1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK môn luật hôn nhân và gia đình đề 10

13 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 25,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việc nuôi con nuôi là một trong các hiện tượng xã hội phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia trên thế giới. Việc nuôi con nuôi không chỉ có ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thiếu tình thương từ cha mẹ…;mà còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, đặc biệt là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, đã dùng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà không có được con hay phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân… Vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi là một vấn đề mà Đảng, Nhà nước rất quan tâm và được điều chỉnh bởi pháp luật. Vậy nuôi con nuôi là gì? Điều kiện để việc nuôi con nuôi là hợp pháp? Sau đây trong phạm vi bài tập học kì em xin chọn đề tài số 10: “Các điều kiện để việc nuôi con nuôi được coi là hợp pháp” để hoàn thành bài tập của mình.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Hiện nay, việc nuôi con nuôi là một trong các hiện tượng xã hội phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia trên thế giới Việc nuôi con nuôi không chỉ có ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thiếu tình thương từ cha mẹ…;mà còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, đặc biệt là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, đã dùng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản mà không có được con hay phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân… Vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi là một vấn đề mà Đảng, Nhà nước rất quan tâm và được điều chỉnh bởi pháp luật Vậy nuôi con nuôi

là gì? Điều kiện để việc nuôi con nuôi là hợp pháp? Sau đây trong phạm vi bài tập

học kì em xin chọn đề tài số 10: “Các điều kiện để việc nuôi con nuôi được coi là hợp pháp” để hoàn thành bài tập của mình.

B NỘI DUNG

I Khái niệm chung về nuôi con nuôi

I.1 Khái niệm con nuôi

Con nuôi là khái niệm được dùng để phân biệt với khai niệm con đẻ Con đẻ

là người con được sinh ra bởi người mẹ, có quan hệ huyết thống với cha mẹ của mình, mang gen di truyền của bố và mẹ Một đứa trẻ sinh ra không cùng quan hệ huyết thống với người chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng thì đứa trẻ đó có thể được gọi là con nuôi

Tuy nhiên, đứa trẻ được người không sinh ra mình nhận nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục chỉ được coi là con nuôi khi được pháp luật công nhận trên cơ sở mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ và con của người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc đứa trẻ đó Vì vậy không phải bất cứ trường hợp nào việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đều làm cho đứa trẻ được nhận nuôi dưỡng trở thành con nuôi của người

Trang 2

nuôi dưỡng Việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi phải được đăng ký theo đúng thủ tục và trình tự do pháp luật quy định

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010 có quy định:

“Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ

quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký”

I.2 Khái niệm nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là khái niệm được quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật nuôi con

nuôi năm 2010 Theo đó “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con

giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi”

Như vậy, nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, khi giữa họ không cùng quan hệ huyết thống mà được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ý chí, nguyện vọng của người nhận nuôi và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

Mục đích của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ pháp luật giữa cha

mẹ và con ổn định, lâu dài, bền vững, đảm bảo cho người con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trong môi trường gia đình

II Điều kiện để việc nuôi con nuôi được coi là hợp pháp

Với nhiều lý do và mục đích khác nhau, việc nhận con nuôi trong đời sống

xã hội Việt Nam đã tồn tại từ lâu và dần trở nên phổ biến Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, Tùy theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Để quan hệ nuôi con nuôi được đảm bảo bởi pháp luật thì người nhận con nuôi phải làm thủ tục đăng ký

Trang 3

việc nuôi con nuôi với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau đây là các điều kiện

để việc nuôi con nuôi là hợp pháp:

II.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi

Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 có quy định:

“Điều 8 Người được nhận làm con nuôi

1 Trẻ em dưới 16 tuổi

2 Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

3 Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

4 Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”

Theo quy định trên thì người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi Quy định về độ tuổi này phù hợp với Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em đã quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi

