1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bìa thỏa luận số 08 TTDS thủ tục

16 317 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 23,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoặc Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà

Trang 1

Nội dung thảo luận tuần 08

*Quy ước:

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015

- Cơ sở pháp lý: CSPL

PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH

Câu 1: Tòa án chỉ thụ lý vụ án khi đương sự đã nộp tạm ứng án phí.

Nhận định sai

Theo Khoản 4 Điều 195 BLTTDS 2015 thì Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo

Vậy Tòa án thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo của đương sự nếu đương sự thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng

án phí

Câu 2: Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đưa

ra quan điểm làm căn cứ để Hội đồng xét xử giải quyết.

Nhận định sai

Vì không phải mọi trường hợp Viện kiểm sát đều tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm: Khoản 2 Điều 21 BLTTDS

Theo Khoản 1 Điều 232 BLTTDS 2015 thì trường hợp Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa

Theo Điều 262 BLTTDS 2015 thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố

Trang 2

tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án

=> Hội đồng xét xử giải quyết không phải dựa trên quan điểm đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Vì khi Kiểm sát viên vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phát biểu về việc tuên theo pháp luật và khi giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên mới cho ý kiến

Câu 3: Tòa án trả lại đơn khởi kiện nếu vụ viêc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Nhận định sai

Đối với trường hợp đơn bản án, quyết định đã được giải quyết bằng bản án , quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của tòa án nhưng có căn cứ bị kháng nghị theo thủc tục giám đốc thẩm bị tòa án giám đốc thẩm lại

Hoặc Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị

vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó

Đối với trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có các căn cứ luật định để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì sẽ bản án, quyết định đó sẽ tái thẩm

=> Tòa án không trả lại đơn khởi kiện mà có thể giám đốc thẩm hoặc tái thẩm lại bản án, quyết định

CSPL: Điều 325, 326, 351, 352 BLTTDS 2015

Câu 4: Ở giai đoạn sơ thẩm, khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương

sự, Tòa án phải ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Nhận định sai

Trang 3

Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, bất cứ ở giai đoạn tố tụng nào đương sự cũng có quyền thỏa thuận với nhau

về việc giải quyết vụ án trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội

Căn cứ khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015 thì ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (thuộc giai đoạn sơ thẩm), sau khi công nhận sự thỏa thuận hợp pháp của các đương sự, Tòa án không ra ngay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Mà phải hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến

về sự thỏa thuận đó thì Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự.

Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận không được ban hành ngay sau khi tiến hành hòa giải thành và công nhận sự thỏa thuận các đương sự mà phải tuân thủ theo thời hạn luật định

CSPL: Khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015

Câu 5: Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là nguyên đơn trong vụ án dân sự.

Nhận định sai

Theo Điều 187 BLTTDS 2015, quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích nhà nước có quy định một số cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ

nữ Việt Nam, Tổ chức đại diện tập thể lao động, Tổ chức xã hội, Cơ quan tổ chức nhưng quy định có quyền khởi kiệm trong những đối tượng nhất định chứ không phải cơ quan, tổ chức luôn được khởi kiện để bảo vệ lợi ích nguyên đơn trong mọi trường hợp

Trang 4

Như vậy,chỉ có một số cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội được pháp luật quy định mới có

quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là nguyên đơn trong

vụ án dân sự

VD: Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

CSPL: Điều 187 BLTTDS 2015

PHẦN 2 BÀI TẬP.

Bài tập 1: Ngày 9/6/2010, vợ chồng ông Nguyễn Minh Trí và bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết

(cùng cư trú tại Quận 1, TP Hồ Chí Minh) xác lập hợp đồng mua bán chuyển nhượng cho

bà Đỗ Thị Thoa (cư trú tại Quận 2, TP Hồ Chí Minh) 2.840 m2 đất tại thửa số 134 tờ bản

đồ số 27, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP Hồ Chí Minh Ngày 10/10/2010, bà Thoa

đã thanh toán cho ông Trí đủ số tiền theo hợp đồng, bà Thoa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên

Sau đó, Nhà nước thu hồi diện tích đất nêu trên nên bà Thoa không được quyền sử dụng đất, bà Thoa và vợ chồng ông Trí đã nhiều lần thỏa thuận về việc thanh toán lại số tiền bà Thoa đã giao nhưng không thống nhất được Vì vậy, bà Thoa khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 9/6/2010 giữa bà và vợ chồng ông Trí, bà Tuyết Đồng thời, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Trí, bà Tuyết hoàn trả cho bà số tiền đã nhận là 7 tỷ đồng Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý

a Xác định tư cách đương sự.

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thoa (cư trú tại Quận 2, TP Hồ Chí Minh)

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015 bà Thoa là nguyên đơn vì bà đã khởi kiện vỉ cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm

Trang 5

- Bị đơn: ông Nguyễn Minh Trí rí và bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết (cư trú tại Quận 1, TP.

