Phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại của quốc gia, nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, một trong số đó có biện pháp tự vệ một biện pháp quan trọng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Sau đây trong phạm vi bài tập học kỳ, em xin chọn đề số 4: “Trình bày về các căn cứ và nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại theo quy định của WTO. Theo anh, chị tại sao biện pháp tự vệ thương mại lại ít được các thành viên của WTO sử dụng hơn trên thực tế so với các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng” để hoàn thành bài tập của mình.
Trang 1A. MỞ ĐẦU
Phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại của quốc gia, nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, một trong số đó có biện pháp tự vệ - một biện pháp quan trọng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa Sau đây trong phạm vi bài tập học kỳ, em xin chọn đề số
4: “Trình bày về các căn cứ và nguyên tắc áp dụng biện pháp
tự vệ thương mại theo quy định của WTO Theo anh, chị tại sao biện pháp tự vệ thương mại lại ít được các thành viên của WTO sử dụng hơn trên thực tế so với các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng” để hoàn thành bài tập
của mình
Trang 2B. NỘI DUNG
1. Khái niệm về biện pháp tự vệ thương mại
Theo Điều XIX GATT 1994 và Hiệp định về các biện pháp
tự vệ của WTO, “biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
được hiểu là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số hàng hóa khi việc nhập khẩu chúng tăng một cách “đột biến”, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước” Các biện pháp tự vệ này chỉ được
áp dụng đối với hàng hóa, không được áp dụng đối với dịch vụ,
đầu tư hay sở hữu trí tuệ Mục đích của biện pháp tự vệ là dành
sự bảo hộ tạm thời cho ngành sản xuất trong nước, để ngành này
có thời gian điều chỉnh các sức ép cạnh tranh
2. Căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ thương mại
Theo Điều 2 Hiệp định về các biện pháp tự vệ: “Một thành viên có thể áp dụng biện pháp tự vệ cho một sản phẩm chỉ khi thành viên đó đã xác định được, phù hợp với những quy định dưới đây, là sản phẩm đó được nhập vào lãnh thổ của mình khi
có sự gia tăng nhập khẩu, tương đối hay tuyệt đối so với sản xuất nội địa, và theo đó có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra các sản
Trang 3phẩm tương tự hoặc các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp” Như vậy, để áp dụng biện pháp tự vệ phải thỏa mãn điều kiện sau:
Thứ nhất, có sự gia tăng đột biến khối lượng hàng hóa
nhập khẩu vào thị trường nội địa Sự gia tăng này gia tăng tuyệt đối hoặc tương đối so với sản xuất trong nước Và sự gia tăng này diễn ra đột ngột, nhanh và tức thời
Thứ hai, hàng hóa nhập khẩu gia tăng đe dọa hoặc gây tổn
hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp Tổn hại nghiêm trọng được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp nội địa Đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ xảy ra Việc tăng đột biến khối lượng hàng hóa nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phải là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa
ra cam kết trong khuôn khổ WTO Việc xác định tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứ không phải là phỏng đoán, viện dẫn
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập
khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Chỉ khi xác định được mối quan hệ nhân
Trang 4quả, cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành điều tra việc hàng nhập khẩu gia tăng có gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước Khi có những yếu tố khác không phải sự gia tăng hàng nhập khẩu, xuất hiện cùng lúc, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành công nghiệp sản xuất trong nước thì yếu tố đó không được coi là sự gia tăng hàng nhập khầu
3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại
Các nước thành viên khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của WTO và các Hiệp định có liên quan:
3.1. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc
Biện pháp tự vệ phải được áp dụng theo cách không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu liên quan Biện pháp
tự vệ áp dụng cho tất cả các nhà sản xuất có hàng hóa nhập khẩu vào nước áp dụng biện pháp tự vệ Tuy nhiên, có ngoại lệ đối với các nước đang phát triển, các biện pháp tự vệ không được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một thành viên đang phát triển nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ thành viên này không vượt quá 3% và tổng số thị phần riêng lẻ
Trang 5của các thành viên đang phát triển có thị phần nhỏ hơn 3%, không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa liên quan
3.2. Nguyên tắc mở cửa thị trường
Theo nguyên tắc này, cấm áp dụng biện pháp hạn chế số lượng bởi vì, hạn chế số lượng là một trong các biện pháp được
sử dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Hạn chế số lượng là biện pháp đi ngược lại mục tiêu mở rộng tự do hóa thương mại của GATT/WTO
Mặc dù vậy, GATT 1994 vẫn cho phép các nước thành viên
