1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK môn thủ tục giải quyết việc dân sự Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài

12 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nhận và cho thi hành án, quyết định của nước ngoài có thể hiểu đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài đó đã được xem xét và công nhận tính hiệu lực, nó sẽ được đảm bảo cưỡng chế thi hành trên lãnh thổ của nước đã công nhận. Thủ tục đặc biệt này nhằm đảm bảo giải quyết các xung đột về quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia. Để phân tích rõ hơn về thủ tục này, em xin trình bày “Đề bài 06: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài và thực tiễn áp dụng”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Công nhận và cho thi hành án, quyết định của nước ngoài có thể hiểu đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để công nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài đó đã được xem xét và công nhận tính hiệu lực, nó sẽ được đảm bảo cưỡng chế thi hành trên lãnh thổ của nước đã công nhận Thủ tục đặc biệt này nhằm đảm bảo giải quyết các xung đột về quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia. Để phân tích rõ hơn về

thủ tục này, em xin trình bày “Đề bài 06: Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài và thực tiễn áp dụng”.

NỘI DUNG

I Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1 Người yêu cầu gửi đơn yêu cầu

Thứ nhất, về người có quyền gửi đơn yêu cầu:

Căn cứ: khoản 1 Điều 425 BLTTDS 2015

- Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, khi:

+ Cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự.

+ Cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam.

+ Cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam.

+ Tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.

Trang 2

Thứ hai, về thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài :

Căn cứ: Điều 432, Điều 451 BLTTDS 2015

BLTTDS 2015 đã quy định cụ thể thời hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài Theo đó, trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án

có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của BLTTDS trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn thì thời gian

có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.

Thứ ba, về đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu:

Căn cứ: Điều 433, Điều 434 đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án; Điều 452, Điều 453 BLTTDS 2015 đối với yêu cầu và công

nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài

Theo quy định của BLTTDS 2015 thì người yêu cầu có thể lựa chọn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài thông qua Bộ Tư pháp hoặc gửi trực tiếp

Trang 3

đến Tòa án Việt Nam có thẩm quyền Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:

- Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người đại diện hợp pháp tại Việt Nam của người đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó.

- Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;

- Yêu cầu của người được thi hành.

Trường hợp đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

BLTTDS 2015 cũng quy định giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu Trong

đó, quy định cụ thể gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; trường hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì kèm theo đơn yêu cầu phải

có giấy tờ, tài liệu: Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài thì tài liệu cần thiết quy định tại Điều 434 BLTTDS 201; Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài thì tài liệu, giấy tờ kèm theo quy định tại Điều 453 BLTTDS 2015.

Trường hợp giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

2 Nhận và thụ lý hồ sơ

Trang 4

2.1 Nhận đơn

Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể được gửi tới Tòa án theo hai cách:

- Gửi cho Bộ Tư pháp khi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định và Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền sau khi kiểm tra sơ bộ đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 432, Điều 435; Khoản 1 Điều 451, Điều 454 BLTTDS 2015).

- Trong các trường hợp khác, tức là không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định, thì đơn yêu cầu có thể được nộp trực tiếp tới Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam (Khoản 1 Điều 432; khoản 1 Điều 451 BLTTDS).

2.2 Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết

a) Cấp Tòa án có thẩm quyền

Khoản 5 Điều 27; điểm b khoản 1 Điều 37 BLTTDS 2015 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài.

Loại việc công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thuộc nhóm vụ việc kinh doanh thương mại được quy định tại khoản 5 Điều 31 BLTTDS

2015 Nên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 3 Điều 38 BLTTDS 2015 thì Tòa án có thẩm quyền xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài là Tòa kinh tế Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

b) Thẩm quyền theo lãnh thổ

Căn cứ: điểm d, điểm e khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi:

+ Cá nhân phải thi hành án cư trú hoặc làm việc.

Trang 5

+ Cơ quan hoặc tổ chức phải thi hành án có trụ sở.

+ Có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; quyết định của trọng tài nước ngoài.

