1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình tâm lý học xã hội

254 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 5,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tâm lý xã hội nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa tâm lý chung của nhóm, tập thể với tâm lý cá nhân, làm rõ biểu hiện đặc thù của cơ chế tâm lý xã hội trong hoạt động và trong các nhó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH

TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Những vẫn đề chung của Tâm lý học tâm lý học xã hội 3

I Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học xã hội 3

II Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của tâm lý

học xã hội

15

Chương 2 Hiện tượng tâm lý xã hội, quy luật và cơ chế hình thành 36

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Tâm lý học xã hội là một phân ngành còn non trẻ của khoa học tâm lý, nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội nhằm phát hiện các quy luật nảy sinh, hình thành và phát triển của chúng Tâm lý xã hội nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa tâm lý chung của nhóm, tập thể với tâm lý cá nhân, làm rõ biểu hiện đặc thù của cơ chế tâm lý xã hội trong hoạt động và trong các nhóm xã hội Trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò quan trọng của ngành khoa học này nên tâm lý xã hội được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi trên mọi mặt của đời sống xã hội Khi hiểu được thấu đáo tâm lý dân tộc, tâm lý của các thành phần xã hội; nắm bắt kịp thời những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, tâm trạng và dư luận xã hội trước những vấn đề đang diễn ra là cơ sở

để Đảng, Nhà nước và các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đề ra được những chủ trương, đường lối đúng đắn nhằm giải quyết một cách có hiệu quả những vấn

đề đang diễn ra, góp phần vào sự thành công của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đặc biệt, đối với những người làm trong lĩnh vực bảo vệ pháp luật, những tri thức của tâm lý học xã hội giúp cho họ nâng cao hiệu quả hoạt động trong phòng ngừa, đấu tranh tội phạm góp phần giữ vững an ninh quốc gia và đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Giáo trình Tâm lý học xã hội dành cho sinh viên ngành Luật được biên soạn dựa trên cơ sở những tri thức tâm lý xã hội, có sự kế thừa những cuốn giáo trình, sách tâm lý xã hội trước đó Giáo trình cũng được cập nhật những kiến thức mới cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo sinh viên ngành Luật của Trường Đại học Mở Hà Nội Nội dung của Giáo trình Tâm lý học xã hội gồm 6 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung của tâm lý học xã hội,

Chương 2: Hiện tượng tâm lý xã hội, quy luật và cơ chế hình thành,

Chương 3: Nhóm xã hội,

Chương 4: Đám đông

Chương 5: Giao tiếp và mạng giao tiếp,

Trang 5

Chương 6: Nhân cách trong tâm lý học xã hội

Trong quá trình biên soạn, tác giả có những cố gắng nhằm đảm bảo chất lượng của giáo trình, tranh thủ những đóng góp ý kiến của các nhà khoa học đã và đang giảng dạy Tâm lý học xã hội ở một số trường đại học Song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả xin chân thành cảm ơn và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp mới để giáo trình ngày cang hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ

Trang 6

Chương này được cấu trúc thành 3 phần:

I Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học xã hội

II Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên của tâm lý học xã hội

III Bản chất, phân loại các hiện tượng tâm lý học xã hội

MỤC TIÊU

Nghiên cứu xong chương này, sinh viên sẽ:

- Hiểu được lịch sử hình thành và phát triển của Tâm lý học xã hội;

- Phân tích được đối tượng, nhiệm vụ và ý nghĩa của tâm lý học xã hội;

- Phân tích được bản chất của các hiện tượng tâm lý xã hội;

- Phân biệt được hiện tượng tâm lý cá nhân với hiện tượng tâm lý xã hội;

- Vận dụng được những phương pháp nghiên cứu của tâm lý học xã hội vào việc nghiên cứu đời sống tâm lý con người

I SƠ LƢỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

1 Những tiền đề nảy sinh Tâm lý học xã hội

Xã hội loài người hình thành từ khi con người cùng sống, cùng lao động và giao tiếp với nhau trong các cộng đồng Trong quá trình lao động và sinh hoạt cùng nhau, đã nảy sinh những hiện tượng tâm lý chi phối hành vi, cử chỉ của mỗi người Chẳng hạn, các lễ nghi, các điều cấm kỵ, tập tục điều chỉnh hành vi

và điều chỉnh mối quan hệ giữa các cá nhân với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Bằng kinh nghiệm, con người đã ý thức được và vận dụng những hiện tượng tâm lý ấy vào đời sống xã hội

Trang 7

Ngay từ thời cổ đại, các triết gia duy tâm và duy vật đã có những quan điểm đối lập nhau về vấn đề cá nhân và xã hội Platon (428 - 347 TCN) đã quan tâm đến mối liên kết và quan hệ giữa các cá nhân Ông cho rằng, xã hội là trung tâm trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội; xã hội được xem như đối tượng độc lập còn cá nhân là đối tượng biến thiên phụ thuộc Aristote (384 - 322 TCN) lại coi cá nhân là nguồn gốc của mọi hình thái xã hội, bên trong cá nhân chứa đựng sẵn những xu hướng tương ứng Platon đã chỉ ra ảnh hưởng của các cá nhân đến sự ổn định của Nhà nước và cho rằng chính sự cân bằng của cá nhân tạo nên

sự ổn định xã hội Theo Platon, trong xã hội có ba kiểu nhân cách cơ bản: Những người luôn cố gắng làm vừa lòng người khác; những người say sưa theo đuổi quyền lực và sự nổi danh; những người luôn khao khát hiểu biết Mỗi kiểu nhân cách trên phản ánh một trong ba mức độ đặc thù của bản chất tình cảm, ý chí và trí tuệ con người Platon đã phát triển quan điểm về sự phân tầng xã hội

mà ở đó phản ánh quan hệ của các kiểu loại nhân cách đối với các giai cấp xã hội, nơi cá nhân sống và hoạt động

St.Augustine (354 - 430) đưa ra học thuyết về xã hội và cá nhân Đây là tư tưởng có quan hệ sâu sắc với tâm lý học xã hội hiện đại, đặc biệt là vấn đề về sự

liên kết của con người Trong tác phẩm “Thế giới của Chúa”, ông cho rằng xã

hội loài người kể từ khi Adam mắc sai lầm đã trở thành hai xã hội: một xã hội của Chúa, một xã hội trần gian và rằng từ xã hội của Chúa có ảnh hưởng đến cuộc sống thực tiễn ở trần gian Theo St Augustine, cá nhân không chỉ có quan

hệ tương tác với cá nhân mà còn có quan hệ tương tác với Chúa Như vậy, mối quan hệ xã hội đã bị tác động của quan hệ giữa cá nhân và Chúa

Những quan điểm về cá nhân và xã hội của St Augustine cũng như của các linh mục Công giáo đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến các quan điểm

về xã hội và về tâm lý xã hội của các nhà tư tưởng sau này Chẳng hạn, St.Thomas, đã nhấn mạnh mối quan hệ của con người đối với Chúa và các quan

hệ liên nhân cách chỉ có thể thực hiện qua ánh sáng của quan hệ giữa Chúa và con người Các nhà tâm lý học xã hội hiện đại cũng đã quan tâm và phát triển ý

Trang 8

tưởng về sự tương tác liên nhân cách trên đây, nhưng không phải qua quan hệ với Chúa mà chỉ dựa trên quan hệ người - người

Các học thuyết về “Sự thỏa thuận xã hội” do T Hobber (1588 - 1679), J

Locke (1632 - 1704) và J J Rousseau (1712 - 1778) đã chỉ rõ sự ảnh hưởng giữa các cá nhân trong mối tương tác liên nhân cách Cũng giống như T Hobber, J J Rousseau đã bắt đầu bằng việc tìm hiểu những bản năng hành vi của con người, sau đó nghiên cứu mối tương tác giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội Ông chỉ ra trật tự xã hội là điều bất khả xâm phạm Nó được xây dựng trên cơ sở lợi ích của đa số mọi người Cái trật tự này không thể bắt nguồn

từ bản năng của con người mà cần được xây dựng trên sự thỏa thuận Quan điểm này được được tâm lý học xã hội rất quan tâm Có thể nói, ba tác giả trên là những người mở đường tiêu biểu của tâm lý học xã hội theo chủ nghĩa nhân văn Georger W.F Hegel (1770 - 1831), người có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng tiền đề triết học của sự hình thành tâm lý học xã hội Ông đã đưa

ra quan điểm về mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân, phản đối sự phóng đại và

đề cao chủ nghĩa cá nhân Quan điểm của ông về mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân, về tự do cá nhân không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của triết học mà còn ảnh hưởng to lớn đến sự ra đời của tâm lý học xã hội

2 Tâm lý học xã hội trở thành một khoa học độc lập

Tâm lý học trở thành khoa học độc lập không phải trực tiếp từ triết học mà dựa trên cơ sở các thành tựu của nhiều ngành khoa học nhân văn, đặc biệt là xã hội học và tâm lý học Ở đây có ba vấn đề chính cần quan tâm, đó là: nhu cầu giải quyết các vấn đề tâm lý học xã hội phát sinh giữa ranh giới của các khoa học khác nhau; quá trình chuẩn bị để hình thành những đặc trưng cho tâm lý học

xã hội trong lòng hai khoa học (tâm lý học và xã hội học) và cuối cùng là những hình thức đầu tiên của tâm lý học xã hội với tư các là một khoa học độc lập Vào giữa thế kỷ XIX, có một bước tiến đặc biệt trong sự phát triển của nhiều ngành khoa học, nhất là các khoa học có liên quan trực tiếp tới các mặt khác nhau của đời sống xã hội Thời kỳ này, chủ nghĩa tư bản đang phát triển,

Trang 9

những quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng được mở rộng Những vấn đề cấp bách được đặt ra, như: Sự giao lưu ngôn ngữ, sự giao tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các dân tộc… và dẫn đến những mối liên quan giữa ngôn ngữ với những yếu tố tâm lý của các dân tộc Bên cạnh đó, các vấn đề, các hiện tượng mang tính chất xã hội phát sinh ngày càng nhiều, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, giải thích Như vậy, nhu cầu thực tiễn đã dần dần làm hiện rõ đối tượng của một ngành khoa học mới, khoa học về tâm lý xã hội

