- Vấn đề tưới và giao thông thuỷ ở phía thượng lưu, hạ lưu công trình cũng được đặt ra, nhưng do sự phát triển kinh tế, nhu cầu có sử dụng của địa phương không đòi hỏi phải nhất thiết có
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Thuỷ năng là một dạng năng lượng tiềm tàng trong nước.Năng lượng tiềm tàng đó thể hiện dưới ba dạng:
Hoá năng- nhiệt năng - cơ năng
Hoá năng của nước thể hiện trong việc làm thành các dung dịch muối hoà tan , các loại trong nước sông đẻ biến thành năng lượng Nhiệt năng của nước sinh ra do sự chênh lệch nhiệt đọ giữa các lớp nước trên mặt và dưới đáy sông,biển,giữa nước trên mặt đất và trong các mỏ nước ngầm Hai dang năng lượng của nước nêu trên tuy có trữ lượng lớn , nhưng phân bố rời rạc khó khai thác
Cơ năng của nước thể hiện trong mưa , trong dòng chảy của sông suối , trong sóng nước và thuỷ triều Trong đó năng lượng của dòng sông là nguồn năng lượng rất lớn và khai thác thuận tiện hơn cả.Trong khi đó sông suối nhỏ được phân bố ở nhiều nơi, việc xây dựng trạm thuỷ điện và việc sử dụng thiết
bị điện lại đơn giản hơn so với việc sử dụng các năng lượng khác
Do những đặc đIểm trênviệc sử dụng thuỷ năng để phát điện đã trở thành phổ biến Kể từ năm 1934 tại Pháp , sau đó tại Nga , người ta đã chế tạo thành công các turbin nước để phát điện Cho đến nay việc sử dụng các turbin nước đẻ phát điện ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn
Tại nước ta có trên 1000 con sông suối với trữ năng tiềm tàng rất lớn Trong đó có các con sông Đà , sông Lô , hệ thống sông Đồng Nai có nguồn năng lượng lớn hơn cả
Những năm gần đây nhịp độ phát triển của Việt Nam ngày càng tăng , đặc biệt là nhà máy điện Hoà Bình Một công trình lớn nhất khu vực ĐNA đem lại nguồn lợi kinh tế rất lớn Bên cạnh đó các nhà máy thuỷ điện Thác
Bà ,Thác Mơ,Trị An,Yaly…đang đóng góp tích cực cho công ngiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Hiện nay chúng ta đang tiến hành khẩn trương viêc ngiên cứu khai thác thuỷ năng và lợi dụng tổng hợp nguồn nước ở các con sông lớn nhỏ trên khắp đất nước.Hệ thống sông Đông Nai được chú ý quan tâm hơn cả bởi trên
Trang 2Với đồ án tốt ngiệp của tôI được giao thiết kế sơ bộ TTĐ trên sông Spêpook thuộc hệ thống sông Đồng Nai nằm ở tỉnh Đăc Lắc với nhưng tài liệu thiết kế cần thiết sau:
Nhiệm vụ của công trình
Tài liệu dân sinh kinh tế
Tài liệu về địa hình
Tài liệu về địa chất
Tài liệu về khí tượng thuỷ văn
Trang 3Trực tuyến đập theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
$1.2.Đặc điểm địa hình - địa chất
I.Đặc điểm địa hình
Địa hình sông Spêpook chảy trên lãnh thổ Việt Nam theo hướng Bắc
và Tây Bắc, qua vùng địa thế đa dạng và phức tạp, nhiều núi non hiểm trở, xen kẽ đầm lầy rừng rậm rừng thưa và các vùng đất thoai thoải phủ cỏ và các cây thấp Địa hình lưu vực sông này có thể chia làm 3 đoạn như sau:
- Đoạn I: Từ thượng lưu buôn Tulanh, vùng núi cao có độ trung bình 1000m, dân cư thưa thớt, xa trục lộ giao thông chính và cơ sở kinh tế hầu như không có gì
- Đoạn II: Từ buôn Tulanh đến buôn Bray, địa hình có độ cao trung bình 450m÷ 500m, thung lũng của khu vực chủ yếu là đầm lầy, có những
