Chúng tôi hiểu rằng trước thực trạng nguồn nhân lực của Bộ môn Tiếng nước ngoài và khối lượng các lớp ngoại ngữ phải đảm nhiệm như chúng tối đã thống kê, chúng tôi phái có những biện phá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẪN
QUY TRÌNH ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Mã số QX 2002 08
CHỦ TRÌ ĐỂ T À I : T S C a o T h ị T h a n h H ư ơ n g PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU: Bộ m ó n T iế n g n ư ớ c n g o à i
£ i
• C ] \ - H Ị ;
p l / 4 /C
HÀ NÔI, THÁNG 8-2004
Trang 2IV 2 Đào tạo ngoại ngữ tại trường Đại học khoa học
Trang 3V.4 Các nguyên tắc chỉ đạo 58
V I VỀ KHÍA CẠNH VĂN HOÁ TRONG GIÁO HỌC PHÁP
Trang 4PHẨN MỞ ĐẦU
Trên lĩnh vực đào tạo bất kỳ một ngành khoa học nào cũng có những bước đi đầu tiên, quá trình thử nghiệm, đúc kết kinh nghiệm, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những bất cập để không ngừng vươn tới chất lượng và hiệu quả Công tác dạy và học ngoại ngữ không phải là một ngoại lệ Được trực tiếp tham gia giảng dạy ở trường Đại học Tổng hợp cũ
và sau này tại trường Đai học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội, chúng tôi có điều kiện chứng kiến, quan sát và phân tích
những bước thăng trầm trong đào tạo ngoại ngữ ỏ bậc đại học tại Nhà
trường Và cũng với mong muốn góp một tiếng nói chung vào đổi mới quy trình đào tạo ngoại ngữ đối với khối sinh viên không chuyên ngữ trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi mạnh dạn đề xuất và tiến hành nghiên cứu này Đề tài thuộc lĩnh vực Giáo học pháp ngoại ngữ này, với sự tham gia của cán bộ Bộ môn Tiếng nước ngoài và một số sinh viên trong Trường, bao gồm 6 chương
Trong chương đầu tiên, chúng tôi hệ thống vắn tắt các trường phái giáo học pháp cơ bản đã được thừa nhận trên thế giới và cũng không còn mới mẻ đối với các giáo viên ngoại ngữ của nước ta Cơ sở lý luận này thể hiện những đánh giá khách quan dành cho mỗi trường phái Các nhà thực hành có thể nhìn lại công việc hàng ngày của mình và lý giải tại sao mình lại áp dụng hoặc không áp dụng phương pháp này hoặc phương pháp khác cho từng đối tượng người học cụ thể
Chương tiếp theo thê hiện mong muốn nâng cao năng lực ngoại ngữ cho người Việt nam nói chung để đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội nhập của Việt nam Trong phấn này, chúng tôi đã điếm lại một số mốc thời gian quan trọng của đất nước và mối quan tâm của chúns ta đối với ngoại ngữ Với suy nghĩ là phái nâng cao khá năng sử dung ngoại ngữ cho sinh viên, nếu không thì sẽ quá muộn, trước tiên chúng tói đã sử dụng các
Trang 5phiếu tham khảo sinh viên để hiểu họ hơn và rút kinh nghiệm cho công tác giảng dạy cũng như đề xuất hướng đổi mới Chúng tôi đã đưa ra một số phân tích các câu trả lời trong phiếu tham khảo.