Vào nửa sau thế kỷ XIX, khi tâm lý học trở thành một khoa học độc lập thì đồng thời ngành tâm lý học xã hội cũng xuất hiện Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang đi lên và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Do lực lượng sản xuất phát triển mạnh, nhất là ở châu Âu, giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng quần chúng đông đảo với sức mạnh to lớn Mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản ngày càng gay gắt dẫn đến việc nổ ra nhiều cuộc bãi công, biểu tình, mít tinh

và cũng xuất hiện những hiện tượng xã hội mới không thể không xem xét, nhất

là đối với giai cấp thống trị lúc bấy giờ Sự cần thiết phải nghiên cứu các hiện tượng xã hội này đã thúc đẩy môn xã hội học và tâm lý học xã hội ra đời

Từ những tri thức ban đầu về mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và xã hội;

về bản chất tâm lý của tinh thần, ý thức dân tộc cũng như hành vi của nó; về hành vi bản năng xã hội…đã hình thành các lý thuyết về tâm lý dân tộc, tâm lý đám đông, lý thuyết về các bản năng xã hội Có thể nói, đây là những hình thức

lý luận đầu tiên của tâm lý học xã hội Trong đó, tâm lý học dân tộc, một trào lưu nghiên cứu tâm lý xã hội chủ yếu xuất hiện ở Đức; tâm lý học đám đông, lý thuyết này phát triển mạnh ở Pháp, Ý và lý thuyết về các bản năng của hành vi

xã hội, xuất hiện ở Anh, Mỹ Trong tâm lý học dân tộc, xã hội được coi là hàng đầu, còn trong tâm lý học đám đông và lý thuyết bản năng của hành vi thì ngược lại Cả hai quan điểm này còn tiếp tục phát triển ở các giai đoạn sau trong lịch sử quá trình phát triển của tâm lý học xã hội

Tâm lý học dân tộc

Vào thế kỷ XVIII, XIX, dân tộc tư sản đã hình thành ở nhiều nước, do đó

Trang 10

việc nghiên cứu tâm lý dân tộc cũng trở nên cấp thiết Tâm lý học dân tộc được hình thành ở Đức vào giữa thế kỷ XIX, được coi là một trong những hình thức

lý luận đầu tiên của tâm lý học xã hội Tâm lý học dân tộc coi trọng yếu tố xã hội trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Tâm lý học dân tộc cho rằng, trong một xã hội tồn tại một tinh thần siêu cá nhân nào đó phụ thuộc vào chỉnh thể siêu cá nhân Các chỉnh thể này là nhân dân hay dân tộc Quan điểm này đã tuyệt đối hóa các mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội và sự tuyệt đối hóa này gắn với dân tộc

M Lazarus (1824 - 1913) và H Steithal (1823 - 1893) là những người trực

tiếp sáng lập ra tâm lý học dân tộc Trong các công trình nghiên cứu: "Những

suy luận bước đầu về tâm lý học dân tộc", "Tạp chí tâm lý học dân tộc và ngôn ngữ học" đã thể hiện cương lĩnh và nhiệm vụ của tâm lý học dân tộc Đó là phải

nhận thức bản chất tâm lý của tinh thần dân tộc và hành động của nó; khám phá những quy luật chi phối hoạt động tinh thần của dân tộc; những cơ sở của sự xuất hiện, phát triển và biến mất những đặc điểm tiêu biểu cho dân tộc Tuy nhiên, sau đó không còn có những công trình nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này W.Wundt (1832 - 1920), người sáng lập phòng tâm lý học đầu tiên trên thế

giới Từ năm 1900 đến năm 1920, hoàn thành cuốn "Tâm lý học dân tộc" gồm

10 tập, trong đó ông đưa ra quan điểm: Không nên nghiên cứu con người như một cá thể đơn lẻ, biệt lập mà cần phải nghiên cứu con người trong những mối quan hệ của con người Theo ông, có nhiều lý do để nói rằng tâm lý học xã hội

là một phân ngành của khoa học tâm lý Ông là người tiếp tục thực hiện những

cố gắng trước đó của M.Lazarus và H.Steinthal để thành lập tâm lý học dân tộc

Trong cuốn "Tâm lý học dân tộc", W.Wundt đã phát triển tư tưởng của tâm lý

học dân tộc và cho rằng tâm lý học cần có hai phần: Tâm lý học sinh lý và tâm

lý học dân tộc Theo ông, tâm lý học dân tộc phải được áp dụng các phương pháp nghiên cứu sản phẩm văn hóa, như: ngôn ngữ nghệ thuật, thần thoại; phong tục, tập quán Tâm lý học dân tộc, theo quan điểm của W.Wundt chỉ có tính chất mô tả chứ không phát hiện các quy luật

Trang 11

Tuy rằng phương pháp tiếp cận giữa M.Lazarus, H.Steinthal, W.Wundt có khác nhau, song họ đều có chung quan điểm về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dân tộc là những hiện tượng bắt nguồn từ ý thức dân tộc chứ không phải trong ý thức cá nhân

Tâm lý học đám đông

Vào giữa thế kỷ XIX, do giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng xã hội thực sự đông đảo, nổi lên như một lực lượng cách mạng, tiến bộ Nhiều cuộc biểu tình, bãi công, mít tinh do những người lao động tiến hành, đã gây cho giai cấp tư sản nhiều lo lắng Có những hiện tượng tâm lý mới như: sự bắt chước, sức mạnh cuồng nhiệt của đám đông, sự lây lan tâm lý, sự hoảng loạn khiến giai cấp tư sản thấy cần phải nghiên cứu để tìm cách đối phó, xử lý các cuộc biểu tình, mít tinh của quần chúng lao động nhằm phục vụ cho sự thống trị của chúng

Một trong những người sáng lập ra học thuyết về tâm lý đám đông là

G.Tard (1843 - 1904) Năm 1890, G.Tard cho xuất bản cuốn "Những quy luật

của sự bắt chước" Cuốn sách có thể xem là bước chuẩn bị cho sự hình thành

học thuyết về đám đông Trong cuốn sách này, ông đã giải thích cơ sở xã hội của sự tương tác giữa các cá nhân Ông cũng chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm mới về sự tương tác G.Tard cho rằng, hành vi xã hội không có cách giải thích nào khác là do "bắt chước", toàn bộ sinh hoạt xã hội phải phục tùng "bản năng bắt chước" có sẵn trong bản tính con người Nhân dân chỉ là công cụ đơn giản cho ý chí của người khác và không thể có tinh thần sáng tạo Và quần chúng cần có tầng lớp thượng lưu lãnh đạo Quan điểm về sự bắt chước của G.Tard đã chú ý tới yếu tố phi lý của hành vi xã hội nên đã đạt kết quả hơn Chính điều này là tiền đề dẫn tới hình thành tâm lý học xã hội

S Sighen (1878 - 1931), người Ý, trong khi nghiên cứu về các vụ án hình

sự đã chú ý tới thời điểm bị kích động khi con người ở trong đám đông Theo ông, ở vào tình huống này, năng lực điều khiển hành vi một cách có ý thức và có

lý trí bị mất đi, hành động diễn ra trong trạng thái bị kích động và theo quan

Trang 12

điểm của luật pháp thì những trường hợp như vậy phải được giảm nhẹ tội

Sau G Tard và S Sighen, G LeBon (1841 - 1939), người Pháp, đã đi sâu nghiên cứu tâm lý của đám đông quần chúng G LeBon tiếp tục làm sáng tỏ thêm những quan điểm của S Sighen về hiện tượng tâm lý của con người trong đám đông, mặt khác cũng bị ảnh hưởng bởi tâm lý học xã hội của G Tard Cùng với S Sighen, G LeBon nghiên cứu hành vi của các cá nhân trong đám đông hành động Họ cho rằng, nhiều người tụ tập lại thành đám đông và đặc điểm của đám đông là mọi người mất đi năng lực quan sát và sự phê phán Hành vi của họ thoát khỏi cá tính dẫn đến những xung động, những phản ứng bản năng Trong

họ, tình cảm chiếm ưu thế hoàn toàn, trí tuệ mù mờ, mất tinh thần trách nhiệm,

cá nhân không làm chủ được bản thân mình, bị kích động Từ đó, G LeBon cho rằng, đám đông về bản chất là hỗn loạn, cần phải có lãnh tụ thuộc về tầng lớp thượng lưu điều khiển

Về mặt lý luận, tâm lý học đám đông đã đặt ra vấn đề về mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và xã hội Tuy nhiên, cách giải quyết về mối quan hệ này lại không có đầy đủ cơ sở Bởi vậy, ý nghĩa của nó đối với tâm lý học xã hội là không nhiều Mặt khác, tâm lý học đám đông mang mầu sắc giai cấp sâu sắc Ẩn sau lý thuyết về đám đông, các học giả tư sản biện hộ cho các hành động phản động của mình, chống lại các cuộc nổi dậy của quần chúng, giải thích nó như là

sự phi lý của quần chúng Họ cũng sử dụng các lý thuyết về đám đông để chứng minh rằng giai cấp vô sản là một đám đông vô tổ chức, vô kỷ luật, không có khả năng quản lý mà chỉ có giai cấp tư sản mới là tầng lớp ưu tú, có tổ chức và biết quản lý xã hội

Lý thuyết về hành vi bản năng

Đây là lý thuyết do nhà tâm lý học người Anh, W McDougal (1871 -

1938) đề xướng Năm 1908, trong tác phẩm "Nhập môn tâm lý học xã hội", W

McDougal trình bày một cách có hệ thống động lực chi phối hành vi con người, nhất là các hành vi xã hội của nó Theo ông, nguyên nhân của các hành vi xã hội

là các bản năng bẩm sinh mà sau này ông gọi là các xu hướng, ý hướng Ở mỗi

Trang 13

người, các bản năng xuất hiện như kết quả của trạng thái tâm - vật lý, những đường kênh được xác định theo di truyền dùng để giải tỏa năng lượng thần kinh Những đường kênh, hay còn gọi là bản năng, bao gồm: bộ phận cảm thụ (tiếp nhận, tri giác); bộ phận trung tâm (cảm xúc); bộ phận vận động (phản ứng) Như vậy, vô thức là khởi điểm của mọi hành vi mà biểu hiện bên trong của nó là cảm xúc Mối liên hệ giữa bản năng và cảm xúc mang tính hệ thống và xác định Theo W McDougal, con người có những cặp bản năng và cảm xúc sau: bản năng đấu tranh - cảm xúc tức giận, sợ hãi; bản năng xây dựng - cảm xúc sáng tạo; bản năng chạy trốn - tình cảm bảo vệ; bản năng duy trì nòi giống - tình cảm ghen tuông; bản năng bầy đàn - tình cảm trong các nhóm… Từ các bản năng nảy sinh ra các thể chế xã hội, các quá trình xã hội hóa khác nhau và nảy sinh ra chiến tranh W McDougal cũng đã chỉ ra vai trò của sự bắt chước trong việc lý giải sự thống nhất về hành vi giữa các thành viên trong nhóm xã hội Lý thuyết của W McDougal thể hiện khuynh hướng vận dụng máy móc phương pháp tiếp cận của C.Darwin trong quá trình nghiên cứu các hiện tượng xã hội và

do đó đã làm mất ý nghĩa khoa học của nó

Tóm lại, các lý thuyết trên đây tuy có những hạn chế nhất định do không xuất phát từ phương pháp luận đúng đắn, nhưng đều có ý nghĩa tích cực ở chỗ