hồ chứa nước thiên nhiên khá to nằm giữa các dãy núi, ăn thông với sông Phía trên buôn Bray là hợp lưu của hai dòng Eakrông và Krôngkro, lưu vực nói chung còn hoang vắng, ít người, giao thông khó khăn
- Đoạn III: Phần còn lại đến biên giới Việt Nam - Campuchia Đoạn sông này chảy siết, độ dốc lớn và độ uốn cong lớn, nhiều thác ghềnh, lưu vực phần lớn là đồi núi thấp, thoai thoải, độ cao trung bình là 280÷300m,
do đường quốc lộ 14 cắt ngang sông ở đoạn gần tuyến công trình, dân cư chỉ tập trung gần đường quốc lộ và ven sông
II.Điều kiện địa chất công trình vùng xây dựng
- Công trình xây dựng dự định ở thượng lưu phần lớn nằm trên
Trang 4của nó tạo thành bộ uốn nếp, có hướng nằm Tây - Tây- Nam hoặc Đông Nam, trong lưu vực có một vài nếp gãy kiến tạo cắt qua theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở phía Tây Bắc Đrâylinh ở vùng Krongpack có khe nứt khe nứt theo hướng Đông Bắc từ buôn Bray về thượng nguồn có các trầm tích đội tứ gồm các cuội , sỏi cuội, đá tảng và đá Granit
III.Đặc điểm khí tượng thuỷ văn
1 Nhiệt độ
nhiệt độ cao nhất thường xuất hiên tháng 4 đạt tới 39÷40oC thấp nhất vào tháng 12 xuống tới 7 ÷ 4oC, nhiệt độ trung bìn năm tăng 23÷24oc ( theo tài liệu của trạm khí tượng Buôn Mê Thuật)
Buôn Mê Thuật
Krong Bruc
Chư Hlam
4 Tài liệu dòng chảy
Trong lưu vực có một số trạm đo thuỷ văn như:
Phân phối dòng chảy các tháng trong năm được tính toán theo mô
Trang 52 Vật liệu cát, cuội sỏi…
Vùng xây dựng công trình lòng sông thoải dần nên, về phía thượng lưu của công trình có nhiều bãi bồi lớn, đó là nơi tập trung các bãi cuội, sỏi, cát có trữ lượng lớn
3 Các loại vật liệu khác
Về xi măng, sắt thép, do ở địa phương chưa phát triển về ngành này nên phải đi mua ở nơi khác
$1.4 Tình hình giao thông vận tải
Mạng lưới giao thông trong vùng chưa phát triển, chỉ có đường mòn nối các khu dân cư trong vùng, nhưng có một thuận lợi là giao thông bằng đường thuỷ
$1.5 Yêu cầu về sử dụng nước
- Công trinh trạm thuỷ điêm được xây dựng chủ yếu cho phát điện và cung cấp điện cho địa phương
- Vấn đề tưới và giao thông thuỷ ở phía thượng lưu, hạ lưu công trình cũng được đặt ra, nhưng do sự phát triển kinh tế, nhu cầu có sử dụng của địa phương không đòi hỏi phải nhất thiết có, nên khi hồ chứa hình thành thì yêu cầu này vẫn đảm bảo
$1.6 Tình hình dân sinh kinh tế
$1.7 Chọn tuyến công trình
Trên cơ sở những tài liệu thăm dò, khảo sát và điều tra cơ bản như
Trang 6hoạch thuỷ lợi,đặc biệt là quy hoạch thuỷ năng, và quyết định chọn tuyến BBB là tuyến công trình được coi là hợp lý nhất vì những lý do sau đây: -Địa hình thuận lợi, tuyến đập được bố trí giữa hai khe núi như vậy giảm được khối lượng đào đắp
-Về địa chất: Địa chất khu vực xây dựng có nền đá cứng, ít nứt nẻ Như vây đảm bảo tốt vấn đề ổn đình của Công trình, giảm nhỏ khối lượng
Trang 7CHƯƠNGII :TÀI LIỆU THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH
$2.1 ý nghĩa và nhiệm vụ của Trạm thuỷ điện H 4
II Tài liệu thuỷ văn
1.Tài liệu nước đến của 3 năm điểm hình
Tháng 7 8 9 10 11 12
Trang 82.Tài liệu mưa và bốc hơi
III.Các tài liệu khác