Chương thứ ba thể hiện quan điểm của chúng tôi trong đào tạo ngoại ngữ và cũng là xu thế hiện nay trên thế giới: đào tạo ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành không còn là sự lựa chọn, mà là một cấp bách Muốn làm được điều này, cần có những nỗ lực rất lớn của người dạy, người học
và các cấp quản lý
Các chương IV, V và VI là những đề xuất của chúng tôi nhằm nâng cao chất lương đào tạo ngoại ngữ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà nội Chúng tôi hiểu rằng trước thực trạng nguồn nhân lực của Bộ môn Tiếng nước ngoài và khối lượng các lớp ngoại ngữ phải đảm nhiệm như chúng tối đã thống kê, chúng tôi phái có những biện pháp vừa đê tận dụng khả năng sẵn có của Bộ môn, vừa tránh được sự mất cân đối trầm trọng trong việc sinh viên chọn học các thứ tiếng trong Trường, tránh sự quá tải cho khối tiếng Anh Nhất thiết phải có một chiến lược đào tạo ngoại ngữ sát thực để tránh lãng phí về mọi mặt Liên kết đào tạo giữa các trường đại học khổng chuyên ngữ và giữa các cán bộ giảng dạy ngoại ngữ với các cán bộ giảng dạy chuyên ngành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ Đó chính là nội dung chương IV
Trong chương V, chúng tôi trình bày chương trình khung đào tạo ngoại ngữ tại Trường cho tổng thời lượng là 28 đơn vị học trình trên tổng
số 210 đơn vị học trình của một khoá học cho các nhóm ngành I, M N (I: các ngành Triết học, Xã hội học, Quán lý xã hội, Giáo dục chính trị, Giáo dục học, Tâm lý học và Quán lý giáo dục; M: Lịch sử, Thông tin thư viện, Lưu trữ và quản trị văn phòng; N: Ngôn ngữ, Văn học, Ngữ văn, Hán nôm
và Quán trị vãn phòng) theo quy định cúa Đại học Quốc gia Hà nội Đây
Trang 6là khung chương trình đào tạo ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành với những đề xuất mới về phân bố thời lượng và phân phối nội dung cũng như phương thức kiểm tra đánh giá Chương trình khung này định hướng cho việc đưa dần dần, ngay từ những giờ học đầu tiên, những thuật ngữ chuyên ngành và công tác biên soạn chương trình chi tiết cũng như giáo trình ngoại ngữ trong thời gian tới Chương trình đã được nghiệm thu vào tháng 6-2004.
Chương cuối cùng chúng tôi dành cho phần giảng dạy văn hoá nước ngoài ở lớp học ngoại ngữ bởi vì ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ qua lại mật thiết như hai mặt của một tờ giấy Ngôn ngữ đổng thời là một bộ phận của văn hoá, sản phẩm của vãn hóa và điều kiện của văn hóa Giáo học pháp ngoai ngữ đã chú trọng nhiều hơn đến việc dạy vãn hoá và khai thác những yếu tố văn hoá khi thừa nhận rằng điều đó không những rất quan trọng cho giao tiếp mà còn là điều kiện tiếp thu ngoại ngữ hữu hiệu đối với người học Hơn nữa, khi các ngành khoa học xã hội và nhân văn
do trường đào tạo có mối quan hệ mật thiết với văn hoá Việt - nam và văn hoá thế giới thì đào tạo ngoại ngữ cũng phải có những đóng góp thực sự của mình vào nhiệm vụ chính trị và chuyên môn của Nhà trường trong điều kiện có thể
Để thực hiện công trình nghiên cứu này, chúng tòi đã tiến hành thống kê lại số lượng các lớp ngoại ngữ tại Trường và thực trạng giảng dạy trong hai năm học 2002-2003 và 2003-2004 Ngoài ra, chúng tôi cũng đã soạn thảo phiếu tham khảo ý kiến sinh viên, gửi cho họ và nhận lại ý kiến phán hồi Đối với chúng tôi, đây là hai công cụ quan sát quan trọng để hoàn thành đé tài
Chúng tỏi xin chân thành cảm ơn Nhà trường, Bộ môn Tiếng nước ngoài, các bạn đổng nghiệp và các em sinh viên đã giúp đỡ và cộng tác với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Trang 7I CÁC TRƯỜNG PHÁI GIÁO HỌC PHÁP c ơ BẢN
Đã từ lâu, ở khắp nơi trên thế giới, nhu cầu giao tiếp với nước ngoài không còn là điều mới mẻ Dù cho vì lý do gì đi chăng nữa, kinh tê, ngoại giao, thương mại hay quân sự thì nhu cầu tiếp xúc với những người thuộc cộng đồng ngôn ngữ khác thực chất đã có từ xa xưa Các nhà khoa học đã nhận định rằng việc dạy và học tiếng nước ngoài đã có lịch sử 5000 năm và phương pháp ban đầu phổ biến nhất là tiếp xúc trực tiếp Trong suốt chặng đường dài như vậy, lịch sử phát triển giáo học pháp ngoại ngữ