đã đặt ra những vấn đề quan trọng cần giải quyết, như: mối quan hệ giữa ý thức

cá nhân và nhóm; động lực thúc đẩy hành vi xã hội Các học thuyết tâm lý học này đã góp phần hình thành ngành tâm lý học xã hội tư sản

Cũng trong năm 1908, E.A Ross (1866 - 1951) đã cho xuất bản tại New

York cuốn sách giáo khoa đầu tiên về tâm lý học xã hội, có tên là "Tâm lý học

xã hội" Cuốn sách dựa trên cơ sở và kết hợp giữa hai khoa học: Tâm lý học và

xã hội học mà một trong những vấn đề chính được đề cập trong đó là sự bắt chước được hình thành, phát triển và thực hiện như thế nào Trong tác phẩm của mình, E.A Ross đã sử dụng hiện tượng bắt chước để giải thích sự thay đổi tư tưởng, thói quen và quan điểm giữa các thành viên trong các nhóm xã hội Ông cũng tìm hiểu mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trên cả khía cạnh tập thể lẫn

Trang 14

khía cạnh cá nhân; vai trò của xã hội và vai trò của cá nhân Theo ông, vai trò của xã hội thể hiện qua nhóm ảnh hưởng đến cá nhân, còn vai trò của cá nhân thể hiện qua tác động của cá nhân đến nhóm

Như vậy, cùng với tác phẩm “Nhập môn tâm lý học xã hội” của W McDougal, cuốn sách “Tâm lý học xã hội” của E.A Ross đã đặt dấu mốc khẳng

định sự ra đời của tâm lý học xã hội với tư cách là một khoa học độc lập Kể từ

đó đến nay, tâm lý học xã hội đã có lịch sử phát triển gần một thế kỷ với những đóng góp to lớn vào sự phát triển nói chung của các ngành khoa học nhân văn và khoa học tâm lý nói riêng

Sự ra đời tâm lý học xã hội xôviết: Sau cách mạng tháng 10 Nga, ở Liên

Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã hình thành và phát triển ngành tâm lý học xã hội dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Ban đầu, một số nhà khoa học cho rằng, không cần phải có bộ môn khoa học này vì

đã có chủ nghĩa duy vật lịch sử Quan niệm này đã đồng nhất tâm lý học xã hội với chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã lẫn lộn cơ sở triết học, phương pháp luận của khoa học này với việc nêu lên những vấn đề khoa học bộ phận có tính chất riêng biệt của nó

Một số nhà khoa học khác, nhất là các nhà xã hội học, lại cho rằng, cần phải xây dựng và phát triển ngành tâm lý học xã hội, nhưng lại đòi hỏi phải giải quyết cả những vấn đề thuộc xã hội học, khoa học tổ chức, giáo dục Ngược lại, cũng có quan điểm thu hẹp phạm vi nghiên cứu của tâm lý học xã hội, coi tâm lý học xã hội chỉ là một lĩnh vực cần thiết đặt nền móng cho khoa học quản

lý mà thôi

Tâm lý học xôviết coi đối tượng của tâm lý học xã hội là hành vi và hoạt động của con người cũng như những đặc điểm tâm lý của chính các nhóm xã hội Từ đó, trong quá trình phát triển của mình, tâm lý học xã hội xôviết đi theo hai hướng chính: những nghiên cứu lý thuyết cơ bản và những nghiên cứu phục

vụ thực tiễn Về lý thuyết, các nhà tâm lý học xôviết đã đạt được những thành tựu trên các lĩnh vực như: lý thuyết về mối quan hệ liên nhân cách; lý thuyết về

Trang 15

nhóm và những nghiên cứu về nhân cách Về thực tiễn, tâm lý học xã hội xôviết

đi sâu nghiên cứu ứng dụng các tri thức về tâm lý xã hội trong sản xuất; các vấn

đề tâm lý xã hội của hoạt động tuyên truyền, thông tin đại chúng; nghiên cứu trong lĩnh vực phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các nghiên cứu, tư vấn cho những vấn đề tâm lý gia đình…

Qua gần một thế kỷ phát triển, tâm lý học xã hội phát triển theo hai xu hướng: xu hướng của các nhà tâm lý học phương Tây và xu hướng của các nhà tâm lý học xôviêt Mặc dù có những điểm chung là đều nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của con người trong môi trường xã hội song cách tiếp cận của hai xu hướng này có những điểm khác nhau cơ bản Tâm lý học xôviêt chú ý nhiều đến việc nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của nhóm, đặc biệt là tâm lý của giai cấp, tập thể - một loại nhóm phát triển ở mức độ cao Trong khi đó, tâm lý học xã hội phương Tây lại quan tâm nhiều hơn đến đến việc nghiên cứu kinh nghiệm và hành vi xã hội của con người, coi hành vi xã hội của con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội Các nhà tâm lý học xã hội Xôviết chú trọng nhiều đến việc nghiên cứu lý luận và ở một góc độ nào đó có thể coi những nghiên cứu của họ mang tính hàn lâm hơn là tính thực tiễn của đời sống xã hội Còn ở phương Tây, các nhà tâm lý học xã hội lại chú ý nhiều hơn đến những vấn đề tâm lý xã hội xuất hiện trong thực tiễn của đời sống xã hội Đó là những vấn đề, những hiện tượng tâm lý xã hội nảy sinh từ thực tế cuộc sống Ở đây, các nhà tâm lý học xã hội nghiên cứu, tìm hiểu sự thể hiện hành vi xã hội trong các mặt của đời sống xã hội Chẳng hạn như: Vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo, vấn đề tội phạm, bạo lực, nghiện hút, hành vi lệch chuẩn; vấn đề thích nghi xã hội; vấn đề quản lý xã hội và quản lý trong kinh doanh Những nghiên cứu này xuất phát từ đòi hỏi và từ những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Do vậy, trong các nghiên cứu của tâm lý học xã hội phương Tây, tính thực tiễn được đề cao và thể hiện rõ hơn

Ở nước ta, tâm lý học xã hội vẫn còn là một ngành khoa học non trẻ Trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò quan trọng của ngành khoa học

Trang 16

này nên tâm lý học xã hội được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi trên mọi mặt của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Nó được vận dụng trong quản lý sản xuất, kinh doanh; trong thông tin, tuyên truyền; trong giáo dục

và y tế… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trên các lĩnh vực này Những kết quả nghiên cứu về tâm lý xã hội cũng được đưa vào chương trình giảng dạy tại một số trường đại học phục vụ nghiên cứu và học tập ở các bậc học khác nhau

3 Mối quan hệ của Tâm lý học xã hội với các ngành khoa học khác

a Mối quan hệ của tâm lý học xã hội với nhân chủng học

Nhân chủng học là khoa học về con người, nghiên cứu về sự phân bố, nguồn gốc, phân loại chủng tộc con người; nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội; các đặc điểm sinh lý và văn hóa của con người

Nhân chủng học có vai trò quan trọng đối với tâm lý học xã hội Những tri thức của khoa học này giúp cho tâm lý học xã hội lý giải đúng đắn về sự tác động đa dạng của hành vi con người từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác Các nhà tâm lý hóc xã hội không thể hiểu được đầy đủ hành vi xã hội của cá nhân nếu không nhận thức được sự ảnh hưởng của nền văn hóa đến hành vi cá nhân của con người

b Mối quan hệ của tâm lý học xã hội với kinh tế học

Kinh tế học là một lĩnh vực khoa học có quan hệ chặt chẽ với tâm lý học xã hội Những chính sách kinh tế chỉ có hiệu quả khi chúng được dựa trên các kết quả nghiên cứu về con người

Trong bố cảnh nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tâm lý học xã hội phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề tâm lý trong lĩnh vực kinh tế Chẳng hạn như tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, năng lực uy tín của người giám đốc doanh nghiệp, thị hiếu người tiêu dùng…Giải quyết được vấn đề này từ góc độ tâm lý học xã hội sẽ có đóng góp to lớn vào việc nâng cao hiệu quả các hoạt động này

c Mối quan hệ của tâm lý học xã hội với tội phạm học

Tâm lý học xã hội và tội phạm học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tội

Trang 17

phạm học nghiên cứu về tỷ lệ, hình thức, nguyên nhân và hậu quả của tội phạm cũng như những phản ứng của xã hội đối với tội phạm Những vấn đề tâm lý xã hội như tác động của cơ chế tâm lý xã hội trong quan hệ liên nhân cách (bắt chước, lây lan, đồng hóa, ám thị), ảnh hưởng của nhóm chính thức và nhóm không chính thức đến cá nhân…là cơ sở để các nhà nghiên cứu về tội phạm lý giải hành vi phạm tội nói riêng và hành vi lệch chuẩn của con người nói chung

