Trong lịch sử, Đạo Công giáo ở Việt Nam nói chung, Đạo Công giáo ởQuảng Bình nói riêng đã có nhiều đóng góp không nhỏ cho khối đoàn kết dântộc, trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc cũng như
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HỒNG ĐỨC
ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở
QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HàNội, 11/2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TrầnThị Kim Oanh
HàNội, 11/2013
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
KÝ HIỆU CÁC SÁCH THÁNH KINH 2
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO 11
1.1 Khái niệm „Đạo Công giáo“ 11
1.2 Bối cảnh ra đời của Đạo Công giáo 14
1.2.1 Cơ sở kinh tế - xã hội 14
1.2.2 Cơ sở tư tưởng 17
1.3 Giáo lý, giáo luật của đạo Công giáo 28
1.3.1 Giáo lý 28
1.3.2 Luật lệ, lễ nghi 37
1.4 Đôi nét về lịch sử Đạo Công giáo 41
1.4.1 Đạo Công giáo trên thế giới 41
1.4.2 Đạo Công giáo ở Việt Nam 45
Chương 2 ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ VẤN ĐỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 50
Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY 50
2.1 Khái quát về lịch sử đạo Công giáo ở Quảng Bình 50
2.2 Đạo Công giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Bình 54
2.2.1 Trong cộng đồng giáo dân Công giáo 54
2.2.2 Trong mối quan hệ giữa người Công giáo với những người ngoài Công giáo 59
2.2.3 Trong quan hệ giữa Đạo Công giáo với hệ thống chính trị 69
2.3 Một số hạn chế và giải pháp góp phần nâng cao vai trò của Đạo Công giáo đến vấn đề đoàn kết dân tộc ở Quảng Bình hiện nay 76
2.3.1 Một số hạn chế 76
2.3.2 Một số giải pháp 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5Trong luận văn này, các ký hiệu được viết theo thứ tự: Chữ viết tắt của sách thánh/
đoạn/câu Thứ tự này được viết theo quy ước sau đây:
- Ngay sau tên sách là số đoạn;
- Ngay sau số đoạn là dấu phẩy (,);
- Ngay sau dấu phẩy là số câu;
- Dấu gạch ngang (-) có nghĩa là „„đến‟‟;
- Dấu chấm (.) có nghĩa là „„và‟‟;
- Dấu chấm phẩy (;) có nghĩa là „„rồi‟‟
Ví dụ:
- Mt 2,4: Phúc Âm theo thánh Mát-thêu đoạn 2 câu 4.
- Cl 1,1-4: Thư thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Cô-lô-xê đoạn 1 từ câu 1 đến câu 4.
- Is 12,4.11: Sách tiên tri I-sa-i-a đoạn 12 câu 4 và câu 11.
- Cv 3,2-5.8: Sách Công vụ Tông đồ đoạn 3 từ câu 2 đến câu 5 và câu 8.
- Kh 2,1-3;5-7: Sách Khải huyền đoạn 2 từ câu 1 đến câu 3 rồi từ câu 5 đến câu 7.
- 1Ga 2-4: Thư thứ I của thánh Gioan Tông đồ từ câu 2 đến câu 4.
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hunđúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Từ khi thành lập, ÐảngCộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn luôn coi trọng việc tăngcường củng cố, xây dựng và mở rộng khối đoàn kết toàn dân tộc Dưới sựlãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giaicấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp, đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhấtViệt Nam tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sửtrong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến cứu nước.Ngày nay, tinh thần đoàn kết đang được tiếp tục phát huy cao độ, trở thành
động lực của công cuộc đổi mới Ðại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối
chiến lược, là bài học lớn của cách mạng nước ta.
Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng khẳng định: Đoàn kết các dân tộc có vịtrí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam Các dân tộc trong đạigia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhaucùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và vănminh [27, 244]
Trong khối đoàn kết dân tộc đó, Đạo Công giáo chiếm một vị trí quantrọng Trong lịch sử, Đạo Công giáo ở Việt Nam nói chung, Đạo Công giáo ởQuảng Bình nói riêng đã có nhiều đóng góp không nhỏ cho khối đoàn kết dântộc, trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong giai đoạn Đổi mới.Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà Đạo Công giáo mang lại cho khốiđoàn kết dân tộc, còn có một số ảnh hưởng tiêu cực của Đạo Công giáo đếnđoàn kết dân tộc, mà chủ yếu là do bị các lực lượng phản động lợi dụng
Trang 7Riêng ở Quảng Bình, ảnh hưởng của Đạo Công giáo nhìn chung là tíchcực Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, đã xuất hiện một số biểu biện lợidụng tôn giáo nhằm gây mất trật tự xã hội, làm tổn hại đến khối đoàn kết toàndân Bên cạnh đó, trong nhận thức của cán bộ và quần chúng nhân dân về ĐạoCông giáo đang còn thiếu khách quan, phiến diện Điều đó dẫn đến những thái
độ ứng xử không đúng đối với Đạo Công giáo nói chung và Đạo Công giáotrên địa bàn Quảng Bình nói riêng Một hệ quả tất yếu là, vấn đề về Đạo Cônggiáo trong khối đoàn kết dân tộc không chỉ phụ thuộc vào nhận thức, thái độ,hành động của đồng bào theo Đạo Công giáo mà còn phụ thuộc vào nhậnthức, thái độ và hành động của toàn thể nhân dân về khối đoàn kết dân tộc nóichung và Đạo Công giáo nói riêng Chính vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởngcủa Đạo Công giáo đến vấn đề đoàn kết dân tộc ở Quảng Bình có ý nghĩa lýluận và thực tiến cấp bách
Với lý do đó, chúng tôi chọn „Đạo Công giáo và ảnh hưởng của nó đến
vấn đề đoàn kết dân tộc ở Quảng Bình nước hiện nay“ làm đề tài nghiên cứu
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đạo Công giáo vẫn luôn là một đối tượng được các nhà nghiên cứu ởViệt Nam quan tâm, trên nhiều phương diện khác nhau Các công trình nghiêncứu đó chủ yếu gồm các nhóm sau:
a Về đạo Công giáo nói chung và Công giáo ở Việt Nam nói riêng:
Ngoài những côn trình của các tác giả nước ngoài đã được dịch ra tiếng
Việt, như: X A Tokarev (1994), Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát
triển của chúng, Nxb Chính trị quốc gia; Baptiste Duroselle –
Jean-Marie Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên Chúa, Nxb Thế giới; Joseph M Champlin (2009), Quan điểm công giáo sống theo đúng mục đích, Nxb Phương Đồng; Hans Küng (2010), Các nhà tư tưởng lớn của Kitô giáo, Nxb.
Trang 8Tri thức; Carol Smith – Roddy Smith (2011), Lịch sử Thiên Chúa giáo, Nxb Thời đại;Olivier Bobineau – Sebastien Tank-Storper (2012), Xã hội học tôn
giáo, Nxb Thế giới; John Bowker (2011), Từ điển Tôn giáo thế giới giản yếu,
Nxb Từ điển bách khoa
Ở Việt Nam trong khoảng chừng một thập niên trở lại đây, đã có không ítcông trình, tác giả nghiên cứu về đạo Công giáo và lịch sử Đạo Công giáo ởViệt Nam, chúng ta có thể kể tên các nhà nghiên cứu tiêu biểu với những côngtrình nổi bật như:
- Nguyễn Hồng Dương, với các công trình: Công giáo Việt Nam – Một số
vấn đề nghiên cứu, Nxb Tôn giáo, 2008; Công giáo thế giới: Tri thức cơ bản,
- Tác giả Đỗ Minh Hợp với các công trình như: Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, 2006: Tôn giáo phương Đông (quá khứ và hiện tại), Nxb Tôn
giáo, 2006; và nhiều bài viết khác trên các tạp chí, bài tham luận tại các hội thảo
- Linh mục Nguyễn Thái Hợp với cuốn sách Một cái nhìn về Giáo huấn
xã hội Công giáo, Nxb Phương Đông, 2010.
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hưng cũng là một người có khá nhiều
công trình nghiên cứu về lịch sử Đạo Công giáo, đặc biệt với cuốn sách Công
giáo Việt Nam thời kỳ Triều Nguyễn (1802-1883), Nxb Tôn giáo, 2007; bài
viết „Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách của nhà nước Việt Nam đối với
công giáo nhìn từ góc độ văn hoá – tôn giáo“, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo, số 1/2008, cùng với nhiều bài viết, chuyên đề trong các hội thảo,
sách chuyên khảo khác
Bên cạnh đó có thể kể đến: Phạm Thế Hưng với Hiểu biết về Công giáo
ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005; Đỗ Quang Chính (2008), Tản mạn lịch sử Giáo hội công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2008; Nguyễn Hồng
Giáo, Một chặng đường Giáo hội Việt Nam, Học viện Phanxico, 2008; Mai
Trang 9Thanh Hải, Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam (2 tập), tập II, Nxb Văn
hóa – Thông tin, Hà Nội, 2006
Nhìn chung, các công trình này phần nào cung cấp cho người đọc một cáinhìn cơ bản về Đạo Công giáo nói chung và Đạo Công giáo ở Việt Nam nóiriêng Tuy nhiên, các công trình này trình bày hoặc dưới dạng là nhữngnghiên cứu mang nặng tính lịch sử, hoặc là mang nặng tính miêu tả; nhữngcông trình đi sâu vào khía cạnh triết học của Đạo Công giáo còn rất ít
b Các công trình, tài liệu nói về mối quan hệ giữa Công giáo với dân tộc trong lịch sử Việt Nam:
Với nhiều mục đích và tính chất khác nhau, trong những năm qua ở ViệtNam đã có không ít công trình đề cập đến vai trò của Đạo Công giáo với lịch
sử dân tộc, với sự đoàn kết và phát triển đất nước; cũng như đề cập đến nhữnghạn chế, những điểm chưa tốt trong mối quan hệ đó Chúng ta có thể kể ra ởđây một số công trình như:
- Đỗ Quang Chính (2008), Tản mạn lịch sử Giáo hội công giáo Việt Nam,
Nxb Tôn giáo
- Các công trình do tác giả Nguyễn Công Danh biên soạn, hoặc chủ biên
như: Kỷ yếu tọa đàm „Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam: 30 năm – một
chặng đường“, Nxb Tôn giáo, 2013; Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt, Nxb Tôn giáo, 2013.
