1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK môn luật tài chính, đặc trưng của thuế so sánh thuế với lệ phí

13 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 43,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử loài người đã chứng minh thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành của nhà nước.Hiện nay, chưa có một cách hiểu thống nhất nào về khái niệm thuế, với mỗi cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu sẽ đưa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế. Do vậy, đã có rất nhiều khái niệm về thuế khác nhau.Tuy nhiên, thuế có những đặc tính nhất định để phân biệt với các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp tự nguyện khác. Để hiểu rõ bản chất của thuế, đồng thời qua đó phân biệt được sự khác nhau giữa thuế với lệ phí, em xin trình bày hiểu biết của mình về đề tài số 01: “Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ thực tiễn. Từ những đặc trưng của thuế, hãy so sánh thuế với lệ phí. Chứng minh là thuế môn bài (trước đây) có bản chất lệ phí (theo Luật phí và lệ phí hiện hành)”. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện: một số thuận lợi như: Một số kiến thức lý thuyết và liên hệ thực tiễn cần trình bày trong bài viết dưới đây có trong giáo trình, từ bài giảng của thầy cô, vốn kiến thức của bản thân, từ nguồn tài liệu internet, thư viện trường đại học Luật Hà Nội nên về cơ bản em có thể hoàn thành bài làm của mình đúng thời hạn. Bên cạnh đó, do khả năng nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức thực tế không nhiều nên khi viết phần liên hệ thực tiễn không được sâu và còn nhiều thiếu sót

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử loài người đã chứng minh thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành của nhà nước

Hiện nay, chưa có một cách hiểu thống nhất nào về khái niệm thuế, với mỗi cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu sẽ đưa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế Do vậy, đã có rất nhiều khái niệm về thuế khác nhau.Tuy nhiên, thuế có những đặc tính nhất định để phân biệt với các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp tự nguyện khác Để hiểu rõ bản chất của thuế, đồng thời qua đó phân biệt được sự khác nhau giữa thuế

với lệ phí, em xin trình bày hiểu biết của mình về đề tài số 01: “Phân tích các đặc trưng của thuế và liên hệ thực tiễn Từ những đặc trưng của thuế, hãy so sánh thuế với lệ phí Chứng minh là thuế môn bài (trước đây) có bản chất lệ phí (theo Luật phí và lệ phí hiện hành)”.1

Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện: một số thuận lợi như: Một số kiến thức lý thuyết và liên hệ thực tiễn cần trình bày trong bài viết dưới đây có trong giáo trình, từ bài giảng của thầy cô, vốn kiến thức của bản thân, từ nguồn tài liệu internet, thư viện trường đại học Luật Hà Nội nên về cơ bản em có thể hoàn thành bài làm của mình đúng thời hạn Bên cạnh đó, do khả năng nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức thực tế không nhiều nên khi viết phần liên hệ thực tiễn không được sâu và còn nhiều thiếu sót

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về thuế

1 Khái niệm thuế

Tại Việt Nam, thuế bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ đầu của chế độ phong kiến, nhằm tập trung nguồn công quỹ cho nhà vua nhưng chủ yếu dưới dạng cống vật.Cho đến năm 1013, vào đời vua Lý Thái Tổ việc đánh thuế mới được hình thành môt cách có tổ chức, hệ thống Đến thế kỷ thứ XVI, ngoài các loại thuế đã được thu ổn định, các triều đại còn đặt thêm những loại thuế mới (thuế mỏ, thuế đò, Thuế chợ, thuế tuần tuy, thuế muối, thuế thổ sản – thời Chúa Trịnh; thuế xuất cảng, thuế nhập cảng thời nhà Nguyễn) Bên cạnh một số triều đại có chính sách thuế hơp lòng dân (như thời Lý, Trần, Lê Sơ), hệ thống thuế trog thời kỳ phong kiến có điểm chung là thiếu chuẩn mực về đạo lí và pháp lí; chưa đáp ứng được yêu cầu và lợi ích của nhân dân Đến thời kì Pháp thuộc, chính phủ thuôc địa Pháp đặt ra rất nhiều loại thuế, tiêu

Trang 2

biểu là thuế rượu, thuế muối, thuế quan, thuế môn bài, thuế thổ trạch Hệ thống thuế thời này mang nặng tính vơ vét, bóc lột

Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, song song với việc xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo (Thuế thân, thuế muối, thuế thổ trạch, ), Nhà nước dần dần hình thành hệ thống thuế mới Từ giữa những năm 1980, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế,

hệ thống pháp luật thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống pháp luật thuế mới được hình thành, bao gồm hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống quản

lý Nhà nước về thuế Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống pháp luật thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, bao gồm 9 loại thuế:Thuế nông nghiệp; Thuế doanh thu; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế lợi tức; Thuế xuất nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch); Thuế tài nguyên; Thuế thu nhập; Thuế nhà đất; Thuế vốn (khoản thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước) Có thể nhận thấy rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng đi tới sự ổn định và hoàn thiện

Mặc dù, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về thuế nhưng có thể hiểu một cách đơn giản:

Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định 2

2 Các đặc trưng của thuế

Thuế chính là một nghĩa vụ tài chính mà trong đó bản chất của nó chính là loại quan hệ giữa nhà nước với người nộp thuế Và thuế có những đặc điểm, đặc trưng nhất định Cụ thể thuế bao gồm ba đặc trưng như sau:

Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách: Tính bắt buộc của thuế thể

hiện ở việc với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi

có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán trong hay ngoài hợp đồng Và các cơ quan thu thuế thay mặt nhà nước cũng bắt buộc phải thực hiện các hành vi nhất định, không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện thu thuế, phân biệt đối xử với người thu thuế hay hành vi nào khác trong việc thu thuế mà nhà nước không cho phép

2Tr8-10,Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội_Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2018.

Trang 3

Tính bắt buộc có ý nghĩa quan trọng khi ban hành pháp luật về thuế và chi phối

phương pháp thực hiện thu thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp duy trì sự ổn định của việc thực hiện thu thuế

Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực: Thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để

nhà nước điều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, các đối tượng nộp thuế phải tuân thủ việc nộp thuế dù tự nguyện hay không tự nguyện khi chủ thể nộp thuế đủ điều kiện nộp thuế Khi gắn với yếu tố quyền lực, nhà nước mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu thuế, tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước đồng thời duy trì được tính ổn định của thuế trong thời gian dài

Và yếu tố quyền lực của thuế được thể hiện qua việc ghi nhận thuế ở văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất, đó là các luật thuế như luật thuế thu nhập các nhân, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật thuế tiêu thụ đặc biệt, luật thuế giá trị gia tăng ,luật này phải được quyết định bởi Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Ví dụ như trong luật quản lý thuế có quy định các biện pháp cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước đối với các đối tượng vi phạm trong lĩnh vực thuế( biện pháp xử phạt vi phạm hành chính )

Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp

Không mang tính đối giá thể hiện ở chỗ, khi đủ điều kiện phải nộp thuế thì đối tượng nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi nào đó, không dựa trên sự trao đổi, mua bán Khoản thuế thu được, nhà nước dùng cho những mục tiêu khác nhau, việc định ra một loại thuế không nhằm đáp ứng một khoản chi cụ thể nào của nhà nước mà đều sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước Tức là, kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế là các sản phẩm công, lợi ích không thể xác định theo giá trị vật chất như quốc phòng an ninh; môi trường pháp luật; một số dịch vụ ở bệnh viện công lập, trường học công lập; Chính vì lẽ đó mà thuế không có tính hoàn trả trực tiếp Nhưng người nộp thuế lại được hoàn trả một phần thuế một cách gián tiếp những khoản tiền

đã nộp cho nhà nước, hưởng những lợi ích chung : sự bình yên xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, phúc lợi xã hội từ các hàng hóa công cộng bao gồm các khoản chi phí phát triển kinh

Trang 4

tế- xã hội, chi xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống quân đội, tòa án, viện kiểm sát, chi cho hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa, nghệ thuật, an sinh xã hội Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không

có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được sử dụng các dịch

vụ công cộng Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi được thừa hưởng nhiều dịch vụ công cộng hơn so với số thuế mà họ phải trả và họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do

họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái với nguyên tắc này

3 Liên hệ thực tiễn

Thuế là một biện pháp kinh tế hữu hiệu của Nhà nước hiện nay, nó được thực thi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Thuế là công cụ để Nhà nước tổ chức, quản lý và hoạt động, kiểm soát nền kinh tế vĩ mô Thực tiễn, thuế đem lại nhũng những kết quả hiệu quả nhất định