2.3 Xử lý đơn

- Khi tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của Tòa án nước ngoài, trọng tài nước ngoài Tòa án cần tiến hành đánh giá xem Bản án, quyết định đó có đủ điều kiện để được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hay không (Điều 423, Điều 424 BLTTDS 2015).

- Sau khi nhận đơn, Tòa án vào sổ nhận đơn; cấp giấy nhận đơn cho người nộp đơn nếu đơn nộp trực tiếp, gửi thông báo nhận đơn nếu nhận đơn qua đường bưu điện trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày nhận đơn; thông báo ngay qua cổng thông tin điện

tử của Tòa án nếu đơn gửi trực tuyến.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 363 BLTTDS).

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Thẩm phán phải xem xét đơn yêu cầu (khoản 3 Điều 191 BLTTDS) và có một trong các quyết định sau:

+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu nếu đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định (nêu ở trên); thời hạn yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu là 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu (khoản 2 Điều 363 BLTTDS) Thẩm phán thông báo bằng văn bản nội dung yêu cầu sửa đổi, bổ sung và ấn định thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không quá 01 tháng, trường hợp đặc biệt có thể ra hạn nhưng không quá 15 ngày; thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không tính vào thời hiệu khởi kiện (khoản 1 Điều 193 BLTTDS) Hết thời hạn sửa đổi, bổ sung mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ (điểm d khoản 1 Điều 364 BLTTDS).

Trang 6

+ Khi trả lại đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do trả lại đơn Ví dụ: Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có năng lực hành vi dân sự (điểm a khoản 1 Điều 364 BLTTDS); Người yêu cầu rút đơn yêu cầu (điểm e khoản 1 Điều 364 BLTTDS); Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;… + Tiến hành thủ tục thụ lý vụ việc khi đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo

đã đủ điều kiện thụ lý, và Thẩm phán thực hiện như sau:

(i) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân

sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.

(ii) Tòa án tiến hành thụ lý khi người nộp đơn xuất trình biên lai nộp lệ phí (Luật  án phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016) (iii) Thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu nếu người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí.

+ Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành (người nộp đơn), người phải thi hành (hoặc đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ việc và Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp về việc thụ lý đơn yêu cầu (Điều 455 BLTTDS)

3 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Căn cứ: Điều 437, Điều 457 BLTTDS 2015

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu không được quá 02 tháng kể từ ngày thụ lý và

có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng nếu cần thiết để người được thi hành làm rõ những thông tin chưa rõ trong đơn (khoản 1 Điều 457 BLTTDS).

Trang 7

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn, Tòa án phải ban hành một trong các quyết định sau:

- Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

- Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

- Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

4 Mở phiên họp xét đơn yêu cầu

Hết thời hạn chuẩn bị xét đơn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý, Tòa án ban hành quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu Phiên họp phải được mở trong thời hạn 20 ngày

kể từ ngày ra quyết định Quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu phải có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 370 BLTTDS Quyết định mở phiên họp phải được gửi ngay cho các đương sự liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành

Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Viện kiểm sát để nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước khi mở phiên họp (thời hạn tối đa để Viện kiểm sát nghiên cứu hồ

sơ là 15 ngày); khi hết thời hạn nêu trên, hồ sơ phải được trả lại cho Tòa án để mở phiên họp.

Nhằm tăng cường trách nhiệm đối với cơ quan Kiểm sát trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ kiểm sát, BLTTDS 2015 quy định Kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu Tuy nhiên, để đảm bảo tính chủ động giải quyết công việc của Tòa án, Bộ luật này cũng bổ sung quy định mới, đó là trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên họp; Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt

Trang 8

họ hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài hoặc quyết định không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài là việc dân sự Do đó, việc phát biểu ý kiến của VKS tại phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định chung đối với việc dân sự tại Điều 369, theo đó Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp.

II Thực tiễn áp dụng công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài

1 Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài

Thứ nhất, về thẩm quyền của Tòa án Điều 425 BLTTDS 2015 đều quy định

người được thi hành (hoặc đại diện hợp pháp của họ) có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu Như vậy, nếu người phải thi hành không

cư trú, làm việc (nếu là cá nhân) hoặc không có trụ sở (nếu là tổ chức) tại Việt Nam hoặc không có tài sản nào liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam sẽ từ chối giải quyết vì không có thẩm quyền.

