1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ dân tộc thiểu số việt nam đầu thế kỉ XXI

96 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học DTTS Việt Nam hiện đại, ngoài thể loại văn xuôi được đánh giá là có nhiều thành tựu với hàng loạt các tác giả như: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, La Qu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

ĐẦU THẾ KỈ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ VÂN ANH

THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

ĐẦU THẾ KỈ XXI Ngành: Văn học Việt Nam

Mã ngành: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thủy Nguyên

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI” là kết

quả nghiên cứu của riêng tôi, hoàn toàn không sao chép của bất cứ ai Các kết quả của đề tài là trung thực và chưa được công bố ở các công trình khác

Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thủy Nguyên - giảng viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên về sự hướng dẫn tận tình, đầy

đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em thực hiện

và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn và các thầy cô giáo Phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

đã giúp đỡ em thực hiện luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục của luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1: THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TRONG TIẾN TRÌNH THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN- ĐƯƠNG ĐẠI 7

1.1 Tiến trình vận động và phát triển của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 7

1.2 Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI 9

1.2.1 Những yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội tác động tới sự vận động và phát triển của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI 9

1.2.2 Khái quát chung về sự vận động của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI 10

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI 20

2.1 Một số khái niệm lý luận liên quan 20

2.1.1 Khái niệm cảm hứng 20

2.1.2 Cảm hứng nghệ thuật - Cảm hứng chủ đạo 21

2.2 Cảm hứng nghệ thuật trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI 22

2.2.1 Cảm hứng trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi 23

Trang 6

2.2.2 Cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm về tình đời, tình người 44

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI 60

3.1 Thể loại 60

3.2 Ngôn ngữ 67

3.3 Hình ảnh thơ 74

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học các dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận quan trọng làm nên tầm vóc của nền văn học Việt Nam, đồng thời góp phần tạo nên sự đa sắc, đa diện của văn học dân tộc Tính đến nay văn học DTTS Việt Nam hiện đại ra đời và phát triển gần một thế kỉ và đã có đóng góp không nhỏ cho thành tựu văn học nước nhà

Trong văn học DTTS Việt Nam hiện đại, ngoài thể loại văn xuôi được đánh giá là có nhiều thành tựu với hàng loạt các tác giả như: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, La Quán Miên, Hà Thị Cẩm Anh, Cao Duy Sơn, Kha Thị Thường, Kim Nhất, Hữu Tiến, Linh Nga Niek Đam, Đoàn Thị Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan… thì thơ ca cũng đã có một quá trình phát triển khá mạnh mẽ, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đáng được tự hào với các tên tuổi như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Y Phương, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Nông Thị Ngọc Hòa, Bùi Tuyết Mai, Inrasara… Văn học các DTTS hiện đại nói chung và nền thơ ca các DTTS nói riêng, từ lâu đã được khẳng định là một bộ phận văn học có vẻ đẹp, có sắc thái riêng, in đậm dấu ấn tâm hồn và bản sắc văn hóa các dân tộc với nhiều cá tính sáng tạo, nhiều tài năng Những nhà thơ DTTS đã đóng góp vào nền thơ hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật thơ thực sự mới lạ, sinh động với những gương mặt mới, những cảm hứng, những giọng điệu riêng

Văn học DTTS Việt Nam hiện đại đã có sự phát triển, khởi sắc đáng tự hào trong nửa cuối thế kỉ XX Đặc biệt chặng đường đầu thế kỉ XXI, thơ DTTS có nhiều biến chuyển, có những bứt phá, có thêm những gương mặt mới những sắc thái mới chín chắn, trưởng thành mà rất tươi trẻ, phóng khoáng Việc nghiên cứu chuyên sâu mảng thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI với những thành công và hạn chế của nó sẽ góp phần đánh giá đầy đủ hơn sự vận động và diện mạo của thơ DTTS trên hành trình phát triển, góp phần giới thiệu cho đông đảo độc giả có thêm sự hiểu biết, trân trọng đối với bộ phận văn học đáng quý này

Trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, một số tác phẩm thơ DTTS đã được đưa vào giảng dạy nhưng vẫn còn khiêm tốn so với thành tựu của nó

Là một người giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, chúng tôi mong muốn được tìm

Trang 8

hiểu, khám phá cái hay cái đẹp cũng như nét độc đáo của thơ ca các DTTS, đặc biệt

là thơ DTTS chặng đường đầu thế kỉ XXI, từ đó có cái nhìn đầy đủ hơn về văn học dân tộc Sự hiểu biết này sẽ giúp cho giáo viên chúng tôi có thêm năng lực phát triển chương trình Ngữ văn phổ thông theo thể loại, theo chủ đề, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới

Với những lí do trên cùng với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu, giới thiệu, đánh giá về sự đóng góp cũng như giá trị và những nét đặc sắc của

thơ ca các DTTS, chúng tôi chọn đề tài: Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ

XXI làm vấn đề nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Trong tiến trình phát triển, thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI đã có những khởi sắc đáng tự hào, có đóng góp không nhỏ cho thành tựu văn học dân tộc, có những bước chuyển đáng kể trên các phương diện như: đội ngũ sáng tác, hình thức nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật…Cũng đã có nhiều nhà phê bình văn học cũng như người tâm huyết nghiên cứu đánh giá thơ DTTS Tuy nhiên việc nghiên cứu về thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI với cái nhìn tổng thể hiện vẫn còn ở mức độ khiêm tốn Sau đây chúng tôi sẽ phác họa lại về tình hình nghiên cứu, phê bình thơ DTTS đầu thế kỉ XXI, cụ thể như sau:

2.1 Viết về thơ DTTS Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI trong các công trình nghiên cứu về Văn học DTTS Việt Nam hiện đại nói chung hoặc

về thơ DTTS nói riêng, có thể kể tên một số công trình, những bài nghiên cứu như:

Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại của tác giả Lâm Tiến, Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại - Một số đặc điểm của tác giả PGS.TS.Trần

Thị Việt Trung, Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam - Truyền thống và hiện đại của hai tác giả PGS.TS.Trần Thị Việt Trung- PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh, Bản sắc dân

tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại do PGS.TS.Trần Thị Việt

Trung - Cao Thị Hảo đồng chủ biên, 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu

số Việt Nam của tác giả Phong Lê, Văn học và miền núi của nhà văn Lâm Tiến …

2.2 Nghiên cứu về thơ DTTS còn là vấn đề được quan tâm nghiên cứu một cách khá tích cực và hiệu quả tại một số trường Đại học khu vực miền núi (Việt Bắc,

Trang 9

Tây Bắc, Tây Nguyên) như: luận văn thạc sĩ Bản sắc văn hóa Dao trong thơ Bàn

Tài Đoàn (Th.s Bàn Thị Quỳnh Giao); Thơ Dương Khâu Luông (Th.s Lý Thị

Vương); Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn (Th.s Nguyễn Thị Thu Huyền); Bản sắc Tày trong thơ Nông Quốc Chấn (Th.S Phạm Thế Thành), luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Vân Một số đặc điểm của thơ ca dân tộc Thái thời kì hiện đại (từ

1945 đến nay); tác giả Nguyễn Kiến Thọ với hai đề tài Một số đặc điểm của thơ ca dân tộc Mông thời kì hiện đại (từ 1945 đến nay) luận văn thạc sĩ; Thơ ca dân tộc Hmông từ truyền thống đến hiện đại - Luận án tiến sĩ …

2.3 Một số những bài viết lẻ, giới thiệu, nhận xét, đánh giá thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI, của một số nhà phê bình Đó là những bài viết của tác giả Inrasara

với hai bài: Thơ ca thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đa sắc, đa thanh và Cái đẹp của

thơ dân tộc thiểu số Cao Thị Hảo có bài Mở rộng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại: Trường hợp văn học Tày…

TS Đỗ Thị Thu Huyền, một trong số những người có “duyên nợ” với văn học

miền núi có cuốn Thơ dân tộc Tày sau năm 1945 cùng với nhiều bài viết, tiêu biểu như : Thơ dân tộc thiểu số 10 năm đầu thế kỉ XXI; Đội ngũ nhà văn trẻ dân tộc

thiểu số ở Việt Nam…Tác giả đã đưa ra những đánh giá rất sắc sảo và nhiều trăn trở

về sự thay đổi cũng như hạn chế của thơ DTTS đầu thế kỉ XXI: “Đổi mới nổi bật nhất chính là về hình thức, tiến dần đến hiện đại hóa, thơ dân tộc thiểu số gần hơn với thơ đương đại Tuy nhiên một số lại chưa/ không hòa nhập với sự thay đổi (tình trạng này thường thuộc về một số đại diện của thế hệ trước)” [20], đó là nhận xét về

hình thức nghệ thuật Và đây là sự đổi mới đáng ghi nhận mà tác giả đã phát hiện ra:

“Thơ dân tộc thiểu số trong khoảng 10 năm này xuất hiện sự phân hóa sâu sắc giữa các khuynh hướng, giữa các thế hệ Có người vẫn kiên trì xu hướng truyền thống và hiện đại, đan xen giữa cũ và mới, có những tác giả tìm tòi cách tân và hướng đến những đổi mới thật sự, và một số theo hướng hậu hiện đại (tiêu biểu là một số nhà thơ dân tộc Chăm) ” [20]

Trong bài viết đăng trên tạp chí Văn hóa các dân tộc, tác giả Tăng Thị Nguyệt

Nga viết: “Thơ dân tộc thiểu số nhìn chung đều mang vẻ đẹp ở sự diễn đạt giản dị, mộc mạc Và cho dù viết ở mảng đề tài nào, phản ánh nội dung tư tưởng ra sao thì

Trang 10

những trang thơ của các thi sĩ dân tộc thiểu số vẫn tạo được những nét đẹp riêng”

(Dương Thuấn- tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975) [36] Đây là lời

đánh giá khá xác đáng về vẻ đẹp mang bản sắc phong cách riêng của từng nhà văn, từng dân tộc thể hiện trong sáng tác thơ DTTS đầu thế kỉ XXI