Hồ Chí Minh)

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015 thì vợ chồng ông Trí và bà Tuyết bị bà Thoa kiện vì bà Thoa cho rằng vợ chồng ông Trí là người đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

b Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Nhà nước thu hồi diện tích đất 2.840 m2 đất tại thửa số 134 tờ bản đồ số 27, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP Hồ Chí Minh nên bà Thoa không được quyền sử dụng đất, bà Thoa và vợ chồng ông Trí đã nhiều lần thỏa thuận về việc thanh toán lại số tiền bà Thoa

đã giao nhưng không thống nhất được Đồng thời, bà Thoa yêu cầu buộc vợ chồng ông Trí, bà Tuyết hoàn trả cho bà số tiền đã nhận là 7 tỷ đồng

=> Đây là tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo Khoản 3 Điều

26 BLTTDS 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân

- Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 thì trường hợp của bà Thoa là tranh chấp về dân

sự => Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết

-Bà Thoa khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và

vợ chồng ông Trí hoàn trả tiền đã nhận => Đối tượng tranh chấp chính là về hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứ không phải là quyền sở hữu thửa đất nên đây chỉ

là tranh chấp liên quan đến bất động sản chứ không phải thuộc trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản

- Căn cứ theo Điểm b Khoản 1 Điều 40 thì vợ chồng ông Trí và bà Thoa có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết => Nếu các bên thỏa thuận được với nhau yêu cầu Tòa án nơi bà Thoa cư trú giải quyết thì Tòa án nơi bà Thoa cư trú có thẩm quyền giải quyết

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 40 thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc là Tòa án nơi

vợ chồng ông Trí cư trú có thẩm quyền giải quyết

Trang 6

Vậy TAND cấp huyện nơi bà Thoa cư trú là TAND Quận 2 (nếu các bên thỏa thuận bằng văn bản) hoặc TAND cấp huyện nơi vợ chồng ông Trí cư trú là TAND Quận 1 có thẩm quyền giải quyết

c Tại Biên bản hòa giải thành ngày 5/01/2016 thể hiện lời trình bày của các bên: “Bà

Thoa đồng ý để ông Trí hoàn trả cho bà Thoa 3,625,000,000 đồng theo các giấy biên nhận mà ông Trí đã viết và ký nhận Bà Thoa đồng ý giao lại cho ông Trí toàn bộ giấy tờ diện tích 2,840 m2 đất tại thửa số 134 tờ bản đồ số 27, phường Tân Thới Nhất, Quận 12,

TP Hồ Chí Minh”

Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2016/QĐST – DS ngày

13/01/2016 quyết định: “Ông Nguyễn Minh Trí, bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết và bà Đỗ Thị

Thoa thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 2,840 m2 đất tại thửa số 134 tờ bản đồ số 27, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP Hồ Chí Minh lập ngày 9/6/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thới Nhất, Quận 12 Ông Nguyễn Minh Trí và bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết xác nhận và đồng ý hoàn trả cho bà Đỗ Thị Hoa

số tiền là 3,625,000,000 đồng”.

Nhận xét về Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2016/QĐST – DS ngày 13/01/2016 của Tòa án cấp sơ thẩm.

Biên bản hòa giải thành được lập ngày 5/01/2016 nhưng đến ngày 13/01/2016 (8 ngày kể

từ ngày lập biên bản hòa giải thành) Tòa án mới ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Theo Khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015 quy định Thẩm phán phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngay sau khi kết thúc thời hạn 07

kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến Mà đến

ngày thứ 8 kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành và không có đương sự nào thay đổi ý kiến, Thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là có vi phạm thời hạn ra quyết định

Về nội dung, có thể thấy, thỏa thuận của các bên chỉ bao gồm Bà Thoa đồng ý để ông Trí

hoàn trả cho bà Thoa 3,625,000,000 đồng đồng thời Bà Thoa đồng ý giao lại cho ông Trí

Trang 7

toàn bộ giấy tờ diện tích đất nêu trên Giữa các đương sự không có thỏa thuận về vấn đề hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 9/6/2010 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Thới Nhất, Quận 12 Nhưng trong nội dung của quyết định lại ghi nhận thỏa thuận là hủy hợp đồng chuyển nhượng đất nêu trên Như vậy, quyết định công nhận thỏa thuận của đương sự không thống nhất với biên bản hòa giải thành Điều này đã trái với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong TTDS

d Giả sử đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện thì thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử?

Theo Khoản 1 Điều 219 BLTTDS 2015 thì nếu đến ngày mở phiên tòa mà nguyên đơn nộp đơn xin rút yêu cầu khởi kiện thì:

Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân s

Như vậy, thẩm quyển ra quyết định đình chỉ trong vụ án trên thuộc thẩm quyền của Thẩm phán

e Giả sử đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì việc tuyên quyền kháng cáo của đương sự trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hay kể từ ngày nhận được bản án?

- Theo quy định tại Khoản Điều 86 BLTTDS 2015 thì người đại diện theo ủy quyền của đương sự được nhân danh đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo ủy quyền, việc đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì đây là trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa

- Ngoài ra, Theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015 về thời hạn kháng cáo thì nếu trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Trang 8

f Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định nguyên tắc xét xử liên tục Vậy có được thay đổi thành viên Hội đồng xét xử trong quá trình nghị án hoặc tạm ngừng phiên tòa vì lý do khách quan hay không?

- Theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 BLTTDS 2015 cho phép thay đổi thành viên Hội đồng xét xử trong quá trình nghị án Và trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thì do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 259 BLTTDS thì căn cứ tạm ngừng phiên tòa có:

Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt

=> Có thể tạm ngừng phiên tòa vì lý do khách quan mà không thể tiếp tục phiên tòa

Bài tập 2: Năm 1993, gia đình ông Dung mua một gian nhà tập thể của Văn phòng Công

ty gang thép Thái Nguyên Ngày 30/12/2005, gia đình ông Dung được UBND thành phố Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên hộ ông Dung và bà Thủy tại tờ bản

đồ số 22, thửa số 17 với diện tích 81,6 m2 đất Gia đình ông Dung vẫn sử dụng nhà đất suốt từ đó đến nay Năm 2011, ông Dung cho rằng gia đình anh Tuấn đã lấn phần đất phía sau nhà ông Vì vậy, ông Dung làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Tuấn phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm và bồi thường giá trị hai cây khế ông Dung trồng trên phần đất đang tranh chấp bị anh Tuấn chặt bỏ, trị giá 4.000.000đ Tòa án

có thẩm quyền đã thụ lý

a Xác định tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Căn cứ theo khoản 1, Điều 68 BLTTDS 2015 thì Đương sự trong vụ án bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Trang 9

Nguyên đơn là Ông Dung Vì Ông Dung là người khởi kiện vì cho rằng quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên đã đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Tuấn phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm và bồi thường giá trị hai cây khế ông Dung trồng trên phần đất đang tranh chấp bị anh Tuấn chặt bỏ, trị giá 4.000.000đ (khoản 2, Điều 68 BLTTDS 2015)

Bị đơn là ông Tuấn Ông Tuấn bị ông Dung khởi kiện vì ông Dung cho rằng ông Tuấn đã xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của mình vì hành vi lấn phần đất phía sau nhà ông Dung và cây khế trồng trên phần đất đang tranh chấp bị ông Tuấn chặt bỏ.(khoản 2, Điều

68 BLTTDS 2015

b Giả sử bản án sơ thẩm nhận định: “Diện tích đất tranh chấp không nằm trong Giấy

chứng nhận QSDĐ của vợ chồng ông Dung Việc ông Dung, bà Thủy cho rằng mương nước tồn tại trên thực tế để xác định phần diện tích đất tranh chấp thuộc Giấy chứng nhận QSDĐ của ông bà là không có cơ sở Diện tích đất tranh chấp 3,2 m2 nằm trong diện tích 60,3 m2 thuộc quyền sử dụng của gia đình anh Tuấn nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dung” Từ đó, bản án sơ thẩm quyết định: “Bác yêu cầu đòi quyền

sử dụng đất của ông Dung”

Nhận xét về hành vi tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm.

Hành vi tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp quy định pháp luật căn cứ vào Điều 266 BLTTDS 2015

Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ở đây Dung làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Tuấn phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm và bồi thường giá trị hai cây khế ông Dung trồng trên phần đất đang tranh chấp bị anh Tuấn chặt bỏ, trị giá 4.000.000đ

=> Nhưng phần nhận định Tòa án chỉ nêu về yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất, còn phần yêu cầu đòi bồi thường giá trị cây khế thì Tòa án khômg đề cập đến

Trang 10

Ngoài ra, Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan;

Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử

về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó Ở đây, quyết định Tòa án chưa ghi rõ căn cứ pháp luật, chưa giải quyết đầy đủ vấn đề yêu cầu khởi kiện của ông Dung, chưa nêu rõ các vấn đề luật định

PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN.

* Tóm tắt tình huống:

- Nguyên đơn:

1 Chị Mai Thị Ngọc O, sinh năm 1976;

2 Anh Mai Phước Thuận, sinh năm 1971;

Cùng cư trú tại: Đường N, Khóm M, Phường P, thành phố Q, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Thanh sinh năm 1968; Cư trú tại: Đường N, Khóm M, Phường P, thành phố Q, tỉnh Sóc Trăng

- Tại Đơn khởi kiện ngày 17/11/2015 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn

là chị Mai Thị Ngọc O, anh Mai Phước T trình bày:

Nhà số 65/16 đường N có diện tích xây dựng 112,8m2 trên thửa đất số 300, diện tích 141,1 m2 thuộc tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008 đứng tên vợ chồng cụ Hòa Ngày 14/8/2014 vợ chồng cụ Hòa ký hợp đồng tặng cho nhà, đất trên cho anh chị Ranh giới nhà đất tại số 65/16 với nhà đất tại số 65/18 của gia đình ông Nguyễn Ngọc T1 là 1 hẻm chung (ngang 1m, dài từ đầu hẻm đến mương nước 2 phía sau

Ngày đăng: 15/11/2020, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w