hơn là: các dân tộc trong đại giađình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Điều đócho thấy, vấn đề dân tộc và những nguyên tắc của chính sách dân tộc, trong đó cónguyên tắc bình đẳng luôn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cáchmạng nước nhà

Thứ nhất, bình đẳng dân tộc là nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong chính sách dân

tộc của nước ta hiện nay

Ở Việt Nam, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc được Đảng ta xác định ngay

từ đầu và nó đã trở thành nguyên tắc cơ bản, được thực hiện nhất quán trong chính sách dân

tộc của Đảng và Nhà nước Trong bản Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vécxay năm 1919,

Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ cần đảm bảo quyền bình đẳng “cho người bản xứ và người Âu”

Chánh cương và Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo,

Luận cương cách mạng tư sản dân quyền của Đảng đã xác định mục tiêu đấu tranh của

Đảng là giành quyền độc lập cho dân tộc Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ

Trang 36

Chí Minh đã mở đầu bằng việc trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn

dân quyền và nhân quyền của Pháp rằng: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình

đẳng, đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Hiến pháp đầu tiên

của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua năm 1946 ghi rõ: Tất cả quyền bínhtrong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không biệt giống nòi, gái trai, giàunghèo, giai cấp, tôn giáo… Trong các Văn kiện, Nghị Quyết Đại hội của Đảng, cácHiến pháp - đạo luật của Nhà nước đều long trọng tuyên bố quyền bình đẳng giữa cácdân tộc trên đất nước Việt Nam

Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết,tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sáchdân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng

đã được thể hiện ở các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX

về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: Ưu tiênđầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vàophát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềmnăng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huynội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quantâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước Nghị quyếtĐại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đềchiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại giađình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao dầnmức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay,Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên đối với đồng bàodân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án đầu tưphát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương trình trồng mới 5triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi,

Trang 37

vùng sâu, vùng xa Trong số đó, Chương trình 135 - giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841

xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng;quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinhhoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất;thực hiện sâu rộng Chương trình xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộcdiện chính sách xã hội, người có công với cách mạng Nhờ vậy, cuộc sống của đồngbào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện rõ rệt, quyềncủa các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôntin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tích cực phát huytruyền thống cách mạng, yêu nước, tinh thần đoàn kết để xây dựng một nước ViệtNam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác Hồ hằng mong muốn

Thứ hai, bình đẳng dân tộc tạo nền tảng, cơ sở quan trọng để thực hiện đoàn kết,

tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc ở nước ta.

Các nguyên tắc trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau: các dân tộc có bình đẳng thì mới có đoàn kết thực sự, có đoànkết thì mới tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ

Thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố và tăngcường khối đại đoàn kết dân tộc Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc các dân tộckhác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc Hồ Chí Minh đã sớmnhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải thựchiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải dựa trên nền tảng củakhối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, màcòn phải thực hiện đoàn kết dân tộc

Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất cả cácdân tộc trong một quốc gia Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về nghĩa vụ vàquyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa các dân tộc vàngược lại Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụthể để thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thànhhiện thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợplực lượng của cách mạng

Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền

Trang 38

bỡnh đẳng giữa cỏc dõn tộc cú điều kiện và cơ sở để thực hiện Xó hội đú, khụng thểkhỏc là xó hội xó hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chớ Minh khẳng định trong quan hệ giữa dõn tộc đa số cú trỡnh độ phỏttriển cao hơn với cỏc dõn tộc thiểu số cú trỡnh độ thấp hơn rất dễ nảy sinh tư tưởng kỳ thịdõn tộc, và thường cú hai thỏi cực: một là người dõn tộc lớn dễ mắc bệnh kiờu ngạo, và hai

là cỏn bộ địa phương, nhõn dõn địa phương lại dễ cho mỡnh là dõn tộc nhỏ bộ, tự ti, cỏi gỡcũng cho là mỡnh khụng làm được, rồi khụng cố gắng Vỡ vậy, trong chớnh sỏch dõn tộc,Đảng và Nhà nước ta cần phải khắc phục những tư tưởng dõn tộc lớn, dõn tộc hẹp hũi và

tự ti dõn tộc Cú như vậy, mới thực hiện được khối đại đoàn kết dõn tộc

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dõn tộc chung sống, trong đú, dõntộc Kinh chiếm đa số, cũn lại 53 dõn tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dõn số cả nước.Cộng đồng cỏc dõn tộc Việt Nam được hỡnh thành và phỏt triển cựng với tiến trỡnh lịch

sử hàng nghỡn năm dựng nước và giữ nước tạo nờn một dõn tộc Việt Nam thống nhất

Sự quan tõm đến quyền lợi kinh tế, cơ hội phỏt triển, thực hiện tương trợ, giỳp đỡnhau là thực hiện quyền bỡnh đẳng giữa cỏc dõn tộc Điều này đó tạo ra sự hài hoà vềmặt lợi ớch, nhất là lợi ớch kinh tế, gúp phần quan trọng trong việc trỏnh xung đột giữacỏc dõn tộc về mặt lợi ớch khi cỏc dõn tộc sống xen kẽ với nhau Cỏc dõn tộc ở nước tasinh sống gắn bú đoàn kết, giỳp nhau trong xõy dựng đất nước Sự đoàn kết gắn búgiữa cỏc cộng đồng dõn tộc đó tạo nờn một quốc gia đa dõn tộc bền vững, thống nhất.Ngày nay, trước yờu cầu phỏt triển mới của đất nước, dưới sự lónh đạo của Đảng,cỏc dõn tộc tiếp tục phỏt huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấnđấu xõy dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụngbằng, dõn chủ văn minh, vững bước tiến lờn chủ nghĩa xó hội trờn cơ sở thực hiện bỡnhđẳng giữa cỏc dõn tộc