- Tác giả Đỗ Quang Hưng với: Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa
nhà nước và Giáo hội, Nxb Tôn giáo, 2003; „Phải chăng tôn giáo mâu thuẫn
với chủ nghĩa xã hội“, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2004.
- Tác giả Phạm Huy Thông lại tập trung vào mối quan hệ biện chứnggiữa đạo Công giáo với dân tộc trên bình diện văn hoá, như: „Bản sắc văn hóaViệt trong nghĩ lễ, phụng tự của giáo hội Công giáo ở Việt Nam“, Tạp chí
Công tác tôn giáo năm 2006; „Đạo Công giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa“,
Trang 10Tạp chí Triết học, số 6/2004; „Những điểm tương đồng giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam“, Tạp chí Công tác tôn giáo năm 2004, hay những tác phẩm khác như Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào công giáo, Nxb Chính trị
Quốc gia, 2004; bài viết „Tổ chức yêu nước của người Công giáo Việt Nam –
50 năm xây dựng và trưởng thành“ trên Báo Người Công giáo Việt Nam, số
bách khoa, 2010; „Bước đường hội nhập văn hoá dân tộc của công giáo Việt
Nam“ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1/2009, hay những công trình chủ biên như: 30 năm Thư chung 1980 Hội đồng giám mục Việt Nam,
Nxb Tôn giáo, 2010
- Ngoài ra, chúng ta có thể kể tên một số nhà nghiên cứu với các công
trình tiêu biểu như: Nguyễn Đình Đầu (2010), Dấu ấn 50 năm hàng giáo
phẩm Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Nguyễn Thái Hợp (2011), Việt Nam dấu yêu: Quê hương và Giáo hội, CLB Phaolo Nguyễn Văn Bình, Đỗ Lan
Hiền (2002), Sự thống nhất giữa kính Chúa và Yêu nước trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam thời cận, hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Nà Nội.
- Ngoài ra, ở Việt Nam cũng đã có một số hội thảo, toạ đàm bàn về mốiquan hệ giữa đạo Công giáo nói riêng, tôn giáo nói chung trong mối quan hệvới dân tộc, khối đại đoàn kết toàn dân
Trong các công trình kể trên, có thể thấy là có không ít công trình đề cậpđến đến mối quan hệ, vai trò của Đạo Công giáo trong lịch sử dân tộc, về quátrình hội nhập, đoàn kết giữa Đạo Công giáo với dân tộc Có thể nói, các côngtrình đó đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá tổng quát về sự đồng
Trang 11hành của Đạo Công giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc, cũng như những vấn
đề đặt ra để mối quan hệ dân tộc – tôn giáo được tốt hơn
Bên cạnh đó, cũng đó có không ít kỷ yếu hội thảo, tọa đàm về lịch sử củađạo Công giáo trong lịch sử Việt Nam, như: Kỷ yếu hội thảo „Một số vấn đềđạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam“ Viện Khoa học xã hội và BanTôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh năm 1988, tọa đàm khoa học „Từ Côngđồng Vatican II đến thư chung 1980“ của Ủy ban Đoàn kết Công giáo ViệtNam năm 2005
Nhìn chung, mặc dù các tôn giáo tham gia một phần không nhỏ trongviệc hình thành khối đoàn kết toàn dân tộc, tuy nhiên, những công trìnhnghiên cứu về vai trò của cá tôn giáo trong việc xây dựng khối đoàn kết toàndân tộc ở Việt Nam hiện nay hầu như là không có
Trong khi đó, các công trình về tình hình Đạo Công giáo ở Quảng Bìnhgần như là không có Phần lớn, những thông tin, vấn đề về Đạo Công giáo ởQuảng Bình chỉ xuất hiện trong các báo cáo định kỳ của các tổ chức, cơ quantỉnh Quảng Bình Những báo cáo này mang nặng tính số liệu, thời sự mà chưa
có được sự đánh giá, tổng hợp mang tính tổng thể
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên
cứu a Mục đích nghiên cứu:
Luận văn giới thiệu về Đạo Công giáo, và chỉ ra ảnh hưởng của ĐạoCông giáo đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Bìnhhiện nay
b Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giới thiệu những nét cơ bản về Đạo Công giáo, và Đạo Công giáo ở Quảng Bình
- Chỉ ra và phân tích vai trò, ảnh hưởng của Đạo Công giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở tỉnh Quảng Bình hiện nay
Trang 12- Đưa ra một số khuyến nghị cho việc đảm bảo và tăng cường khối doàn kết dân tộc về tôn giáo ở Quảng Bình.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu:
Đạo Công giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Bình hiện
nay b Phạm vi nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa những người Công giáo với nhau, giữa giáo dân Cônggiáo với người không theo Công giáo, giữa Giáo hội, các tổ chức Công giáovới hệ thống chính trị ở tỉnh Quảng Bình trong thời gian 5 năm trở lại đây
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, chú trọng vận dụng quan điểmMarxist về mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, quan hệ giữa bảnchất và hiện tượng,
- Phương pháp nghiên cứu: Phân tích - tổng hợp, thống nhất logic – lịch
sử, so sánh,
6. Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài luận văn này có thể dùng làm tài liệu thamkhảo trong tìm hiểu về Đạo Công giáo ở Quảng Bình, về mối quan hệ giữaĐạo Công giáo và khối đoàn kết toàn dân tộc
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
2 chương và 7 tiết
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO
1.1 Khái niệm „Đạo Công giáo“
Công giáo (Katholik, Catholic, phổ biến) nguyên thủy có nghĩa là chung, hay phổ quát, nhưng trong lịch sử Kitô giáo, từ này được dùng theo nhiều cách Hiện nay, „công giáo“ được sử dụng với năm nghĩa sau:
i Hội thánh Công giáo, để phân biệt với các Hội thánh Kitô giáo khôngcông nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng
ii. Đức tin công giáo, đức tin của tập thể các các tín hữu trên thế giới, hay
cụ thể hơn, đức tin được chấp nhận „mọi nơi, mọi lúc và do mọi người“
iii. Chính giáo, phân biệt với lạc giáo hay ly giáo
iv. Hội thánh nguyên vẹn trước khi có cuộc ly khai ở phương Đông năm1054; sau đó Hội thánh Phương Đông tự xưng là Chính thống, để đối lại vớicác Hội thánh Kitô giáo không chấp nhận những định tín của Công đồngEphexo và Calcedinia về thiên tính của Chúa Kitô
v. Ngày nay, nói chung, từ „công giáo“ chỉ những Kitô hữu theo mộttruyền thống đức tin và thờ phụng liên tục, và tin rằng các giám mục cũngnhư những linh mục là những người kế nhiệm của các tông đồ từ thời ChúaKitô
Tính từ „công giáo“ (tiếng Latin: Cotholicus, tiếng Hy Lạp: Katholicos, tiếng Đức: katholisch, tiếng Anh: catholic,) có gốc tiếng Hy Lạp là „kath‘
holou“ nghĩa là: có liên quan tới sự toàn bộ Thuật ngữ này lần đầu tiên được
thánh Ignatio Antiokia sử dụng cho Hội thánh khoảng năm 107, theo nghĩa là
toàn bộ hay phổ quát Công đồng Constantinopolis I (381) thêm tính từ này
vào Kinh Tin kính khi mô tả Hội thánh là một Hội thánh „duy nhất, thánhthiện, công giáo và tông truyền“ Sau khi có sự phân chia Kitô giáo thành
Trang 14Kitô giáo phương Đông và Kitô giáo phương Tây năm 1054, các Hội thánhphương Đông bắt đầu nói về mình như „Chính thống“ trong khi hội thành
phương Tây vẫn tiếp tục được biết đến như Hội thánh Công giáo Từ thời cải
cách vào thế kỷ XVI, người ta bắt đầu thêm từ „Roma“ vào sau từ „Cônggiáo“, nhưng trong những tài liệu chính thức của mình, Hội thánh ấy vẫn tiếptục coi mình chỉ là „Hội thánh Công giáo“
Tính công giáo là tính phổ quát của Hội thánh do Jesus Kitô thiết lập
Kinh Tin kính của Công đồng Nicea tuyên xưng Hội thánh „duy nhất, thánh
thiện, công giáo và tông truyền“ Hội thánh là công giáo trước tiên về mặt
không gian, vì Hội thánh có mặt trên khắp thế giới Công giáo trong hiện thực
là khi Hội thánh thực sự có mặt khắp nơi; công giáo trong khả năng vì ý
muốn của chúa Kitô là muốn Hội thánh hiện diện giữa muôn dân Công giáotrong thực tế có thể hiểu theo nghĩa vật lý khi nó bao gồm hết mọi người trêntrái đất, dù không phải là tính từng cá nhân một; hoặc có thể hiểu theo nghĩaluân lý khi nó chỉ gồm đa số trong nhân loại Dù có tính công giáo theo nghĩaluân lý là đủ để Hội thánh trở thành phổ quát, nhưng ý của Chúa Kitô là muốnHội thánh nỗ lực không ngừng để phát triển Lý tưởng mà Hội thánh có gắngvươn tới là trở thành công giáo theo nghĩa vật lý Lập trường chung của cácnhà hộ giáo là muốn trở thành công giáo theo nghĩa luân lý, Hội thánh cũngphải được mở rộng ra trên phạm vi toàn thế giới Có như thế, sau khi pháttriển một thời gian, Hội thánh mới là công giáo theo nghĩa luân lý được và kể
từ đó, Hội thánh sẽ mãi mãi tồn tại
Như vậy, công giáo là một thuộc tính của tôn giáo xuất phát từ Đức Kitô
và về sau còn mang nghĩa là tôn giáo có tính phổ quát như định nghĩa củathánh Cyrillo thành Jerusalem viết vào cuối thế kỷ thứ II:
“Giáo hội được gọi là Công giáo vì giáo hội lan tràn khắp thế giới từ đầu này đến đầu kia của trái đất, vì giáo hội giảng dạy một cách phổ biến,
Trang 15không loại trừ tất cả các tín điều con người cần phải biết và cũng vì giáo hội muốn cho loài người, vua quan cũng như thường dân, người thông thái cũng như kẻ dốt nát suy phục sự tôn sùng đích thực” [Dt.56, tr.34].