Bên cạnh đó, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp: được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi Việc ưu tiên trong việc để cho bố dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng mình làm con nuôi thì giữa họ sẽ thiết lập một quan

hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa họ sẽ phát sinh và tồn tại tất cả các quyền và nghĩa vụ như cha mẹ đẻ và con đẻ Điều này đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên mà đặc biệt là người được nhận nuôi Còn việc ưu tiên cô,cậu,

dì, chú, bác ruột nhận nuôi là rất phù hợp, đảm bảo được quyền và lợi ích của người được nhận nuôi, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền trẻ em được sống

Trang 4

trong gia đình gốc Tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong gia đình đã quen thuộc với chúng, nơi chúng sinh ra và lớn lên

Ngoài ra luật còn quy định, một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc làm con nuôi của hai người nếu họ là vợ chồng

II.2 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

Căn cứ Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010, người nhận con nuôi phải có các điều kiện sau:

“Điều 14 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1 Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2 Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Trang 5

3 Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.”

Như vậy, điều kiện nuôi con nuôi theo luật Việt Nam: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có tư cách đạo đức tốt; có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Việc quy định người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên vì là nhằm đảm bảo việc người xin nhận con nuôi có đủ điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng con nuôi Hơn nữa, 20 tuổi thì khả năng người đó đã đủ trưởng thành, đủ năng lực, điều kiện kinh tế, tài chính,… để có thể nhận nuôi con nuôi

Bên cạnh đó thì người nhận con nuôi không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Tiền đề để cho các nhà làm luật quy định như vậy là: Mục đích của việc nuôi con nuôi là tạo mái ấm gia đình cho trẻ em, trong đó trẻ em được sống trong tình yêu thương, sự chăm sóc, sẻ chia của cha mẹ nuôi Khi đứa trẻ được nhận nuôi chúng cần sự chăm sóc, dạy dỗ và giáo dục trong môi trường gia đình lành mạnh, tốt đẹp

Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không nhất thiết phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên và không phải có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi

Trang 6

Những trường hợp này nhằm đảm bảo việc nuôi con nuôi phải đảm bảo đúng mục đích và ý nghĩa xã hội của nó là: tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình; tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, người độc thân muốn có một đứa con Tránh tình trạng việc nuôi con nuôi sẽ dẫn đến vấn đề lạm quyền, dùng việc nuôi con nuôi để nhằm mục đích khác như: bóc lột sức lao động, nô lệ tình dục,…, ảnh hưởng đến sự phát triển hài hòa về nhân cách của người được nhận nuôi

Các điều kiện đối với người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài: Điều

kiện của người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phân biệt thành hai trường hợp (Điều 29 Luật Nuôi con nuôi): đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú

và quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi; đối với công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú Người nước ngoài nhận nuôi con nuôi là trẻ em Việt Nam trong hai trường hợp:

* Xin con nuôi thông thường: là những trường hợp quy định tại khoản 1,

khoản 3 và khoản 4 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi bao gồm:

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi;

- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi

- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam Về nguyên tắc, người xin nhận con nuôi phải thường trú ở những nước là thành viên

Trang 7

của điều ước quốc tế hợp tác về nuôi con nuôi với 8 Việt Nam và đáp ứng đủ các điều kiện của người nhận nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi, cũng như pháp luật của nước nơi người nhận nuôi thường trú

* Xin con nuôi đích danh: người nhận nuôi con nuôi ngoài việc phải thỏa

mãn các điều kiện như đối với trường hợp xin con nuôi thông thường còn phải thuộc một trong các trường quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi, đó là:

- Người nhận nuôi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhưng là cha dượng, mẹ kế của người được nhận là con nuôi hoặc là cô, dì, cậu, chú, bác ruột của cháu được nhận nuôi con nuôi

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài đã có con nuôi được xin đích danh trẻ là anh, chị, em ruột của con nuôi làm con nuôi

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận đích danh trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi

- Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm

II.3 Điều kiện về sự đồng ý của những người liên quan

Điều 21 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định:

“Điều 21 Sự đồng ý cho làm con nuôi

1 Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận

Trang 8

trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

2 Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải được

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.