Tuổi thọ Công trình : T=90 năm
Hàm lượng bùn cát trong nước là : ρbc =0,081kg/m3
Mo ( l/s-km2)
Trang 11PHẦN II TÍNH TOÁN THUỶ NĂNG CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CƠ BẢN
CHƯƠNG II : TÍNH TOÁN THUỶ NĂNG
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM CƠ BẢN
⇓ 1.1 MỤC ĐÍCH
Mục đích tính toán thủy năng là xác định các thông số cơ bản của hồ chứa và trạm thủy điện:
1 Thông số của hồ chứa:
- Mực nước dâng bình thường (MNDBT)
- Mực nước chết ( MNC ), hay là độ sâu công tác (hct)
- Dung tích hữu ích ( Vhi )
2 Thông số năng lượng của tram thủy điện(TTĐ):
- Công suất bảo đảm (Nbđ)
- Công suất lắp máy (Nlm)
- Điện lượng bình quân nhiều năm (Enn)
- Số giờ lợi dụng công suất lắp máy (h)
3 Các cột nước đặc trưng của TTĐ:
Trang 12♣ 2-2 PHƯƠNG THỨC KHAI THÁC THỦY NĂNG
Việc chọn phương thức khai thác thủy năng phải dựa vào điều kiện cụ thể của từng công trình, điều kiện thiên nhiên, điều kiện địa chất, đia chất thuỷ văn, bản đồ địa hình và tình hình kinh tết xã hội để lựa chọn
Qua việc nghiên cứu các tài liệu nêu trên tôi có nhận về khu vực xây dựng TTĐ H4 như sau:
- Công trình TTĐ H4 là một trạm trên sông Spêpook.Do địa hình thuận lợi ,tuyến đập được bố trí giữa hai khe núi,như vậy sẽ giảm được khối lượng đào đắp.Và ta dựa vào tài liệu bình đồ khu vực xây dựng công trình thuỷ điện H4
đã cho Dựa vào các nhận xét trên tôi chọn phương thức khai thác kiểu nhà máy thuỷ điện sau đập.Vây ta chọn phương thức khai thác thuỷ năng kiểu đập dâng tạo cột nước
♣ 2-3 CHỌN MỨC BẢO TÍNH TOÁN
I KHÁI NIỆM VỀ MỨC BẢO ĐẢM TÍNH TOÁN:
1 Ý nghĩa của mức bảo đẩm tinh toán:
Ta biết rằng tình hình làm việc của Trạm thuỷ điện(TTĐ) luôn phụ thuộc vào tình hình thuỷ văn Trong điều kiện lưu lượng thiên nhiên thuận lợi thì TTĐ đảm bảo an toàn cung cấp điện, còn trong những năm ít nước thì TTĐ không đảm bảo cung cấp điện an toàn Mặt khác đối với một số TTĐ kiểu đập
có cột nước thấp thì TTĐ có thể không đảm bảo cung cấp điện ngay trong mùa nhiều nước (do mực nước ở hạ lưu dâng cao ngay trong thời kỳ này, làm cho cột nước của TTĐ giảm nhiều) Khi đó ta phải cắt giảm các hộ dùng điện, điều đó cũng có nghĩa là sẽ gây ra thiệt hại đối với nền kinh tế Quốc dân
Do vậy để đặc trưng cho mức bảo đảm an toàn cung cấp điện của TTĐ, người ta đưa ra chỉ tiêu Ptt gọi là mức bảo đảm an toàn hay tần suất
Mức bảo đảm được tính theo công thức sau:
100%
hμnh vËn gian thêi Tæng
th−êng binh
viÖc lμm gian Thêi
Trang 13Tức là trong suốt thời gian làm việc (vận hành), TTĐ sẽ đảm bảo cung cấp điện bình thường trong P% tổng thời gian còn (100-P)% thời gian không thể cung cấp đầy đủ công suất và điện lượng do tình hình thủy văn bất lợi
2 Nguyên lý lựa chọn mức bảo đảm:
Mức bảo đảm được dùng để xác định các thông số của TTĐ và dùng để xác định vai trò của TTĐ trong cân bằng công suất của hệ thống gọi là mức bảo đảm tính toán (Ptt)
Ta thấy nếu Ptt mà tăng lên thì công suất bảo đảm của TTĐ (Nbđ) sẽ giảm xuống, có nghĩa là công suất tất yếu của TTĐ sẽ giảm xuống Điều đó đồng nghĩa với việc:
- Vốn đầu tư vào TTĐ giảm đi một lượng (ΔKTĐ), nhưng do NtyTĐ giảm