Sự giải thích về vấn đề tội phạm chắc chắn phải dựa trên sự phân tích có tính chất kết hợp giữa nhân cách và môi trường Các nhà Tâm lý học xã hội giúp các nhà tội phạm học nghiên cứu những phương pháp tốt hơn để ngăn ngừa tình trạng phạm tội và hạn chế xung đột giữa những người phạm tội và những người thực thi pháp luật

d Mối quan hệ của tâm lý học xã hội với xã hội học và tâm lý học

Theo Jack.H Curtis, tâm lý học xã hội được hình thành trên cơ sở của hai khoa học: Tâm lý học và xã hội học1 Xã hội học là khoa học về xã hội, về các tổ chức và quan hệ xã hội Xã hội học nghiên cứu một cách có hệ thống về cấu trúc, chức năng và sự phát triển của các nhóm xã hội, trong đó có các kiểu loại hành vi tập thể Thành tựu nghiên cứu của các nhà xã hội học có giá trị to lớn đối với các nhà tâm lý học xã hội trong việc lý giải hành vi xã hội của con người Các nhà xã hội học nghiên cứu mô hình cuộc sống của nhóm, mối liên hệ giữa các nhóm, còn các nhà tâm lý học nghiên cứu bản chất các hiện tượng tâm

lý con người, các quy luật và cơ chế phát sinh, phát triển tâm lý tâm lý con người trong môi trường xã hội Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa tâm lý học xã hội với tâm lý học và xã hội học bằng sơ đồ 1:

Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa tâm lý học xã hội với tâm lý học và xã hội học

1

Tâm lý học xã hội

Trang 18

II ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tƣợng nghiên cứu

Xác định đối tượng nghiên cứu là nhiệm vụ đầu tiên của bất kỳ ngành khoa hoc nào bởi đây là tiêu chuẩn đầu tiên để khẳng định sự tồn tại và độc lập của khoa học đó Thực tế cho thấy, đã có lúc người ta phủ nhận sự tồn tại của Tâm

lý học xã hội với tư cách là một chuyên ngành tâm lý học bằng cách hòa nó vào các khoa học khác

Trong cuộc sống xã hội, con người luôn là thành viên của một nhóm xã hội nào đó Họ luôn có quan hệ tương hỗ, tác động qua lại với nhau để thực hiện những hoạt động chung tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các nhóm người cũng như của mỗi cá nhân trong môi trường xã hội Trong môi trường xã hội sống chung đó, họ thường có những phản ứng tâm lý giống nhau đáp ứng với tác động của môi trường xã hội bên ngoài Sự biểu hiện tâm lý thống nhất của các thành viên trong một nhóm xã hội nào đó được gọi là các hiện tượng tâm lý xã hội

Chẳng hạn, một nhóm sinh viên năm cuối thường có biểu hiện băn khoăn,

lo lắng với nghề nghiệp sau khi ra trường Chúng ta có thể thấy, lúc đầu một số sinh viên không có tâm trạng này nhưng rồi mối quan hệ qua lại giữa các sinh viên với nhau sẽ làm lây lan trạng thái tâm lý này tới các sinh viên khác Cuối cùng toàn bộ sinh viên trong lớp đó, ngành học đó sẽ có những biểu hiện giống nhau là sự lo lắng, băn khoăn cho tương lai Trong cuộc sống xã hội thường nảy sinh và tồn tại nhiệu hiện tượng tâm lý xã hội khác nhau như tình thương yêu của mọi người đối với trẻ tàn tật, nghèo khổ, không nơi nương tựa; lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng; sự căm phẫn của mọi người đối với hiện tượng tham nhũng; sự căm phẫn của người dân đối với hành vi tàn ác của người phạm tội Những hiện tượng trên là những hiện tượng tâm lý chung của nhiều người, của nhóm xã hội đối với các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội Đó là các hiện tượng tâm lý xã hội – đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học xã hội Tuy nhiên, trong lịch sử tâm lý học xã hội có nhiều quan điểm khác nhau

Trang 19

về đối tượng nghiên cứu của ngành tâm lý học này, cụ thể:

- Các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng, đối tượng nghiên cứu của tâm

lý học xã hội là hành vi của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh và môi trường xã hội Tuy nghiên cứu hành vi xã hội nhưng các quan điểm không hoàn toàn đồng nhất với nhau2

+ Jones và Gerard nhấn mạnh đến sự tác động của hành vi cá nhân đến các

cá nhân khác trong các mối quan hệ xã hội

+ M Sherif, C.W Sherif cho rằng: Tâm lý xã hội là khoa học nghiên cứu những kinh nghiệm xã hội và hành vi của cá nhân trong mối quan hệ với các tình huống kích thích xã hội

+ D.Krech, R.S Crutchfield nhấn mạnh đến sự quy định xã hội đến hành vi

+ V.N.Covanovxki, A.I.Copsoxon, A.G.Covaniov cho rằng, đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội là những hiện tượng tâm lý của một nhóm người, của tập thể

+ B.D Parughin, N.X.Manxurov là sự kết hợp của hai quan điểm trên, cho rằng tâm lý học xã hội nghiên cứu tâm lý của nhóm người và đặc điểm tâm

Trang 20

tác giả này vẫn là việc nghiên cứu về tâm lý của cá nhân trong mối quan hệ với các cá nhân khác làm nảy sinh những hiện tượng tâm lý chung của nhiều người

Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học xã hội là những hiện tượng tâm lý chung của nhóm xã hội, những quy luật, cơ chế hình thành, biểu hiện của các hiện tượng tâm lý xã hội và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm xã hội

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

a Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các khái niệm và phạm trù, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cũng như lý thuyết về các vấn đề của tâm lý học xã hội Do tâm lý học xã hội là một khoa học còn non trẻ nên một số khái niệm, phạm trù và cấu trúc còn có chỗ chưa rõ ràng, khiến cho ranh giới giữa tâm lý học xã hội với một số khoa học lân cận trở nên khó phân biệt Việc thực hiện tốt hiệm vụ trên đây sẽ góp phần bổ sung lý luận và đẩy nhanh sự phát triển của tâm lý học xã hội xứng đáng với vai trò của nó

- Phát hiện các quy luật, cơ chế hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội trong các nhóm, cộng đồng xã hội, trên cơ sở đó vận dụng vào việc phát huy nhân tố con người trong các điều kiện hoạt động khác nhau Cụ thể là:

+ Những quy luật của sự tác động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm; giữa cá nhân với nhóm và nhóm đối với cá nhân

+ Nghiên cứu các điều kiện chủ quan và khách quan của sự hình thành, phát triển các hiện tượng tâm lý xã hội

+ Nghiên cứu sự hình thành phát triển nhân cách trong các nhóm xã hội, vai trò của các nhóm xã hội đối với sự xã hội hoá nhân cách

Nắm được những quy luật của tâm lý xã hội sẽ giúp ta có căn cứ vận dụng trong thực tiễn phục vụ lợi ích của con người

b Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng

Tâm lý học xã hội là một khoa học được nghiên cứu ứng dụng trong nhiều

Trang 21

lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo thành nhân tố không thể thiếu của sự phát triển

xã hội

- Nghiên cứu vận dụng các tri thức, phương pháp tâm lý học xã hội vào công tác quản lý xã hội Từ khâu xây dựng, ban hành đến việc chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách đều không thể không tính đến những yếu tố tâm lý xã hội trong mối quan hệ lãnh đạo, quản lý

- Trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, tâm lý học xã hội được vận dụng vào việc thông tin, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm; nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng; vấn đề nghệ thuật bán hàng; nghiên cứu yếu tố tâm lý trong việc nâng cao năng suất lao động

- Đối với lĩnh vực bảo vệ pháp luật, tâm lý học xã hội có nhiệm vụ đi sâu nghiên cứu, vận dụng vào từng lĩnh vực hoạt động của các lực lượng bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị cũng như đối với mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm

Tâm lý học xã hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các tập thể, đơn vị công

an, tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án để vận dụng xây dựng, phát triển các tập thể, đơn vị vững mạnh, đoàn kết, thực sự là môi trường tích cực bồi dưỡng nhân cách nghề nghiệp cho từng đối tượng

Tâm lý học xã hội nghiên cứu, ứng dụng trong tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, bồi dưỡng cho quần chúng ý thức cảnh giác, tích cực và chủ động góp phần vào công tác phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự

Đặc biệt, đối với lĩnh vực tư pháp, tâm lý học xã hội được quan tâm nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ cụ thể, nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động này Từ hoạt động điều tra ban đầu, điều tra tố tụng đến truy tố, xét xử hay trong giáo dục cải tạo phạm nhân đều rất cần thiết ứng dụng các tri thức tâm lý học xã hội Tâm lý học xã hội không chỉ nghiên cứu các kiểu loại nhân cách có liên quan đến hoạt động bảo vệ pháp luật; những hiện

Trang 22

tượng tâm lý xã hội phổ biến có liên quan đến hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm mà còn nghiên cứu tâm lý của các nhóm, các cộng đồng, tầng lớp người trong xã hội, nhất là các nhóm nhỏ, các đám đông có liên quan đến an ninh, trật tự giúp cho hoạt động này ngày càng có hiệu quả hơn

Với nhiệm vụ quan trọng trên đây, trong nhiều năm qua, tâm lý học xã hội

đã được triển khai nghiên cứu giảng dạy ở các Học viện, Trường đại học để trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lĩnh vực khoa học quan trọng này Bên cạnh việc nghiên cứu giảng dạy, nhiều vấn đề, đề tài thuộc về tâm lý học xã hội cũng được triển khai nghiên cứu ứng dụng, phục vụ yêu cầu thực tiễn Kết quả của các đề tài này đã đưa lại hiệu quả tích cực trong công quản lý

xã hội

Nghiên cứu, vận dụng những thành tựu chung của tâm lý học xã hội vào tất cả các lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội cũng là nhiệm vụ quan trọng của những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy trên lĩnh vực này

3 Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu của tâm lý học xã hội

a Nguyên tắc nghiên cứu tâm lý học xã hội

- Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng

Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì nó cho phép giải thích một cách duy vật biện chứng sự nảy sinh của các hiện tượng tâm lý xã hội, nguồn gốc của tâm lý xã hội từ tồn tại xã hội, tính bị chế ước bởi các nhu cầu và lợi ích, bởi hoạt động và các quan hệ xã hội của con người Vì vậy, để nghiên cứu tâm lý xã hội chúng ta phải xuất phát từ tồn tại xã hội, từ hoạt động của các nhóm, các cộng đồng người trong xã hội

- Nguyên tắc phát triển

Mỗi hiện tượng tâm lý đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển Vì vậy, nghiên cứu tâm lý xã hội phải đặt trong mối quan hệ vận động, phát triển của nó Vận dụng nguyên tắc này vào nghiên cứu tâm lý học xã hội sẽ tránh