Bốn đặc tính của Giáo hội là: „duy nhất, thánh thiện, công giáo và tôngtruyền“ Những Giáo hội chấp nhận các đặc tính đó cũng có thể gọi là Cônggiáo Vậy nên khái niệm Công giáo không phải chỉ là từ chuyên biệt của Giáohội Công giáo Roma
Theo nghĩa này thì „Đạo Công giáo“ có liên quan tới một cộng đoàn đặcbiệt nào đó của các tín hữu, một Hội thánh hữu hình, có tính lịch sử, và mộttruyền thống sống động, tất cả đều bắt nguồn từ Hội thánh của các tông đồ.Theo một nghĩa rộng hơn thì „Đạo Công giáo“ đôi khi được hiểu như baogồm các Hội thánh khác như Chính thống và những Giáo hội hiệp thông vớiAnh giáo, những Giáo hội vẫn hiệp thông với truyền thống Công giáo ở mộtmức độ nào đó Không phủ nhận rằng những Hội thánh này và những Hộithánh khác còn hiệp thông với truyền thống Công giáo Ở đây ta quan tâm tớiĐạo Công giáo theo một nghĩa đặc biệt, có liên quan đến Hội thánh Romathánh được gọi đơn giản là „Công giáo“
Đức tin, nghi lễ và luân lý của Hội thánh Công giáo Roma với tư cách làmột thực tại lịch sử, đã được mặc khải nơi Chúa Jesus Kitô và được tiền định
sẽ tồn tại cho tới ngày tận thế Đạo Công giáo là tất cả những gì Hội thánh dạyphải tin và phải sống để để được cứu độ và, ngoài sự cứu độ ấy, còn được
thánh hóa Hệ thống giáo lý, phụng vụ và đời sống này được gọi là công giáo
(phổ quát), vì hệ thống ấy nhắm tới mọi người, mọi thời cũng như chưa đựngmọi điều cần thiết và thích hợp cho mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người.Đạo Công giáo Roma là đức tin, phụng vụ và luân lý của tất cả nhữngKitô hữu hiệp thông với giám mục Roma, người mà họ nhìn nhận là người đạidiện của Chúa Jesus và thủ lĩnh hữu hình của Hội thánh do Jesus thiết lập
Trang 16Cách nói „Hội thánh Roma“ hay „Hội thánh Công giáo Roma“ đã có ít nhất
từ thời Trung cổ nhưng những cách nói này mới được chú ý nhiều sau cuộccải cách của Tin lành Mục đích là để nhấn mạnh phẩm chất khác biệt của mộtngười không những là Kitô hữu vì đã được rửa tội mà còn là người Công giáo
vì có hiệp thông với Giáo hoàng
Tóm lại, khái niệm Kitô giáo rộng hơn và đương nhiên Công giáo chỉ làmột nhánh của Kitô giáo mà thôi Danh từ Công giáo cũng chính thức đượcnhà nước ta ghi nhận trong Sắc lệnh 234/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kýngày 14-6-1955 Khái niệm đạo Công giáo đề cập đến trong chuyên luận này
là tôn giáo thuộc giáo hội Công giáo Roma và được truyền vào Việt Nam từđầu thế kỷ XVI
Ở Việt Nam, Đạo Công giáo còn có những tên gọi khác là Đạo Hoa Lang,Đạo Gia-tô, đạo Cơ đốc, là Đạo Thiên chúa vì tôn giáo này thờ Thượng đế(Thiên chúa) Hiện nay, trong các văn bản chính thức đều gọi đạo Công giáo
1.2 Bối cảnh ra đời của Đạo Công giáo
1.2.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
Đạo Công giáo ra đời vào đầu Công nguyên, trong bối cảnh đế quốc La
Mã thời cổ đại lâm vào khủng hoảng trầm trọng và chứa đầy mâu thuẫn
Từ thế kỷ II, III trước Công nguyên ở Châu Âu, nhà nước chiếm hữu nô
lệ Roma, sau khi hình thành, đã liên tiếp mở các cuộc viễn chinh xâm lược.Đến đầu Công nguyên, nhà nước Roma trở thành một đế quốc hùng mạnh vớimột lãnh thổ rộng lớn ven Địa Trung hải, trải dài từ tây sang đông bao gồmnhiều bán đảo Italia và các nước cùng Địa Trung hải (nằm ở ba châu lục: mộtphần của Châu Âu, một phần của Châu Á và một phần của Bắc Phi) Đâychính là giai đoạn phát triển cực thịnh của đế quốc La Mã cổ đại, một nhànước đế chế được thiết lập bằng chiến tranh xâm lược và chủ yếu dựa vào laođộng thô sơ Sự hà khắc của chế độ chiếm hữu nô lệ, sự bất công, bóc lột
Trang 17nặng nề đã đẩy quần chúng lao động đến chỗ cùng cực và những khát vọng giảiphóng, tự do, an ủi trở thành môi trường lý tưởng cho Đạo Công giáo ra đời.
Tuy nhiên, ngay trong lòng đế chế La Mã hùng mạnh đã xuất hiện cácmâu thuẫn và rạn nứt Đó là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô, mâu thuẫn giữacác dân tộc bị áp bức, bị xâm lược với đế quốc La Mã, kẻ đi xâm lược, mâuthuẫn giữa nhà nước trung ương tập quyền với cơ quan thống trị địa phương, Những mâu thuẫn đó đã dẫn đến các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại giaicấp chủ nô và quân xâm lược, không chỉ ở những vùng đất bị chinh phục màcòn ở chính quốc Tuy nhiên, sức mạnh của đế chế La Mã đã nhanh chóng đậptan những cuộc khởi nghĩa đó Sự thất bại của các cuộc đấu tranh này khiếnquần chúng lao động cảm thấy bi quan, tuyệt vọng trước cuộc sống hiện thực,
họ tìm đến các lực lượng siêu nhiên để mong được giải thoát khỏi cuộc sống
hiện thực Sự ra đời của đạo Công giáo xuất phát từ tinh thần đó Nó chính là
ước mơ của quần chúng nhân dân lao động muốn được giải thoát khỏi cuộcsống thực tại đau thương đó, đồng thời cũng là sự phản ánh của họ trước thựctại đương thời Họ không tìm thấy lối thoát trong đời sống hiện thực, vì thế họtất yếu phải tìm đến với lối thoát tinh thần Quả thật, để tiếp tục tồn tại, nhữngcon người đau khổ và yếu đuối trong cái xã hội ấy cần được an ủi, cần lấy lại
sự cân bằng về tâm lý, cần có niềm tin, dù là tin vào một sự cứu vớt của mộtsức mạnh siêu nhiên nào đó Chính tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần củamột bộ phận những con người như vậy [75, 39]
Rõ ràng, nhu cầu giải thoát của những con người yếu đuối trong tìnhtrạng bị áp bức cùng cực là rất lớn C.Mác viết: „Những con người yếu đuốibao giờ cũng tìm lối thoát trong lòng tin vào những phép lạ; họ tin rằng kẻđịch sẽ bị đánh bại, nếu như trong trí tưởng tượng của họ, họ dùng phép trùyểm được nó, và họ mất hết mọi cảm xúc về hiện tại, vì họ đề cao đến tậnmây xanh cái tương lai đang chờ đón họ và những chiến công mà họ dự định
Trang 18làm, nhưng báo tin về những cái đó trong lúc này thì họ cho là hãy còn quásớm“[63, 151].
Trong tác phẩm „Bàn về lịch sử đạo Cơ Đốc sơ kỳ“, Ph.Ăngghen cho
rằng, sự xuất hiện của đạo Công giáo đáp ứng yêu cầu được giải thoát củaquần chúng nô lệ bị áp bức dưới ách thống trị của đế chế La Mã, những người
đã bị đẩy „đến cảnh cùng khổ hoàn toàn“ Và, trong tình cảnh „mà mọi sựchống đối của một số bộ lạc và thành phố nhỏ đối với đại cường quốc La Mãđều vô vọng“ [65, 686], thì vấn đề tìm đến một lối thoát khác là tất yếu Ôngviết: „Vậy đâu là lối thoát, đâu là sự cứu vãn đối với những người bị nô dịch,người bị áp bức và người bị rơi vào cảnh bần cùng - lối thoát chung cho tất cảnhững lớp người khác nhau với lợi ích xa lạ hoặc thậm chí đối lập nhau ấy? Lối thoát như vậy đã tìm được rồi Nhưng không phải ở thế gian này Với tình
hình hiện tại, lối thoát chỉ có trong lĩnh vực tôn giáo“ [65, 686-687] „Tình
hình hiện tại“ mà Ph.Ăngghen nhắc đến không gì khác hơn là cái hiện thực xã
hội La Mã lúc bấy giờ, nơi mà con người đã bị những áp bức xã hội đày đọamột cách „ghê gớm“ và không lối thoát Trong hoàn cảnh đó, đối với nhữngngười nô lệ, đạo Công giáo đưa đến một sự giải thoát Đối với những kẻ thốngtrị, đạo này cũng đang mang đến một cứu cánh cho chúng; bởi lẽ, khi người
nô lệ tin vào sự giải thoát của tôn giáo, họ sẽ không còn khát khao tìm kiếmmột con đường khác hiện thực hơn, trực tiếp đe dọa sự thống trị của đế chế La
Mã Phải chăng vì vậy mà chính quyền La Mã, sau một thời gian bài xích đạoCông giáo, đã quay sang ủng hộ tôn giáo này một cách mạnh mẽ?