Inrasara một nhà thơ, nhà phê bình văn học, người con của dân tộc Chăm luôn đau đáu với sự phát triển của văn học DTTS, dù nhận ra cái hay cái đẹp của bộ phận văn học này nhưng ông vẫn băn khoăn văn học DTTS sẽ đi về đâu Ông đã có nhận xét rất chân

thành về thực tế của thơ DTTS: “Tôi có nói một lần, thơ dân tộc thiểu số đang mất phương hướng Còn hơn thế nữa - nó vừa đi vừa ngủ Ngủ ở nhịp điệu, ngôn ngữ, hình ảnh và nhất là đề tài thơ Ngủ từ Pờ Sảo Mìn, Y Phương, Lò Ngân Sủn cho đến Mai Liễu, Lương Định, Dương Thuấn Ngủ, nhưng nó vẫn cứ đi Hành động đi này không phải không từng cống hiến những cái đẹp, cái đặc sắc cho nền thơ đa dân tộc Việt Nam”

[26] Từ đó Inrasara luôn quan tâm đến sự phát triển và đổi thay của thơ ca DTTS nhất là thơ ca dân tộc Chăm Ông cũng nhận ra sự mới mẻ đáng trân trọng, báo hiệu sự đi lên và

khởi sắc trong thơ của các nhà thơ trẻ thế kỉ XXI: “Cách nghĩ, cách diễn đạt chân chất, mộc mạc và lạ lẫm khó lẫn Tầng lớp trẻ đã manh nha tìm đến những thể thơ mới như thơ

tự do phá cách với tâm thức hậu hiện đại” [24]

Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu, phê bình về thơ DTTS Việt Nam đầu thế

kỉ XXI, chúng tôi có nhận xét như sau: Mặc dù thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI có nhiều đóng góp đáng trân trọng và có những đặc sắc riêng khá độc đáo, nhưng cho đến nay những đề tài nghiên cứu với quy mô rộng và cái nhìn bao quát về thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI thì chưa có Chính vì vậy chúng tôi thấy rằng rất cần phải có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chỉ ra những đặc điểm, những nét đặc trưng trong sáng tác của các nhà thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI; đồng thời qua đó giúp độc giả có một sự hiểu biết cụ thể và hệ thống, toàn diện hơn về sáng tác cũng như về những đóng góp của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI đối với thơ DTTS trong quá trình phát triển

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu toàn bộ những sáng tác thơ của các nhà thơ là người DTTS Việt Nam ra đời trong giai đoạn đầu

thế kỉ XXI, chủ yếu là các tác phẩm được in trong cuốn “Thơ dân tộc và miền núi đầu

thế kỉ XXI” (tác giả Mai Liễu, Y Phương, Inrasara, Trịnh Hà tuyển chọn Nhà xuất bản

Văn hóa dân tộc, năm 2011) Ngoài ra, có so sánh với thơ DTTS Việt Nam các giai đoạn trước đó

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát và đánh giá một cách khách quan, khoa học về các tác

phẩm và những cá tính sáng tạo của nền thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI, chúng tôi mong muốn:

- Khẳng định giá trị cũng như những đóng góp và hạn chế của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI

- Đồng thời giúp bạn đọc hiểu được những biến chuyển của thơ DTTS trong tiến trình phát triển của thơ hiện đại Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề chung về thơ DTTS đầu thế kỉ XXI trong tiến trình thơ Việt Nam hiện- đương đại

- Khảo sát, xác định và phân tích các giá trị cơ bản của thơ DTTS Việt Nam

đầu thế kỉ XXI cả phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật (cảm hứng chủ đạo, giọng điệu, ngôn ngữ, thể thơ) So sánh với thơ DTTS giai đoạn trước để thấy sự phát triển của thơ DTTS trong giai đoạn mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê: để khảo sát các tác giả, các thể loại và cảm hứng sáng tác nổi bật cũng như các phương diện nghệ thuật khác

- Phương pháp hệ thống: để hệ thống hóa các vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: để phân tích đánh giá và rút ra kết luận

Trang 12

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: để so sánh giữa thơ DTTS giai đoạn đầu thế

kỉ XXI với giai đoạn trước đó, giữa các nhà thơ với nhau…

- Phương pháp liên ngành (văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí) giúp người viết có thể cảm nhận thơ của các nhà thơ DTTS thế kỉ XXI trong cảm quan văn hóa, lối sống, phong tục và trong hoàn cảnh lịch sử…

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của đề tài gồm 03 chương:

Chương 1 Thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI trong tiến trình thơ DTTS Việt

Nam hiện - đương đại

Chương 2 Cảm hứng nghệ thuật trong thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật trong thơ DTTS Việt Nam đầu

thế kỉ XXI

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI TRONG TIẾN TRÌNH THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN- ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Tiến trình vận động và phát triển của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Văn học các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại chủ yếu được hình thành và phát

triển từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là từ những năm 60 của thế kỉ

XX đến nay Tuy xuất hiện muộn nhưng văn học các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại

đã có những bước vận động và phát triển khá mau chóng - từ đội ngũ sáng tác tới thể loại, số lượng và chất lượng tác phẩm

Trong sự thống nhất mà đa dạng của nền văn học Việt Nam hiện đại, các nhà thơ, nhà văn DTTS luôn có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, luôn đổi mới

về hình thức thể loại, cách tư duy hiện đại mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Nửa cuối thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của văn học người Kinh, văn học các DTTS đã

có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp văn học chung của nước nhà Các nhà văn, nhà thơ DTTS đã thực sự mang đến cho văn học nước nhà một vẻ đẹp riêng khó lẫn Các tác phẩm văn học là tiếng nói tự hào, là sự kết tinh văn hóa của mỗi tộc người trên đất nước Việt Nam

Thơ ca các DTTS Việt Nam thời kì hiện đại ra đời và hình thành vào những năm 40, 50 của thế kỉ XX với những tác giả người dân tộc tham gia cách mạng như: Hoàng Văn Thụ, Dương Công Hoạt, Lê Quảng Ba Thơ hiện đại DTTS bắt đầu xuất hiện với một số cây bút nổi bật là Hoàng Đức Hậu (Tày / 1890 - 1945), sau đó là Bàn Tài Đoàn (Dao / 1913 - 2009), Nông Quốc Chấn (Tày / 1923-2002), Nông Minh Châu (Tày / 1924 - 1979) trong thời kì kháng chiến chống Pháp Đến giai đoạn 1945-1954 thơ ca DTTS phát triển khá mạnh trong sự phát triển chung của thơ ca Việt Nam nhằm phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ mà tự hào của dân tộc

Sau khi miền Bắc được giải phóng, thơ ca các DTTS giai đoạn 1954-1975 có

sự phát triển đáng tự hào Giai đoạn này đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, số lượng tác phẩm ngày càng nhiều, chất lượng cao hơn nhiều so với giai đoạn trước

Trang 14

Những nhà thơ xuất hiện trước năm 1945 tiếp tục sáng tác và cống hiến như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu…

Bên cạnh những tác giả trước vẫn tiếp tục sáng tác thời kì này xuất hiện một thế hệ nhà thơ thứ hai, thứ ba như: Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Vi Thị Kim Bình, Y Phương (Tày), Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Vương Trung (Thái), Mã Thế Vinh (Nùng), Triệu Kim Văn (Dao), Linh Nga Niêt Đam (Ê Đê), Mã A Lềnh, (Mông), Lò Ngân Sủn (Dáy), Vương Anh (Mường), Pờ Sảo Mìn (Pa Dí), Hơ Vê (Hơ rê), Lâm Quý (Cao Lan)

Từ sau năm 1975 các nhà thơ DTTS đã tạo nên một đời sống thơ ca khá phong phú, độc đáo, mang đậm bản sắc tộc người các DTTS trong cả nước Một số nhà thơ

đã vươn đến độ chín của tài năng, đã có tác phẩm được nhận giải thưởng văn chương như các tác giả : Bàn Tài Ðoàn, Vương Anh, Lương Quy Nhân, Mã Thế Vinh, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh, Y Phương, Mai Liễu, Dương Thuấn, …

Những năm gần đây, thơ ca DTTS ngày càng xuất hiện nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng và đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong đời sống văn học nước nhà Đến nay tên tuổi các nhà thơ là con em các DTTS có tên trong Hội Nhà văn Việt Nam không còn hiếm Đặc biệt là thế hệ nhà thơ trưởng thành từ sau 1975

đến nay Dương Khâu Luông với những tập thơ được xuất bản như: Gọi bò về

chuồng (tập thơ thiếu nhi)- NXB Hội Nhà văn-2003 ; Dám kha cần ngám điếp (tập

thơ tiếng Tày)-NXB Văn hóa Dân tộc-2005; Bản mùa cốm (tập thơ thiếu nhi)-NXB Hội Nhà văn-2005; Bắt cá ở sông quê (tập thơ)-NXB Hội Nhà văn-2006; Co nghịu

hưa cần (tập thơ song ngữ thiếu nhi Tày -Việt ) - NXB Văn hóa Dân tộc-2008 Mai

Liễu với hồn thơ vẫn giữ vẹn nguyên hơi thở miền núi với hàng chục tập thơ ra đời

như: Giấc mơ của núi (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004), Bếp lửa nhà sàn (2005), Núi vẫn còn mưa (2013)…

Thơ DTTS đã có một đội ngũ khá đông đảo với nhiều cảm hứng phong phú, giọng điệu đa dạng và độc đáo Tuy nhiên, đội ngũ văn nghệ sĩ DTTS giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch, có những dân tộc có rất ít tác giả và cũng chưa có bản sắc riêng

Nền thơ ca DTTS Việt Nam thế kỉ XX với nhiều thế hệ nhà thơ đã có những đóng góp làm thay đổi không chỉ diện mạo văn học DTTS mà còn đặt nền móng vững chắc cho văn học DTTS thế kỉ XXI và cho những chặng đường tiếp theo