Thuế là nguồn động viên GDP vào ngân sách nhà nước Theo đó, tỷ lệ động viên thuế

từ GDP đạt mức ổn định, trong 10 năm qua ở mức 23%-24% tổng GDP Thu ngân sách cũng tăng Năm 2012, tổng thu thuế của nước ta đạt 638.000 tỷ đồng, gấp 3 lần so với tổng số thu thuế năm 20053 Đến những năm gần đây, càng có sự gia tăng Hơn nữa, thuế ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong nền kinh tế ngày nay đối với Nhà nước và xã hội Các quy định

áp dụng chung vào từng trường hợp cụ thể, những hướng dẫn ngày càng đầy đủ, cụ thể hơn

Hệ thống pháp luật thuế có nhiều thay đổi căn bản, số lượng chủ thể nộp thuế ngày càng nhiều, sự quản lý và thực hiện sự bắt buộc đối với cấc chủ thể nộp thuế có sự tiến bộ và thuyết phục hơn

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm đó, thuế ở Việt Nam còn có những hạn chế nổi bật như sau:

Cơ quan quản lý thuế là chủ thể trực tiếp thực hiện và xác định số tiền thuế hoặc kiểm tra việc tự xác định số thuê nhưng nhận thấy có nhiều sai số không chính xác và thường dẫn đến tranh chấp Và còn thụ động trong việc ra quyết định, trông chờ nhiều vào hướng dẫn cấp trên Nhiều tranh chấp, khiếu nại, tố cáo không được giải quyết thỏa đáng

3http://tapchitaichinh.vn/dien-dan-khoa-hoc/chinh-sach-va-thuc-trang-thu-thue-tai-viet-nam-50910.html.

Trang 5

Mặc dù thuế là khoản thu bắt buộc nhưng ý thức chấp hành phấp luật thuế của nhiều chủ thể nộp thuế còn yếu kém, sử dụng nhiều thủ đoạn gian lận làm giảm số thuế một cách trái pháp luật

Trình độ chuyên môn của công chức quản lý thuế còn hạn chế Nhiều địa phương còn xảy ra tình trạng làm sai, sợ làm, lúng túng hoặc có sự chậm trễ trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và trong việc ra quyết định

Cơ sở hạ tầng đầu tư cho ngành thuế còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ Đồng thời còn có sự hạn chế về tính hợp lý và sự minh bạch trong hệ thống pháp luật thuế

Từ nhũng bất cập trên, một vài giải pháp được đưa ra như sau: Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế cho phù hợp, hợp lý; xây dựng hệ thống đánh giá, giám sát mức độ chấp hành pháp luật thuế của các chủ thể, phòng chống tham nhũng; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn các cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực thuế; cải cách thủ tục thuế; tuyên truyền pháp luật thuế đến mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong xã hội

II Sự giống và kháu nhau giữa thuế và lệ phí

Các khái niệm:

Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho

Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung

Lệ phí là“khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà

nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí năm 2015” ( khoản 2 điều 3 Luật Phí và lệ phí năm 2015)

Qua những đặc trưng đã nêu trên của thuế và quy định về lệ phí trong Luật phí và lệ phí năm 2015, nhận thấy thuế và lệ phí có những điểm giống nhau đồng thời cũng có những điểm khác nhau Việc so sánh sự giống và khác nhau giữa thuế và lệ phí sẽ giúp chúng ta thấy được những điểm khác nhau cơ bản giữa thuế và lệ phí, tránh sự nhầm lẫn giữa 2 khoản thu, hiểu rõ hơn vai trò của thuế và lệ phí trong tổng thu ngân sách nhà nước, đồng thời giúp chúng

ta nhận thức được nghĩa vụ của bản thân cũng như các chủ thể khác trong xã hội, trong trường hợp nào thì nộp thuế, trường hợp nào nộp lệ phí

1 Sự giống nhau giữa thuế và lệ phí

Về sự giống nhau giữa thuế và lệ phí, đây đều là những khoản thu mang tính bắt buộc, hình thành nguồn thu cho quỹ ngân sách nhà nước Thuế mang tính bắt buộc và là một bộ