Bản thân Ph.Ăngghen cũng cho rằng, sự ra đời của đạo Công giáo khôngchỉ đáp ứng nhu cầu giải thoát của những người nô lệ, mà còn đáp ứng nhucầu hình thành và phát triển của đế chế La Mã Như vậy, tôn giáo (ở đây làđạo Công giáo) không chỉ là nhu cầu của các thân phận nô lệ cùng khổ, màcòn là nhu cầu của giai cấp thống trị Vấn đề quan hệ tôn giáo - chính trị xuất
Trang 19phát từ nhu cầu này Dĩ nhiên, đó không phải là nhu cầu của sự giải thoát, mà
là nhu cầu sử dụng tôn giáo để thiết lập, cũng cố địa vị thống trị xã hội Ở đây,nhu cầu của giai cấp thống trị được nảy sinh trên nhu cầu của tầng lớp nô lệ,nhưng về bản chất là hoàn toàn khác nhau Trở thành nhu cầu của cả kẻ bị trịlẫn giai cấp thống trị, trong thời cổ đại, đạo Công giáo đã nhanh chóng pháttriển, phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh của thời đại lúc bấy giờ
Chính Ăngghen đã đánh giá đạo Công giáo trong những buổi đầu mới rađời là tôn giáo của những người nô lệ và người buôn bán tự do, của nhũngngười nghèo khó đã bị tước hết quyền lợi, của các dân tộc bị La Mã đô hộ haylàm tan tác Những nhà sáng lập chủ nghĩa Marx-Lenin khẳng định: „Tronglịch sử đạo Cơ đốc sơ kỳ có những điểm giống đáng lưu ý với phong tràocông nhân hiện đại Cả đạo Cơ đốc lẫn chủ nghĩa xã hội công nhân đều tuyêntruyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô lệ và nghèokhổ“ [65, 663]
1.2.2 Cơ sở tư tưởng
a Thần thoại, tín ngưỡng
Trước khi Kitô giáo trở thành tôn giáo độc thần thì người dân ở thành bang
La Mã đã có những vị thần riêng của họ để tôn thờ Những vị thần của Romachịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống thần linh Hy Lạp Thần Jupiter là hình ảnhcủa thầm Zeus trong thần thoại Hy Lạp, thần Venus (vệ nữ, sắc đẹp) là hình ảnhcủa thần Aphrodite của Hy Lạp, thần Neptune là hình ảnh của thần Poseidon.Ngoài ra, người dân Roma còn thờ các nữ thần về hôn nhân, sinh sản, về mùamàng, thần chiến thắng, thần hộ mệnh, nữ thần nông nghiệp,…
Nhằm đề cao quyền lực của vua chúa, giai cấp thống trị đôi khi cũng tônxưng các hoàng đế như một đấng thần linh Viện nguyên lão Roma suy tônhoàng đế Octavianus (63 TrCN-14) là Augustus, nghĩa là đấng cao cả vĩ đại,mọi người phải sùng bái như một vị thần Nero bạo chúa (37-68) phá bỏ
Trang 20tượng Jupiter thay tượng mình vào đó; còn (245-313) lại tự xưng là „đấngvĩnh hằng“.
Khi đế chế La Mã lớn mạnh, chế độ độc tài ra đời, hoàng đế Roma thấycần phải xác định quyền lực tối cao của mình nên đã tước bỏ dần chế độ dânchủ chủ nô Việc thống nhất chế độ rộng lớn cũng cần có điểm hội tụ về tâmthức, điểm hội tụ ấy không gì hơn là nhất thần giáo, dẹp bỏ các vị thần linhthành bang, các vị thần bộ lạc thuộc Roma thống trị
Mặt khác, các nước mà đế quốc La Mã xâm chiếm, nhất là các nước ởphía đông đã có những vị thần tôn thờ chung theo khuynh hướng nhất thầnhóa, như thần Nithơra ở Iran, thần Isic và Osiric được thờ ở nhiều nơi Những
vị thần này tự nguyện hy sinh bản thân mình để cứu giúp dân tộc, loài người
để rồi sống sót lại trong vinh quan và chiến thắng Khuynh hướng nhất thầngiáo, hình ảnh các vị thần trên ở các nước phía đông đã du nhập vào Roma,tác động đến một tôn giáo đang hình thành
Về phía những người nô lệ tại Roma cũng như các thuộc địa của Roma,các vị thần đang hiện diện đã tỏ ra hết thiêng liêng vì không đáp ứng đượckhát vọng tâm linh, không giải phóng được họ khỏi nỗi khổ ải nên họ vẫnmong chờ một vị thần mới đóng vai trò „cứu thế“ với một tôn giáo mới, màtôn giáo đó lấy việc thờ đấng cứu thế để cầu xin Riêng những người nô lệ ởcác thuộc địa của Roma còn mong tìm thấy nơi Đấng cứu thế một anh hùnggiải phóng dân tộc
Ngoài ra, đạo Công giáo còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố tín ngưỡng,phong tục tập quán của các dân tộc vùng Trung Cận Đông Chẳng hạn như,hình ảnh Chúa Jesus được xây dựng từ nhiều phẩm chất thiêng liêng của các
vị thần và anh hùng dân tộc như: Josuah (bộ lạc Ephraien) đã hy sinh để cứu
bộ lạc mình; thần Hurules trên núi Octa được xem là con Thượng đế xuốngtrần chịu chết để đam lại hòa bình; thần Alonis chết đi sống lại; Chúa Jesus
Trang 21được sinh ra từ một nữ đồng trinh theo mô-tip Persee được sinh ra từ Dionyo
và Horus; phép thánh thể của đạo Công giáo rất gần gũi với nghi lễ thiêu sinhcác vật tế thần và chịu ảnh hưởng của tục uống máu của tín ngưỡng Mithra
b Các tôn giáo khác
Đạo Công giáo ra đời trước hết dựa trên cơ sở của Đạo Do thái Khoảnghơn 1.000 năm trước Công nguyên, quốc gia Do thái đã được thành lập theochế độ quân chủ - chủ nô với vị vua nổi tiếng của mình là David Kể từ đó,quốc gia này trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhiều lần hưng thịnh vàkhông ít lần suy vong Đặc biệt, vào thế kỷ VI trước Công nguyên, quốc gianày bị nhiều nước tấn công, xâu xé Mỗi lần như thế, người Do thái phải lưután, chạy sang các nước khác lánh nạn Cùng với sự ra đời của quốc gia Dothái, đạo Do thái được hình thành Trong thân phận bấp bênh, lưu đày củamình, người Do thái không khỏi nhớ vê tổ quốc và thời kỳ vàng son của dântộc mình Các tri thức Do thái lưu vong đã viết lại cuốn lịch sử dân tộc mìnhdưới dạng thần thoại và cuốn sách đó đã trở thành Kinh thánh của đạo Dothái Đạo Do thái được xây dựng trên cơ sở nhất thần giáo khá hoàn chỉnh vàtrở thành một trong những tiền đề lý tưởng lý luận cho nền thần học Kitô nóichung, đạo Công giáo nói riêng sau này
Có thể thấy rằng, nội dung giáo lý cơ bản của đạo Công giáo được giữnguyên hoặc phát triển từ những tín điều của đạo Do thái có trước đó hàngnghìn năm Đạo Công giáo ra đời chủ yếu dựa trên cơ sở thần học Do thái Đó
là các quan điểm về lịch sử sáng thế, sự màu nhiệm của Đức Chúa trời, tội tổtông truyền, linh hồn và thể xác, thiên thần và ác quỷ, thiên đàng và hỏa ngục,thế giới vĩnh hằng ở bên kia,
c Nền tảng Triết học
Suốt chiều dài lịch sử, con người được thấm nhuần nhiều tư tưởng triếthọc khác nhau Không lúc nào nhân loại thiếu triết học, bởi khi nào con người
Trang 22đang tồn tại thì lúc đó đang cần đến triết học Triết học có một chỗ đứng hếtsức quan trọng trong đời sống con người Nó đi sâu vào tâm thức con ngườiđến độ điều khiển hoạt động của một con người, một xã hội, của một thời đại
và ảnh hưởng của nó có thể mang tính phổ quát trên toàn nhân loại, trong mộtthời đại Dù vậy, triết học không phải là một cái gì chung chung, mơ hồ màtrái lại, nó mang tính cụ thể, đặc trưng khả dĩ đáp ứng khát vọng thiết yếu củacon người trong không gian và thời gian
Để tìm câu trả lời cho những khắc khoải của con người về nguồn gốchuyền bí của vũ trụ, các triết gia thời Cổ đại, tiền Socrates, đã truy tầm vềnguồn gốc của vũ trụ, ở đó, họ tìm thấy những yếu tố là nguyên thủy của vũtrụ như: nước, lửa, sự biến dịch và hữu thể… Trong khi các triết gia thời hậu
Socrates như: Plato, Aristoteles lại tập trung suy tư nhiều về vấn đề con
người Ngang qua phương châm nổi tiếng của Socrates: „Con người hay nhận
thức chính mình!“, các triết gia thời bấy giờ đã lôi kéo con người về với thựctại sống động của kiếp nhân sinh, nhằm thỏa mãn cho khao khát muốn biết:con người từ đâu mà tới? con người sẽ đi về đâu? cấu trúc thực sự của conngười là gì?