Trang 15

1.2 Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI

1.2.1 Những yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội tác động tới sự vận động và phát triển của thơ DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Đầu thế kỉ XXI thế giới có nhiều biến động về kinh tế, chính trị xã hội và văn

hóa Thứ nhất, thế giới đang tìm đường ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay, trên thực

tế là đang phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới khác trước Thứ hai, hiện tượng Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường ngày càng trở nên nóng bỏng trên trường quốc tế - nhất là tại khu vực Thứ ba mối quan hệ phức tạp,

căng thẳng và khó hòa giải của các nước Châu Âu với Mĩ, của Mĩ - Hàn Quốc và Triều Tiên…

Thế kỉ XXI đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ, đổi mới liên tục các xu hướng

mỹ học, sự du nhập những trào lưu phương Tây vào đời sống văn học Việt Nam…

Xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XXI có nhiều thay đổi, nhiều chuyển biến không nhỏ Việt Nam vừa phải thích nghi với bối cảnh thế giới mới rất quyết liệt so với trước, đồng thời vừa phải tự mình tìm đường chuyển sang một giai đoạn phát triển cao hơn

để có thể đứng vững trong tình hình mới Đặc biệt là trước nhu cầu đòi hỏi về văn hóa: hội nhập để đi lên, hội nhập nhưng không hòa tan, tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc

Phát triển trong tình hình đó văn học Việt Nam đã chuyển mình đi lên đầy bản lĩnh Trong đó văn học DTTS nói chung, thơ DTTS nói riêng cũng phần nào chịu ảnh hưởng, cả tiêu cực và tích cực, tuy mức độ khác nhau giữa các vùng miền, các dân tộc, các thế hệ tác giả Từ sau đổi mới 1986, thơ DTTS từng bước có những trưởng thành đáng kể Hòa chung với xu hướng của thơ đương đại, thơ DTTS cũng dần mở rộng biên độ, chấp nhận tất cả những điều từ lớn lao đến nhỏ nhặt nhất của đời sống

Thế kỉ hội nhập với sự giao thoa giữa văn học Việt Nam và thế giới, giữa văn học của dân tộc Kinh với DTTS ảnh hưởng không nhỏ đến văn học DTTS Việt Nam hiện đại Thêm vào đó là sự chuyển mình của dân tộc trong đời sống xã hội và văn hóa ở hai thập niên đầu của thế kỉ XXI Không riêng gì người DTTS, cuộc sống tinh thần con người nói chung đang đứng trước những thách thức về sự pha trộn bản sắc,

sự mai một vốn văn hóa truyền thống Với các tác giả trẻ, khi dùng trang viết của

Trang 16

mình để tái hiện, ngợi ca, cũng là cách níu kéo vốn văn hóa ấy Vì vậy có một sự thay đổi đáng kể về đội ngũ sáng tác từ trình độ, lứa tuổi, thay đổi về quan niệm nghệ thuật, về cảm hứng đến sự chuyển biến trong thể loại, trong ngôn từ và lối tư duy, diễn đạt…

1.2.2 Khái quát chung về sự vận động của thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế

kỉ XXI

1.2.2.1 Về đội ngũ tác giả

Nhìn một cách tổng thể, thơ DTTS đầu thế kỉ XXI có sự biến chuyển rõ nét, tuy mặt bằng chung chưa cao hơn giai đoạn trước nhiều nhưng số bài thơ, câu thơ hấp dẫn người đọc tăng một cách đáng kể Có được điều này không chỉ bởi những nhà thơ đã thành danh tiếp tục cống hiến và khẳng định mà còn bởi những cây bút trẻ tiếp tục có những sáng tạo mới Đặc biệt là ở 5 năm sau của thập kỉ thứ nhất và

5 năm đầu của thập kỉ thứ hai lực lượng những người sáng tác có sự thay đổi, những ấn tượng đặc biệt cũng được ghi nhận

Lực lượng sáng tác của thơ DTTS thế kỉ XXI khá đông đảo, gồm ba thế hệ: thế

hệ thứ nhất trưởng thành trong thời kì chống Pháp và chống Mỹ, thế hệ thứ hai thời hậu chiến và đổi mới, thứ ba là thế hệ sinh sau khi đất nước thống nhất Sau thế hệ những người khai sáng như: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Đinh Sơn, Lương Quy Nhân, Nông Minh Châu, Y Điêng và những tên tuổi sinh vào những năm 30 như Triều Ân, Hoàng Hạc, Mã Thế Vinh … là thế hệ 4X vẫn tiếp tục khẳng định sự sáng tạo của mình như: Vi Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Ma Trường Nguyên, Vương Anh, Pờ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn, Triệu Kim Văn, …

Thế hệ vào tuổi 5X ít hơn nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng cho một phát triển có mặt là đột xuất để đạt một tầm cao tương xứng với thời đổi mới và hội nhập trong bối cảnh kỷ nguyên thông tin và cuộc Toàn cầu hoá lần thứ ba Đó là: Mai Liễu, Triệu Lam Châu, Lò Cao Nhum, Inrasara Phú Trạm, Dương Thuấn… Người lớn tuổi nhất thuộc thế hệ này đã ngoài 60, và người trẻ nhất đã ngoài 50 Vậy cũng không còn là trẻ, nhưng họ đã khẳng định được những cái mới trong sáng tạo và đang còn nhiều hứa hẹn

Trang 17

Sang thế kỷ XXI, đặc biệt là trong khoảng mươi năm trở lại đây, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành cũng như sự bứt phá của nhiều cây bút dân tộc thiểu số trẻ

Trong bài Đội ngũ nhà văn trẻ dân tộc thiểu số ở Việt Nam tác giả Đỗ Thị Thu

Huyền đã đánh giá: “Hiện nay, văn học dân tộc thiểu số hiện đại từng bước có những vận động mạnh mẽ và đa diện Thế hệ đặt nền móng và thế hệ sung sức của thế kỷ trước đã hoàn thành sứ mệnh một cách xuất sắc, những tác giả của thời kỳ đương đại, đặc biệt là lứa những tác giả trẻ 7X, 8X đang trên đà khẳng định mình và một lứa các cây viết thế hệ 9X đang tiếp nối bước chân của bậc cha anh trên con đường sáng tạo đầy nhọc nhằn” [22]

Những tác giả trẻ đã và đang là niềm hy vọng mới cho văn học DTTS Họ có thể sẽ đại diện cho cả một thế hệ những người viết trẻ có khả năng làm thay đổi diện mạo của văn học DTTS Họ không hề tỏ ra thua kém trước sự phát triển rầm rộ của văn học đương đại và những xu hướng mới du nhập với trình độ ngoại ngữ, sự đào tạo bài bản và quan trọng hơn nữa là ý thức dấn thân và không ngại đổi mới Có những tác giả bước vào độ chín của sáng tác, phong cách định hình khá rõ rệt, nhiều tác giả có những triển vọng đi xa và quyết liệt như Bùi Thị Tuyết Mai (Mường), Đinh Thị Mai Lan, Hoàng Chiến Thắng (Tày), Hoàng Thanh Hương (Mường), Niê Thanh Mai (Êđê) và những tác giả trẻ sau này như Phạm Văn Vũ, Ngô Bá Hòa (Tày), Tuệ Nguyên (Chăm), Thạch Đờ Ni, Vi Thùy Linh Điểm chung của những cây bút trẻ DTTS là sự ý thức thường trực về một bản sắc cần lưu truyền cộng hưởng với khả năng đổi mới hòa nhập vào dòng chảy văn học đương đại nhưng không phải là không định hướng một sự khẳng định chính mình

Sang thế kỷ XXI, thơ ca Việt Nam chứng kiến sự trưởng thành cũng như sự bứt phá của nhiều cây bút DTTS trẻ, họ đã cho ra đời hàng trăm tác phẩm với nhiều giọng điệu và cách thể hiện khác Các nhà thơ của thế kỉ XX vẫn bền sức và sâu đậm cảm xúc với những thành tựu nổi bật Năm 2004 Dương Thuấn nhận được giải B Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam với tập thơ

Đêm bên sông yên lặng Nhà thơ Y Phương - nhà thơ thuộc thế hệ thứ hai của thơ

DTTS, nhận giải thưởng Nhà nước với các tác phẩm: Chín tháng (Trường ca, 2000) Thơ

Y Phương (2000); Thất tàng lồm (Ngược gió- thơ song ngữ Tày-Việt 2006); đặc biệt

Trang 18

tập thơ Vũ khúc Tày được tặng giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2016 Nông Thị Ngọc Hòa với tập Vườn duyên (2002) nhận giải C của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam; tập Con đường cho mây đi (2004); tập thơ Men qua cõi

thiền (2008) nhận giải A của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Pờ Sảo Mìn với Con trai người Pa Dí (2002), Mắt rừng xanh (2005), Đôi cánh chim rừng

(2014), Tiếng chim cao nguyên (2015) Tạ Thu Huyền với Đầy vơi (2008)

Văn học dân tộc chứng kiến sự xuất hiện đông đảo, rầm rộ của văn học các DTTS, cả khu vực Đông Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên và Nam Trung bộ Các tuyển tập ghi dấu ấn bởi sự công phu, chọn lọc Số tác giả hiện nay khá đông đảo, trải dài từ các tác giả thuộc thế hệ 5X, 6X, đến các tác giả thuộc thế hệ 8X, 9X song song tồn tại và đều có những đóng góp không thể phủ nhận Đặc biệt đáng lưu ý là đội ngũ những người viết trẻ, họ là một lực lượng, một đội ngũ khá đông đảo, bao gồm các cây bút trẻ thuộc các DTTS Việt Nam Họ đam mê với văn chương, đa số được đào tạo khá cơ bản, có trình độ văn hóa (hầu hết đều có trình độ Cao đẳng và Đại học), trong đó có những người đã được học Đại học Viết văn Những sáng tác của họ đã được công bố rộng rãi trên các báo, các tạp chí trung ương và địa phương; họ có nhiều tác phẩm được xuất bản và đã đạt được khá nhiều giải thưởng văn học có uy tín trong nước; thậm chí đã có những tác phẩm được giới thiệu ra nước ngoài…