Trang 23

được rập khuôn, cứng nhắc, định kiến, chủ quan Nguyên tắc này giúp ta phát hiện những thay đổi của các hiện tượng tâm lý xã hội và có những tác động cần thiết để phát triển các hiện tượng tâm lý đó theo hướng mong muốn

- Nguyên tắc hoạt động và giao tiếp

Tâm lý xã hội được hình thành và biểu hiện thông qua hoạt động và giao tiếp Trong quá trình hoạt động, con người tham gia vào các quan hệ xã hội, vào

sự giao lưu với nhau, do đó các hiện tượng tâm lý không chỉ biểu hiện trong hoạt động mà là hoạt động trong sự thống nhất với các quan hệ xã hội Do vậy, khi nghiên cứu tâm lý xã hội phải luôn bám sát quá trình hoạt động của các nhóm xã hội, nghiên cứu chúng trong sự thống nhất của hoạt động với các quan

hệ xã hội và ý thức

- Nguyên tắc hệ thống

Tuân thủ nguyên tắc này giúp cho việc đánh giá tâm lý xã hội một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh được chủ quan, ngộ nhận và phiến diện Phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội trong mối quan hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác Phải biết kết hợp các biện pháp, phương pháp của chuyên ngành tâm lý học xã hội với các biện pháp, phương pháp của các khoa học khác nghiên cứu về con người, về xã hội

b Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học xã hội

Phương pháp quan sát

Quan sát là phương pháp trong đó nhà khoa học tri giác một cách có chủ định các khách thể nghiên cứu nhằm mục đích nhất định Đó là một quá trình nhận thức có kế hoạch, có chọn lọc Nó đặc biệt có ý nghĩa trong việc nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội nảy sinh như một quá trình: niềm hân hoan, sự cuồng nhiệt… của một tập hợp người; nghiên cứu tâm trạng, thái độ và đặc biệt

là hành vi của con người trong các nhóm xã hội Có hai hình thức quan sát cơ bản, đó là:

- Quan sát không can thiệp là quan sát hành vi của người được nghiên cứu

mà không có tác động của người quan sát Đây còn gọi là quan sát tự nhiên

Trang 24

Trong trường hợp này, người quan sát ghi chép một cách thụ động những gì đã xảy ra

- Quan sát can thiệp là quan sát có sự tác động của người quan sát vào tình huống nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một số điểm nào đó Quan sát can thiệp có thể được thực hiện dưới hai hình thức sau:

+ Quan sát có tham gia: Người nghiên cứu hiện diện công khai và tham gia tích cực trong tình huống được quan sát để nhận biết hành vi của người được nghiên cứu

+ Quan sát cấu trúc: Đây là hình thức quan sát có sự kiểm soát của người nghiên cứu Người nghiên cứu có thể can thiệp nhằm tạo ra tình huống để quan sát hoặc có thể tạo nên quy trình để việc quan sát có hiệu quả hơn

Trong tâm lý học xã hội, người nghiên cứu cũng có thể kết hợp quan sát tổng hợp và quan sát từng vấn đề, từng hiện tượng tâm lý xã hội tùy theo mục đích của họ

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng phương pháp quan sát cũng có những hạn chế nhất định: Sự thụ động, tốn kém thời gian (phải chờ đợi sự bộc lộ của các hiện tượng tâm lý cần quan sát); tài liệu thu được vẫn mang tính chất cảm tính, trực quan; phải tập hợp nhiều dấu hiệu trong các thời điểm khác nhau, thời gian dài, tốn nhiều công sức…

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Đây là phương pháp nghiên cứu tâm lý bằng cách dựa vào kết quả của các mặt hoạt động cũng như hiệu quả hoàn thành các công việc nào đó của tập thể hay cộng đồng người Sản phẩm hoạt động mà một tập hợp người nào đó tạo ra luôn mang đậm dấu ấn tâm lý chung của họ Sản phẩm hoạt động bao gồm cả sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần Sản phẩm vật chất có thể là các công trình kiến trúc, văn hóa, các đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày Sản phẩm tinh thần có thể được tạo ra dưới các hình thức nghệ thuật như: dân ca, điệu múa hoặc đã trở thành phong tục, tập quán của dân tộc, cộng đồng người…

Khi nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần chú ý cả về số lượng và chất lượng

Trang 25

của sản phẩm Cũng cần nghiên cứu cả quá trình tạo ra sản phẩm với những điều kiện cụ thể nhất định

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (hay còn gọi là anket) là phương pháp

sử dụng hệ thống các câu hỏi đặt ra cho một số lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một hiện tượng tâm lý nào đó trong nhóm hay trong cộng đồng người Câu hỏi dùng để điều tra có thể là câu hỏi đóng, có thể là câu hỏi mở Một bảng hỏi thường kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở Người nghiên cứu cũng thường yêu cầu trả lời bằng hình thức viết nhưng cũng

có thể trả lời bằng miệng và được người nghiên cứu ghi chép lại

Việc xây dựng các bảng hỏi phụ thuộc vào việc xác định các khách thể nghiên cứu Khi thiết kế các câu hỏi cần lưu ý:

- Câu hỏi phải đơn giản, dễ hiểu, tránh phức tạp, nhiều nghĩa, tránh dùng các thuật ngữ khoa học chuyên ngành sâu hoặc tiếng nước ngoài Chú ý sử dụng các thuật ngữ phù hợp với phong tục tập quán, đời sống thực tiễn của người được hỏi

- Tránh đặt câu hỏi mang tính áp đặt hoặc có tính chất hướng dẫn trả lời; tránh đặt những câu hỏi đụng chạm đến các vấn đề tế nhị, nhạy cảm để làm người trả lời khó chịu, tự ái

- Trong một bảng hỏi nên kết hợp các loại câu hỏi: vừa có câu hỏi đóng và vừa có câu hỏi mở Việc xác định các loại câu hỏi phụ thuộc vào mục đích và nội dung nghiên cứu, vào khách thể cũng như điều kiện nghiên cứu

Ưu điểm của phương pháp điều tra là cho phép điều tra trên một địa bàn rộng, trong thời gian ngắn, nhiều người tham gia và thu thập được ý kiến của một số lượng người đông đảo Nó cũng cho phép chúng ta thu thập được những tài liệu về nhiều mặt từ những câu hỏi đặt ra Tuy nhiên cũng cần hiểu rằng, tâm

lý xã hội không phải là tổng cộng của từng cá nhân và để thu được kết quả nghiên cứu một cách khách quan, cần đảm bảo số lượng quy định của mẫu nghiên cứu và không được hướng dẫn tùy tiện bảng hỏi

Trang 26

Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn hay trò chuyện có mục đích là phương pháp giúp cho người điều tra thâm nhập vào cuộc sống xã hội mà họ muốn nghiên cứu, có được những thông tin ban đầu về xã hội Phỏng vấn là phương pháp được sử dụng khá nhiều trong các nghiên cứu của tâm lý học xã hội Nó có thể giúp người nghiên cứu tìm hiểu được nguyên nhân, bản chất của vấn đề nghiên cứu, khắc phục những khiếm khuyết của các phương pháp khác, nhất là phương pháp điều tra

Có nhiều hình thức phỏng vấn khác nhau:

- Phỏng vấn sâu: Đây là hình thức phỏng vấn giữa người nghiên cứu và người được nghiên cứu, còn gọi là phỏng vấn một - một Phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu bản chất vấn đề nghiên cứu, phát hiện nguyên nhân

- Phỏng vấn tiêu chuẩn hóa: Hình thức phỏng vấn này còn gọi là phỏng vấn cấu trúc hay phỏng vấn chính quy Đây là loại phỏng vấn mà người nghiên cứu bắt buộc phải làm theo một trình tự câu hỏi đã được đưa ra trong bảng hỏi mà không được gợi ý hoặc tự ý đưa thêm các câu hỏi mới

- Phỏng vấn phi tiêu chuẩn hóa: Hình thức này còn gọi là phỏng vấn không

có cấu trúc Người phỏng vấn không cần một bảng hỏi chuẩn đã chuẩn bị sẵn mà

có thể đưa ra các câu hỏi tùy theo tình huống phỏng vấn để thu thập thông tin Điều quan trọng của hình thức phỏng vấn này là sự am hiểu về vấn đề nghiên cứu và kinh nghiệm (các kỹ năng) của người phỏng vấn, nhất là nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện, khai thác thông tin

Thực nghiệm được thiết kế trong đó có một hay một số yếu tố độc lập và

có một hay một số yếu tố phụ thuộc Các nhà nghiên cứu thường thay đổi một

Trang 27

hay một số yếu tố cùng một lúc trong khi vẫn giữ nguyên các yếu tố khác, qua

đó xác định được sự thay đổi dưới ảnh hưởng của những tác động đó Để các thực nghiệm đó có kết quả khách quan, cần phải xác định rõ các yếu tố độc lập, các yếu tố phụ thuộc và kiểm soát chặt chẽ quá trình diễn ra thực nghiệm

Trong tâm lý học xã hội, có thể tiến hành thực nghiệm tự nhiên và cũng có thể tiến hành thực nghiệm trong phòng thí nghiệm:

- Trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm được tiến hành dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm ngặt các ảnh hưởng bên ngoài, người nghiên cứu tạo ra những điều kiện để làm nảy sinh hay phát triển một nội dung tâm lý cần nghiên cứu, do đó có thể tiến hành nghiên cứu một cách tương đối chủ động so với quan sát và thực nghiệm tự nhiên Một trong những thực nghiệm nổi tiếng loại này có thể kể đến thực nghiệm nhập vai xã hội của Philip Zimbardo (1971) Thực nghiệm này được mô tả lại bởi tác giả Trần Thị Minh Đức (2008) như sau:

“Đầu những năm 70, một nhóm các nhà khoa học tại Đại học Stanford,

đứng đầu là Tiến sĩ Philip Zimbardo quyết định tạo ra một nhà tù giả trong tầng hầm của khu nhà dành cho khoa Tâm lí học trong khuôn viên trường với mục đích đơn thuần là tìm hiểu khả năng thích ứng của con người với cuộc sống trong tù, kể cả tù nhân lẫn cai ngục Thực nghiệm có tên là SPE – Stanford Prison Experiment