Các triết gia nói trên, nhất là các triết gia Phương Tây thời hậu Socrates
đã có một tầm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người nói chung và trong
hệ thống tư tưởng Phương Tây nói riêng, trong đó có tư tưởng Kitô gáo.Những tư tưởng đó đã đặt nền móng cho sự ra đời của Đạo Công giáo Tưtưởng triết học Cổ đại ảnh hưởng đến tư tưởng Kitô giáo trên cả hai phươngdiện, thế giới quan và nhân sinh quan.[88, 10]
i Thế giới quan
Đối với tư tưởng triết học Cổ đại, vũ trụ được coi như là toàn thể của hiệnhữu Họ quan niệm vũ tụ như một trật tự hiện hữu: đi từ những vật thô sơ đếnnhững vật hoàn hảo nhất Theo đó, cả Thượng đế cũng là thành phần của
Trang 23vũ trụ Và quy mọi sự vật về một yếu tố nào đó, ta thấy rõ trong quan niệm
của Heraclitus (535 TrCN – 475 TrCN) với lửa, của Parmenides (520/515 TrCN – 460/455 TrCN?) là hữu thể…
Triết học Cổ đại còn mang tính duy vật, các triết gia giải thích tự nhiênkhông phải bằng những tín điều tôn giáo, mà bằng việc nghiên cứu hiện thựcxuất phát từ việc quan sát trực tiếp sự vật Quan sát bằng giác quan, bằng kinhnghiệm thường trực của cuộc sống nên có phần chủ quan Chủ quan khi họchỉ lấy một trong những yếu tố tầm thường: lửa, sự biến dịch và hữu thể, làmkhởi nguyên của vạn vật
Plato (428/427 TrCN – 348/347 TrCN?) đã muốn đưa ra một vũ trụ siêu
việt nhưng rốt cuộc ông cũng trở về quan niệm một vũ trụ duy nhất Như vậy cảcon người lẫn Thượng đế đều không siêu việt trên vũ trụ và vũ trụ siêu việt trêncon người Con người toàn thiện có khả năng chiêm ngưỡng thế giới Linh tượng
Aristoteles (384 TrCN – 322 TrCN) có sự sáng tạo trong tư tưởng về vụ
trụ khi ông giải nghĩa sự kiện biến dịch trong vũ trụ, nhưng cũng như Plato,ông chủ trương vũ trụ là một trật tự vĩnh hằng và thần thánh Aristoteles chỉkhác Plato ở chỗ hủy bỏ, không thừa nhận thế giới Linh tượng như một vũ trụbiệt lập bên ngoài vũ trụ biến dịch Với ông, chỉ có một vũ trụ duy nhất, tức là
vũ trụ hữu hình Nhưng nếu để ý một chút, ta sẽ thấy vũ trụ bất biến của Platovẫn hiện lộ qua những mô thể, tức những thực tại bất biến của vụ trụ trongquan điểm của Aristoteles
Tóm lại, vũ trụ đối với Plato và Aristoteles là một trật tự hoàn hảo (khôngcải tiến, không thể có mức tốt hơn chính mẫu mực của nó) Hơn nữa, vụ trụcòn được coi là thần thánh, thần thánh đến nỗi Thượng đế cũng chỉ là thànhphần của vũ trụ Vũ trụ của Aristoteles là một bộ máy khổng lồ
Triết học vừa được Socrates đưa từ trời xuống mặt đất, liền bị Plato mangngay lên trời, lên mãi thế giới Linh tượng Plato đã nghĩ ra thế giới linh tượng
Trang 24và lấy đó để giải nghĩa của vũ trụ khả giác Nhưng ông đã thất bại, mặc dùvậy, cái thất bại của ông cũng không làm giảm bớt sự kính phục của nhân loạiđối với sự nghiệp tư tưởng của ông Và Aristoteles cũng đi vào con đường củathầy mình Ông phê bình học thuyết Linh tượng của Plato nhưng vẫn khôngthoát ra ngoài quan niệm triết học của Plato Cho nên, đối tượng của triết họcAristoteles vẫn sẽ là vụ trụ khác thể Hai phần chính yếu trong học thuyết củaông: Physic và Metaphysic, đều quy về việc tìm hiểu bản tính của vạn vậttrong vũ trụ Đối với ông, con người cũng là một sinh vật và chúng ta có thểdùng tri thức triết học để giải nghĩa nó, cũng như chúng ta giải nghĩa các sựvật khác.
Vũ trụ của Aristoteles là một cái máy khổng lồ và kỳ diệu, trong đó, mỗibánh xe thuộc cấp dưới được chuyển động nhờ tác động của động cơ bánh xe
ở cấp trên Trên hết là đệ nhất động cơ, tức Thượng đế, theo quan niệm củaAristoteles
Trong viễn tượng ấy, triết học của ông sẽ được định nghĩa là khoa học vềcác sự vật Và khi nói như vậy, Aristoteles đã xác định đối tượng của nhữngnghiên cứu triết học của ông và của môn phái ông sau này Nhìn vào thànhphần chính yếu của học thuyết mô chất của ông, người ta thấy gì nếu khôngphải là quan niệm của ông về cơ cấu siêu hình và vạn vật, cũng như tư tưởngcủa ông về bốn nguyên lý? Con người hiện sinh hầu như bị lãng quên Chonên, chúng ta có thể tóm tắt chủ đích của triết học thời kỳ này bằng cụm từ:độc tôn hữu thể Đây là thời kỳ triết học bị phóng thể: con người đã quênmình để chỉ mải miết tìm hiểu vũ trụ khách thể
Bên cạnh đó, Kitô giáo còn có sự tiếp thu những tư tưởng triết học củanhững nhà triết học đương thời, mà tiêu biểu trường phái Khắc kỷ với hai đại
diện tiêu biểu là L.A.Seneca (khoảng 2 TrCN – 65) và Philo ở Ai Cập (khoảng
20TrCN – 50)
Trang 25Seneca cho rằng cõi nhân gian là giả dối, thân xác con người là một gánh
nặng của linh hồn Ông khuyên mọi người hãy từ bỏ những lạc thú ở đời, sốngthanh đạm, đạo đức Ông yêu cầu mọi người, nhất là những người thông tháiphải làm việc có ích cho đời Song ông lại khuyên họ tin vào sự an bài củaThượng đế, sống phục tùng số mệnh
Seneca quan niệm có hai nước Một nước chung cho cả con người vàthần thánh Quốc gia (thế giới) này không biên giới nên không nên nghĩ đếndân tộc, quốc gia nhỏ bé riêng biệt của mình Ông không quan tâm đến quốcgia cụ thể, không cảm tính với phong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia
bị đế quốc La Mã đô hộ
Quốc gia (thế giới) thứ hai mà Seneca quan tâm nhiều hơn là thế giới cao
cả, nơi sinh quán của con người Ông khuyên con người sống cho nó, hết lòngphục vụ cho nó Và chỉ những người đã được qua lựa chọn mới được đến ở tại
đó Từ quan niệm trên, Seneca đi đến quan điểm về sự bình đẳng giữa các dântộc Sau này, người ta bắt gặp những tư tưởng trên trong thư của thánh Paul.Sống và xây dựng triết thuyết của mình vào khoảng cuối thế kỷ I trướcCông nguyên đến năm 65 sau Công nguyên, Seneca với việc lên án con người
là tội lỗi, nguyên nhân của mọi đua khổ, kêu gọi mọi người đi tìm sự giảithoát, lẽ công bằng và vĩnh hằng ở thế giới bên kia, đã tạo nên một thế giớiquan làm cơ sở cho sự xuất hiện của một tôn giáo mới, Kitô giáo
Một nhà triết học khác nữa đã được Kitô giáo tiếp thu là Philo (xứ Ai
Cập) Ông là người gốc Do thái lai Hy Lạp Philo quy mọi nguyên nhân suyđồi cùng những tệ nạn của xã hội vào cho con người, xem con người lànguyên nhân của tội lỗi Do vậy, ông chủ trương, một mặt con người phảinhẫn nhục chịu đựng, không ngừng sám hối, mặt khác phải trông đợi mộtđấng cứu thế sẽ xuất hiện
Trang 26Philo chủ trương đưa tôn giáo đến độc thần, dạy con người tin vào sự bất
tử của linh hồn Ông kết hợp tư tưởng tôn giáo của mình với những điểmchính yếu trong triết học Do thái Những tư tưởng cơ bản của Philo là:
- Một đấng thượng đế, một ông chúa duy nhất, ông chúa ấy quan hệ với loài người qua một sự trung gian, là Logos – lời Chúa
- Logos là nguồn gốc của mọi hành động
- Tội tổ tông cũng như ý tưởng về sự cứu chuộc là điều mà các triết gia theo phái Orphee đã truyền bá rộng rãi
Ảnh hưởng của triết học Philo đối với Kitô giáo đã được F.Engels chỉ ra:
„và trong thực tế chỉ bằng hy vọng vào sự đền đáp ở thế giới bên kia mới cóthể nâng từ sự từ bỏ thế giới theo thuyết khắc kỷ của Philo là chủ nghĩa cấmdục lên thành những nguyên tắc đạo đức cơ bản của tôn giáo thế giới mới cókhả năng cuốn hút quần chúng nhân dân bị áp bức“.[Dẫn theo: 8, 15]
ii Nhân sinh quan
Phải nói rằng, triết học Cổ đại Hy Lạp là một thứ khoa học về bản tínhcủa những sự vật trong vũ trụ, hơn là một suy tư về ý nghĩa và định mệnh củacon người xét như một nhân vị tự do Nhưng Socrates (469TrCN – 399 TrCN)
là một ngoại lệ trong số đó Ông là người mà Ciceron gọi là người đã kéo triếthọc từ trên trời xuống đất Ông là một hình ảnh lạc lõng trong thế giới tri thức
Hy Lạp cổ đại; cuộc sống nhập cuộc của ông làm ta thấy ông giống nhữngtriết gia hiện sinh hơn là những con đẻ tinh thần của ông, Plato và Aristoteles
Trong triết học của Plato cũng như Aristoteles, con người bị coi như mộtthứ tĩnh vật, có một bản tính cố định, phương diện đồng đều và mô thể củacon người thường được nêu cao hơn phương diện cá tính và độc đáo Nói cáchkhác, trong khi mải miết đi tìm cách giải nghĩa con người theo bản tính phổquát của nó, Plato và Aristoteles đã vô tình dùng luôn phương pháp mà
Trang 27các ông đã dùng để giải nghĩa những sự vật khác: các ông đã hầu như chỉ biếtbàn về bản tính con người và ít để tâm nghiên cứu về nhân vị con người Nếuchỉ biết con người bằng cách tìm hiểu bản tính của nó, thì chúng ta vừa biếtnhiều quá, vừa biết ít quá: Chúng ta biết quá nhiều về con người phổ quát tứccon người không hiện hữu ở thời đại nào và nơi nào hết, đồng thời ta hầu nhưchẳng biết gì về con người đang sinh hoạt đầy phiêu lưu giữa những hoàncảnh nhất định.