Những cây bút DTTS trẻ là những người luôn có khát vọng sáng tạo, đổi mới văn chương Họ đã cố gắng rất nhiều trong việc đổi mới cách viết, cách nhìn và điểm nhìn nghệ thuật Văn chương của họ tươi tắn, hồn nhiên, hiện đại, thông minh và “láu lỉnh” hơn so với các cây bút thuộc thế hệ trước Họ đề cập đến các vấn đề xã hội, vấn

đề cá nhân một cách đa diện, đa chiều hơn Đặc biệt, họ ít bị chi phối bởi khuôn khổ, bởi các “mô típ” nghệ thuật mang tính truyền thống hơn so với các nhà văn lớp trước

Có lẽ cũng chính vì vậy mà họ đã tạo nên một không khí mới, một mầu sắc mới, một hơi thở mới trong đời sống văn học các DTTS đương đại và bước đầu họ cũng đã thu hút được sự chú ý và đánh giá khá cao của một số bạn đọc, nhất là những người đọc trẻ Bên cạnh đó còn có một xu hướng các nhà văn trẻ có ý thức kế thừa những tinh hoa của văn học truyền thống cùng những thành tựu mà thế hệ nhà văn trước đã đạt được - trên cơ sở làm mới lên, làm phong phú hơn, có tính hiện đại hơn trong cách

Trang 19

cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt và cách viết của thế hệ mình Họ đã cho ra đời những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa tộc người nhưng với lối viết hiện đại, khiến cho người đọc thú vị, hấp dẫn bởi hương vị độc đáo cùng mầu sắc riêng biệt của nó Hoàng Chiến Thắng (sinh năm 1980 ở Chợ Đồn, Bắc Kạn, dân tộc Tày) nổi lên như một tác giả trẻ có nhiều triển vọng trên con đường sáng tác văn học Bộ sưu tập giải thưởng của Hoàng Chiến Thắng gồm: Giải Nhì cuộc thi thơ Văn nghệ Quân đội năm

2008-2009 với bài Bà tôi; Giải Trẻ Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2009 cho tập thơ Gọi ngày xuống núi

Vi Thùy Linh - nhà thơ nữ được phong là thi sĩ ái quyền có những tập thơ gây

ấn tượng như: Linh (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2000); Đồng Tử (Nxb Văn nghệ TP

Hồ Chí Minh, 2005); ViLi in love (2008); Phim đôi-Tình tự chậm (2011)… Và

nhiều nhà thơ nữ có những tác phẩm tiêu biểu được xuất bản như Phùng Hải Yến có

tập Thơ với bạn thơ (2012) Chu Thùy Liên với Xa nhà ca (2005); Sông ngàn lau (2002), Lời hẹn (2007) của Đoàn Ngọc Minh Bế Phương Mai với Bài thơ cho cha (2003); Hoàng Thanh Hương có Lời cầu hôn của rừng (2008); Đinh Thị Mai Lan với Tiếng đàn đêm (2005); Nơi cất rượu(2005); Mường Trong (2006) của Bùi Thị Tuyết Mai; Tềnh Pù trên núi (2007), Mùa trăng (2008) của Nông Thị Tô Hường;

Khúc giao mùa (2008) của Hoàng Kim Dung

Cuốn Thơ Dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI do Nhà xuất bản Văn hóa Dân

tộc phát hành quý IV-2011 là một tác phẩm tuyển chọn khá công phu về thơ DTTS Việt Nam và thơ của các tác giả người Kinh từng đang sống và làm việc ở các miền núi và vùng có đồng bào DTTS sinh sống Tập thơ do bốn nhà thơ người dân tộc thiểu số tuyển chọn là: Mai Liễu, Y Phương, Inrasara và Trịnh Hà Đây là những nhà thơ nối tiếp nên họ có khả năng hiểu được thế hệ thơ đi trước, đồng thời cảm nhận

được không khí thơ của thế hệ đến sau, từ đó đưa ra tiêu chí chọn khả dĩ nhất Thơ

Dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI tập hợp thơ chọn thuộc ba thế hệ: thế hệ thứ

nhất thuộc chống Pháp và chống Mỹ, thứ hai thời hậu chiến và đổi mới, và thứ ba là thế hệ sinh sau khi đất nước thống nhất Đây là tuyển thơ tập hợp nhiều đề tài, đa dạng về nội dung, đa giọng điệu về cách thể hiện của tiếng thơ thuộc nhiều vùng miền

Trang 20

khác nhau Ở đó, không ít thủ pháp mới lạ được các nhà thơ- nhất là các bạn thơ trẻ- thể nghiệm thành công

Trong cuốn Thơ dân tộc và miền núi đầu thế kỉ XXI mà chúng tôi sử dụng để

nghiên cứu đề tài gồm có tổng số hơn 400 bài thơ của 169 tác giả thuộc 23 dân tộc khác nhau cư trú ở nhiều vùng miền khác, rải khắp đất nước viết về dân tộc thiểu số Tuy nhiên chúng tôi chỉ nghiên cứu thơ của 95 tác giả người DTTS viết về DTTS Qua quá trình đọc, tìm hiểu chúng tôi đã tiến hành sát và thống kê số lượng các tác giả là người DTTS thuộc các dân tộc như sau:

STT DÂN TỘC SỐ LƯỢNG TÁC GIẢ

Trang 21

Qua quá trình khảo sát thống kê chúng tôi thu được kết quả: trong tổng số 95 nhà thơ là người DTTS thì lực lượng đông đảo hùng hậu nhất là tác giả người dân tộc Tày (35), kế đến là các tác giả người dân tộc Mường (11 tác giả) và dân tộc Thái (9 tác giả), Dao (8 tác giả) Còn lại các tác giả người DTTS khác chiếm số lượng khiêm tốn, thậm chí ít ỏi

Đội ngũ tác giả trẻ người DTTS còn có sự chưa cân đối trên các vùng miền, số lượng tác phẩm xuất bản nhiều vẫn thuộc về những dân tộc vốn có truyền thống và bề dày thành tựu văn học Ngoài dân tộc Tày, tín hiệu đáng mừng là đội ngũ những tác giả

kế cận của các dân tộc như Dao, Mường, Thái, H’mông, Nùng, Ê đê, Chăm cũng bắt đầu khẳng định được bản lĩnh sáng tạo của mình để tiếp bước thế hệ trước; và thậm chí

có những dân tộc lần đầu xuất hiện một cách tự tin như dân tộc Cao Lan…

Trong đội ngũ sáng tác, sự kế tục của thế hệ người viết trẻ tuy đã được chú ý, nhưng vẫn còn nhiều bất cập - khi đa số thế hệ nhà văn trẻ miền núi đều không sáng tác được bằng tiếng mẹ đẻ, và hầu hết họ đều đã được “bứng” ra khỏi môi trường sống miền núi Đây cũng là một trong những vấn đề đang được nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ quan ngại khi nhìn về tương lai phát triển của thơ ca miền núi trong thời kì mới - thời kì đương đại, thế kỷ XXI

1.2.2.2 Về giá trị nội dung

Giai đoạn gần 20 năm đầu thế kỉ XXI này thơ DTTS vươn đến hướng khai thác

đề tài cuộc sống với cái nhìn nhân văn, kiếm tìm và khẳng định cái Chân - Thiện - Mĩ của con người, của văn hóa miền núi

Thơ DTTS thế kỉ XXI tập hợp nhiều đề tài, đa dạng về nội dung, gửi gắm nhiều

tư tưởng và từ đó mang đậm bản sắc văn hóa tộc người Để góp những tiếng nói của mình vào nền thơ chung của đất nước thời kì hội nhập, các tác giả là người DTTS luôn chú trọng khám phá, bảo lưu văn hóa gốc của mình qua sự biểu đạt khá ấn tượng trong sáng tác Đã có rất nhiều tác phẩm mang đậm dấu ấn vùng miền, tộc người được bạn đọc yêu thích, góp phần làm nên gương mặt văn hóa, văn học nước nhà Sự thành công ấy được thể hiện ở giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật

Thơ DTTS đầu thế kỉ XXI đã có những thành tựu khá mới mẻ về nội dung, đóng góp tiếng nói mới mẻ cho thơ ca DTTS Việt Nam Điều đó thể hiện ở nguốn cảm hứng vừa quen thuộc vừa mới mẻ: trữ tình và thế sự

Trang 22

Đó là cảm hứng trữ tình về thiên nhiên, cuộc sống con người miền núi Các sáng tác tập trung phản ánh một cách sinh động hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người miền núi với lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc trong thời đại mới Không gian miền núi mang đậm bản sắc văn hóa cũng được khắc họa đầy độc đáo chứa đựng tình yêu

và niềm tự hào sâu sắc Các nhà thơ phát hiện và khẳng định cái thần thái, cái hồn vía của dân tộc mình Hình tượng con người trong thơ của các cây bút thiểu số chủ yếu là những con người miền núi mang dáng dấp, phong thái riêng của tộc người Đặc biệt

có những sáng tác từ chỗ tập trung cho nhiệm vụ tuyên truyền, ca ngợi quê hương, đất nước, đến nay đã đi sâu khai thác thân phận con người vùng DTTS và miền núi

Đó còn là cảm hứng tự hào về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách đồng bào các dân tộc thiểu số với cách nhìn, cách cảm, cách cắt nghĩa, cách lí giải về thế giới và con người mang đặc trưng riêng Thế giới và con người trong thơ DTTS gần gũi giản dị mang bản sắc văn hóa dân tộc Vẫn cuộc sống chân tình của người miền núi; vẫn sự đa sắc của phong tục tập quán; vẫn tình yêu bền bỉ mộc mạc của trai gái vùng cao… mà thơ, truyện, ký đến cư trú, khai thác mãi không cạn nguồn Đó là con người trong trẻo hồn nhiên mà không kém phần chiêm nghiệm trăn trở, suy tư khao khát hướng về cái đẹp;

là con người thủy chung nghĩa tình Con người hiền lành thật thà mạnh mẽ,dũng cảm,

có cả những con người đổi thay bởi biến động xã hội, guồng quay đời sống Con người vật lộn giữa những biến động cuộc đời, con người nghĩa tình sâu nặng