áp dụng hạn chế số lượng trong một số trường hợp ngoại lệ, cụ thể là khi ngành sản xuất trong nước bị hoặc có nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng do sự gia tăng ồ ạt của hàng nhập khẩu cùng loại Trong trường hợp này, hạn chế số lượng được áp dụng như
là biện pháp tự vệ trong một thời hạn nhất định để ngăn chặn thiệt hại hoặc để cứu ngành sản xuất trong nước (Điều 19 GATT 1994)
3.3. Nguyên tắc thương mại công bằng
Trang 6Việc cắt giảm thuế quan và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan có thể gây khó khăn cho ngành sản xuất trong nước do phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu gia tăng Để giúp các ngành sản xuất có thời gian điều chỉnh cơ cấu, hợp lí hóa sản phẩm nhằm thích nghi dần với cạnh tranh gia tăng này, WTO cho phép các nước được áp dụng biện pháp tự vệ (tăng thuế hoặc hạn chế
số lượng) có tác dụng hạn chế nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp thông qua Hiệp định về các biện pháp tự vệ Cho phép các nước nhập khẩu tạm thời hạn chế nhập khẩu nếu sau khi tiến hành điều tra, cơ quan điều tra nước đó khẳng định rằng sản phẩm nhập khẩu với số lượng gia tăng gây hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm
Tuy nhiên, để tránh các nước nhập khẩu lạm dụng biện pháp này, Hiệp định đã đưa ra cách xác định “thiệt hại nghiêm trọng”, quy định về thủ tục điều tra, về áp dụng biện pháp tự vệ một cách tạm thời, quy định về bồi thường thiệt hại thương mại cho các nước có lợi ích thương mại bị ảnh hưởng xấu bởi việc
áp dụng
3.4. Nguyên tắc minh bạch
Trang 7Nguyên tắc này yêu cầu các nước phải công khai, minh bach hóa các loại thủ tục, chính sách và quy định để các nước thành viên biết rõ ràng và cụ thể, tránh tình trạng mập mờ về quy định và thủ tục Với quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ phải được thông báo công khai Cơ quan điều tra phải thông báo công khai về việc tổ chức các cuộc điều tra trần về thời điểm tiến hành các cuộc điều tra và tạo cho các bên có liên quan những điều kiện cần thiết để họ đưa ra bằng chứng Các báo cáo kết luận điều tra phải được công khai vào cuối cuộc điều tra
Ngoài các nguyên tắc nêu trên thì còn có một số các
nguyên tắc khác như: Đảm bảo quyền tố tụng của các bên (các
bên có liên quan được đảm bảo cơ hội trình bày các chứng cứ, lập luận của mình và trả lời các chứng cứ, lập luận của đối
phương); Đảm bảo bí mật thông tin (với các thông tin bản chất
là mật thì không được công khai nếu không có sự đồng ý của bên đưa ra thông tin)…
4. Tại sao biện pháp tự vệ thương mại lại ít được các thành viên của WTO sử dụng hơn trên thực tế so với các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng?
Trang 8- Nếu chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng là những biện pháp được áp dụng để xử lý những thực tiễn bị coi là không công bằng trong thương mại quốc tế thì biện pháp tự vệ được áp dụng không phải để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà chỉ đơn thuần là biện pháp bảo hộ tạm thời trước tình trạng tăng giá đột biến của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa và cũng chính vì điều này mà trong khi nghĩa vụ của bên đi kiện tương đối nhẹ nhàng thì trách nhiệm của nước nhập khẩu tương đối lớn
là bồi thường thiệt hại mà biện pháp tự vệ gây ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm có liên quan
- Biện pháp tự vệ có sự nhạy cảm về chính trị rất cao, bởi
vì, trong trường hợp này không có vi phạm nào xảy ra từ phía sản phẩm nhập khẩu cả Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự
vệ là vì lợi ích riêng của ngành sản xuất nội địa và căn cứ vào chủ quyền của mình Khi một nước áp dụng biện pháp tự vệ thường vấp phải sự phản đối gay gắt từ các nước có doanh nghiệp xuất khẩu liên quan Trong trường hợp bồi thường cho các doanh nghiệp không thỏa đáng thì rất dễ dẫn đến biện pháp trả đũa từ phía các nước xuất khẩu
Trang 9- Để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh được đã có thiệt hại nghiêm trọng xảy ra đối với ngành sản xuất nội địa Điều kiện này được áp dụng một cách ngặt ngoèo hơn so với biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng
Vì những lý do trên mà biện pháp tự vệ thương mại được ít các thành viên của WTO áp dụng nhất trên thực tế hiện nay
C. KẾT LUẬN
Qua phần phân tích trên, có thể thấy biện pháp tự vệ là một biện pháp rất quan trọng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này cũng có rất nhiều hạn chế và khó khăn Vì vậy, các quốc gia khi muốn áp dụng biện pháp này cần phải tìm hiểu rõ và đưa ra được các chứng cứ chính xác, cụ thể thiệt hại của ngành sản xuất nội địa
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế, Trường Đại học Luật
Hà Nội – NXB Công an nhân dân
2. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994
3. Hiệp định về các biện pháp tự vệ
Luận văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội / Nguyễn Thị Thuần (2011); TS Nguyễn Thanh Tâm hướng dẫn
5. Thủ tục điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo pháp luật Việt Nam: Luận văn thạc sĩ luật
học Trường Đại học Luật Hà Nội / Nguyễn Trí Thành (2015); TS Nguyễn Quý Trọng hướng dẫn
6. Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam - Một sô vấn đề lý luận và thực tiễn: Luận
văn thạc sĩ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội/ Nguyễn Ánh Ngọc (2013); TS Đoàn Trung Kiên hướng dẫn