Trong khi suy tưởng về con người, Plato và Aristoteles đã quá say sưa vớinhững ý tưởng đẹp, cho nên đã không chút ưu tư về thân phận con người.Dường như đối với họ, hễ triết học khám phá ra những định luật và những cơcấu của bản tính con người, thì triết học có thể hát khúc ca khải hoàn Sự thựctrái ngược hẳn: con người không chỉ là một bản tính mà hơn thế nữa còn làmột hữu thể tự do Và cái đau xót cũng như cái cao quý của nó không tệ hại ởphương diện bản tính (dữ kiện) của nó, nhưng ở phần trách nhệm tự do của
nó Cho nên, có thể là cái biết đó, biết theo bản tính, không những ít có lợicho việc học làm người, mà còn có thể sinh tai hại vì nó làm ta lãng quên thựctại để chạy theo những lý thuyết đẹp đẽ
Khi chủ trương linh hồn bị giam hãm trong thân xác, Plato đã tách conngười thành nhị nguyên: một linh hồn tự tại và một thân xác vô ích Và nhưvậy, ông phá hủy cơ sở hiện hữu của con người Nói đúng hơn, ông đã pháhủy con người thực tại, và ông đã thay vào đó một thứ vừa người, vừa thiênthần Một thứ thiên thần bị sa đọa, lao đầu xuống trần gian để đền tội mìnhtrong tình trạng nhập thể Linh hồn tự tại và bản tính của linh hồn giống nhưbản tính của Linh tượng, nghĩa là „bất biến“ Khi đó, tất cả những biến cố bảnthân và xã hội cùng lắm chỉ có ý nghĩa đền tội chứ không đem lại cho conngười những điều kiện để phát triển nhân vị thêm mãi Tuy nhiên, khi so sánhvới triết học Aristoteles, chúng ta phải công nhận triết học của Plato hơn hẳn
về những âu lo đạo đức
Trang 28Quan niệm về con người của Aristoteles đã ghi một bước tiến đối với tưtưởng của Plato Triết lý nhân sinh đã bắt đầu bằng xác nhận này: con người
là một bản thể duy nhất, cấu tạo bởi một linh hồn và một thân xác Cũng như
mô thể không thể ly biệt chất thể và ngược lại, thì linh hồn cũng không thể lybiệt thân xác Như thế, tư tưởng của Aristoteles đã tiến bộ hơn so với ngườithầy của mình Nhưng mặt khác, Aristoteles đã quan niệm linh hồn như mộtcái chi đồng đều cho tất cả mọi người, cho nên triết học con người của ôngcũng vẫn chưa thoát ra khỏi tiền nhân
iii Quan niệm về Thượng đế
Plato quan niệm Thượng đế là, là thiện thể, „sự thiện tuyệt đối“ Ông gọi Thượng đế là Demiurge, tức Đấng hóa công Thiện thể là một trong những
linh tượng, đó là một linh tượng cao nhất mà thôi Cho nên không riêng gìThượng đế siêu việt Quan niệm cơ bản của Plato là: các linh tượng có bảntính vĩnh viễn và hằng hữu
Hơn nữa, Hóa công thuộc những thực tại thần thoại của Plato: dầu Hóacông tác thành các linh tượng hay tác thành vạn vật khả giác, thì hành độngcủa Hóa công cũng chỉ mang tính thần thoại mà thôi Học thuyết của Plato làhọc thuyết linh tượng, và các linh tượng thì hết thảy đều hằng hữu như nhau.Cho nên Thượng đế của Plato chỉ là một linh tượng, linh tượng cao nhất, tức
là thiện thể Linh tượng đó không siêu việt trên các linh tượng khác Bởi thiệnthể là thành phần của linh giới
Tóm lại, tính siêu việt tuyệt đối của Thượng đế của Plato rất hàm hồ vàtheo nghĩa chặt thì không có Cho nên, muốn quan niệm Thượng đế như mộtngôi vị có chính những linh tượng kia làm ý tưởng của mình, thì nhất địnhchúng ta không thể nhìn thấy một bóng nào trong thuyết linh tượng Thượng
đế của Plato là một cái gì mông lung, chứ không phải là một ngôi vị
Trang 29Nếu Thượng đế của Plato không thực sự siêu việt thì Thượng đế củaAristoteles lại càng ít siêu việt hơn.
Về nguyên nhân, Aristoteles chủ trương tính vĩnh cửu của mô thể và chấtthể của tất cả các loài Cho nên đệ nhất nguyên nhân không có nghĩa lànguyên nhân phát sinh ra tất cả vạn vật, nhưng chỉ có nghĩa là nguyên nhânquan trọng nhất trong trật tự Tóm lại, không bao giờ có ý niệm sáng tạo tronghọc thuyết của Aristoteles Cho nên đệ nhất nguyên nhân của Aristoteleschẳng qua chỉ nhất về tính chất quan trọng chứ không nhất về tính chấtnguyên nhân
Đệ nhất động cơ có thực sự siêu việt đối với vũ trụ không? Muốn giảiquyết, chúng ta cần xem qua cái máy khổng lồ và tuyệt diệu do Aristotelesnghĩ ra, tức vũ trụ Vũ trụ của Aritote là một bộ máy trong đó có hai thànhphần bất động là trái đất nằm ở trung tâm, và thiên cầu của các định tnh, thiêncầu này ở phía trên cùng không gian, nghĩa là ngoài thiên cầu này không còn
gì ở trên nữa Vào khoảng giữa hai thành phần này, ta thấy có các thớt chuyểnđộng, tức các thiên cầu của hành tinh và của mặt trời và mặt trăng
Nhìn chung, chúng ta khó có thể tìm thấy tính siêu việt trong bản thể của
đệ nhất động cơ, cũng như chúng ta không tìm thấy được tính siêu việt nơithiện thể của Plato và một điểm chắc chắn Thượng đế của Plato và Aristoteleskhông thể nào là một Thiên chúa ngôi vị
Ảnh hưởng của triết học Hy Lạp cổ đại mãnh liệt đến nỗi tư tưởng triếthọc của Plato đã xâm nhập dần vào các lĩnh vực thần học của Kitô giáo; thánhAugustino, thánh Gregoire de Nysse… đã chịu ảnh hưởng một cách quá sâu
xa đến nỗi, riêng về quan niệm con người, chúng ta không biết nên nói họ đãKitô hóa tư tưởng của hàn lâm, hay trái lại đã Plato hóa phần nào những đạo
lý của Chúa Jesus
Trang 301.3 Giáo lý, giáo luật của đạo Công giáo
1.3.1 Giáo lý
a Căn cứ của các giáo lý
Giáo lý của Giáo hội Công giáo, trước hết, nằm trong Kinh thánh, gồmhai bộ: Cựu ước (46 quyển) và Tân ước (27 quyển):
Kinh Cựu ước là sự kế thừa từ kinh của Đạo Do thái, kể về Thiên chúavới công việc sáng tạo ra vũ trụ và con người, kể về những phong tục, tậpquán của người Do thái và loan báo, chuẩn bị cho sự xuất hiện của Đấng Cứuthế Các bản gốc của Kinh Cựu ước được viết chủ yếu bắng tiếp Hipri (Dothái), và một vài văn bản được viết bằng tiếng Aram hoặc Hy lạp Bản Cựu
ước được dịch sang tiếng Hy Lạp gọi là bản Bảy mươi, từ cuối thế kỷ II trước
công nguyên
Cựu ước gồm 46 cuốn sách (hoặc 45 nếu gộp sách Gieremia và Aica làm
một), là phần đầu và cũng là phần dài hơn trong hai phần của Kinh thánh.[500,84] Nội dung là cuộc chuẩn bị trường kỳ mà người Do thái trải qua để đitới giao ước chung kết và vĩnh viễn mà Thiên chúa sắp ký kết với loài ngườinơi bản than Đức Jesus Kitô Bốn mươi sáu cuốn sách của Cựu ước đã đượcxếp loại theo nhiều cách khác nhau, từ những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyênKitô giáo Hai cách xếp loại phổ biến nhất hiện nay là theo thứ tự của Kinhthánh Do thái hoặc của Kinh thánh Hy lạp Theo thứ tự của Kinh thánh HyLạp thì Cựu ước gồm 4 phần:
- Sách luật còn gọi là sách „Tora“ của người Do thái nói tiếp Hipri hoặc
Ngũ Thư của người Do thái nói tiếng Hy lạp Ngũ Thư cho Dân Chúa hiểu biếtnguồn gốc, căn tính và vị trí của họ trong kế hoạch của Thiên chúa cùng với cácluật lệ để giúp họ sống làm dân của Thiên chúa Đồng thời, sách cũng nói về việcThiên chúa dạy dỗ dân của Người và làm cho lịch sử của nó có ý nghĩa Sáchluật gồm có 5 quyển: Sáng thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân số, Ðệ nhị luật
Trang 31- Sách lịch sử: Các soạn giả đọc lại lịch sử dân Do thái từ khi vào được
Đất Hứa cho đến khi phải rời khỏi đó trong biến cố lưu đày theo quy luật là:trung thành giữ luật giao ước thì sẽ được sống bình yên trên Đất Hứa, còn nếubất trung thì sẽ bị trừng phạt Sách lịch sử có 16 quyển: Giôsuê, Thủ lĩnh(Thẩm phán), Rút, 2 sách Samuen, 2 sách các Vua, 2 sách Sử Biên, Étra,Nơkhemia, Tôbia, Giuđitha, Étte, 2 sách Macabê
- Sách giáo huấn là bộ sách gồm những tác phẩm thuộc nhiều thể loại,
nói về cách phụng sự Thiên chúa trong đời thường và để trở thành những conngười có trách nhiệm trong đức tin Nhóm này có 7 quyển: Gióp, Thánh vịnh,Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Khôn ngoan, Huấn ca
- Sách ngôn sứ là những sách cho thấy Thiên chúa can thiệp vào lịch sử
qua trung gian các ngôn sứ là những nhân vật đã được Người trao ban Lời vàThần khí, „để hủy và để xây, để nhổ và để trồng“ Những vị ngôn sứ được linhứng ấy sẽ đóng một vai trò quyết định trong công cuộc giáo dục đức tin củangười Do thái Sách ngôn sứ có 18 quyển tất cả: Isaia, Giêrêmia, Ai Ca,
Barúc, Êdêkien, Ðanien, Hôsê, Gioen, Amốt, Ôvađia, Giona, Mikha, Nakhum,Khabacúc, Xôphônia, Khácgai, Dacaria, Malakhi [56, 2]
Kinh Tân ước tiếp nối Kinh Cựu ước, kể về cuộc đời, sự nghiệp của ChúaJesus Kitô – Đấng cứu thế, về quá trình hoạt động của các tông đồ và nhữnglời dạy bảo của Chúa Jesus và các tông đồ về con người
Tín điều cơ bản đầu tiên là đức tin vào Thiên chúa, vào sự mầu nhiệmcủa Thiên chúa Đây thực chất là lời đáp trả lại của con người đối với Thiênchúa bởi con người khao khát có Thiên chúa, không chỉ vì nhờ có Thiên chúa,con người mới được tạo thành, mà còn vì ở nơi Thiên chúa con người mới cóhạnh phúc, đạt tới được chân lý mà họ đang kiếm tìm Bằng những năng lựccủa mình, con người có khả năng nhận ra Thiên chúa từ những gì Thiên chúatạo nên, và Thiên chúa cũng tự ban chính mình cho con người, „mặc khải“
Trang 32tình yêu thương, phép màu nhiệm của mình cho con người, thông qua việc cửĐức Jesus Kitô và các thánh thần đến với con người.