đã có những bước thăng trầm và khó có thể phân chia rạch ròi ra từng giai đoạn với từng tên gọi riêng, khác biệt hoàn toàn với những gì diễn ra ở các giai đoạn trước đó theo mốc thời gian Mỗi một giai đoạn đều để lại dấu
ấn, đổng thời cũng có thể là sự gián đoạn, tiếp nối, thừa kế hoặc phát triển những ý tưởng khoa học, những đúc kết, những đổi mới hoặc những trào lưu của các giai đoạn trước Bối cảnh thế giới thay đổi đòi hỏi các phương pháp dạy và học ngoại ngữ có những thích ứng kịp thời Thí dụ, phương
pháp ngữ pháp-dịch ra đời đã đáp ứng được nhu cầu phổ biến nhanh
chóng, kịp thời và rộng rãi rất nhiều thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực triết học, văn học, nghệ thuật, tôn giáo thời cổ đại ở châu Âu Tuy nhiên, giai đoạn từ cuối th ế kỷ 19, các phương pháp truyền thống của phương Đông
và phương Tây đều không đáp ứng được những đòi hỏi của thời kỳ mới là giao lưu mọi mặt giữa các quốc gia, các khu vực, các tầng lớp chứ không chỉ dừng lại ở việc truyền bá những giáo lý, những ấn phẩm như th ế kỷ trước Việc ra đời các phương pháp mới, giúp người học nhanh chóng nắm được phương tiện giao tiếp là tất yếu Trong thời đại hiện nay, khi các dân tộc trên thế giới có nguyên vọng xích lại gần nhau, làm bạn với nhau- khi
người ta thường nói đến "đối thoại văn hoá" hay "đa dạng văn h o a ' thì
khía cạnh văn hoá lại là mối quan tâm đặc biệt của Giáo học pháp Ngoại ngữ Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi giới hạn dề tài ở việc
Trang 8giới thiệu rất sơ lược một vài nét tiêu biẻu của các phương pháp gây dấu
ấn trong lịch sử giáo học pháp ngoại ngữ, đặc biệt từ những năm 50 trở lại đây Chúng tôi chọn mốc thời gian này với 3 lý do:
1 Đây là giai đoạn mà các nhà nghiên cứu, các chuyên gia giáo học pháp ngoại ngữ, các nhà hoạch định chính sách ngoại ngữ và giới giáo viên giảng dạy ngoại ngữ trên thế giới có nhiều đóng góp quan trọng để xây dựng một lĩnh vực khoa học mới, non trẻ đang trên đường phát triển
dưới tên gọi Giáo học pháp ngoại ngữ thành một khoa học độc lập theo
đúng nghĩa của nó Lĩnh vực này, từ xa xưa vẫn nằm trong lãnh địa của các ngành khoa học lâu đời hơn, có danh tiếng hơn như Ngữ pháp học,Tu
từ học và Sư phạm học Khoảng một thế kỷ nay, Giáo học pháp ngoại ngữ lại được coi ỉà núp dưới bóng của Ngôn ngữ học và Tâm lý học Gần đày nhất, là của Xã hội học, Dân tộc học và các ngành công nghệ đa dạng khác Dưới ánh sáng của các ngành khoa học, Giáo học pháp ngoại ngữ đang có những khởi sắc đáng khích lệ của một khoa học đặc thù, thu hút càng ngày càng đông đảo những nghiên cứu mới
2 Đây là thời kỳ khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà Nhà nước độc lập non trẻ của chúng ta vừa phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài, vừa phải xây dựng đất nước từ đầu Những đầu tư cho dạy và học ngoại ngữ chưa có được bao nhiêu cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực hành nhưng ý tưởng của Bác Hồ về một Việt nam có thể sánh vai với các cường quốc năm châu, một Việt nam bình đẳng với các nước khác trên bàn các Hội nghị cũng phải được đặt vào bối cảnh thế giới
3 Những phương pháp này vẫn mang tính thời sự, vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến cồng việc giảng dạy ngoại ngữ, vần là sự cân nhắc lựa chọn của đội ngũ giáo viên ngoại ngữ khi đứng lớp cũng như trong khâu biên soạn giáo trình và tham gia nghiên cứu khoa học Trông chờ vào một phương pháp mầu nhiệm, vạn năng sẽ là ảo tướng và chúng ta phải có cách
Trang 9nhìn khác, cách tiếp cận khác đối với các phương pháp giảng dạy, mềm dẻo và linh hoạt.