=> NlmNĐ tăng lên (do cân bằng hệ thống điên) => vốn đầu tư vào nhà máy Nhiệt điện tăng lên một lượng (ΔKNĐ), nhưng ΔKNĐ tăng > ΔKTĐ giảm
=> Vốn đầu tư của toàn bộ hệ thống tăng lên Nhưng thời gian bảo đảm an toàn tăng lên, làm cho thiệt hại do thiếu điện giảm
Do vậy Ptt tốt nhất là tần suất làm cho tổng chi phí (có xét đến thiệt hại) của hệ thống là nhỏ nhất
3 Nguyên tắc chọn P tt :
Việc tính toán thiệt hại do thiếu điện là rất phức tạp và trong nhiều trường hợp chúng ta không thể thực hiện được nếu như không đưa ra một số giả thiết ban đầu Cho nên việc xây dựng mức bảo đảm tính toán thường được tiến
P%
100%
N
N
Trang 14+.Công suất lắp máy của TTĐ càng lớn thì mức bảo đảm phải chọn càng cao, vì thiệt hại do chế độ làm việc bình thường của TTĐ có công suất lắp máy lớn bị phá vỡ nghiêm trọng so với trạm có công suất lắp máy nhỏ
+.Trạm thuỷ điện có công suất càng lớn so với tổng công suất của toàn
hệ thống điện lực thì mức bảo đảm tính toán phải chọn càng cao, vì khi TTĐ không làm việc bình thường thì công suất thiếu hụt khó bù hơn so với các trạm nhỏ, nhất là trong thời kỳ công suất dự trữ đã sử dụng gần hết
+.Các hộ dùng điện càng quan trọng về mặt khinh tế, khoa học kỹ thuật thì mức bảo đảm tính toán của trạm cung điện càng cao vì lẽ nếu thiếu điện tổn thất sẽ càng nghiêm trọng
+.Nếu trạm thuỷ điện có hồ điều tiết càng lớn, hệ số điều tiết cao, sự phân bố dòng chảy trong sông lại tương đối đều thì có thể chọn mức bảo đảm tính toán cao mà vẫn lợi dụng được phần lớn năng lượng nước thiên nhiên Trong trường hợp không có hồ điều tiết dài hạn, muốn lợi dụng năng lượng nước được nhiều không nên chọn mức bảo đảm tính toán cao
+ Nếu TTĐ đóng vai trò chính trong công trình lợi dụng tổng hợp hoặc chỉ có nhiệm vụ phát điện ngoài ra không còn ngành dùng nước nào khác tham gia thì mức bảo đảm tính toán cứ theo các nguyên tắc trên để chọn.Trong trường hợp có thể chọn mức bảo đảm khá cao, nhưng khi TTĐ chỉ giữ vai trò thứ yếu trong công trình lợi dụng tổng hợp mức bảo đảm tính toán của TTĐ phải phục tùng yêu cầu dùng nước chủ yếu mà chọn thấp hơn cho thỏa đáng
Kinh nghiệm cho thấy thường dùng ở mức đảm bảo sau:
- Các trạm thuỷ điện có công suất lớn: Nlm > 50MW P = 85 - 95%
- Các trạm thuỷ điện vừa, tỷ trọng công suất không lớn lắm :
P=75-85%
- Các TTĐ nhỏ, làm việc độc lập hoặc tham gia trong hệ thống với tỷ trọng công suất dưới 15 - 20% : P = 50-80%
III : CHỌN MỨC BẢO ĐẢM TÍNH TOÁN CHO TTĐ-H4
Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của công trình thuỷ điện H4 với nhiệm vụ phát điện là chính và theo đánh giá sơ bộ tại tuyến xây dựng công trình TTĐ H4 có công suất khoảng ( 200 ÷ 400 ) MW Theo tiêu chuẩn TCVN 50-60-
90 chọn mức bảo đảm cho TTĐ H4 là p=90%
Trang 15⇓ 2.4: XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA TTĐ H4
NỘI DUNG:
1)Xác định mực nước dâng bình thường (MNBT)
2) Xác định độ sâu công tác (hct), mực nước chết (MNC), dung tích hữu ích (Vhi)
3) Xác định công suất bảo đảm ( Nbđ ), công suất lắp máy ( Nlm )
4) Tính điện lượng bình quân nhiều năm (Enn
Về mặt công trình nó quyết định đến chiều cao đập, kích thước công trình xả lũ, số lượng và kích thước các đập phụ