Nhưng cũng chính từ mạch cảm xúc trữ tình ơn nghĩa, từ những chiêm nghiệm của người trong cuộc, các tác giả đã gửi gắm ý tưởng sâu lắng Thơ ca phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống của các DTTS trong sự đổi thay của xã hội của đất nước Một cuộc sống mưu sinh còn nhiều bộn bề khó khăn, cơn bão của văn hóa hiện đại đang làm mai một bào mòn văn hóa truyền thống các dân tộc Bên cạnh tình yêu tha thiết, niềm tự hào trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống, ngợi ca các phong tục tập quán đẹp…các nhà thơ DTTS thế kỉ XXI còn đau đớn xót xa và suy tư trăn trở trước dự cảm âu lo về sự suy tàn, mai một, mong manh của các giá trị văn hóa truyền thống trước sức tấn công của đời sống hiện đại

Giá trị nội dung của thơ DTTS đóng góp không nhỏ cho thơ ca hiện đại của DTTS nói riêng và nền thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung, đánh dấu sự phong phú

độc đáo mang bản sắc dân tộc cho thơ ca dân tộc

Trang 23

1.2.2.3 Về chất lượng nghệ thuật

Thơ DTTS những năm đầu thế kỉ XXI có sự chuyển biến về thể loại, có những cách tân hiện đại và phóng khoáng hơn trong vần điệu, ngắt nhịp Thể thơ chiếm ưu thế trong thơ giai đoạn này là thể tự do, có lẽ bởi nó hợp với cái khoáng đạt của tâm hồn người miền núi và cũng là một cách làm khác đi so với những thể loại quen thuộc Vẫn

có một số người trung thành với thể 7-8 chữ, 5 chữ Có một số tác giả cũng thử nghiệm với thơ văn xuôi Đổi mới nổi bật nhất chính là về hình thức, tiến dần đến hiện đại hóa, thơ dân tộc thiểu số gần hơn với thơ đương đại Tuy nhiên một số lại chưa hoặc không hòa nhập với sự thay đổi (tình trạng này thường thuộc về một số đại diện của thế hệ trước) Còn những tác giả thuộc thế hệ mới thường sẵn sàng nhập cuộc với sự nhiệt thành, sôi nổi như: Chu Thùy Liên (Hà Nhì), Bùi Tuyết Mai, Vi Thùy Linh (Tày), Hoàng Chiến Thắng (Tày), Ngô Bá Hòa (Tày) Và một Inrassarra với lối viết gần với hậu hiện đại tạo nên không khí mới cho thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại.Và còn nhiều tác giả khác cũng đang trong giai đoạn bứt phá Khu vực Tây Nguyên có Hoàng Thanh Hương (Mường) với triển vọng mới cho thơ ca DTTS

Thơ DTTS thế kỉ XXI đa giọng điệu về cách thể hiện của tiếng thơ thuộc nhiều vùng miền khác nhau Ngôn ngữ hình ảnh mang đặc trưng riêng Đặc biệt là ở cách cảm, cách tư duy diễn đạt độc đáo của các dân tộc thiểu số Ở đó, không ít thủ pháp mới lạ được các nhà thơ - nhất là các bạn thơ trẻ thể nghiệm Và khá thành công, đem lại diện mạo mới cho văn học DTTS Việt Nam đầu thế kỉ XXI như Vi Thùy Linh Giọng điệu là

một trong những nét đặc trưng độc đáo của thơ DTTS Giọng điệu trong thơ cũng

uyển chuyển, đa dạng theo cảm hứng- có phơi phới ngợi ca, có buồn sầu thấm thía, có

tự hào hãnh diện, có khắc khoải âu lo Đó là giọng kể, tả, là giọng điệu thiết tha, đằm thắm kiểu tâm tình: ru, than, ngọt ngào Giọng điệu đặc sắc và thu hút được sự chú ý của người đọc hơn hết, đó là sự khỏe khoắn, vui tươi, mạnh mẽ, đúng như tính cách con người miền núi

Đặc điểm phong cách quen thuộc ở lớp tác giả trước là giản dị, thuần phác tự nhiên như gió núi mây ngàn hay cao nguyên lộng gió Trong khi đó các tác giả trẻ người dân tộc thiểu số hiện nay tìm đến sự đa dạng về cách viết Chất liệu, ngôn ngữ gần hơn với ngôn ngữ người Kinh nhưng họ có những lối diễn đạt phong phú sinh

Trang 24

động, trẻ trung, tràn đầy nhựa sống Thế hệ trước, từ những người mở đường như cố nhà thơ Nông Quốc Chấn đã viết những câu thơ hiện đại hóa, mới mẻ đầy ấn tượng Sau này, lớp những tác giả tiếp nối và làm rực rỡ, tân kỳ, sôi động hơn cho nền văn học DTTS hiện đại đã tồn tại gần một thế kỷ như Y Phương - một Y Phương của những ngày đầu làm thơ mộc mạc và đậm chất miền núi hồn nhiên Những giai đoạn sau này, thơ Y Phương ngày càng chứng tỏ sự điêu luyện trong bút pháp, tầm triết luận sâu sắc trong nhận thức, trong từng vấn đề thể hiện Nét độc đáo của cái chất miền núi, chất Tày không mất đi mà kết hợp hài hòa với lối tư duy hiện đại Như sự độc đáo của

Pờ Sảo Mìn là tư duy mạch lạc, diễn đạt gọn rõ, dễ hiểu không quá tân kỳ về hình thức biểu hiện, ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, hình ảnh thơ đẹp đọng lại trong tâm hồn người đọc Người đọc cũng đầy ấn tượng với Hà Thị Cẩm Anh, Inrasara, Lò Cao Nhum, Vi Thùy Linh…Họ đều gặp nhau ở lối viết dân tộc mà hiện đại

Một trong những điểm khác biệt của thơ DTTS với văn học miền xuôi là phải kể

đến là ngôn ngữ Việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ của các cây bút DTTS khá đa

dạng, linh hoạt Sự đa dạng, linh hoạt làm cho thơ họ không khô cứng, không gò ép trong tất cả các thể loại Ngôn từ có khi dung dị bình dân, có khi uyên thâm bác học,

có ngôn từ và cách diễn đạt gắn với tộc người, có ngôn từ và cách diễn đạt rất Việt… Mỗi dân tộc đều sử dụng thứ ngôn ngữ của riêng mình để sáng tác thơ văn Thơ Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn, Vi Thùy Linh, Hoàng Chiến Thắng, Lò Cao Nhum tuy phần nhiều là tiếng Việt, chất liệu mà các tác giả người Kinh vẫn dùng, nhưng cái làm nên nét riêng độc đáo của họ chính là những cách nói chỉ DTTS mới

có Các nhà thơ đưa vào thơ những ngôn từ của đời sống còn mang tính nguyên sơ, sắp đặt theo trật tự của cảm xúc, không tuân theo những quy phạm chặt chẽ Bên cạnh những câu thơ mộc mạc, thô sơ là những ý thơ có những ý nghĩa sâu xa; bên cạnh những ngôn từ dung dị của đời thường còn có những ngôn ngữ có bóng dáng của sự

“gia công” khá kỹ lưỡng Và hình ảnh trong thơ DTTS đầu thế kỉ XXI mang nét độc đáo của cảm quan con người miền núi, có những hình ảnh đã trở thành biểu tượng cho nếp cảm nếp nghĩ và quan niệm sống của con người miền núi

Trang 25

Tiểu kết chương 1

Thơ DTTS Việt Nam hiện đại với gần một thế kỉ phát triển đã thu được nhiều thành tựu đáng tự hào, đặt nền móng cho những chặng đường tiếp theo Và chặng đường mới của thơ DTTS là gần 20 năm đầu thế kỉ XXI đã có bước phát triển mới trên các phương diện Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, hùng hậu Điều đáng quan tâm là đội ngũ nhà thơ đã được trẻ hóa và chất lượng người cầm bút cũng đạt ở trình độ cao với ba thế hệ nhà thơ kế tiếp nhau Giá trị nội dung trong các sáng tác phong phú hơn vừa giàu chất hiện thực vừa thấm đẫm chất trữ tình Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương, là đời sống tâm hồn là bản chất của con người miền núi với tình yêu con người, quê hương, đất nước và cả những khó khăn, sự nghèo đói của người dân vùng cao Bên cạnh đó là những day dứt trăn trở về sự đổi thay của cuộc sống, xã hội và con người Đặc biệt là sự bứt phá của các nhà thơ trẻ trong nghệ thuật thơ từ thể loại đến ngôn ngữ, giọng điệu và thủ pháp nghệ thuật

Bằng tài năng và niềm say mê các nhà thơ DTTS hiện đại đầu thế kỉ XXI đã làm nên diện mạo và tầm vóc của nền thơ ca nói riêng và văn học DTTS nói chung trong dòng chảy của văn học dân tộc

Trang 26

Chương 2 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

2.1 Một số khái niệm lý luận liên quan

2.1.1 Khái niệm cảm hứng

Theo Từ điển Tiếng Việt, "Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý

được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả” Song cần phân biệt cảm hứng thông thường

- cảm hứng công việc với cảm hứng trong văn chương - cảm hứng nghệ thuật

Phương Lựu trong Lý luận văn học phân biệt: "Cảm hứng có thể có trong tất cả các

ngành sản xuất khi mà con người lao động hoàn toàn tự nguyện theo những mục đích hoàn toàn phù hợp với lý tưởng và khả năng của mình Nhưng khác với thành phẩm của tất cả các ngành lao động khác, tác phẩm văn học nghệ thuật còn chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo" [32, tr.209-210]