Thuật ngữ "phương pháp" trong giáo học pháp hiện đại và trong
nghiên cứu của chúng tồi bao hàm 3 ý nghĩa:
1 Phương pháp giảng dạy hoặc phương pháp học tập để đạt được mục tiêu đề ra trong hoàn cảnh cụ thể Trong trường hợp này có thể hiểu
là cách thức hành động Ví dụ: một phương pháp tốt, một phương pháp phát huy tính tích cực của người học, một phương pháp thích hợp với lứa tuổi
2 Một cuốn giáo trình, một cuốn sách Ví dụ: Phương pháp
"Campus", Phương pháp "Le Nouvel Espaces"
3 Một trường phái nghiên cứu hoặc giảng dạy Ví dụ: Phương pháp Ngữ pháp-Dịch hoặc Phương pháp Tự nhiên
Vì vậy hiểu theo nghĩa này hay nghĩa khác tuỳ thuộc vào ngữ cảnh
1.1 P h ư ơ n g p h á p n g ữ p h á p -d ịc h :
Đây là một trong những phương pháp ra đời sớm và thịnh hành trên thế giới khá lâu Mục đích của người học là đọc và dịch các văn bản Vai trò của tiếng mẹ đẻ ở đây hết sức quan trọng Mọi hoạt động trên lớp đều được thông qua thao tác dịch Nếu cứ theo phương pháp này thì có lẽ giáo viên bản ngữ không biết tiếng của người học sẽ chẳng bao giờ dạy nổi tiếng mẹ đẻ của họ cho người nước ngoài và chẳng có chuyên sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp giữa các thành viên của các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau Nhưng thực tế không như vậy Quan niệm rằng ngôn ngữ là một hệ thống trong đó các thành phần kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định, vậy cứ nắm được quy tắc là ổn Chính vì vậy, hệ thống ngữ pháp được giới thiệu kỹ càng, giải thích rạch ròi bằng tiếng mẹ đẻ của người học Nắm vững các quy tắc ngữ pháp, hiểu các thí
dụ minh hoạ, làm được các bài tập dịch xuôi và dịch ngược là yếu tố quan
Trang 10trọng dể tiến tới đọc hiểu và dịch các văn bản Nếu phần lớn thời gian trên lớp giáo viên dùng vào việc giảng giải hệ thống ngôn ngữ thì đương nhiên học sinh chỉ ngồi nghe giảng, ghi chép một cách thụ động Sùng bái những
lý thuyết ngôn ngữ là một căn bệnh trầm kha Nhiều tác giả đã đơn giản cho rằng chỉ cần sử dụng một lý thuyết ngữ học nào đó là mọi vấn đề khắc được giải quyết, là người học sẽ nói đúng, viết đúng Việc dạy và học các
kỹ năng nghe-nói bằng ngoại ngữ hầu như không được đề cập tới trên lớp,
Sở dĩ có hiện tượng trên cũng vì một trong những luặn cứ cơ bản của phương pháp ngữ pháp-dịch cho rằng dịch là phương pháp tiết kiệm và đáng tin cậy nhất để xác định mối quan hệ trực tiếp giữa từ ngữ tiếng mẹ
đẻ và từ ngữ tiếng nước ngoài như hai dạng thức của các hình ảnh đổng loại Rõ ràng rằng nếu như năng lực ngôn ngữ (khả năng nắm bắt kiến thức ngôn ngữ trên các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng) được rèn luyện tương đối đầy đủ thì năng lực giao tiếp (đạt được các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ phù hợp trong các tình huống giao tiếp cụ thể) laị là một hẫng hụt nghiêm trọng đối với người học Thực tế đã có những người học theo phương pháp này nhiều năm nhưng không thể giao tiếp bằng ngoaị ngữ trong những tình huống thông thường chứ chưa nói đến trong môi trường chuyên môn, nghề nghiệp Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm
"sinh ngữ" được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, phương pháp này vẫn tồn tại
vì đối tượng người lớn tuổi học ngoại ngữ vẫn cho rằng phương pháp này giúp họ tiếp cận nhanh với các văn bản nước ngoài