“Nhà tù” được tạo bởi các chuyên gia khoa Tâm thần học thuộc Đại học Stanford Họ lấy cả một khoảng hành lang dài hơn chục mét và dựng một ô xà lim bằng bức tường được đúc sẵn Ba ô xà lim chiều ngang 6 bước, chiều dài 9 bước được tạo ra với song sắt, xà lim bằng thép, cánh cửa của các ô xà lim này đều được sơn đen Mỗi phòng giam nhỏ biến thành các phòng giam cách li Sau đấy, nhóm thực nghiệm đăng quảng cáo tìm người tình nguyện tham gia trên các báo địa phương Sau khi đăng tin, có 75 người đến đăng kí nhưng Zimbardo

và đồng nghiệp của ông chỉ chọn ra 21 người, những người này đã chứng tỏ được tình trạng tinh thần bình thường và sức khỏe tốt qua những bài kiểm tra tâm lí

Trang 28

Sáng sớm ngày 14/8/1971, Zimbardo nhờ Sở cảnh sát Palo Alto “bắt giữ” những tù nhân giả từ nhà riêng của họ, còng tay, đưa họ tới đồn cảnh sát, buộc tội họ với những tội danh giả định, 9 người trong nhóm tù nhân đã được cảnh sát bắt gữ bằng xe chuyên dụng và dẫn thẳng về đồn Tại đây, họ được lấy dấu vân tay, chụp ảnh và đưa vào nhà giam, được thông báo lí do bị bắt về tội cướp

và trộm cắp có vũ trang Về “nhà giam”, họ cũng phải trải qua các công đoạn đăng kí giống phạm nhân thực sự Họ như bị lột hết quần áo, đứng giữa sân nhà lao, không được kêu ca phàn nàn 21 người tham gia được phân thành 2 nhóm,

12 người có nhiệm vụ làm cai ngục, 9 người được phân làm tù nhân và 3 dự phòng khi cần thiết Sự lựa chọn để vào các vai này là ngẫu nhiên Cai ngục được phát đồng phục và kính đen Nhiệm vụ chủa họ là giữ gìn trật tự nhà tù Những người còn lại được yêu cầu vào vai tù nhân, lấy dấu vân tay rồi bị bịt mắt và được chuyển xuống những buồng giam trong tầng hầm của trường Sau khi xuống tới nơi, họ được tháo băng che mắt và được phát quần áo tù với số hiệu ở cả đằng trước và đằng sau lưng áo, những con số này sẽ là phương tiện nhận dạng duy nhất trong suốt quá trình họ bị giam giữ Từ đây, tên thật của họ được thay bằng số tù và cắt tóc theo quy định nhà tù, ngoài ra chân bị cùm xích sắt, 3 người phải ở chung một buồng rộng 1,8 x 1,7m

Mục đích của thực nghiệm là cố gắng tìm ra nguyên nhân tại sao nhà tù luôn là địa điểm đáng sợ Phải chăng đó là do nơi lao tù luôn đông đúc những

kẻ bại hoại, hay tù ngục là môi trường tha hóa khiến cho con người ta trở nên bại hoại? Hàm chứa trong câu hỏi này cũng đồng thời làm sáng tỏ môi trường không gian đã ảnh hưởng như thế nào đến hành vi cư xử của con người? Những

gì Zimbardo thu được trong cuộc thực nghiệm này khiến chính ông cũng bị sốc Những người trong vai trò quản ngục, trong đó có một số người trước đó tự nhận xét bản thân mình là người có lối sống và cách cư xử ôn hòa đã nhanh chóng nhập vào vai trò của những người mạnh tay thực thi kỉ luật thép Ngay trong ngày đầu tiên, cai tù đã lùa các tù nhân ra khỏi nhà lao và điểm danh vào lúc 2 giờ 30 phút Đến sáng, tất cả tù nhân nổi dậy, dùng giường, đồ đạc trong

Trang 29

phòng chắn hết cửa nhà lao, còn cai ngục thì dùng bình cứu hoả CO2 xịt, sau

đó lột bỏ quần áo tù nhân, đưa hết giường chiếu ra ngoài để cảnh cáo Ngoài

ra, tù nhân còn không được phép dùng bồn tắm, vệ sinh, chỉ được phép dùng thùng chứa rác Sau 22 giờ, tất cả phải đi ngủ

Sau một ngày rưỡi thử nghiệm, tù nhân 8612 bị kích động, bắt đầu kêu khóc thảm thiết, buộc người ta phải thả Đến ngày thứ 3, một tù nhân nữa được phóng thích, còn phía cai ngục thì có vẻ hung hăng hơn và làm những điều vô lí hơn Do quá khốn khổ, tù nhân số 416, tên thật là Clay đã tuyệt thực với hy vọng được thả và đây là bằng chứng rất tích cực phục vụ cho nghiên cứu nói về những tác hại của cuộc sống trong tù với con người Theo tù nhân 416 thú nhận thì anh ta bắt đầu cảm thấy bị mất lòng tự trọng, không còn nhận thức được mình đang tham gia một cuộc thử nghiệm mà cảm thấy mình là một tù nhân thực

sự Anh ta cho biết thêm: “Tôi bắt đầu cảm thấy mình đang mất đi nhân cách, mất đi con người mà tôi vẫn hình dung về bản thân, con người đã tình nguyện đưa tôi vào nhà tù này, bởi vì với tôi, đó là một nhà tù và nó vẫn cứ là một nhà

tù, tôi không xem xét nó dưới khía cạnh là một nhà thực nghiệm hay là một sự

mô phỏng… Mọi người đã thành xa lạ và tách biệt với tôi cho tới lúc cuối cùng, tôi không còn là con người đó nữa Tôi là 416 Tôi chỉ còn là số hiệu tù và con

số 416 đó thực sự đang phải quyết định xem nên làm điều gì”

Tiếp đó, 5 trong số 9 tù nhân đã được ra tù: 4 người phải phá vỡ hợp đồng

vì suy nhược tinh thần trầm trọng, la khóc, giận dữ và lo sợ đến cùng cực Đặc biệt, có một người phát bệnh dẫn đến chứng giảm thị lực 1/3 số cai tù xuất hiện hội chứng “buồn chán, một người trong số họ tên là John Wayne đã mắc bệnh thần kinh nói năng lảm nhảm và hầu hết những người trong cuộc cảm thấy bị bệnh tâm thần quá nặng và có cảm giác mình như kẻ có lỗi giống như binh lính của Hitler Cuộc thử nghiệm nàu phải dừng vào ngày 20/8/1971 sau khi một người bạn gái tù nhân có tên là Zimbardo đã tận mắt chứng kiến cảnh khổ của bạn mình và đã lên tiếng

Một trong những người cai tù nhớ lại: “Có nhiều lần chúng tôi lăng mạ,

Trang 30

chửi rủa và la hét vào mặt họ Đó là một phần trong bầu không khí sặc mùi khủng bố” Trong suốt quá trình diễn ra cuộc thực nghiệm, các giả thiết đặt ra phát triển theo đúng hướng những người “cai ngục giả” càng ngày càng trở nên khắc nghiệt và tàn ác hơn Zimbardo cho biết: “Điều mà chúng tôi không lường hết được chính là cường độ và tốc độ diễn ra sự thay đổi đó” Những người cai tù bắt các tù nhân phải nói với nhau rằng họ thường yêu nhau và nằm thẳng hết xuống hành lang với hai tay bị bẻ quặt ra sau lưng trong còng số 8, đầu bị chụp kín bằng túi giấy “Điều đó là hoàn toàn trái với cung cách cư xử bình thường của tôi” Một giám thị khác nhớ lại: “Tôi cho rằng, nếu nói đến những trò độc ác của mình, tôi là một kẻ sáng tạo nhẫn tâm” Ban đầu Zimbardo dự định thực hiện thực nghiệm dài trong thời gian hai tuần Song ông phải tuyên bố chấm dứt thực nghiệm sau sáu ngày Ngay khi thực nghiệm kết thúc, một tù nhân “giả” thú nhận: “Bây giờ tôi nhận ra rằng, dù tôi có cố gắng hình dung trong đầu tôi là người như thế nào đi nữa thì những hành vi khi là một tù nhân luôn vượt khỏi tầm kiểm soát lí trí của tôi” Kết luận của Tiến sĩ Zimbardo: Luôn có rất nhiều tình huống cụ thể có ảnh hưởng mạnh đến độ có thể áp đảo bản chất cố hữu trong chúng ta Yếu tố mấu chốt ở đây chính là hoàn

- Phương pháp thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong điều kiện hoạt động bình thường của họ Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu có thể chủ động gây ra các biểu hiện và diễn biến tâm lý bằng cách khống chế một số nhân tố không cần thiết, làm nổi bật những yếu tố cần thiết có khả năng giúp cho việc khai thác, tìm hiểu các nội dung cần thực nghiệm

Trong tâm lý học xã hội, thực nghiệm giúp cho việc nhận thức các hiện tượng tâm lý xã hội được nhanh chóng và sâu sắc hơn các phương pháp khác

Nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của việc nghiên cứu khoa học và đem lại kết quả đáng tin cậy Tuy nhiên, đây là một phương pháp rất phức tạp, rất khó sử dụng

4 Trần Thị Minh Đức (2008), Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 571-577

Trang 31

vì nó được thực nghiệm đối với con người Thực nghiệm không chỉ liên quan đến vấn đề tri thức hay kỹ thuật, tài chính hay tổ chức mà còn liên quan đến vấn

đề đạo đức và pháp luật Và trong thực tế việc sử dụng phương pháp này thường gặp phải những khó khăn, như: tốn nhiều công sức, đầu tư xây dựng các tình huống, hoàn cảnh phù hợp; người nghiên cứu phải có trình độ, có bề dầy kinh nghiệm

Trắc đạc xã hội được thực hiện qua các giai đoạn sau:

(1) Đề ra nhiệm vụ nghiên cứu và lựa chọn đối tượng nghiên cứu;

(2) Hình thành các giả thuyết và các nhận định cơ bản;

(3) Lập câu hỏi cho các phiếu điều tra;

(4) Tiến hành điều tra Đây là giai đoạn quan trọng, mỗi thành viên trong nhóm được yêu cầu:

- Điền vào phiếu điều tra danh sách một số người nhất định trong nhóm người mà mình chọn để tạo thành một ê kíp nhằm thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa đối với nhóm với hiệu quả cao

- Điền vào phiếu điều tra danh sách những người mà mình thích (để mời đến dự một buổi gặp mặt nhân dịp kỷ niệm nào đó của bản thân như: sinh nhật, ngày cưới, )