Về mặt kinh tế: vùng hồ, nó ảnh hưởng trực tiết đến diện tích vùng ngập nước và các tổn thất do nước ngập ở vùng hồ Vì vậy việc chọn MNDBT phải được tiến hành thận trọng Khi tính toán lựa chọn MNDBT cần chú ý đến một số yếu tố ảnh hưởng quan trọng sau:
* Mối quan hệ giữa NMDBT và lợi ích
+Phát điện: Khi NMDBT tăng thì khả năng phát điện của TTĐ tăng, dẫn đến điện lương hàng năm của của TTĐ tăng, nhưng đến một lúc nào đó thì độ tăng giảm do lượng nước bốc hơi lớn Trường hợp có công trình nào đó
đã xây dựng hoặc dự kiến xây dựng ở phía thượng lưu công trình thì khi tăng NMDBT có thể sẽ gây ngập chân công trình phía trên Nếu độ ngập đó đáng
kể sẽ làm giảm cột nước phát điện, làm thay đổi chế độ, và điều kiện làm việc của công trình phía trên
Trang 16+Yêu cầu sử dụng nước: Khi NMDBT tăng, dung tích hưu ích của hồ tăng, lưu lượng điều tiết tăng, việc cung cấp nước cho hạ lưu tăng
+Giao thông thủy: Khi NMDBT , dung tích hồ chứa tăng, khả năng chuyên chở thượng, hạ lưu tăng
* Mối quan hệ giữa NMDBT và chi phí
Khi NMDBT làm cho chiều dài, chiều cao đập tăng đồng thời cũng ảnh hưởng đến số lượng và kích thước các đập phụ xung quanh hồ dẫn đến vốn đầu tư, chi phí hàng năm tăng nhanh
NMDBT tăng, diện tích ngập lụt tăng, nhiều khi giây ngập các mỏ khoáng sản quí hiếm, gây ngập các di tích lịch sử, thay đổi môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực xây dựng công trình dẫn đến chí đền bù thiệt hại tăng, xử lý nền móng và thấm phức tạp Vì vậy chi phí cho công trình lớn
2.Xác định mực nước dâng bình thường
Việc xác định MNDBT phải dựa trên cở sở phân tích so sánh các phương án theo các yếu tố liên quan
Để xác định được hết lợi ích và thiệt hại của từng phương án là một vấn
đề hết sức khó khăn vì sự ảnh hưởng về mặt xã hội và môi trường là không rõ ràng Tuy nhiên để đánh gía về mặt kinh tế cho việc thay đổi MNDBT người
ta sử dụng các tiêu chuẩn kinh tế như sau:
- Gá trị thu nhập dòng quy về thời điểm hiện tại là lớn nhất
BNPVTrong đó:
Trang 17Trong trường hợp các phương án đưa ra đều đạt lợi ích như nhau thì có thể chọn theo tiêu chuẩn chi phí tính toán quy về thời điểm hiện tại là nhỏ nhất:
Chi phí tính toán quy về hiện tại là:
hnt t tt
i1
CK
Kt: Là vốn đâu tư ở năm thứ t
Chnt: Là chi phí hàng năm của nhà máy thuỷ điện ở năm thứ t i: Lãi suất
tt
C : Là chi phí tính toán quy về hiện tại
Trong các phương án được đưa ra phương án nào có Ctt nhỏ nhất thì chọn
Khi tính toán xác định MNDBT để giảm bớt khối lượng tính toán người
ta tiến hành xác định giá trị giới hạn trên và giới hạn dưới của MNDBT
- Giới hạn dưới của MNDBT phụ thuộc vào các yếu tố :
+ Yêu cầu tưới tự chẩy
+ Căn cứ vào yêu cầu phụ tải đảm nhận của nhà máy
+Căn cứ yêu cầu của các ngành lợi dụng tổng hợp
- Giới hạn trên của MNDBT phụ thuộc vào các yếu tố:
+Điều kiện địa chất tuyến xây dựng công trình
+Điều kiện địa hình ngập lụt và tình hình dân sinh kinh tế
+Các yếu tố về văn hoá xã hội