Ngô Thì Nhậm từng kêu gọi các thi nhân nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tác

của mình bắt đầu bằng sự rung động: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”;

Còn cảm hứng đối với Lê Quý Đôn được hiểu như trạng thái cảm xúc tràn đầy:

“Trong lòng có cảm xúc thật sự, rung cảm nên lời”

Một nhận định đáng để chúng ta lưu tâm khi khảo sát về cảm hứng trong văn

chương là nhận định của Hêghen: "Cảm hứng có ý nghĩa xã hội mới là cảm hứng chủ

đạo cần có của văn học" Với K Pautôpxki trong tác phẩm Bông hồng vàng và Bình

minh mưa thì viết: “… Cảm hứng đi vào tâm hồn chúng ta như một buổi sáng mùa

hạ rực rỡ vừa mới rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm êm ả, nhưng vẫn còn lại những hạt sương sớm với những bụi cây ẩm ướt Nó nhẹ nhàng thổi cái tươi mát tốt lành của nó vào mặt chúng ta Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ ly kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những nụ cười và những câu hỏi ngập ngừng dang dở…Lúc đó thế giới bên trong của chúng ta trở nên tinh tế và chuẩn xác như một cây đàn kỳ diệu, đáp lại mọi âm thanh của cuộc đời kể

cả những tiếng động thầm kín nhất, khó nhận thấy nhất” Có thể thấy, cảm hứng sáng

tác vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nghệ

Trang 27

sĩ Nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao động nghiêm túc, cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi Nó tiếp nhận hiện thực một cách sinh động khi trong người tràn đầy ý nghĩ và tri thức về sáng tạo của mình

Như vậy, cảm hứng có vai trò quan trọng đối với nhà thơ Nó đem lại trạng thái phấn chấn về tinh thần giúp cho nhà thơ có động lực sáng tạo, đồng thời giúp nhà thơ thấy rõ và nhanh vấn đề, phát hiện ra những điều mới, thú vị, từ đó thực hiện công việc sáng tác một cách thích thú và có hiệu quả cao Cảm hứng đối với nhà thơ là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng vì nó là điểm khởi đầu, là chất men sáng tạo cho sáng tác của họ

2.1.2 Cảm hứng nghệ thuật - Cảm hứng chủ đạo

Cảm hứng nghệ thuật là một phạm trù thuộc về lý luận văn học, nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (pathos) tức là tình cảm sâu sắc, nồng nàn Cảm hứng nghệ thuật bao giờ cũng đậm đà, lắng lọc hơn những cảm hứng thông thường Đồng thời, cảm hứng này luôn gắn với tư tưởng và mang tính khuynh hướng rõ rệt Cảm hứng nghệ thuật là một yếu tố của nội dung tác phẩm Nó thống nhất các yếu tố khác như đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm, chi phối và quyết định hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm đó Nhiều nhà lý luận gọi cảm hứng nghệ thuật là cảm hứng chủ đạo hay gọi tắt

là cảm hứng

Nhà thơ nào cũng có quyền sở hữu một thế giới thi ca, một vùng đất thơ giàu giá trị thẩm mĩ Ở thế giới ấy, nhà thơ tự do trình diễn tâm hồn mình và cái nhìn của mình về cuộc sống và con người bằng những sắc màu, hình ảnh, âm thanh, tư

tưởng…với nguồn cảm hứng bất tận Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Cảm hứng nghệ thuật là một trạng thái căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng" [33, tr.210]

Theo các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển

văn học: "Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt

tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận" [15, tr.38] Bê-lin-xki - nhà lý

luận văn học Xô Viết - cũng đã nhận thức được vai trò quan trọng của cảm hứng chủ đạo

Trang 28

trong sáng tạo nghệ thuật, ông coi cảm hứng chủ đạo là “điều kiện không thể thiếu được của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”.”

Cũng như một số khái niệm khoa học khác, khái niệm cảm hứng chủ đạo có quá

trình hình thành, phát triển và sự giới hạn nội hàm nhất định “Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình, say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ Về sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả” [15, tr.39]

Cảm hứng nghệ thuật thấm nhuần trong mọi yếu tố của tác phẩm văn học và từ

đó giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo nên hình tượng tác giả trong tác phẩm Ngược lại, hình tượng tác giả chi phối từ cách nhìn, giọng điệu đến cách thức lựa chọn, phân tích và phản ánh hiện thực cuộc sống vào tác phẩm Hình tượng tác giả tồn tại như vô hình, nhưng lúc nào ta cũng nhìn theo cái nhìn, giọng điệu của tác giả

Ta luôn luôn thấy con mắt tác giả đặt vào các chi tiết Cái nhìn, giọng điệu này không trừu tượng như tư tưởng, cũng không tản mạn như những cảm giác mà nó luôn luôn

có mặt và có tính ổn định trong tác phẩm

Không thể phủ nhận vai trò bao quát, chi phối, có tính định hướng, có tính quyết định đến mọi phương diện của tác phẩm văn học ở cảm hứng nghệ thuật Khảo sát cảm hứng nghệ thuật của một nhóm các sáng tác của cùng một tác giả giúp ta hiểu thêm về phong cách tác giả đó và thế giới tâm hồn phong phú của họ

Có nhiều loại cảm hứng nghệ thuật như: cảm hứng nhân đạo, cảm hứng yêu nước, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng trào phúng, cảm hứng về sự thật, cảm hứng hoài

cổ, cảm hứng bi kịch, cảm hứng anh hùng, Các loại cảm hứng thường gắn bó với nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập vào nhau

2.2 Cảm hứng nghệ thuật trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đầu thế kỉ XXI

Thơ DTTS đầu thế kỉ XXI được sáng tác với nhiều cảm hứng như: ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người miền núi; ngợi ca Đảng, bác Hồ; phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội hay cảm hứng suy tư chiêm nghiệm…Tuy nhiên trong khuôn

khổ của đề tài chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu hai dòng cảm hứng lớn, chủ đạo là: Cảm

Trang 29

hứng trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi và

Cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm về tình đời, tình người

2.2.1 Cảm hứng trữ tình ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và cuộc sống miền núi

2.2.1.1 Ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước miền núi

Mỗi người con đất Việt ai cũng tự hào về quê hương của mình - nơi chôn rau cắt rốn, nơi lưu giữ bao kỉ niệm, bao tình yêu ấm áp như máu thịt Thiên nhiên quê hương trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca DTTS đầu thế kỉ XXI Các nhà thơ DTTS đã dành cho quê hương mình những trang viết đầy xúc động để rồi thời gian qua đi, trải qua bao thăng trầm của cuộc sống khi họ nhìn về quê hương, những ngọn núi, dòng sông, cánh rừng hay bãi cát trắng mênh mông hoặc cao nguyên lộng gió, hay Tây Nguyên đại ngàn…tất cả như một điểm tựa để nhớ, để yêu, là chốn bình yên để trở về sau những bão giông của cuộc đời

Thơ DTTS đầu thế kỉ XXI đã cho ta thấy nét bản sắc riêng, rất độc đáo của thiên nhiên qua cảm nhận đáng trân trọng của các nhà thơ dân tộc Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả luôn hướng trái tim, hướng ngòi bút của mình đến cảnh sắc tự nhiên và xã hội mang đậm vẻ đẹp miền núi Có lẽ, bởi họ đã được sinh ra và lớn lên

ở vùng miền núi cao xanh thẳm, hoang dã và chính nơi đây đã khơi nguồn cảm hứng cho các sáng tác, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa của họ Các nhà thơ dân tộc thiểu số giai đoạn này hướng ngòi bút vào phản ánh thiên nhiên với vẻ đẹp vừa chân thực vừa lãng mạn Cảm hứng sáng tạo được khơi dậy một cách mãnh liệt và tươi mới

Hồ Chư - nguời con của dân tộc Vân Kiều - tự hào và yêu biết mấy cao nguyên lộng gió, nồng nàn bóng nắng và đất đỏ bazan màu mỡ:

Quê tôi là một vùng cao nguyên xanh Mãi ngàn đời như lòng người chân thật Như Krông Anô, Krông Pach

Chảy về xuôi hòa với biển bao la

(Về với cao nguyên quê tôi) [42, tr.74-75]

Bàn Tài Đoàn sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Nguyên Bình - Cao Bằng Thiên nhiên miền núi cao vời, xanh thẳm nơi quê hương ông vừa là môi trường sinh sống,

Trang 30

vừa là người bạn tâm tình, vừa là nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ông Ở đó, chúng

ta bắt gặp rất nhiều những hình ảnh của rừng núi, thiên nhiên, với những cánh rừng xanh biếc, những dãy núi đá nhọn chọc trời:

Đất châu Nguyên Bình bao la rộng Ruộng đồng thì ít, núi nhiều thay

Phía nam núi đất, rừng xanh biếc Phía bắc đá nhọn chọc trời mây

(Phai Khắt, Nà Ngần)

Còn trong thơ của Triệu Kim Văn, thiên nhiên có lúc thật hùng vĩ dữ dội, cheo leo đầy thú vị :

Thôm Khoan, Thôm Phụ, Khau Cà, Khuổm Hả

Lủng Bì, Bình Dông, Khuổi Duốc, Khuổi Hồng

Gốc vải rừng trăm tuổi lá cong vênh

Ngỡ người cũng cong vênh bên vách núi

Dốc ông cản đầu gối nhô chạm mũi Không xa kia Bắc Cạn phố tưng bừng

(Lội bộ cùng Cao Sơn) [41, tr.321]

Nhà thơ như thổi hồn vào các địa danh với cảm hứng tự hào yêu thương Mỗi tên núi tên đèo, tên suối đều gắn bó máu thịt với hồn thơ Triệu Kim Văn Có lúc thiên nhiên lại hiền hoà với hương sắc núi rừng lan toả mênh mang, với cảnh núi rừng đầy thơ mộng:

