Xuất phát từ thực tế ngày càng nhiều các cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung của mình trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng, để thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng, để cấp dưỡn
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I CHẾ ĐỊNH PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2
1 Căn cứ pháp lý 2
2 Nội dung việc phân chia tài sản chung giữa vợ và chồng 3
a Các trường hợp chia tài sản 3
b Nguyên tắc phân chia 5
c Cách thức phân chia tài sản 5
d Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung giữa vợ và chồng 8
II TÍNH PHÙ HỢP CỦA VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI HIỆN NAY 9
1 Tình hình kinh tế - xã hội 9
a) Tình hình kinh tế 9
b) Tình hình xã hội 10
2 Tính phù hợp của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân 10
a) Tính phù hợp với điều kiện kinh tế 10
b) Tính phù hợp với điều kiện xã hội 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU.
Tài sản là một nội dung quan trọng trong quan hệ giữa vợ và chồng Chính
vì lẽ đó, vấn đề quan hệ tài sản giữa vợ và chồng nói riêng và giữa các thành viên trong gia đình nói chung là một trong những nội dung điều chỉnh cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Bên cạnh việc quy định tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo nền tảng vật chất cho việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam còn quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Chế định này hàm chứa nhiều nội dung tích cực, tiến bộ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội hiện nay Để phần nào làm dõ hơn vấn đề này, nhóm em xin trình bày bài tập nhóm
số 2 của mình theo đề tài : “Chứng minh việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay” Dù đã
rất cố gắng, nhưng vì nhiều lý do nên bài làm của chúng em vẫn không tránh khỏi
có những thiếu sót và hạn chế Rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp của thầy cô
và các bạn Nhóm em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG.
I CHẾ ĐỊNH PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.
1 Căn cứ pháp lý.
Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình Do đó chúng ta có thể tìm thấy các quy phạm pháp luật về vấn đề trên trong Luật hôn nhân và gia đình( Luật HN&GĐ) năm 2000 và các văn bản hướng dân có liên quan
Trang 3Xuất phát từ thực tế ngày càng nhiều các cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung của mình trong thời kỳ hôn nhân để đầu tư kinh doanh riêng, để thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng, để cấp dưỡng riêng và lý do chính đáng khác, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 , đã tiếp tục quy định chế định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.Quy định tại điều 29 và điều 30
Điều 29 quy định: “ Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1 Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2 Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.
Điều 30 quy định hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng:
“Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”
Các quy định này hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
2 Nội dung việc phân chia tài sản chung giữa vợ và chồng.
a Các trường hợp chia tài sản.
Theo quy định tại điều 29 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại được tiến hành trong các trường hợp sau:
Trang 4- Trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng
có tài sản riêng làm vốn đầu tư kinh doanh Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo
vệ lợi ích của gia đình, bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra
- Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: nếu vợ (chồng) phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
- Trường hợp có lý do chính đáng khác: việc xác định có lý do chính đáng để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích vợ chồng hoặc của người thứ ba Vì vậy, lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại tùy từng trường hợp có khác nhau
Trên thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp vợ, chồng muốn trốn tránh thực hiện nghĩa vụ riêng của mình đã cùng nhau bàn bạc thỏa thuận chia tài sản
chung Để tránh tình trạng này, Khoản 2 Điều 29 Luật HN&GĐ quy định : “2 Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.” Sở dĩ pháp luật quy định như vậy nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba (người có quyền lợi liên qua đến tài sản của vợ chồng) Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định các trường hợp
vợ chồng chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài sản sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu bao gồm: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi
Trang 5thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp; Nghĩa vụ nộp thuế, tài chính đối với Nhà nước; Nghĩa vụ trả nợ…
b Nguyên tắc phân chia.
Việc phân chia tài sản dựa vào các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự thỏa thuận của vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung” Nếu vợ chồng thoả thuận được trong việc chia tài sản thì sự
thoả thuận của vợ chồng đó được lập thành văn bản và được Nhà nước công nhận
- Nguyên tắc phân chia tài sản:
Thông thường để đảm bảo quyền và lợi ích của hai bên ngang nhau thì cách chia hợp lí nhất đó là chia đôi khối lượng tài sản cần chia Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ quy định vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được
Theo đó : Khi chia tài sản chung, Toà án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung được chia Việc chia tài sản chung căn
cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn qui định tại Điều 95 của Luật HN&GĐ; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì áp dụng các qui định tại các điều 97, 98 và 99 của Luật HN&GĐ Tuy nhiên luật HN&GĐ năm 2000 lại không quy định nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân như Luật HN&GĐ năm 1986 Đây có thể là do nhà làm Luật đã lãng quyên
c Cách thức phân chia tài sản
Phân chia theo thoả thuận.
Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 29 khoản 1, việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản Điều luật chắc chắn chỉ được áp dụng
Trang 6trong trường hợp giữa vợ và chồng có sự thoả thuận về cách chia Nếu vợ và chồng không đồng ý với nhau về cách chia, thì không thể có chuyện vợ hoặc chồng ký vào văn bản phân chia một cách tự nguyện Cần nhấn mạnh rằng luật chỉ đòi hỏi việc thoả thuận chia tài sản chung phải được lập thành văn bản, chứ không yêu cầu lập văn bản trước cơ quan công chứng, chứng thực Các nội dung chủ yếu của văn bản bao gồm:
- Lý do chia tài sản;
- Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;
- Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;
- Các nội dung khác, nếu có
Phân chia bằng con đường tư pháp
Việc phân chia bằng con đường tư pháp là trường hợp phân chia theo quyết định của tòa án Trường hợp này được luật dự kiến cho trường hợp giữa vợ và
chồng không có được sự thoả thuận cần thiết (“nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”- Khoản 1 điều 29 Luật HN&GĐ) “Không có được sự thoả thuận cần thiết” bao hàm cả trường hợp “không thể có sự thoả thuận” do vợ hoặc chồng vắng mặt, mất tích hoặc ở trong tình trạng không thể
nhận thức được hành vi của mình
Thực ra, ngay cả trong trường hợp vợ hoặc chồng không nhận thức được hành vi của mình mà có người giám hộ, ta không biết chắc liệu, trong khung cảnh của luật thực định, việc chia tài sản chung có thể được thực hiện bằng con đường
Trang 7thoả thuận giữa chồng (vợ) và người giám hộ của vợ (chồng) không nhận thức được hành vi của mình Luật viết chưa có quy định rõ ràng ở điểm này Trong trường hợp vợ hoặc chồng ở trong tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi, dường như người làm luật muốn rằng người bị hạn chế năng lực hành vi phải có sự đồng
ý của người đại diện theo pháp luật để tham gia vào việc thoả thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng, bởi vì rõ ràng, phân chia tài sản chung không phải là giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Vấn đề, dẫu sao, có thể trở nên rắc rối, nếu người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi lại
là vợ hoặc chồng của đương sự Tất nhiên, người bị hạn chế năng lực hành vi không thể xin phép người đại diện để phân chia tài sản chung, rồi sau đó, lại thoả thuận với chính người đại diện này về nội dung của việc phân chia Hẳn, người bị hạn chế năng lực hành vi phải yêu cầu người đại diện từ bỏ vai trò đại diện của mình, để Toà án có thể chỉ định một người đại diện khác Trường hợp phân chia tài sản chung theo yêu cầu của chủ nợ riêng Khi thay mặt người mắc nợ để yêu cầu phân chia tài sản chung, chủ nợ chỉ thực hiện các quyền của người mắc nợ; bởi vậy, việc phân chia tài sản chung theo sáng kiến của chủ nợ của vợ hoặc chồng không nhất thiết phải được thực hiện bằng con đường tư pháp Chủ nợ có thể thay người mắc nợ yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng; nếu vợ (chồng) của người mắc nợ đồng ý, thì các bên có thể thoả thuận về việc phân chia; nếu vợ (chồng) của người mắc nợ không đồng ý, thì chủ nợ có thể yêu cầu phân chia bằng con đường tư pháp
- Ấn định khối tài sản chia phân chia theo thoả thuận
Việc ấn định khối tài sản chia trong trường hợp phân chia theo thoả thuận không phức tạp Vợ chồng có quyền tự do xác định nội dung khối tài sản chia theo
ý mình: hoặc chia toàn bộ tài sản chung hiện hữu, hoặc chỉ chia một phần tài sản chung Phân chia bằng con đường tư pháp
Trang 8- Việc ấn định khối tài sản chia trong trường hợp phân chia bằng con đường tư pháp
Nếu giữa vợ và chồng đã có sự thoả thuận về nội dung khối tài sản chia nhưng không có sự thoả thuận về cách chia, thì thẩm phán có thể tạm yên tâm khi thực hiện công việc xét xử của mình: vấn đề chỉ là chia như thế nào Trái lại, nếu
vợ và chồng muốn chia nhưng lại không thoả thuận được về nội dung khối tài sản chia (chẳng hạn, người chỉ muốn chia một phần, người kia muốn chia toàn bộ; người muốn chia một số tài sản này, người muốn chia một số tài sản khác), thì thẩm phán sẽ gặp khó khăn trong việc xác định khối tài sản chia Tương tự, trong trường hợp một người muốn chia tài sản chung nhưng người khác lại không muốn: ngay nếu như xác định được rằng người muốn chia hoàn toàn có lý do chính đáng
để yêu cầu chia, thì thẩm phán vẫn còn phải đứng trước vấn đề chia bao nhiêu thì vừa và chia những thứ nào Có vẻ như việc phân chia tài sản chung bằng con đường tư pháp chỉ được dự kiến trong trường hợp thứ nhất nêu trên, nghĩa là khi
vợ chồng đã thoả thuận được về nội dung khối tài sản chia nhưng không thoả thuận được về cách chia Tất nhiên, khi quyết định chia như thế nào trong trường hợp này, thẩm phán phải dựa vào công sức đóng góp: việc chia tài sản được thực hiện như trong trường hợp ly hôn
d Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung giữa vợ và chồng.
Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về hậu quả việc chia
tài sản trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Trong trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” Như vậy, theo tinh thần của quy định này thì các tài sản không được chia
vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 9trong thời kỳ hôn nhân làm phát sinh quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ/chồng với khối tài sản mà họ được phân chia và cả hoa lợi lợi tức từ khối tài sản này
Không thể chia những tài sản sẽ có trong tương lai, cũng không thể thỏa thuận đi ngược lại so với những nguyên tắc chi phối thành phần cấu tạo của các khối tài sản trong thời kì hôn nhân, nên vợ chồng cũng không thể bằng việc chia tài sản chung mà chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật quy định Các quy tắc liên quan vẫn tiếp tục được áp dụng: tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân là tài sản chung, tài sản chung còn lại không chia hết, tài sản được tặng cho chung, di tặng chung, hoa lợi, lợi tức có được từ phần tài sản chung còn lại…
Việc chia tài sản chung không làm ảnh hưởng đến quan hệ nhân thân giữa
vợ và chồng Chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam không phải là sự quy định gián tiếp cho việc ly thân, pháp luật Việt Nam hiện không có chế định ly thân
II TÍNH PHÙ HỢP CỦA VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ-
XÃ HỘI HIỆN NAY.
1 Tình hình kinh tế - xã hội
a) Tình hình kinh tế
Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986, nước ta đã xóa bỏ chế độ kinh tế bao cấp mà thay và đó là một chế độ kinh tế thị trường định hướng XHCN (Xã hội chủ Nghĩa) Biểu hiện cụ thể đầu tiên dễ nhận thấy là việc xuất hiện nhiều hình thức sở hữu và đa dạng về thành phần kinh tế Cho đến nay, dù hình thức sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế nhà nước vẫn chiếm vai trò quan trọng nhất nhưng nhà nước luôn công nhận quyền sở hữu của cá nhân, của các tổ chức, khuyến khích cá nhân lao động, kinh doanh làm giàu hợp
Trang 10pháp, thành phần kinh tế tư nhân, ngoài quốc doanh được tạo nhiều điều kiện phát triển Điều đó được nhà nước quy định trong Hiến pháp 1992, BLDS 2005… Cá nhân có quyền sở hữu tài sản và tự do kinh doanh, đầu tư kinh doanh Chính vì vậy, qua từng năm, tình hình kinh tế của các đơn vị kinh doanh ngoài quốc doanh ngày càng phát triển cả về chất và lượng Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao, nhu cầu sinh hoạt đã không dừng lại ở “ăn no, mặc ấm”
b) Tình hình xã hội
Dân trí ngày càng được nâng cao Chính vì vậy, mỗi cá nhân ngày càng có
sự nhận thức về quyền và nghĩa vụ của mình thông qua học tập, tuyên truyền, thông tin đại chúng Nhu cầu văn hóa, giáo dục, y tế rất được quan tâm Bình đẳng giới ngày càng được tôn trọng Trong gia đình, vai trò của người phụ nữ được nhìn nhận khác trước Công tác thực hiện bình đẳng giới, “vì sự tiến bộ của phụ nữ” được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội coi trọng Chủ trương sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật ngày càng được quán triệt sâu rộng trong xã hội
2 Tính phù hợp của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
a) Tính phù hợp với điều kiện kinh tế
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân hoàn toàn phù hợp với điều kiện của kinh tế hiện nay và tạo điều kiện cho vợ/chồng thực hiện quyền có tài sản riêng và các quyền tự do kinh doanh, tiến hành các giao dịch dân
sự có giá trị lớn Điều này nhằm khắc phục tình trạng người chồng nắm quyền quản lý toàn bộ tài sản chung của vợ chồng để kinh doanh, dẫn đến nhiều khi thua
lỗ, phá sản tài sản trong khi người vợ không được phép lên tiếng, không được phép can thiệp vào công việc kinh doanh của chồng chỉ vì muốn giữ cho gia đình mình yên ấm Đây chính là trường hợp cần áp dụng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân Khi đó, vợ/chồng sẽ có thể thực hiện quyền tự do