1.2 Phương pháp trực tiếp :
Phương pháp này ra đời trên thế giới cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của chủ nghĩa tư bản cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Nhu cầu giao lưu của con người ở các khu vực khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau ngày càng gia tăng và hoàn toàn chính đáng Qua thực tế giao tiếp người
ta thấy rằng học ngoại ngữ bằng tiếp xúc trực tiếp là con đường ngắn để
Trang 11nắm bắt phương tiện giao tiếp trong đời sống thường ngày Cũng chính vì thế, khác hẳn với các phương pháp ngữ pháp-dịch hay phương pháp truyền thống, phương pháp trực tiếp không chấp nhận việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong quá trình dạy và học, cho rằng gạt bỏ tiếng mẹ đẻ tức là loại trừ những chuyển di tiêu cực mà tiếng mẹ đẻ mang lại Người ta lấy khung cảnh lớp học với những giáo cụ trực quan và tất cả những gì có xung quanh thày và trò để diễn đạt và củng cố kiến thức Tuy nhiên, để có thể
sử dụng môt ngôn ngữ, những yếu tố trên sẽ chỉ là một phần rất nhỏ trong nội dung giảng dạy Còn biết bao nhiêu khái niệm trìu tượng mà giáo cụ trực quan không miêu tả nổi Thêm vào đó, không có cách nào cỏ thê loại trừ tiếng mẹ đẻ khi người học đã biết sử dụng nó và coi nó như một phương tiện, một cái phao cứu hộ trên biển nước mênh mông là ngoại ngữ Người học không thể tránh khỏi sự can thiệp mạnh mẽ và liên tục của tiếng mẹ đẻ Chúng ta có thể cấm tiếng mẹ đẻ, đuổi nó ra khỏi cái đầu của người học trong một giờ học chứ không thể loại trừ nó khỏi đầu người học trong suốt cuộc đời Ngày nay, tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong quá trình dạy và học ngoại ngữ là vấn đề không cần phải bàn cãi Sử dụng tiếng mẹ đẻ có cân nhắc là sử dụng một phương tiện, một công cụ đắc lực của giáo viên ngoại ngữ Những phương pháp nghe -nói, nghe -nhìn ra đời sau đó có chú trọng khắc phục những điểm yếu cơ bản của các phương pháp trên
1.3 Phương pháp nghe-nói, nghe-nhìn :
Phương pháp này ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của chiến tranh thế giới lần thứ hai Đối với phương pháp này, kỹ nãng nói là mục tiêu đầu tiên Ngữ pháp ngầm hiểu được đạy và luyện trong cấu trúc, trong ngữ cảnh Mục đích chính là rèn luyện kỹ nàng nghe và nói với phương châm khẩu ngữ đi trước một bước Phải thừa nhận rằng vào thời kỳ này, các tiến
bộ của khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng vào giảng dạy ngoại ngữ ở
Trang 12nhiều nước có nền công nghiệp phát triển Việc đưa máy móc, các phương tiện nghe nhìn vào lớp học ngoại ngữ hỗ trợ đáng kể hình thành phản xạ ngôn ngữ và rèn luyện các cấu trúc Các phương tiện kỹ thuật ngày một hiện đại hơn thì con người ngày một hoàn thiện hơn công nghệ giáo dục
Sự xuất hiện của tranh ảnh, biểu đổ, radio, máy ghi âm, phim đèn chiếu của phương pháp Cấu trúc tổng thể nghe-nhìn đã thực sự làm thay đổi bộ mặt lớp học ngoại ngữ truyền thống, hỗ trợ rất nhiều cho khả năng nhận thức của người học Tuy nhiên, các chuyên gia của phương pháp này vô tình hay cố ý đã đổng nhất quá trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ em với việc học ngoại ngữ Trẻ em học nói rồi nói được thành thạo ngốn ngữ "của mẹ" chính ngay trong cộng đồng của mình bằng cách tiếp xúc tự nhiên, bằng việc "tắm mình trong ngôn