Những hoa mận, hoa mơ Muôn loài chim đua tiếng

Vũ trụ cũng non tơ Men xuân thấm đẫm

(Men xuân) [41, tr.350]

Nhà thơ có một cái nhìn đầy yêu thương, đầy cảm xúc đối với từng ngọn núi, dòng suối, viên đá, từng bông hoa, ngọn măng… với những mặt trời, mặt trăng… đến tiếng chim thánh thót, đến tiếng gà gáy vang vọng nơi rừng xanh Miêu tả về hồ Ba

Bể nhà thơ cho ta thấy nét đẹp của hồ thật khác lạ Đó là vẻ đẹp của núi đá bao

Trang 31

quanh, là non nước xanh trong in bóng con người, là nét đẹp đến núi đá cũng phải nghiêng mình:

Ba bể xanh xanh bất ngờ

Biển trên núi, biển quây bằng đá

Núi nghiêng mình núi đẹp đến hoang sơ

(Ngược miền ca dao) [41, tr.228]

Những người con sống trên đá tai mèo, lớn lên cùng thiên nhiên hùng vĩ luôn tự hào về tầm cao của thiên nhiên và con người quê hương mình Có một Lò Ngân Sủn viết về quê hương mình với thiên nhiên Tây Bắc, Việt Bắc thật hùng vĩ dữ dội, hoang

sơ hiểm trở Trong thơ ông ta thấy những dãy núi như thách thức những đôi chân đầy khát vọng, những dòng suối mát trong nguyên sơ mà thanh sạch lạ lùng:

Suối đi như một đường xanh Uốn quanh chân núi, uốn quanh chân đồi Khúc im lặng

Khúc xa xôi Gặp cơn mưa đổ sục sôi ào ào Gặp mùa hạn hán lao xao Gặp nơi có thác suối trào ra mây

(Suối) [49, tr.51]

Mai Liễu, người con của quê hương Tuyên Quang, nhà thơ của dân tộc Tày

từng bộc lộ: “Quê hương và tình người miền núi là niềm trăn trở, hối thúc tôi cầm

bút và nó còn trở đi trở lại mãi trong cuộc đời cầm bút của tôi” (Lời đầu sách - Đầu

nguồn mây trắng) Độc giả nhận thấy trong thơ ông một không gian miền núi quen

thuộc có núi quấn quít, giăng mắc tạo nên ấn tượng khác lạ:

Ôm nhau đứng là núi to núi nhỏ Bản tựa vào sương, vào chân mây Mùa nắng cháy nghẹn bắp ngô trên rẫy Cơn lũ ào lên đồng lúa cát vùi

(Đêm nay gió Khau Mòn lại nổi) [42, tr.248]

Dù đang ở đâu, thơ ông trở về với nguồn cội bằng những hình ảnh quen thuộc, người đọc thấy Mai Liễu nhập thân vào rừng, suối, nhà sàn Vẻ đẹp của quê hương làm ông vợi bớt cảm giác li hương Tất cả vẫn da diết máu thịt trong tâm hồn nhà thơ

Trang 32

Hình ảnh quê hương với “cầu thang chín bậc”gợi nhớ văn hóa, gợi nhắc một thời tuổi

trẻ và tình yêu Bởi vậy hình ảnh ngôi nhà sàn với cầu thang chín bậc là hình tượng nghệ thuật đặc trưng trong thơ ông:

Cầu thang nhà em chín bậc Như con gấu đòi thấy bộng ong trên cây Tôi nhảy ba bước lên sàn…

…Nửa đời đi xa Màu thổ cẩm vẫn tươi sắc núi!

(Chín bậc cầu thang) [42, tr.247]

Và thiên nhiên còn mênh mang, tươi mát, thắm đượm tình yêu, cảnh sắc đẹp nên thơ như tình yêu đôi lứa, lấp lánh ánh sáng trong thơ Triệu Lam Châu Một cao nguyên đá hùng vĩ được nhìn từ trên cao qua đôi mắt của những chàng trai Mông:

Như thoáng thấy bóng em trên Nà Phiêng Một vùng đồi mênh mang cỏ mượt

Những bờ hoa kim anh thêu hình trái tim trắng muốt Vương miện ngời lấp lánh hoa chuông

(Như thoáng thấy bóng em trên Nà Phiêng) [10, tr.68]

Với Kpa Ylăng chất sử thi Tây Nguyên ngấm vào tâm hồn khá sâu đậm nên cao nguyên trong thơ ông luôn sống động những tiếng chim quen thuộc của núi rừng.Ông đưa vào trong câu chữ cái nắng gió Tây Nguyên dạt dào, cái đẹp kiêu dũng hoang sơ đầy sức sống của sử thi Tây Nguyên mà không kém phần lãng mạn:

Cao nguyên tháng mười cơn mưa tạnh Đêm Măng Yang trăng vàng con suối Tiếng đàn goong như cười như nói Giai điệu đàn nói mời gọi vòng xoang

(Tiếng đàn Goong già làng) [42, tr.598]

Người con của dân tộc Tày Triệu Lam Châu viết về quê hương thật tự hào với không gian núi rừng với vẻ đẹp biêng biếc, mơ màng, bay bổng Non nước Cao Bằng đẹp đến nao lòng:

Từ thác Nặm Thoong lên đèo Kiéo Pỉt Nhìn về phía đông: Núi biếc giăng thành

Trang 33

Bỗng lại thấy gương mặt buồn quyến rũ Thuở xa mờ… huyền ảo sương giăng…

(Qua đèo K éo Pỉt) [10, tr.44]

Đó là thiên nhiên quê hương trong mối liên hệ chặt chẽ với đời sống con người, vừa là không gian tâm hồn, không gian sống, vừa là khó khăn thử thách, vừa là khát vọng chinh phục của con người và trước thiên nhiên ấy con người thêm mạnh mẽ và tràn đầy khát vọng

Những dân tộc sống trên núi cao, không gian sống gắn liền với đá nên hình ảnh

về đá hùng vĩ, đá gắn với cuộc sống mưu sinh với những khát khao hạnh phúc, sinh tồn, đá chở che, bao bọc con người Và một không gian đá gắn với cuộc đời người Châu

Ro, thử thách sự kiên cường chống chọi của con người, qua thơ PRê KimaLamak:

Mẹ sinh tôi trên đá bàn Cha đẻ tôi trên đá tảng Rau tôi chôn nơi hốc đá .Mẹ trỉa lúa trên đá cuội

Mẹ tra ngô trên đá hòn Cha cõng nước từ hang đá Cha dựng nhà nơi chân đá

(Đá) [42, tr.387]

Với Mã A Lềnh đá núi khắc nghiệt cũng là nơi chở che, bao bọc vợi bớt những đau thương để sản sinh ra hoa thơm trái ngọt và hương vị của cuộc đời Bởi vậy lời thơ của Mã A Lềnh như lời tri ân gửi đá:

Từ đá Vụt lên những bông hoa nhỏ nhoi Chúng tôi gọi là hoa bất tử

Từ đá Mọc lên những rừng đào trĩu quả Chúng tôi kêu đào vạn thọ

Từ đá Sinh ra những chàng thi sĩ Hát ca về đất trời, tình yêu của mình

(Đá ở)

Trang 34

Và Triệu Kim Văn người con Cao Bằng còn tự hào về thiên nhiên miền núi hùng vĩ gợi bao cảm hứng cho các ngòi bút văn chương:

Không người Mông đã chắc có đá Đồng Văn Không núi đá

Đồng Văn đã chắc đâu hùng vĩ Chắc đâu đủ say Nguyễn Tuân gieo chữ ở Lũng Cú

Xuân Diệu cưỡi Mã Pí Lèng dốc bầu thơ!

(Đá núi Đồng Văn) [42, tr.556]

Trong thơ Lò Ngân Sủn, mỗi tên đất, tên bản, mỗi địa danh đất nước hiện lên muôn hình vạn trạng vẻ đẹp thiên nhiên và tình người sâu nặng Ngoài làng bản, thơ

Lò Ngân Sủn mở rộng không gian quê hương thân thiết Không chỉ dân tộc Dáy của

Lò Ngân Sủn mà các dân tộc anh em trên dãy núi Hoàng Liên Sơn ấy đều sống trên

đá, trong đá nên họ bản lĩnh và sống ngang tàng như dá:

(Người làng đá) [49, tr.37]

Còn nhà thơ Dương Khâu Luông luôn được sống giữa thiên nhiên Việt Bắc, được hít bầu không khí trong lành của núi rừng Vì thế, trong thơ ông thiên nhiên thật gần gũi, thân thuộc Ông đưa người đọc đến quê hương mình để được tận hưởng sinh khí của một ngày mới với vẻ đẹp nguyên sơ của rừng núi:

Trời ơi Hửng mau/ (…)

Trang 35

Cho cóc vào hang Hổ vằn … Cho đàn cò trắng

Liệng bay ngoài đồng Cho dòng suối trong Cho đàn cá lội

(Hát gọi trời hửng)

2.2.1.2 Cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của con người miền núi

Những trang thơ viết về cuộc sống con người là nguồn cảm hứng đầy yêu thương là nỗi niềm đau đáu của những nhà thơ và nhất là những nhà thơ DTTS khi viết về đồng bào mình Đúng như một nhận định về hình tượng con người trong thơ

DTTS :“ Mỗi nhà thơ đại diện cho cộng đồng mình luôn có ý thức xây dựng một hình tượng riêng tiêu biểu cho vẻ đẹp của con người dân tộc mình Những hình tượng con người đó dù được miêu tả từ những hình ảnh hay ngôn từ nào cũng đều thể hiện rõ dấu

ấn biểu tượng của dân tộc, đại diện cho vẻ đẹp của cộng đồng mà những tộc người khác không có” [52, tr.175]

Hình ảnh con người miền núi hiện lên trong thơ DTTS đầu thế kỉ XXI là những con người giản dị, hồn nhiên, chân thực, giàu yêu thương Những con người mang vẻ đẹp thanh sạch như suối như rừng, dũng cảm kiêu hùng như những anh hùng của sử thi Tây Nguyên một thời, hay kiên cường như cây xương rồng trên cát Các nhà thơ dân tộc thiểu số đã khắc tạc vẻ đẹp về con người quê hương mình mang vẻ đẹp riêng, độc đáo, ấn tượng