Trên cơ sở phạm vi giới hạn MNDBT, ta định ra hàng loạt phương án MNDBT chênh nhau khoảng Δh = (2 ÷ 5) m Tiến hành tính toán với từng phương án MNDBT cụ thể, xác định các thông số: Công suất bảo đảm (Nbđ), Công suất lắp máy (Nlm), điện lượng bình quân nhiều năm (Enn) cho mỗi phương án Tính chênh lệch công suất ΔN và điện lượng cho từng phương án
- Xác định lợi ích tăng thêm cho các ngành lợi dụng tổng hợp của mỗi phương án
Trang 18- Xác định phần chi phí tăng thêm ΔC do tăng MNDBT bao gồm cả tri phí vận hành, chi phí đền bù ngập lụt
- Tính lợi ích về mặt kinh tế do công trình mang lại sau khi có kết quả tính toán cho các phương án sẽ phân tích so sánh và chọn ra phương án hợp lý nhất Việc tính toán như vậy đòi hỏi phải có nhiều thời gian và đầy đủ các tài liệu như định mức, đơn giá và các chỉ tiêu cần thiết Trong thiết kế sơ bộ do thời gian có hạn, tài liệu không đầy đủ nên tôi không thực hiện việc tính toán
để xác định MNDBT mà được giao cho thiết sơ bộ TTĐ H4 với MNDBT=
- Phần dung tích nằm dưới MNC gọi là dung tích chết (Vc)
- Phần dung tích nằm giữa MNDBT và MNC được gọi là dung tích hữu ích của hồ chứa (Vhi)
Đối với mỗi phương án MNDBT thì vấn đề đặt ra là nên chọn độ sâu công tác (hct) là bao nhiêu là có lợi nhất
Để xác định độ sâu công tác có lợi của hồ chứa được thỏa đáng ta tiến hành xem xét kỹ hơn về mối quan hệ N = φ(hct), E = f (hct) Ta biết rằng điện lượng (hoặc công suất) mùa kiệt một phần do lượng nước không trữ (lưu lượng thiên nhiên) và một phần do lượng nước trữ trong dung tích có ích của
hồ tạo thành
Emk = Ektr + Eh
Ektr sẽ giảm khi độ sâu công tác của hồ tăng Quan hệ biến đổi này gần như tuyến tính, cứ tăng độ sâu công tác thêm một mét thì phần năng lượng này sẽ giảm một trị số gần bằng nhau
Trang 19Eh biến đổi phức tạp hơn khi hct thay đổi Độ sâu công tác càng lớn thì khả năng cung cấp nước của dung tích có ích càng lớn và cột nước trung bình mùa kiệt càng giảm Vì vậy hct càng lớn mức độ tăng của Eh càng ít
Vì thế trong giai đoạn đầu, khi độ sâu công tác (hct) tăng thì điện lượng mùa kiệt cũng tăng, nhưng nếu tiếp tục tăng hct đến một trị số nào đó, ta sẽ có trị số Emk lớn nhất, sau đó tiếp tục tăng hct, thì trị số Emk sẽ giảm vì phần điện lượng tăng thêm do tăng lưu lượng điều tiết không kịp bù lại phần điện lượng mất đi do cột nước giảm
Trị số hct khi Emk đạt tới trị số lớn nhất gọi là độ sâu công tác có lợi nhất
Nếu lượng nước không trữ trong mùa kiệt càng lớn thì độ sâu công tác
có lợi của hồ chứa càng nhỏ.(Hình vẽ)
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào điện lượng mùa kiệt để xác định độ sâu công tác có lợi nhất thì chưa hẳn đã hợp lý mà còn phải xem xét diễn biến của điện lượng năm
Trong thời kỳ trữ nước do mực nước trong hồ thấp nên khả năng phát điện bị hạn chế Bởi vậy khi tăng độ sâu công tác của hồ, điện lượng năm sẽ tăng không đáng kể so với điện lượng mùa kiệt Vì vậy, trị số điện lượng năm lớn nhất sẽ xuất hiện khi hct nhỏ hơn so với hct cho Emk lớn nhất
Mặt khác, nếu dưới TTĐ thiết kế có một số TTĐ nằm trong hệ thống bậc thang thì độ sâu công tác của hồ chứa trên càng lớn càng làm tăng sản lượng điện ở các trạm dưới Vì vậy độ sâu công tác có lợi nhất của hồ đang
E
h
h h
E
E
E
E E
(2) (1)
0
(1) (2)
ct ct