Qua đó, con người tin rằng Chúa có ba ngôi: Cha (tạo dựng), Con (cứuchuộc), Thánh thần (thánh hóa) Thiên chúa đã tạo ra con người gồm haiphần: thể xác và linh hồn, sau khi chết thể xác sẽ trở về với cát bụi nhưng linhhồn thì tồn tại vĩnh viễn Con người do có trí khôn, lương tâm nên làm chủ thếgiới muôn loài Nhưng do tính phàm tục nên mắc nhiều tội lỗi Thiên chúa đãtrừng phạt con người vì những lỗi lầm của họ, nhưng đồng thời sai Chúa Jesusxuống cứu chuộc con người Chúa Jesus được sinh ra từ Mẹ Maria bằng phépmàu nhiệm của Thiên chúa Cái chết của Chúa Jesus – bị đóng đinh trên câythánh giá, sống lại và về trời – chính là biểu hiện cho tình yêu thương, đức hysinh và cuộc sống vĩnh hằng của Thiên chúa Ta có thể tạm chia các sách Tânước làm bốn loại, dựa trên bốn thể văn khác nhau:
- Thể văn Tin mừng
Bốn sách đầu tiên của bộ Tân ước được viết theo thể văn này, đó là cácsách Tin mừng (còn gọi là sách Phúc Âm) theo thánh Matthêu, thánh Máccô,thánh Luca và thánh Gioan „Trong toàn bộ Kinh thánh và thậm chí ngay cảTân ước nữa, các sách Tin mừng có tính ưu việt trên hết, vì những sách đó lànhững chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo huấn của Ngôi lời nhập thể,Ðấng Cứu Ðộ chúng ta“ (Mk 18) Công đồng Vatican II đã coi các sách Tinmừng như những chứng từ thành văn của các Tông đồ hay của những vị đãsống bên các Tông đồ ghi chép lại do ơn linh hứng của Thánh Thần Ðó làmột chứng từ đức tin mang hai đặc điểm sau đây Trước hết, chứng từ nàyđược viết lại sau những biến cố nền tảng của Kitô giáo: phục sinh, thăng thiên
và hiện xuống Các biến cố này như những luồng sáng chiếu dọi vào toàn bộcuộc đời Ðức Jesus, khiến cho các Tông đồ có một hiểu biết thâm trầm hơn vềcác việc làm và lời nói của Người Kế đó, chứng từ này mang đậm nét đặc
Trang 33thù của từng tác giả Khi soạn thảo các sách Tin mừng, mỗi tác giả đã phảichọn lựa những yếu tố đã được truyền khẩu hay được ghi lại thành văn, cộngthêm những hiểu biết riêng của mình mà làm nên một tác phẩm Tác phẩmnày được viết cho một giáo đoàn nhất định và với một mục đích nhất định.
Có một câu hỏi được đặt ra một cách gay gắt trong suốt thế kỷ XX, đó làcâu hỏi về lịch sử tính của các sách Tin mừng, hay nói khác đi: những gì cácsách Tin mừng kể lại có thật không? Công đồng Vaticanô II đã long trọngkhẳng định lịch sử tính của các sách Tin mừng: các sách này trung thànhtruyền lại những gì Ðức Jesus thực sự đã làm và đã dạy, các tác giả thánh luônluôn truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Ðức Jesus (Mk 19).Nhưng vì các sách Tin mừng là những chứng từ đức tin, nên ta đừng hiểu lịch
sử tính ở đây theo nghĩa là các tác giả đã ghi âm hay chụp lại những gì ÐứcJesus đã nói và làm vào chính lúc xảy ra Các sách Tin mừng còn có một bềdày phong phú hơn nhiều Ðó vừa là chứng từ về Ðức Jesus lịch sử, vừa làchứng từ về niềm tin của các Tông đồ sau phục sinh, và cũng là công trìnhsoạn thảo của các tác giả thánh
Vậy thể văn Tin mừng là một thể văn đặc biệt, nó có lịch sử tính nhưnglại không phải là một bài phóng sự hay tường thuật tại chỗ những gì đang xảy
ra Các sách Tin mừng được viết sau những năm dài nghiền ngẫm, cầu nguyện
và sống, không phải của một cá nhân, mà thường là của cả một cộng đoànGiáo hội địa phương Bốn sách Tin mừng là bốn cái nhìn về cùng một thực tại
là Ðức Jesus, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để ta có một cáinhìn trọn vẹn về Con Thiên chúa
- Thể văn lịch sử tôn giáo
Sách Công vụ Tông đồ thuộc thể văn này Sách này kể lại buổi đầu củaGiáo hội và công cuộc loan báo Tin mừng cho các dân tộc Ðây không phải làmột tài liệu thuần túy lịch sử như kiểu hồi ký hay niên sử, nhưng cũng không
Trang 34phải là một sách giáo lý thuần túy, vì mang nhiều yếu tố lịch sử Có thể nóiCông Vụ là một lịch sử nhằm giáo huấn Tác giả Luca đã viết sách này chonhững tín hữu gốc dân ngoại để nói lên rằng sứ điệp cứu độ được gởi đến chomọi người, trước hết là người Do thái, sau là dân ngoại Các diễn từ chiếm
gần một phần ba sách Công vụ, dĩ nhiên đây không phải là nguyên văn các bài
giảng, bởi vì chúng quá ngắn, lắm khi lại quá giống nhau Thánh Luca đã soạn
ra những diễn từ này dựa trên những yếu tố trong các bài giảng của các Tông
đồ Còn các trình thuật cũng được ghi lại một cách khá tự do vì thời xưa các
sử gia không quá bận tâm đến tính chính xác của biến cố xảy ra Luca chochúng ta một hình ảnh tốt đẹp về Giáo hội sơ khai, ông cố tránh nhắc đếnnhững khía cạnh kém đẹp của Giáo hội, như vụ bất đồng ý kiến giữa hai Tông
đồ Phêrô và Phaolô ở Antiôkhia (Gl 2,11-14) chẳng hạn Thế nên có lẽ phảicoi những bản tóm lược ở Cv 2,42-47; 4,32-35; 5,12-16 là những bức họa lýtưởng hơn là một mô tả về thực tại của Giáo hội ở Jerusalem
- Thể văn thư tôn giáo chính thức
Tân ước có 21 lá thư, một số lớn của thánh Phaolô, số còn lại của các vịTông đồ khác Ðây là những lá thư thực sự vì được gửi đến cho những cánhân như Timôthê, Titô, Philêmôn, hay cho những Giáo hội ở đó đây trong đếquốc Rôma Các thư phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứngnhững nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xácđịnh những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm Các thư này thường được đem đọc công khai trong buổi họp cộng đoàn tínhữu (1 Tx 5,27), và cũng có thể được trao đổi giữa các Giáo hội (Cl 4,16) Vìcác thư trong Tân ước không phải chỉ là những thư thuần túy riêng tư, cũngkhông phải là những luận thư (épitre) theo kiểu của các triết gia Hylạp, nênchúng ta có thể coi chúng thuộc về thể văn „thư tôn giáo chính thức“ Ðây làtài liệu do một nhóm hay một vị có thế giá gửi cách chính thức và công khai
Trang 35cho những cá nhân hay cho những cộng đoàn nhất định, nhằm một mục đíchchủ yếu có tính tôn giáo.
Như các sách Tin mừng, các thư được soạn thảo do ơn linh hứng củaChúa Thánh thần Tuy không có những trình thuật về đức Jesus nhưng các thưlại „trình bày càng ngày càng rõ hơn giáo lý đích thực của Người“ (Mk 20)
Có thể nói các thư phản ánh việc sống lời Chúa của các cộng đoàn dân Chúa
ở thế kỷ đầu, với những khó khăn riêng; tuy nhiên ta vẫn có thể khám pháthấy nơi các thư một sứ điệp luôn mới mẻ cho đức tin của mình, miễn là biếtthích ứng sứ điệp đó cho thời đại mình đang sống
- Thể văn Khải huyền
Sách cuối cùng trong bộ Tân ước là sách Khải huyền Ðây là một thể vănthịnh hành trong văn chương Do thái trong khoảng thời gian hai thế kỷ trướcđến một thế kỷ sau CN Thể văn này sử dụng nhiều hình ảnh, con số, tên gọi
và màu sắc mang ý nghĩa tượng trưng Ðể hiểu được ý nghĩa của chúng, tacần quy chiếu về Cựu ước và các sách Khải huyền khác, chứ không nên hiểutheo nghĩa đen Sách Khải huyền được viết để củng cố niềm hy vọng các tínhữu đang bị bách hại vì đức tin Tác giả sách này đã phác họa một loạt nhữngthị kiến có tính tượng trưng để mô tả cuộc giao tranh trong vũ trụ giữa sựthiện và sự ác, giữa Ðức Kitô và Satan, cuối cùng Ðức Kitô và các thánh sẽtoàn thắng Ðó là động lực giúp người tín hữu vững tâm đợi chờ sự can thiệpcủa Thiên chúa Như thế sách Khải huyền vẫn có giá trị cho mọi thời, vì lịch
sử vẫn còn là cuộc tranh chấp cho đến ngày Ðức Kitô trở lại
Đạo Công giáo cho rằng Kinh thánh là lời mặc khải của Thiên chúa đối với loài người, là mẫu mực tối cao của đức tin phải được đề cao và tôn sùng như Thánh thể Chúa Họ cho rằng, Hội thánh do Chúa Jesus sáng lập có nhiệm vụ truyền giảng Kinh thánh Truyền đạo là nhiệm vụ thiêng liêng mang
ý nghĩa Thánh truyền.