Trang 9

Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà trong đó không thể xác định được ai là người phải thi hành và ai là người

được thi hành Ví dụ: Những bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài chỉ tuyên cho các

bên được ly hôn mà không có giải quyết tranh chấp về tài sản và con chung Khi thụ

lý những đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài như thế, các Tòa án Việt Nam thường lúng túng khi xác định ai là người phải thi hành để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án

và thực tế đã có trường hợp Tòa án Việt Nam ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu với lý do người phải thi hành (là người chồng hoặc người vợ của người nộp đơn – thường là công dân Việt Nam) không có cư trú tại Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ

lý đơn Điều này gây khó khăn, thiệt thòi cho công dân Việt Nam khi đã được Tòa án nước ngoài cho ly hôn nhưng vì bản án đó chưa được Tòa án Việt Nam công nhận nên

họ vẫn phải khởi kiện ra Tòa án Việt Nam để có được bản án ly hôn nếu muốn kết hôn lần nữa (trong khi người chồng hoặc người vợ ở nước ngoài đã có thể kết hôn hợp pháp với người khác nhờ có bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài).

Thứ hai, Vấn đề xác định cơ quan có thẩm quyền nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài:

BLTTDS 2015 quy định người được thi hành, người phải thi hành, người có quyền lợi ích hợp pháp liên quan có quyền gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đến Bộ Tư pháp theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan Quy định này sẽ gây bối rối cho người nước ngoài vì họ không biết được có hay không điều ước có liên quan để gửi đơn đến đúng nơi quy định là Bộ Tư pháp hoặc Tòa án cấp tỉnh nơi người phải thi hành cư trú, có trụ sở hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành.1

1 Nguyễn Thị Thùy Dung (2017), Một số bất cập trong thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa

án nước ngoài tại Việt Nam,

Trang 10

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/11/07/mt-so-bt-cap-trong-thu-tuc-cng-2 Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài

Thứ nhất, Tòa án thụ lý, giải quyết rất chậm đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài:

Theo quy định tại Điều 368 BLTTDS thì trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày thụ

lý, tùy tình hình cụ thể của vụ việc đó mà Tòa án phải ra một trong các quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết; nếu không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Chỉ trong trường hợp hồ sơ mà Tòa án nhận được có những điểm chưa rõ, cần yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đã gửi đơn giải thích về những điểm chưa rõ đó thì thời hạn xét đơn yêu cầu mới được kéo dài thêm 02 tháng Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều vụ việc mà Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu không giải quyết đúng theo thời hạn mà luật đã quy định Nguyên nhân của việc giải quyết chậm là do các Thẩm phán, nhiều Tòa án ít gặp, ít khi thụ lý giải quyết loại việc này nên chưa có kinh nghiệm, hiểu biết chưa sâu dẫn đến lúng túng trong quá trình giải quyết Trong khi đó, có những quy định của pháp luật có phần khó hiểu, không rõ ràng, nhưng Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chưa có Nghị quyết hướng dẫn.

Thứ hai, Tòa án cho rằng các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó, tức là người ký kết thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 370 BLTTDS để không công nhận phán quyết trọng tài: Đối với trường hợp Hội đồng xét đơn cho rằng thỏa thuận trọng

tài không có giá trị pháp lý, được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau Dưới đây là

một số trường hợp: Hội đồng xét đơn đã không hiểu được là thỏa thuận trọng tài có

tính độc lập tương đối so với hợp đồng thương mại, hợp đồng chính Khi thấy hợp đồng thương mại bị vô hiệu đã cho rằng thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu theo Đây là nhận thức hết sức sai lầm Dù thỏa thuận trọng tài có nằm trong hợp đồng thương mại hay nằm trong một văn bản riêng thì thỏa thuận trọng tài vẫn có tính độc lập tương đối nhan-v-cho-thi-hnh-ban-n-quyet-dinh-cua-ta-n-nuoc-ngoi-tai-viet-nam/

Ngày đăng: 27/09/2020, 09:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w