3 Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không

bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

4 Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày ”

Khoản 1 Điều 21 quy định rõ việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ; trong trường hợp cha hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì cần có sự đồng ý của người mẹ, cha còn lại Nếu cả cha, mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, bị tòa án tuyên hạn chế quyền làm cha mẹ hoặc không xác định được cha mẹ thì phải được

sự đồng ý của người giám hộ và người nuôi dưỡng trẻ em Để bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì bắt buộc phải có cả ý kiến của người giám hộ và người đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em, nhất là trong trường hợp người giám hộ trẻ em không đồng thời là người đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em Như vậy, sự đồng thuận của

cả hai người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi là cần thiết

Ngoài ra, việc nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của chính trẻ em đó Quy định nhằm bảo đảm trẻ em được tự do bày tỏ ý kiến của mình và ý kiến của trẻ em phải được xem xét trong mọi vấn đề hoặc thủ tục ảnh hưởng đến trẻ em

Sự đồng ý của các chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc

Trang 9

Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con của mình làm con nuôi người khác sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày Đây là quy định đảm bảo cho việc nuôi con nuôi đúng pháp luật, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Tránh tình trạng thỏa thuận việc cho và nhận nuôi con nuôi giữa cha mẹ đẻ và người nhận nuôi từ trước khi đứa trẻ ra đời, nhằm đảm bảo cho đứa trẻ khi ra đời được biết cha mẹ đẻ mình là ai và được cha mẹ mình chăm sóc Bên cạnh đó, việc quy định đứa trẻ chỉ được đi làm con nuôi sau ít nhất 15 ngày sinh cũng đảm bảo cho đứa trẻ sức khỏe tốt và cứng cáp hơn

II.4 Điều kiện về đăng ký việc nuôi con nuôi

II.4.1.Đăng ký nuôi con nuôi trong nước

*Về thẩm quyền đăng ký thuộc về UBND xã, phường, thị trấn nơi thường

trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi Theo quy định này, người nhận con nuôi có thể nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại UBND cấp

xã của một trong hai nơi

Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa được chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng

và chưa đăng ký hộ khẩu thường trú thì UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận trẻ em bị bỏ rơi có thẩm đăng ký việc nuôi con nuôi (Khoản 1 Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP) Đối với trường hợp trẻ em đang sống tại cơ sơ nuôi dưỡng thì UBND cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi

Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ/chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận của người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được nhận làm con nuôi thì việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi

Trang 10

* Thủ tục đăng ký nuôi con nuôi: Người nhận nuôi con nuôi cần chuẩn bị

hồ sơ xin nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ được giới thiệu làm con nuôi Hồ sơ của người nhận con nuôi được quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi và quy định chi tiết tại Nghị định 19/2011/NĐ-CP

Hồ sơ của trẻ được giới thiệu làm con nuôi trong nước được quy định tại Điều 18 Luật Nuôi con nuôi Việc lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình do cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em đó chuẩn bị Đối với những trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng việc lập hồ sơ của trẻ do Cơ sở nuôi dưỡng những trẻ em đó thực hiện

* Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi: Người nhận con nuôi phải nộp hồ

sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại UBND cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ

Việc cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp cuối cùng vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, nên công chức tư pháp – hộ tịch phải tư vấn đầy đủ cho những người liên quan về mục đích nuôi con nuôi; quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi đăng ký nuôi con nuôi; về việc cha mẹ đẻ sẽ không còn các quyền, nghĩa vụ đối với con theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật Nuôi con nuôi, nếu cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thỏa thuận khác

Việc đăng ký nuôi con nuôi được tiến hành tại trụ sở UBND cấp xã Khi

đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở

nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt UBND cấp xã sẽ trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ

Ngày đăng: 21/11/2020, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w