Trang 36Ngoài Kinh thánh, giáo lý của đạo Công giáo còn được quy định trongcác văn bản khác như các áng văn của các giáo hoàng, nghị quyết của cáccông đồng,
b Nội dung khái quát của giáo lý Công giáo
Giáo lý Công giáo có thể khái quát thành những điểm sau:
i Về thế giới, người Công giáo tin vào Thiên chúa và sự màu nhiệm của
Thiên chúa Thiên chúa có trước đời đời, có trước cả không gian và thời gian,
là vị sáng lập ra vũ trụ, trời đất, con người và vạn vật Thiên chúa là nhất thểnhưng có ba ngôi: Cha, Con và Thánh thần Ngôi Con bởi Ngôi Cha mà ra.Ngôi Thánh thần nhờ ngôi Cha và ngôi Con mà có Ba ngôi „đồng đẳng“,
„đồng vinh“, „đồng quyền“ nhưng mỗi ngôi có chức năng vai trò riêng đối vớicon người: Ngôi Cha là tạo dựng, Ngôi Con là Cứu chuộc, Ngôi Thánh thần làthánh hóa
Kinh Cựu ước cho rằng, Thiên chúa tạo dựng trời đất và vạn vật trong sáungày: ngày thứ nhất Chúa tạo nên ngày và đêm; ngày thứ hai tạo ra trời(không gian và thời gian); ngày thứ ba tạo ra đất, nước, cây, cỏ; ngày thứ tưtạo ra các tinh tú trên trời làm cơ sở phân chia ngày đêm, năm tháng, thời tiếttrong đó có mặt trời và mặt trăng; ngày thứ năm tạo ra vạn vật chim, cá,muông thú; ngày thứ sáu tạo ra con người; ngày thứ bảy sau khi đã hoàn tấtcông việc tạo dựng Chúa nghỉ nên còn gọi là ngày Chúa nhật (lâu dần ta gọi làChủ nhật)
Như vậy, Chúa là đấng tối cao, thiêng liêng, sáng láng, chúa tể của trờiđất và muôn loài, có quyền phép vạn năng sắp xếp trật tự và vận hành của vạnvật và vũ trụ Thiên chúa tiền định một cách hợp lý và tuyệt đối với vạn vật và
vũ trụ
ii. Về con người, Đạo Công giáo cho rằng, Thiên chúa đã tạo ra con
người theo hình ảnh của Chúa, có nhiệm vụ thờ phụng Chúa và tiếp tục công
Trang 37việc kiến tạo trái đất của Chúa Lúc đầu Chúa dùng bụi đất tạo nên người đànông rồi hà sinh khí vào cho ông ta có ý thức Người đàn ông đầu tiên ấy làAdam Người đàn bà đầu tiên do Chúa tạo ra bằng chính xương sườn củaAdam có tên là Eva (có nghĩa là mẹ của sự sống) Con người là sản phẩmtuyệt hảo của Chúa, có trí khôn, có lương tâm, có đạo đức và được làm chủthế giới, làm chủ muôn loài.
Con người có hai phần thể xác và linh hồn Linh hồn là sinh khí do Chúatruyền vào, khi con người chết linh hồn không chết mà đầu thai ở kiếp khác.Phần thể xác khi chết thì trở về với cát bụi
Theo kinh Cựu ước, do Adam và Eva ăn trái cấm trong vườn Địa đàng
mà họ đem lòng yêu nhau Điều đó đã làm Thiên chúa nổi giận đuổi ra khỏivườn Địa đàng và đày xuống trần gian với lời nguyền họ và con cháu họ phảilao động vất vả, phải bới đất nhặt cỏ để kiếm ăn và phải chết Riêng Eva vàcon cháu bà là nữ thì phải mang nặng đẻ đau Theo lời nguyền đó, loài ngườiđời đời phải mang tội do vợ chồng Adam gây ra, gọi là tội tông truyền
Con chau của tổ phụ Adam ngày càng sinh sôi nảy nở đông đúc và cũngphạm nhiều tội lỗi mất lòng Thiên chúa, do nhiều lần Thiên chúa răn dạy quacác tiên tri mà không có kết quả Cuối cùng Thiên chúa đã trừng phạt loàingười bằng nạn đại hồng thủy Trong nạn đại hồng thủy chỉ duy có ông giàNoah với gia đình vợ con và muông thú mỗi loài một cặp đực, cái để lưugiống về sau, được Thiên chúa báo trước cho sống là còn sống sót
Sau nạn Đại hồng thủy, con cháu của Noah vẫn lỗi nghịch với Thiênchúa, thậm chí toan xây tháp Babel định vào cõi trời sống với Thiên chúa.Thiên chúa tức giận đã ban cho loài người nhiều tiếng nói khác nhau, loàingười vì bất đồng ngôn ngữ đã không xây được tháp Babel Con cháu Noahvẫn sinh sôi nảy nở đông thêm mãi và chia nhau sống khắp thế giới Trong cácdân tộc con cháu của Noah, dân Do thái là dân tộc thượng đẳng được
Trang 38Chúa yêu thương ban cho Maisen có tài trí hơn người, dũng cảm vô song đưadân Do thái từ các nơi, đặc biệt là từ Ai Cập vượt biển Đỏ trở về Tổ quốc.
Thiên chúa ban cho họ Mười điều răn khắc vào những phiến đá để họ làm lẽ
sống và thờ phụng mình
Nhưng loài người, kể cả dân Do thái vẫn sa ngã và phạm tội Thiên chúakhông nỡ quở phạt mãi, với tình yêu thương loài người Thiên chúa quyết địnhcho ngôi hai - Chúa Con - xuống trần cứu chuộc tội lỗi cho con người
iii. Về Chúa Jesus và công cuộc cứu chuộc, theo giáo lý Công giáo thì
Chúa Con - Đấng Cứu thế - xuống trần một cách huyền diệu bởi phép ĐứcChúa Thánh thần Chúa Jesus được đầu thai mầu nhiệm nơi Đức Mẹ đồngtrinh (do Chúa chọn) ở làng Nazareth gần thành Jerusalem Thiên chúa cũngchọn Joseph, người thợ mộc thuộc dòng dỗi Đa-vít đến đính hôn và chungsống với Maria Chúa Jesus giáng sinh tại hang đá lạnh lẽo trên đường từNazareth về Bethlehem quê hương của Joseph Nhà vua xứ Jerusalem sợChúa dẫn dắt dân tộc Do thái, tranh quyền với mình nên đã giết tất cả nhữngtrẻ trai có cùng năm sinh với Chúa Vợ chồng Joseph được Thiên thần báotrước đã dưa Chúa lánh sang Ai Cập
Jesus sống cùng bố mẹ một cách bình thường và giữ trọn đạo hiếu thảo.Năm 30 tuổi Chúa bắt đầu đi giảng đạo, dùng nhiều phép lạ cứu chữa chonhiều người vượt qua nghèo đói, bệnh tật Trong 12 môn đệ được Chúa tuyển
chọn thì Judas Ischariot, sau này là kẻ phản Chúa Ông ta đã báo cho vua
Herod bắt và hành hình Chúa vào năm Chúa 33 tuổi Chúa chết ba ngày thìsống lại, ở với các môn đệ thêm 40 ngày nữa rồi sau đó lên trời
Trước khi về trời Chúa đã lập bảy phép bí tích để loài người được hưởng
ân sủng của Thiên chúa Trong đó phép Mình thánh Chúa là phương tiện màu
nhiệm để con người thông công với Chúa Chúa cũng lập ra Giáo hội, đặt môn
đệ Phê-rô đứng đầu là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo hội Công giáo
Trang 39Sau khi Chúa lên trời mười ngày thì Thiên chúa cử ngôi ba - Chúa Thánh thần
- xuống trần thánh hóa Hội thánh, ban sức mạnh và lòng can đảm cho các môn đệ của Chúa Jesus để họ đi truyền đạo
Giáo lý Công giáo cho rằng, một ngày kia toàn thế giới sẽ tận thế Khicon người từ trong tro bụi, tất cả các thế hệ cùng sống lại, Chúa Jesus lạixuống trần để có lời phán xét cuối cùng (gọi là ngày phán xét chung), người
có tội phải xuống Hỏa ngục, người không có tội được lên Thiên Đàng sốngsung sướng mãi mãi như thời Adam và Eva ở vườn Địa đàng
Như vậy, Giáo lý Công giáo thể hiện:
- Chúa Jesus xuống trần thể hiện hai bản tính là nhân tính và thần tính rất gần gũi mà cũng rất thiêng liêng huyền diệu.
- Chúa Jesus chịu nạn, chịu chết là hành động cao cả nhất trong công cuộc cứu chuộc - Chúa chết cho thế gian và mọi người được sống.
- Chúa lập các phép bí tích và xây dựng Hội thánh, khai sinh nước trời trên thế gian, tạo môi giới duy nhất để con người hiệp thông với Thiên chúa.
1.3.2 Luật lệ, lễ nghi
Luật lệ, lễ nghi của Công giáo chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độphong kiến La Mã và hầu như rất ít thay đổi theo thời gian
a Mười điều răn của Chúa
Giáo luật của Đạo Công giáo quy định „Thập giới“ – Mười điều răn mà
Thiên chúa đòi hỏi nhằm giúp con người được cứu rỗi Mười điều răn này hợpthành một thể thống nhất, quy thành hai tôn chỉ: kính Chúa và yêu con người(Mt 22,37-40)
Mười điều răn của Thiên chúa đã cho khắc vào đá ban cho Maisen, tổ
phụ của người Do thái, chung quy lại hai điều được coi là tôn chỉ của Công
giáo là kính Chúa và yêu người:
1) Phải thờ kính Thiên chúa trên hết mọi sự
Trang 402) Không được lấy danh Thiên chúa để làm những việc phàm tục tầm thường.
3) Giành ngày chủ nhật để phụng thờ Thiên chúa
4) Thảo kính Cha Mẹ
5) Không được giết người
6) Không được dâm dục
7) Không được gian tham lấy của của người khác
8) Không được làm chứng dối, che dấu sự gian dối
9) Không được ham muốn vợ hoặc chồng của người khác
10) Không được ham muốn của cải trái lẽ
b Ngoài Mười điều răn của Chúa, luật lệ Công giáo còn được qua định
bởi Sáu điều răn của Giáo hội, đó là:
1) Xem lễ các ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc
2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật
3) Xưng tội mỗi năm một lần
4) Chịu lễ mùa phục sinh
5) Giữ chay những ngày quy định
6) Kiêng ăn thịt vào những ngày quy định
Ngoài ra Giáo hội còn quy định nghĩa vụ trong các quan hệ đối với linh hồn, đối với đồng loại và với chính bản thân mình như:
- Lấy điều thiện mà khuyên người;
- Hướng dẫn cho kẻ mê muội;
- Tha thứ cho kẻ khinh rẻ mình;
- Nhịn kẻ xúc phạm đến mình;
- Răn bảo kẻ tội lỗi; An ủi người lo âu;
- Cầu nguyện cho người sống và người chết;
- Cho kẻ đói ăn; Cho kẻ khát uống; Cho kẻ rách mặc; Cho khách ở nhờ; Cho người làm thuê;