Kết quả của phương pháp trắc đạc xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn

bị Cần phải làm cho người được điều tra hiểu được nhiệm vụ, yêu cầu, tầm

Trang 32

quan trọng của cuộc điều tra Người được điều tra phải trả lời các câu hỏi trong phiếu một cách độc lập Số lượng câu hỏi không nên quá nhiều và thái độ của người nghiên cứu phải cởi mở, tin tưởng, không được gây nên trạng thái căng thẳng ở người được nghiên cứu Độ tin cậy của phép đo xã hội cũng phụ thuộc vào số lần đo, nghĩa là đo càng nhiều lần thì độ tin cậy càng lớn

Tuy nhiên, phép đo xã hội cũng có những hạn chế nhất định, đó là: câu trả lời của người được nghiên cứu thường mang tính chủ quan, phụ thuộc vào tính chất quan hệ của họ với những người khác Vì vậy, cần kết hợp sử dụng với các phương pháp khác để đảm bảo độ tin cậy đối với thông tin thu được

Phương pháp đánh giá của nhóm về cá nhân

Đây là phương pháp mà tâm lý học xã hội thường sử dụng để tìm hiểu sự thể hiện và mức độ phát triển của các phẩm chất tâm lý của các thành viên trong các nhóm xã hội Xét về bản chất, đánh giá của nhóm về cá nhân chính là sự phản ánh dư luận xã hội về một con người mà trước hết là phản ánh sự nhận thức, hiểu biết về nhau trong quá trình giao tiếp, hoạt động cùng nhau

Người nghiên cứu có thể đề nghị các thành viên trong nhóm nhận xét về một cá nhân trên nhiều mặt khác nhau Những phẩm chất cá nhân được nhóm đánh giá phải được phân ra theo chức năng và yêu cầu đối với công việc mà người đó thực hiện Việc phân loại này dựa vào các yếu tố sau:

(1) Phân tích quá trình hoạt động cụ thể của mỗi cá nhân;

(2) Dựa vào cấu trúc tâm lý chung của nhân cách;

(3) Dựa vào quan niệm thực tế của các thành viên khác trong nhóm

Sử dụng phương pháp này cho phép nghiên cứu đặc điểm nhân cách của cá nhân; quan hệ giao tiếp của cá nhân với các thành viên khác; vị trí, vai trò của cá nhân trong nhóm cũng như xác định được những phẩm chất cần thiết đối với việc thực hiện các chức năng cụ thể, tương xứng với vị trí và công việc của cá nhân trong nhóm

Trang 33

III BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ

XÃ HỘI

1 Bản chất của các hiện tƣợng tâm lý học xã hội

Khi bàn đến bản chất hiện tượng tâm lý người, các nhà tâm lý thường cho rằng tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não, mang tính chủ thể và mang bản chất xã hội, lịch sử Nhưng đó là xem xét trên bình diện tâm lý

cá nhân Còn khi xem xét trên bình diện tâm lý học xã hội, tâm lý xã hội được coi là tâm lý chung của nhiều người, của nhóm xã hội mà cá nhân là thành viên Các hiện tượng tâm lý xã hội không phải phép cộng đơn giản tâm lý của các cá nhân mà là những đặc điểm chung, giống nhau của đa số các thành viên tham gia vào nhóm xã hội Chẳng hạn như, đặc điểm chung của người Việt thể hiện ở tính cộng đồng cao; người Đức là tính kỷ luật Ý nghĩa quan trọng của đặc điểm này là ở chỗ, khi nghiên cứu tìm hiểu những đặc điểm chung của nhiều người cần phải tiến hành thận trọng, khoa học tránh những nhận xét, kết luận hời hợt, cảm tính chưa có các căn cứ khoa học và thực tiễn

Tâm lý xã hội phản ánh hiện thực khách quan, điều kiện sống của các nhóm xã hội Giống như tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội cũng phản ánh điều kiện

tự nhiên, điều kiện xã hội trong đó cá nhân và các nhóm xã hội tồn tại Điều kiện sống là nguồn gốc, là cơ sở hình thành tâm lý xã hội, quy định nội dung, tính chất, chiều hướng phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội Ngược lại, các hiện tượng tâm lý xã hội phản ánh tính chất, đặc điểm của môi trường đã sinh ra chúng Nền kinh tế tiểu nông với kỹ thuật canh tác lạc hậu là cái nôi hình thành

"tâm lý tiểu nông" của nông dân Việt Nam; ngược lại tâm lý tiểu nông được biểu hiện trong suy nghĩ, thái độ, hành vi của nông dân, cũng phản ánh tình trạng nền nông nghiệp của nước ta ở thời kỳ kém phát triển

Tâm lý xã hội được hình thành, phát triển thông qua hoạt động cùng nhau, qua giao tiếp giữa các thành viên, giữa các nhóm xã hội, thông qua các cơ chế tâm lý xã hội Tâm lý xã hội được hình thành phát triển thông qua hoạt động cùng nhau và giao tiếp giữa các các nhân, giữa cá nhân và nhóm và giữa các

Trang 34

nhóm xã hội với nhau Thông qua các hình thức hoạt động và giao tiếp như vậy, các cá nhân tác động qua lại với nhau và kết quả là hình thành các hiện tượng tâm lý xã hội như: tương hợp tâm lý, xung đột, dư luận xã hội, định kiến, bầu không khí tâm lý xã hội, thái độ, tính cách dân tộc Thực tiễn cho thấy trình độ

tổ chức hoạt động cùng nhau (tập thể) và giao tiếp quy định mức độ phát triển,

độ bền vững của các hiện tượng tâm lý xã hội Ý nghĩa thực tiễn của đặc điểm này ở chỗ, muốn hình thành hay thay đổi một hiện tượng tâm lý xã hội nhất thiết phải đổi mới nội dung, hình thức hoạt động cùng nhau và giao tiếp giữa người với người trong các nhóm xã hội

Vậy, các hiện tượng tâm lý xã hội đuợc hình thành, biểu hiện như thế nào? Thực tiễn cho thấy chúng được hình thành và biểu hiện thông qua các cơ chế tâm lý như: bắt chước, lây lan, ám thị, thuyết phục Đây chính là các cơ chế tác động lẫn nhau giữa người với người

Ngoài các cơ chế tác động qua lại nêu trên còn có các chế tâm lý xã hội khác như: cơ chế thỏa hiệp, cơ chế đồng nhất hoá, cơ chế định khuôn, cơ chế phản tỉnh giúp cho giải thích nhiều hiện tượng tâm lý xã hội khác

Tâm lý xã hội định hướng, điều chỉnh hành vi của cá nhân và hành vi của nhóm xã hội Thực tế cho thấy, hành vi của cá nhân và nhóm xã hội chịu sự chi phối, điều chỉnh của các hiện tượng tâm lý xã hội Chẳng hạn, hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bầu không khí tâm lý của nhóm Khi bầu không khí tâm lý trong nhóm căng thẳng, nặng nề, cá nhân thường làm việc, hoạt động thiếu tích cực, thiếu hiệu quả Khi dư luận xã hội, dư luận nhóm tỏ thái độ đồng tình với hành vi, cách ứng xử nào đó sẽ khuyến khích cá nhân hành động tích cực và ngược lại, khi dư luận xã hội phản đối hành vi tiêu cực nào đó thì cá nhân buộc phải thay đổi hành vi, cách cư xử của mình Hành động của nhóm xã hội cũng chịu ảnh hưởng của các hiện tượng tâm lý xã hội Xung đột nhóm, tâm trạng xã hội bi quan làm cho hiệu quả hoạt động của nhóm bị suy giảm Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng tâm lý xã hội đối với hành vi cá nhân và nhóm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hoàn cảnh ảnh

Trang 35

hưởng, mức độ phát triển nhân cách, mức độ phát triển của nhóm xã hội, tính chất, đặc điểm của hoạt động cùng nhau và giao tiếp

Trong đời sống xã hội, chúng ta thấy có một hình thái ý thức xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của nhóm, cộng đồng và toàn xã hội nhưng không phải là một hiện tượng tâm lý xã hội, đó là hệ tư tưởng Vậy, hiện tượng tâm lý

xã hội có gì khác với hệ tư tưởng? Mặc dù hiện tượng tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều phản ánh thực tại xã hội nhưng giữa chúng có sự khác nhất định

Hệ tư tưởng là một hệ thống quan điểm xã hội được hình thành trên cơ sở khoa học – thực tiễn của các nhà tư tưởng Chúng được các nhà tư tưởng xây dựng một cách tự giác để giải thích quá trình xã hội – lịch sử và để chỉ ra con đường phát triển sau này của chúng Hệ tư tưởng bao giờ cũng có tính giai cấp

rõ rệt, nó tồn tại hay biến đổi, phá vỡ là tùy thuộc vào hình thái xã hội ổn định hay thay đổi

Trong khi đó, tâm lý xã hội luôn gắn bó với bản thân cuộc sống của mọi người nên rộng lớn hơn hệ tư tưởng Tâm lý xã hội vừa có cơ sở là lý trí những còn có yếu tố cảm xúc và ý chí nữa Vì thế, nó vừa có những yếu tố có tính giai cấp lẫn yếu tố không có tính giai cấp

Các hiện tượng tâm lý xã hội có thể chỉ mang tính nhất thời, dễ dàng thay đổi như cảm xúc của một đám đông trước một sự kiện nào đó, bầu không khí tâm lý của một tập thể nào đó Nhưng, các hiện tượng tâm lý xã hội cũng có thể mang tính ổn định, khó thay đổi được như phong tục, tập quán, truyền thống, lệ làng Chúng có thể được hình thành tự phát hoặc tự giác

Tuy có sự khác biệt nhưng giữa tâm lý xã hội và hệ tư tư tưởng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của nhau

2 Chức năng của các hiện tƣợng tâm lý xã hội

- Tâm lý xã hội định hướng cho hành vi và sự lựa chọn mục đích hành động của các thành viên trong nhóm Do tác động của các hiện tượng tâm lý xã hội, các cá nhân thường định hướng hành vi và lựa chọn, xây dựng mục đích