ngữ" mà chẳng hề nhận biết được mặt chữ cái Ngày nay, rèn luyện đồng thời cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc viết và có ưu tiên phát triển nhiều hơn kỹ năng này hoặc kỹ năng khác cho đối tượng này hay đối tượng khác là vấn đề không còn phải bàn cãi Chúng ta phải vừa cung cấp kiến thức và vừa phải rèn luyện kỹ năng hay nói khác đi, người học phải có được năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp Rõ ràng rằng chỉ giới thiệu, rèn luyện, sử dụng lại, ghi nhớ các cấu trúc và vận dụng vào các bài tập cấu trúc là không đủ vì người học có thể làm tốt các bài tập cấu trúc trong giáo trình hoặc trên máy nhưng vẫn vô cùng lúng túng khi rơi vào một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Dạy và học sao đây để người học có thể dùng ngoại ngữ như một công cụ, một phương tiện trong giao tiếp hàng ngày, trong tiếp xúc chuyên môn ở môi trường nghề nghiệp cũng như trong đối thoại văn hoá
1.4 Phương pháp giao tiếp :
Luôn chú trọng đến năng lực giao tiếp, đến mục tiêu,nhu cầu và yêu cầu của người học, phương pháp này đã tìm cách khác tiếp cận nội dung ngữ pháp, khôi phục lại việc giải thích các hiện tượng ngữ pháp vì việc
Trang 13học bất kỳ một thứ tiếng nào cũng đều đòi hỏi một quá trình nhận thức có
ý thức Tuy luồn chú trong hoàn cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp, điều kiện giao tiếp, phương pháp này lại chấp nhận vai trò của tiếng mẹ đẻ trong thực tế giảng dạy Đúng là còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, thí dụ như cho rằng nội dung giao tiếp là quan trọng mà có phần nào nương nhẹ hình thức biểu đạt; hoặc là người học có quyền vận dụng linh hoạt mọi hình thức biểu đạt, độ lưu loát quan trọng hơn độ chính xác của phương tiện biểu đạt , phương pháp này vẫn chiếm ưu thế từ đầu những năm 70 đến nay vì học theo đường hướng giao tiếp, người học không chỉ sẽ được tạo điều kiện diễn đạt những gì xảy ra quanh họ mà còn được tạo điều kiện tiếp cận nhanh với lĩnh vực chuyên môn cụ thể Cần nói rõ rằng phương pháp giao tiếp với phương châm lấy người học làm trung tâm đã trở thành đường hướng chỉ đạo trong quy trình đào tạo của nước ta ở mọi cấp học, hình thức học và thực sự góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ Chúng tôi đề cao phương pháp này, phương pháp lấy người học làm trung tâm, phương pháp đề cao mục đích học tập, hướng người học tới thị trường lao động thực thụ với những yêu cầu nghiệt ngã của quy luật cung/cầu Và cũng chính vì vậy nhu cầu giao lưu, hội nhập giữa các nền kinh tế mới được đáp ứng Điểm nổi trội của phương pháp giao tiếp còn thể hiện ở mối liên hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và vãn hoá: ngôn ngữ và văn hoá "của mẹ"/ ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài
Giáo học pháp ngoại ngữ và đặc biệt là giáo học pháp tiếng Pháp hai thập kỷ gần đây đã có nhiều chuyển biến cả trên lĩnh vực nghiên cứu lẫn các thực thi trên lớp học Chỉ xem xét lĩnh vực tiếng Pháp trong điều kiện Việt nam, không ai có thể phủ nhận những nỗ lực của cộng đồng Pháp ngữ trong việc duy trì và phát triển một ngôn ngữ và một nền văn hoá vĩ đại của nhân loại tại một đất nước đã từng là thuộc địa của Pháp Hay đối với tiếng Anh, những biện pháp của Hội đồng Anh trong đào tạo tiếng Anh