Con người được nói đến trong thơ các cây bút thiểu số chủ yếu là những con người miền núi mang dáng dấp, phong thái riêng của tộc người Nhà thơ Y Phương từng nhận

định: “Hình tượng con người thiểu số hiền lành chân chất nhưng vô cùng mạnh mẽ và quyết đoán Họ là chủ nhân của núi non sông suối trùng điệp Họ đổ mồ hôi xương máu

để giữ gìn và xây dựng quê hương miền núi ngày càng giàu đẹp” (Tính bản sắc- yếu tố

làm nên vẻ đẹp của thơ các tác giả dân tộc thiểu số - Hà Thu Bình)

Sống giữa thiên nhiên vừa hùng vĩ, hoang sơ vừa thơ mộng, trữ tình, con người miền núi cũng mang trong mình những nét đặc trưng riêng Hình ảnh con người trong thơ DTTS

là con người dũng cảm, lạc quan, tràn đầy sức sống Đó là những con người miền núi chân

Trang 36

thực, nghĩa tình, rất giàu tình cảm - nhưng lại vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt, không bao giờ chịu khuất phục, dù trong hoàn cảnh nào họ cũng kiên cường Con người đời thường với nhiều dáng vẻ, nỗi niềm thân phận…đi vào trong thơ giai đoạn này tạo nên mảng hiện thực

về cuộc sống đồng bào miền núi

Nhà thơ của Cây hai ngàn lá, dân tộc Pa Dí tự hào về dân tộc mình Trong thơ

Pờ Sảo Mìn đều dễ nhận thấy vẻ đẹp chân chất của người miền núi Người dân ông chân chất như hạt lúa củ khoai, một đời cặm cụi với đất đai quê hương, nhưng ý thức

công dân rất cao khi Tổ quốc cần “Ra chiến trường như đi đám cưới” Và họ cũng là

những con người nặng tình nặng nghĩa:

Tôi ở cuối bản, em sinh đầu làng Anh ở đầu suối em ở cuối sông anh ở trên núi rồng

em ở suối tiên

em hiền lành và bạn bè tốt bụng xin cứ đến thăm nhau

(Người của nhau) [42, tr.308]

Hay vẻ đẹp sử thi kiêu dũng bất tận của vùng đất Tây Nguyên đại ngàn trong thơ nữ thi sĩ trẻ Êđê H'triem K'nul qua hình ảnh già làng thật đẹp mà gần gũi:

Già đang khan Già say lời kể Người nghe say lời già

…Giọng già kể không bớt bồi hồi Giọng già kểcàng lúc càng say Chưa đến mùa rượu cần

Đã nghe nồng mùi men Những anh hùng

Bởi già khan bất tử

(Người kể khan) [42, tr.212]

Xuống với đồng bào H’rê đang sinh sống nơi khúc ruột miền Trung con người thấm đẫm nắng gió sống phong trần mà kiên cường trong thơ Nga Rivê:

Trang 37

Lũ con iêng Ngực non như trái hoa chuối

Ra con suối đội nước Chọn lấy nước giữa dòng Nước chảy từ lòng đá

(Con iêng, xang éo) [42, tr.413]

Trong thơ ca DTTS hình ảnh người phụ nữ được khắc họa thật đẹp và gần gũi, máu thịt Ta cũng bắt gặp niềm biết ơn, trân trọng, yêu thương của các nhà thơ dành cho người bà, người mẹ, người chị

Hình ảnh người bà trong nỗi nhớ của Phùng Hải Yến- bóng dáng của đại ngàn chở che với nụ cười lạc quan suốt một đời như nụ cười của đá vững chãi kiên cường: Nội tôi

Cổ thụ cao nguyên

Rễ cây xòe nếp trán Vết chai chỉ tay…

Nội là đá của rừng sâu (Nụ cười của đá)

Hình ảnh người mẹ miền núi được khắc họa nhiều nhất, gần gũi, máu thịt mà thiêng liêng trong thơ DTTS đầu thế kỉ XXI Hình bóng mẹ trong thơ Y Phương thật lấp lánh với bóng dáng thân thương nâng đỡ chở che con trong những bon chen của cuộc đời, sau những vấp ngã đời con:

Những giấc mơ ban đêm Những giấc mơ ban ngày Làm xô lệch cuộc đời Nghiêng ngả người con May mắn thay

Còn một người Nâng bồng con đứng dậy

Trang 38

ảnh người mẹ hiện lên bằng những lời giãi bày tâm sự của nhà thơ thật ấm áp yêu thương Mẹ luôn là người dang rộng vòng tay để chở che cho cuộc đời con, mẹ chính

là quê hương và quê hương cũng chính là mẹ

Mẹ gùi

Mưa nắng Mỗi ngày lưng mẹ thêm còng Mỗi ngày gùi càng thêm nặng Một đôi vai gầy guộc Một bàn tay sần sùi Điểm tựa cuộc đời tôi

(Điểm tựa)

Vẫn là bóng dáng thân thương ấy trong thơ Lộc Bích Kiệm người mẹ với bao vất

vả nắng mưa, bao nhọc nhằn gian lao, mẹ vẫn cùng con bước tiếp bao chặng đường Bóng dáng mẹ liêu xiêu cùng ráng chiều nhưng luôn là điểm tựa của cuộc đời con:

…Mỗi bước con đi giữa mênh mang đất trời

Từ chập chững đến vững vàng nhịp bước

Từ ngôi nhà xinh đến thênh thang đất nước

Có mắt mẹ dõi nhìn theo từng bước chân con

Mẹ đã bước liêu xiêu trên những lối mòn

Để hôm nay con ung dung con đường mới Trong hành trình con đang đi tới

Có sức của chính mình, có sức mẹ kính yêu!

(Mẹ) [27, tr.15]

Đó là người mẹ giàu tình yêu thương, thảo thơm với đời, tần tảo với con và thủy chung son sắt như màu áo chàm quê hương trong lòng Lâm Quang Hùng, nhà thơ dân tộc Sán Dìu Nuốt cay nuốt đắng, mẹ yêu thương và vượt qua tất cả:

Áo chàm của mẹ lành đâu Đùm bao cay đắng khổ đau một đời

…Chỉ đằng sau miếng trầu cay Mới là bão giật bão lay khôn cùng Nát gan ruột, nuốt vào lòng

Áo nhầu vuốt phẳng lặng không một lời

(Áo chàm) [42, tr.158]

Trang 39

Đó là hình ảnh người chị trong thơ của nhà thơ Hà Lý với sự khéo léo, giỏi

giang khi chắt lọc những gì tinh túy nhất của núi rừng Tây Bắc cùng trái tim chỉ biết yêu thương để làm ra những vò rượu núi ngọt lành Một vẻ đẹp của người phụ nữ

Mường đằm thắm, ngọt ngào đầy chất men làm say lòng người:

Bàn tay chị ủ hơi men rượu Chân chị đi rinh rich sàn cười

Nụ cười chị trẻ hơn cái tuổi Cạp váy chị tôi vẽ huyền thoại đất Mường!

(Chị tôi) [42, tr.284]

Viết về hình ảnh người đàn ông miền núi có không ít những hình ảnh thật đẹp, đầy phóng khoáng, phong trần và bản lĩnh Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa luôn chú ý đưa vào trang viết của mình những nét tính cách, tâm hồn của cả cộng đồng, dân tộc

ấy Hình ảnh hai thế hệ đàn ông dân tộc Tày với vẻ đẹp khỏe mạnh, cường tráng, gân guốc hiện lên rất sống động trong thơ chị - như một niềm tự hào về vẻ đẹp mãnh liệt của những người con của núi:

Thấp thoáng thấy ông tôi Tay khẳng khiu sần sùi như sẹo gỗ Ngực cha như cánh nỏ giang rộng Hai cánh tay như đôi cánh đại bàng Bóng cha hằn lên vách nhà

Như bóng núi

(Bếp lửa)

Hình ảnh cánh nỏ, cánh đại bàng, sẹo gỗ gợi lên một sự liên tưởng rất đậm màu

sắc miền núi, thể hiện một sự từng trải đến chai sạn, sự vượt lên bao sương gió cuộc đời

để chở che, bảo vệ cho gia đình, cho làng bản của những người đàn ông Tày đích thực

Và đây là ông ngoại ông đã về nơi thiên cổ nhưng còn để lại trong tâm trí đứa cháu nhỏ một hình ảnh đẹp như một vệt sáng huyền thoại xa xăm:

Ông đi xa

Xa kia ngọn núi Những chú ngựa hồng

Trang 40

Ông cưỡi

Đã bay lên "

(Ông ngoại - Bàn Kim Quy)

Bàn Kim Quy nhớ về cha, người đã ươm mầm hạt lúa củ khoai, cần mẫn trên từng trang giấy với những toan tính bon chen của cuộc đời:

Lưng cha thì còng xuống

(Thuổi chéo) [42, tr.131]

Đinh Thị Mai Lan yêu bóng dáng tảo tần nhân ái thân thương của người cha, yêu hình ảnh người cha bao dung tin cậy- một chỗ dựa vững chắc kể cả tinh thần lẫn vật chất của những đứa con:

Một đời khó nhọc Cha vun lên những mùa màng tình yêu Không chờ ngày gặt hái

Những đứa con dù chắc như lim

Dù vững như núi Vẫn tròn như đá sỏi Lăn về phía cha"

(Cánh đồng của cha) [42, tr.218]

Cảm hứng trữ tình của thơ ca giai đoạn đầu thế kỉ XXI còn được thể hiện ở

những vần thơ viết về con người miền núi chân thực, hồn nhiên phóng khoáng mà thủy chung, vị tha, giàu khát vọng trong hạnh phúc, tình yêu

Ngày đăng: 28/08/2020, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w