Trang 36

hoạt động theo những vấn đề, những tiêu chí phù hợp với tâm lý của nhóm,

tránh xa những gì mà nhóm lên án

- Tâm lý xã hội điều chỉnh hành vi của cá nhân Khi tham gia vào nhóm,

hành vi của cá nhân chịu sự điều chỉnh của nhóm Trường hợp cá nhân có thái

độ không trùng với đa số các thành viên của nhóm vì lợi ích cá nhân hoặc vì một động cơ nào khác thì nhóm sẽ gây áp lực buộc cá nhân phải tuân theo những chuẩn mực của nhóm Trong tâm lý xã hội, hiện tượng dư luận lành mạnh, đúng đắn có tác dụng điều chỉnh, uốn nắn không chỉ hành vi mà cả thái độ lệch lạc của cá nhân Ngược lại, dư luận thiếu khách quan, thiếu đúng đắn sẽ kìm hãm sự nhiệt tình, sự sáng tạo của cá nhân, thậm chí thúc đẩy cá nhân hình thành thái độ

và thực hiện những hành vi tiêu cực

- Tâm lý xã hội kiểm duyệt, giám sát hành vi - quan hệ của các thành viên bằng cách phê phán và ủng hộ, bảo vệ và đả phá những biểu hiện, hành vi của các thành viên trong nhóm Nó có tác dụng ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc

so với cái chung được mọi người công nhận

Tâm lý xã hội có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tâm lý - ý thức và nhân cách của cá nhân, là một phương tiện rất quan trọng của người lãnh đạo để điều hành hoạt động của nhóm và giáo dục các thành viên, vì vậy cần xây dựng những hiện tượng tâm lý xã hội tích cực để phục vụ cho mục tiêu hoạt động của cộng đồng xã hội

3 Phân loại các hiện tƣợng tâm lý xã hội

Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý xã hội khác nhau, tuy nhiên phổ biến nhất hiện nay người ta chia các hiện tượng tâm lý xã hội thành ba loại:

- Các quá trình tâm lý xã hội là các hiện tượng tâm lý xã hội có mở đầu, kết thúc với thời gian ngắn, chẳng hạn như: Dư luận xã hội, tin đồn, xung đột nhóm

- Các trạng thái tâm lý xã hội là những hiện tượng tâm lý xã hội có thời gian tồn tại lâu hơn, cường độ ở mức độ trung bình, ví dụ như: Tâm trạng xã hội, bầu không khí tâm lý xã hội, thái độ xã hội

Trang 37

- Các thuộc tính tâm lý xã hội là những hiện tượng tâm lý xã hội có độ ổn định, bền vững cao, khó hình thành nhưng cũng khó phá vỡ như: Tính cách dân tộc, định kiến xã hội

Việc phân chia như trên có tính tương đối, vì các hiện tượng tâm lý xã hội

có thể chuyển hoá lẫn nhau, chẳng hạn quá trình tâm lý xã hội ổn định sẽ chuyển hành trạng thái tâm lý xã hội

CÂU HỎI ÔN TẬP

Câu hỏi 1 Những khẳng định sau đúng hay sai? Giải thích tại sao?

a Tâm lý xã hội là tâm lý của các cá nhân

b Tâm lý xã hội có tính độc lập tương đối

c Tâm lý xã hội không thể điều chỉnh hành vi của cá nhân

d Tâm lý xã hội được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp cùng nhau Câu hỏi 2 Phân biệt sự khác nhau giữa tâm lý xã hội với tâm lý cá nhân và giữa tâm lý xã hội với hệ tư tưởng

Câu hỏi 3 Phân tích đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học xã hội Câu hỏi 4 Phương pháp điều tra xã hội học là gì? Để nâng cao hiệu quả của phương pháp này cần chú ý vấn đề gì?

Câu hỏi 5 Phương pháp phỏng vấn là gì? Để nâng cao hiệu quả phương pháp phỏng vấn cần chú ý đến vấn đề gì?

Câu hỏi 6 Phương pháp trắc đạc xã hội là gì? Để nâng cao hiệu quả của phương pháp này cần chú ý đến vấn đề gì?

Câu hỏi 7 Phân tích bản chất hiện tượng tâm lý xã hội

Câu hỏi 8 Phân tích chức năng của các hiện tượng tâm lý xã hội

Câu hỏi 9 Là người mới được cấp trên bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo cơ quan X, ông A muốn tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong cơ quan mình quản lý Tuy nhiên, ông A không biết làm thế nào để đánh giá chính xác thực trạng bầu không khí tâm lý của cơ quan X Ông A giao nhiệm vụ cho B – Thư

ký của mình phải làm việc đó Là B, anh (chị) sẽ xử dụng phương pháp nghiên cứu tâm lý xã hội nào để đánh giá thực trạng bầu không khí tâm lý xã hội của cơ

Trang 38

quan mình?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trương Công Am (chủ biên) (2010), Giáo trình tâm lý học xã hội, Nhà

xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, trang 9-48

2 Trần Thị Minh Đức (chủ biên) (1994), Giáo trình tâm lý học xã hội, Nhà

xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, trang 9-30

3 Trần Thị Minh Đức (chủ biên) (2008), Các thực nghiệm trong tâm lý học

xã hội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội, trang 571-577

4 Vũ Dũng (chủ biên) (2000), Tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Khoa học

xã hội, Hà Nội, trang 9-118

5 Trần Hiệp (chủ biên) (1991), Tâm lý học xã hội - Những vấn đề lý luận,

Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 13-57

6 Jack H Curtis (1960), Social Psychology, Newyork, trang 3-8

Trang 39

Chương 2

HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ XÃ HỘI, QUY LUẬT VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TÓM TẮT NỘI DUNG

Chương này trình bày về bản chất, chức năng, phân loại và cách thức điều chỉnh bầu không khí tâm lý xã hội, nhu cầu xã hội, thái độ xã hội, trạng thái tâm

lý xã hội, dư luận xã hội, phong tục, tập quán và định kiến xã hội Trong chương này còn phân tích về các quy luật và cơ chế nảy sinh, hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như: Kế thừa, bắt chước, lây lan, đồng nhất hóa, thỏa hiệp, ám thị Chương này được cấu trúc thành 3 phần:

I Một số hiện tượng tâm lý xã hội

II Quy luật hình thành các hiện tượng tâm lý xã hội

III Cơ chế hình thành các hiện tượng tâm lý xã hội

MỤC TIÊU

Nghiên cứu xong chương này, sinh viên sẽ:

- Hiểu được khái niệm, đặc điểm, cách phân loại bầu không khí tâm lý xã hội, nhu cầu xã hội, thái độ xã hội, tâm trạng xã hội, định kiến xã hội, phong tục tập quán, dư luận xã hội, tri giác xã hội;

- Phân tích được tiêu chí để đánh giá bầu không khí tâm lý tích cực hay tiêu cực trong tập thể;

- Phân biệt được dư luận xã hội và tin đồn;

- Phân tích được các quy luật và cơ chế hình thành các hiện tượng tâm lý

xã hội;

- Vận dụng được tri thức để xây dựng bầu không khí tâm lý tích cực trong tập thể; xây dựng được dư luận xã hội, tâm trạng xã hội tích cực;

- Vận dụng được tri thức để điều chỉnh thái độ xã hội;

- Vận dụng được các quy luật và cơ chế tâm lý xã hội vào trong đời sống và trong công tác quản lý xã hội

Trang 40

I MỘT SỐ HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ XÃ HỘI

1 Bầu không khí tâm lý xã hội

a Định nghĩa

Vấn đề bầu không khí tâm lý xã hội chiếm vị trí to lớn trong lý luận và thực tiễn quản lý xã hội Đây cũng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu trong tâm lý học xã hội ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam

Svenciskij A L khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của bầu không khí tâm lý trong một nhà máy đến hiệu quả công việc của công nhân đã cho thấy: Những tổ sản xuất có mối quan hệ nội bộ ở trình độ cao chỉ có 3% công nhân vi phạm kỷ luật nhưng vẫn trong nhà máy đó, những tổ sản xuất có quan hệ kém thì thường xuyên có hiện tượng vi phạm kỷ luật như đi làm muộn, lãng phí thời gian, coi thường trách nhiệm cá nhân Tỷ lệ vi phạm kỷ luật ở những tổ, đội sản xuất có bầu không khí tâm lý kém lên tới gần 40%

A.G Kovaliov nhận xét: Dù muốn hay không, tinh thần chung của tập thể cũng thấm vào từng cá nhân Do trực tiếp tiếp xúc với mọi người trong tập thể sản xuất, nhân cách cá nhân sẽ biến chuyển cả tâm thế, thái độ, tình cảm trước đây của cá nhân đó

Bầu không khí tâm lý xã hội là một khái niệm do các nhà tâm lý học Xôviết đưa ra nhằm chỉ một hiện tượng tâm lý của tập thể Có nhiều định nghĩa khác nhau về bầu không khí tâm lý xã hội tùy thuộc vào cách thức tiếp cận nhưng phần lớn đều thống nhất rằng, bầu không khí tâm lý xã hội có liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ người người trong một tập thể, một nhóm Nó phản ánh tâm trạng của các thành viên trong tập thể, nhóm đó

Bầu không khí tâm lý xã hội là tổ hợp hệ thống các trạng thái tâm lý, trong

đó tâm trạng ưu thế giữ vai trò chủ đạo, phản ánh tính chất các mối quan hệ và

mức độ hòa hợp giữa các thành viên trong nhóm

Khi xem xét bầu không khí xã hội cần chú ý một số vấn đề sau:

- Bầu không khí tâm lý là tổ hợp các trạng thái tâm lý chứ không phải là phép cộng đơn giản các trạng thái tâm lý của cá nhân và nhóm

Ngày đăng: 01/11/2020, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Công Am (chủ biên) (2010), Giáo trình tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, trang 117 – 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học xã hội
Tác giả: Trương Công Am (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2010
2. Trần Thị Minh Đức (chủ biên) (1994), Giáo trình tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, trang 145 – 192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học xã hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
3. Nguyễn Văn Đồng (2015), Tâm lý học giao tiếp, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2015
4. Trần Hiệp (chủ biên) (1991), Tâm lý học xã hội - Những vấn đề lý luận, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 167 -192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội - Những vấn đề lý luận
Tác giả: Trần Hiệp (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1991
5. Trần Trọng Thủy (chủ biên) (2002), Bài tập thực hành tâm lý học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, trang 17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập thực hành tâm lý học
Tác giả: Trần Trọng Thủy (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w