Trang 14cho mọi lứa tuổi thông qua nhiều kênh là rất đáng ghi nhận Gần đây nữa, việc khôi phục dần dần tiếng Nga tại Việt nam không chỉ là cố gắng từ phía bạn mà đây thực sự là quyết tâm phát huy tiềm năng nga ngữ của chúng ta, tránh được một phần lãng phí Bên cạnh chúng ta, một thị trường đang rộng mở, rất cần những chuyên gia biết tiếng Trung quốc Có một thực tế là dường như chúng ta không muốn nói nhiều và nói chung chung đến các phương pháp với những đặc thù của chúng Cái chúng ta quan tâm là một quy trình đào tạo cụ thể cho một đối tượng cụ thể trên đất dụng
võ của chúng ta cũng như việc ứng dụng các thành tựu khoa học và thực tế nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đóng góp hữu hiệu vào quá trình mở cửa và hội nhập của đất nước trên mọi lĩnh vực Giáo học pháp ngoại ngữ không được phép tìm kiếm giải pháp duy nhất và tuyệt đối vì giải pháp đó không bao giờ có được Tính năng động, khả năng phân tích, phán đoán, lựa chọn những gì tối ưu nhất cho lớp học được coi như những thách thức đối với nghề dạy ngoại ngữ Nếu chỉ áp dụng một cách cứng nhắc một phương pháp thì thày và trò không thể tránh khỏi những thiếu hụt Không phải ngẫu nhiên các nhà nghiên cứu, các chuyên gia thực hành, các nhà hoạch định chiến lược phát triển ngoại ngữ lại đề cập và tranh luận rất nhiều đến một thuật ngữ vốn không phải là thuật ngữ
riêng của giáo học pháp ngoại ngữ, ẻcỉectisme (chủ nghĩa chiết trung).
1.5 Chủ nghĩa chiết trung
1.5.1 Khái niệm:
mẻthodes Essais sur l ’écìectisme Vậy rẻcỉectism e là g ì? giữa các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ và rẻcỉectỉsm e có mối quan hệ gì
không ? Tại sao vấn đề này được đặt ra?
Trang 15L ’écỉectisme, theo chúng tôi hiểu, đó chính sự chọn lọc những tinh
hoa của các phương pháp, là quyền tự do của mỗi giaó viên lựa chọn từ các nguồn, các giáo trình, ngữ liệu thích hợp cho giờ học và áp dụng phương pháp sư phạm mà giáo viên cho là hữu hiệu Có những chuyên gia
mà đại diện là F Debyser, một nhà nghiên cứu người Pháp có danh tiếng trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ đã tính đến chuyện không cần đến
giáo trình nữa (DEBYSER F., 1973, ("La mort dll manuel et le déclin de ưillusion méthodoỉogique" in Le F.D.M n° 100, pp 23-25) Nói đến tự do
là nói đến quyền tự chủ của giáo viên, là tự do trong khuôn khổ, trong mối tương quan giữa các nhiệm vụ và hoạt động của một đơn vị đào tạo, một cộng đồng Quan điểm của chúng tối là giáo trình luôn cần thiết, là một trong những khâu then chốt của tất cả các môn học, các ngành học, các
phủ nhận vâi trò của giáo trình mà là lời kêu gọi sử dụng có chọn lọc các phương pháp, các phương tiện Liệu đây có phải là một giai đoạn trong lịch sử dạy và học ngoại ngữ hay không ? có phải là một phương pháp như các phương pháp vốn đã rất quen thuộc với chúng ta như đã đề cập ở trên (phương pháp truyền thống, phương pháp trực tiếp, phương pháp nghe nói, phương pháp cấu trúc tổng thể nghe-nhìn, phương pháp giao tiếp ) hay không ? có phải là một xu hướng mới trong quy trình dạy/học ngoại ngữ không ? Câu trả lời của chúng tôi là không Thuật ngữ không mới và khái niệm mà nó biểu hiện không mới so với các thao tác chuyên môn của giáo viên ngoại ngữ trên lớp, so với công tác biên soạn giáo trình cho các bậc học hoặc trong việc tìm kiếm, lưu trữ và cập nhật nguồn tư liệu bổ trợ, thay thế Cái mới ở đây là tôn vinh rõ rệt trảch nhiệm người thầy và đề cao công tác đào tạo : đào tạo học viên và đào tạo giáo viên như hai mặt của một vân đề Đây chính là một lời kêu gọi đầu tư đổi mới quy trình đào tạo một cách có ý thức và trong điều kiện thực tế cho phcp