1.2 Mối quan hệ giữa giỏo dục và đào tạo với việc thực hiện bỡnh đẳng dõn tộc ở nước ta hiện nay.

1.2.1 Giáo dục và đào tạo vừa là nội dung, vừa là giải pháp góp phần thực

Trang 39

độ dân trí chung của cả nước Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản và chủ yếugây cản trở cho sự phát triển của vùng, dẫn đến còn khoảng cách chênh lệch lớn vềtrình độ phát triển giữa các dân tộc trên nhiều mặt của đời sống xã hội.

Ở vùng dân tộc thiểu số, giáo dục giữ vai trò chủ yếu sau:

- Nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ (bao gồm cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật, văn hoá, công nhân lành nghề….)

- Phát triển khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế

-xã hội

- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc

- Góp phần ổn định chính trị và giữ vững an ninh biên giới

Với vai trò quan trọng như vậy, giáo dục và đào tạo cả nước nói chung, giáodục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số nói riêng đã trở thành là một nội dung quan trọngtrong chính sách bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực xã hội: tạo cơ hội học tập cho tất cácmọi người, nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc…

Đảng và Nhà nước đưa ra nhiều quan điểm về chính sách phát triển giáo dục ởvùng dân tộc thiểu số Đó là:

- Giáo dục vùng dân tộc thiểu số là một bộ phận của giáo dục quốc dân, nhưng

là một bộ phận có tính đặc thù đòi hỏi phải có một chính sách đặc biệt

- Đối tượng của giáo dục vùng dân tộc thiểu số hết sức đa dạng, nhạy cảm, địabàn phát triển khó khăn, đòi hỏi mỗi bước đi, mọi cách làm phải hết sức cẩn trọng, khôngchậm trễ, nhưng không nôn nóng Trong quá trình phát triển phải đi từ “qui mô

nhỏ”, đảm bảo thôn ấp, buôm làng nào cũng có lớp học, xã nào cũng có trường học.Kết hợp việc xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp với việc xây dựng cáctrường ở xã, cụm xã, các lớp học ở thôn bản

- Giáo dục vùng dân tộc thiểu số phải gắn với nội dung văn hoá dân tộc, phảichuyển tải những nội dung đặc trưng của văn hoá dân tộc góp phần bảo tồn, phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc, làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam

- Giáo dục vùng dân tộc thiểu số phải coi trọng đồng thời các mục tiêu nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nhưng ở mức độ và yêu cầu riêng phù hợpvới từng bước phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng dân tộc

Trang 40

- Quán triệt quan điểm truyền thống và hiện đại trong các hoạt động giáo dụcvùng dân tộc thiểu số nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam mới.

Những quan điểm trên được thể hiện cụ thể trong chính sách về phát triển giáo

dục ở vùng dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ

sáu Ban Chấp hành trung ương khoá IX, Đảng ta đưa ra chính sách ưu tiên phát triển

các cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số Củng cố và tăng cường hệ thốngtrường nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số; cải tiến chính sách học bổng chocác em học sinh trường này; thực hiện chế độ miễn phí học tập và cung cấp sách giáokhoa cho học sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa Học sinh dân tộc thiểu số được tạođiều kiện để học tập, nắm vững tiếng phổ thông, đồng thời học tốt tiếng dân tộc Thựchiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với các vùng còn đặc biệt khókhăn Có chính sách bổ túc kiến thức cần thiết cho số học sinh dân tộc thiểu số đã tốtnghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp đểcác em trở về địa phương tham gia công tác cơ sở

Ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số và vùng núi trongchính sách bình đẳng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, phát triển giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số trước mắt là giải

quyết nạn mù chữ và tái mù chữ, xoá “điểm trắng” về giáo dục ở ấp, bản, thực hiệnphổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc

Đối với vùng dân tộc thiểu số, chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và chống

mù chữ có ý nghĩa quan trọng trong việc làm thay đổi căn bản nhận thức và hành độngcủa đồng bào với công tác giáo dục Trình độ hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, về vănhoá, xã hội của người dân ngày càng tiến bộ…đã góp phần quan trọng trong việc thựchiện bình đẳng dân tộc ở nước ta

Hai là, phát triển giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số cần tập trung vào

công tác đào tạo cán bộ người dân tộc với những hình thức, chương trình dạy học phùhợp

Về vấn đề này, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương

Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, nêu rõ: Mở thêm các

trường dân tộc nội trú và các trường bán trú ở cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các

Ngày đăng: 27/10/2020, 22:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w