Trang 6

phận hình thành nên ngân sách nhà nước Còn đối với lệ phí, đây là khoản tiền mà những người cần sử dụng thủ tục hành chính đóng cho cơ quan hành chính để cơ quan này thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật Những cơ quan này lại chuyển khoản tiền lệ phí này về ngân sách nhà nước chứ không giữ lại cơ quan mình, mặc dù sau đó ngân sách nhà nước vẫn rút ra một khoản để trả lương quay trở lại cho chính những người thực hiện thủ tục hành chính đó Như vậy, có thể thấy lệ phí cũng hình thành nguồn thu cho ngân sách nhà nước Đồng thời, lệ phí cũng là khoản tiền bắt buộc mà người dân phải trả khi thực hiện các dịch vụ công tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Thuế và lệ phí đều là những công cụ phục

vụ cho công tác quản lý điều hành của nhà nước, góp phần thực hiện công bằng xã hội

2 Sự khác nhau giữa thuế và lệ phí

2.1 Cơ sở pháp lý

Các khoản thu từ thuế được thực hiện dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật có hiệu lực

pháp lý cao (luật, pháp lệnh)

Lệ phí là khoản thu mang tính pháp lý thấp hơn thuế Khoản thu từ lệ phí thường được

thực hiện dựa trên cơ sở là những văn bản dưới luật(nghị định, quyết định)

2.2 Tính bắt buộc

Thuế mang tính bắt buộc với cá nhân người nộp thuế và cơ quan thu thuế, có tính bắt

buộc mở rộng hơn lệ phí

Lệ phí chỉ bắt buộc đối với những chủ thể nộp lệ phí thừa hưởng trực tiếp đến những

dịch vụ do nhà nước cung cấp

2.3. Tính đối giá và hoàn trả trực tiếp

Thuế không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp Khi đủ điều kiện phải nộp thuếthì

đối tượngnộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, khôngphân biệt họ đã nhận được lợiích công nào( tính không đối giá) Còn tính khônghoàn trả trực tiếp thể hiện ở người nộp thuế làmtăng thu cho nhà nước và khôngđược chi trả một khoản trực tiếp nào từ nhà nước mà chỉ thụhưởng, thu hồi mộtphần chi phí thông qua dịch vụ công do nhà nước cung cấp cho xã hội

Lệ phí là khoản thu hồi có đối khoản trực tiếp từ Nhà nước Thu lệ phí làm tăng thu

cho nhà nước và đồng thời người trả lệ phí được hưởng lợi ích từ hàng hóa, dịch vụ công do Nhà nước cung cấp, tạo nên mối quan hệ song phương giữa nhà nước và người nộp lệ phí

2.4 Phạm vi áp dụng, quy mô phát sinh

Trang 7

Thuế có phạm vi áp dụng, quy mô phát sinh tương đối tập trung, rộng, gắn liền với

hoạt động của nền kinh tế Thuế có phạm vi áp dụng rộng hơn, phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác biệt giữa các địa phương, vùng lãnh thổ Hầu như mọi đối tượng hàng hóa, dịch vụ được phép lưu thông và hợp pháp, mọi tổ chức, cá nhân( có tư cách chủ thể) đều chịu sự điều chỉnh của thuế Bởi thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc với tất cả các tổ chức,

cá nhân khi có đủ điều kiện nhất định

Lệ phí là khoản thu có phạm vi áp dụng và quy mô nhỏ hơn so với thuế, rải rác ở các

lĩnh vực hoạt động Lệ phí thường được giao cho chính quyền địa phương quanrlys, là nguồn thu quan trọng cau ngân sách địa phương các cấp Phạm vi áp dụng của lệ phí mang tính chất địa phương rõ ràng, và chỉ áp dụng với cá nhân , tổ chức có yêu cầu Nhà nước thực hiện việc hưởng dịch vụ cụ thể nào đó

2.5 Vai trò trong tổng nguồn thungân sách nhà nước

Thuế là khoản thu chủ yếu, chiếm trên 90% trong tổng ngân sách nhà nước.Thuế nhằm

điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế và đảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội.Như vậy, thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế

là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia

Lệ phí là khoản thu phụ, không đáng kể so với thuế.Khoản thu này không dùng cho

đáp ứng chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp chi phí hoạt động của cơ quan cùng cấp dịch vụ công cộng như lệ dịch vụ cấp giấy chứng nhận kinh doanh; hộ khẩu, hộ tịch, cấp giấy phép lao đông cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

III Thuế môn bài (trước đây) có bản chất là lệ phí (theo Luật phí và lệ phí năm 2015)

1 Khái quát chungvề thuế môn bài và lệ phí môn bài (theo Luật phí và lệ phí năm 2015)

1.1 Khái niệm

Thuế môn bài là khoản thuế cố định mà các đơn vị kinh doanh phải nộp theo năm tài

chính nhằm trang trải chi phí về quản lý hành chính của Nhà nước đối với các đơn vị kinh doanh Các quy định về thuế môn bài được quy định tại các văn bản pháp lý: Nghị định 75/2002/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh mức thuế môn bài; Thông tư 96/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định số 75/2002/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư 42/2003/TT-BTC hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 96/2002 của Bộ Tài chính

Trang 8

Thuế môn bài là một loại thuế trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh( môn bài) của các công ti và hộ kinh doanh cá thể (Trong đó, thuế trực thu là loại thuế mà cá nhân nộp thuế thu nhập về khoản tiền kiếm được do sức lao động bỏ ra, tiền thu được từ cổ phiếu hay lãi suất, tiền cho thuê tài sản Các doanh nghiệp nộp thuế lợi tức được tính theo mức lợi nhuận có thể bị đánh thuế của họ sau khi trừ chi phí Các doanh nghiệp cũng thay mặt cho nhân viên của họ nộp tiền đóng góp bảo hiểm quốc gia )Thuế môn bài được thu hàng năm và mức thu thuế môn bài được phân theo bậc và dựa vao số vốn đăng kí kinh doanh hoặc doanh thu của năm kinh doanh kế trước hoặc giá trị gia tăng cua năm kinh doanh kế trước

Lệ phí môn bài được xác định là khoản lệ phí mà Nhà nước thu để nhằm quản lý, kiểm

kê, kiểm soát số lượng cơ sở có hoạt động kinh doanh hàng năm, không phân biệt là có đăng

ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh Nó không phải là một khoản thu mang tính chất thuế

1.2 Đặc điểm

a) Thuế môn bài

Thuế môn bài có những đặc điểm sau:

- Thuế môn bài là một loại thuế trực thu, bắt buộc của các cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp đều phải đóng hàng năm

- Thuế môn bài là loại thuế giúp tăng ngân sách thu nhà nước ổn định theo từng năm phát triển kinh tế

- Thuế môn bài là loại thuế được chia theo bậc dựa vào vốn điều lệ với công ti hoặc doanh thu hàng năm đối với cá nhân, hộ kinh doanh

- Việc đóng thuế môn bài là nghĩa vụ bắt buộc của mỗi cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp nằm trong đối tượng đóng thuế Đây là ngân sách thu ổn định của Nhà nước hàng năm nhằm phục vụ cho phát triển đất nước, xã hội, an sinh, cộng đồng

b) Lệ phí môn bài

Lệ phí môn bài có đặc trưng là mang tính đối giá và tính hoàn trả trực tiếp: Tính đối giá của lệ phí môn bài được thể hiện là tổ chức, cá nhân phải trả một khoản tiền, khi nhận được sự phục vụ của Nhà nước Về bản chất, lệ phí là một phần giá cả của dịch vụ hành chính công do Nhà nước cung cấp Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật phí và lệ phí 2015.Bởi lẽ, về nguyên

Trang 9

tắc, khoản tiền (lệ phí) mà các tổ chức, cá nhân trả cho Nhà nước là nhằm bù đắp lại một phần chi phí, để Nhà nước tiến hành cung cấp dịch vụ (không nhằm mục đích lợi nhuận).Tính hoàn trả trực tiếp của lệ phí môn bài được thể hiện là sau khi trả tiền (lệ phí) thì tổ chức, cá nhân sẽ được Nhà nước phục vụ, hay nói khác là một bên trả tiền còn một bên cung cấp dịch vụ Đây

là quan hệ song vụ, mà việc nộp lệ phí môn bài là nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân với Nhà nước

Bản chất của lệ phí môn bài là khoản thu để nhằm kiểm kê số lượng cơ sở có hoạt động kinh doanh hàng năm Tức là, cơ sở đó chỉ cần có hoạt động kinh doanh thì phải nộp lệ phí môn bài, không phân biệt có hay không đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước Như vậy, lệ phí môn bài là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước để Nhà nước tiến hành quản lý, kiểm đếm số cơ sở có hoạt động kinh doanh

2 Thuế môn bài có bản chất là lệ phí theo Luật phí và lệ phí hiện hành năm 2015

Thuế môn bài trước đây có bản chất là lệ phí môn bài theo Luật phí và Lệ phí năm

2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 Sở dĩ đưa ra nhận định như vậy vì những lí do sau:

Thứ nhất, thuế môn bài và lệ phí môn bài đều được xác định là khoản thu cho ngân

sách nhà nước, nhằm phục vụ mục đích bù đắp chi tiêu cho Nhà nước, chi trả cho dịch vụ hành chính công về an sinh, xã hội mà Nhà nước cung cấp, phục vụ cho phát triển đất nước

Là cách thức giúp Nhà nước kiểm soát các cá thể hay tổ chức kinh doanh trong phạm vi Nhà nước quản lí, Thuế môn bài và lệ phí môn bài đều nộp 100% vào ngân sách nhà nước, được Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng của mình, đảm bảo những nguồn thu này có ý nghĩa với hoạt động và sự phát triển của mỗi quốc gia

Thứ hai, thuế môn bài cũng có bản chất như lệ phí môn bài ở chỗ, thuế môn bài là một

sắc thuế trực thu và lệ phí môn bài cũng vậy Thuế trực thu là lọai thuế mà cá nhân nộp thuế thu nhập về khỏan tiến kiếm được do sức lao động, tiến cho thuê tài sản, tiền thu được từ cổ phiếu hay lãi suất Các doanh nghiệp nộp thuế lợi tức được tính theo mức lợi nhuận có thể bị đánh thuế của họ sau khi đả trừ đi chi phí Các doanh nghiệp cũng thay mặt cho những người làm công cho họ nộp tiền đóng góp vào bảo hiểm quốc gia

Thứ ba, về bản chất Thuế Môn bài là một khoản lệ phí, nhằm kiểm kê kiểm soát số

lượng cơ sở có hoạt động kinh doanh trong năm Trong khi đó, lệ phí môn bài cũng là khoản lệ phí mà Nhà nước thu để nhằm quản lý, kiểm kê, kiểm soát số lượng cơ sở có hoạt động kinh

Trang 10

doanh hàng năm, và không phân biệt là có đăng ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh

Thứ tư, những cá nhân, tổ chức mà thuộc các đối tượng phải nộp thuế môn bài đều có

nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện việc nộp thuế giống như nghĩa vụ nộp lệ phí môn bài nhằm hưởng một dịch vụ công nào đó

Hơn nữa, đối tượng nộp lệ phí môn bài vẫn bao gồm các thành phần kinh tế như các đối tượng phải nộp thuế môn bài trước đây Dựa trên các đối tượng nộp thuế môn bài theo điều

5 thông tư 103/2014/TT-BTC và thông tư 42/2003/TT-BTC gồm:

“Tổ chức kinh tế: Các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Nhà thầu nước ngoài phát sinh thu nhập tại Việt Nam nhưng không hiện diện tại Việt Nam thì không phải nộp thuế môn bài Căn cứ xác định dựa vào luật đầu tư, Luật Thương mại”

Các đối tượng nộp lệ phí môn bài gồm:Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh;Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các tổ chức này (nếu có); Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh

Có thể thấy đối tượng phải nộp thuế môn bài trước đây có sự tương đồng với đối tượng nộp lệ phí môn bài theo Luật phí và lệ phí năm 2015 Bởi thuế môn bài có bản chất là lệ phí môn bài nên đối tượng được áp dụng hai loại nguồn thu cũng có sự tương ứng với nhau

Ngoài ra, xét về các đối tượng miễn thuế môn bài thì đối tượng miễn nộp thuế môn bài thuộc phạm vi các đối tượng miễn lệ phí(đối tượng miễn lệ phí được quy định tại Nghị định 139/2016/NĐ-CP Theo đó, đối tượng miễn thuế môn bài gồm: Gia đình xuất muối, bưu điện văn hóa, cácloại báo (báo in, báo nói, báo hình);Tổ dịch vụ và cửa hàng, cửa hiệu, kinh doanh trực thuộc Hợp tác xã hoạt động dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp; Các đơn vị, quỹ tính dụn nhân dân xã, hoặc đơn vị tập thể kinh doanh dịch vụ nông nghiệp, đơn vị cửa hàng, quầy hàng, của hiệu …của HTX và doanh nghiệp kinh doanh tại địa bàn miền núi; Đối với tổ chức, gia đình, cá nhân nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản và dịch vụ nghề cá quy

Ngày đăng: 21/11/2020, 15:52

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w