Trang 161.5.2 v ề sự chọn lọc
Để chứng minh cho suy nghĩ trên, chúng ta thử cùng nhìn nhận lại hai yếu tố nghề nghiệp, đó là : giờ đứng lớp của giáo viên và tài liệu giảng dạy
- Cùng với những hoạt động tương tác, đa chiều giữa thày và trò theo đường hướng giao tiếp, người thày của những năm 90 hay của thiên niên kỷ mới vẫn thấy có lúc cần đưa những bài tập dịch xuôi và dịch ngược của phương pháp truyền thống Áp dụng phương pháp nghe nhìn,
ưu tiên phát triển khẩu ngữ, biết rằng phải cho người học được nghe, nói trước rồi mới chuyển sang đọc, viết, người thày vẫn phải viết , vẫn phải dạy viết, thậm chí cho bài tập viết ngay từ những buổi học đầu tiên Lớp học truyền thống với bảng đen, giấy trắng, bút các loại, phấn các mầu, các đầu sách giáo khoa tối thiểu vẫn tồn tại Hoặc không phải lúc nào cũng dạy ngữ pháp ngầm hiểu đối với các bài tập cấu trúc Hầu như không có ai trong chúng ta trung thành tuyệt đối với phương pháp này hay phương
pháp khác, giáo trình này hay giáo trình khác Sự phản bội này, cái tiền hậu bất nhất có tính toán này lại mang lại thành công cho nghề nghiệp
Chính chúng ta và các đồng nghiệp của chúng ta ở khắp mọi nơi trên thế
giới đã áp dụng không ý thức écỉectisme và không gọi tên khái niệm đó ra
mà thôi
- Điểm qua các giáo trình và tài liệu biên soạn phục vụ giảng dạy ngoại ngữ, hay trong phạm vi hẹp hơn là giảng dạy tiếng Pháp, chúng ta cũng dễ thống nhất với nhau rằng giáo trình nào dường như cũng là điểm gặp gỡ của các phương pháp, rằng nhiều khi các trường phái có thể chung sống hoà bình, không gây tác hại cho người sử dụng, mà ngược lại Việc lựa chọn có suy xét được thể hiện ở cảch trình bày, lên trang giáo trình, sử dụng nguồn tư liệu, tài liệu bổ trợ về ngôn ngữ và đất nước học, sự phân
Trang 17bổ các hoạt động lời nói, quy định tiến độ, thời lượng Những bài hội
thoại biên soạn riêng cho các lớp học tiếng theo phương pháp Cấu trúc tổng th ể nghe-nhìn được in bên cạnh trang tư liệu văn học, sử học, thông
tin, quảng cáo hoặc một tuyên ngôn nguyên bản Mà những tài liệu
nguyên bản lại là một nhu cầu điển hình của phương pháp Giao tiếp chứ
không phải là mục tiêu của phương pháp nghe nhìn; những quy tắc ngữ
pháp rạch ròi của phương pháp Truyền thống cùng trang với các bài tập
cấu trúc, rao vặt, tin vắn, quảng cáo và các bài tập dịch truyền thống
Nói và hiểu về ẻcỉectisme là như vậy nhưng thực hiện tốt ý tưởng
này không hề đơn giản Đội ngũ giáo viên phải được đào tạo và tự đào tạo
để thích ứng với mọi tình huống vốn rất đa dạng và không thể lường hết những bất ngờ của lớp học ngoại ngữ Nếu không, vì lý do này hay lý do khác trong chuyên môn, không ít giáo viên ngoại ngữ ở các bậc học không dám đi ra ngoài những gì thể hiện trong giáo trình hoặc sách giáo khoa thường dùng, không muốn thay đổi nếp làm việc vốn đã được hình thành
từ rất lâu trước đó Chủ nghĩa chiết trung trong giáo học pháp ngoại ngữ không chỉ đòi hỏi người giáo viên có khả năng phán đoán và lựa chọn những gì tinh tú nhất từ các phươg pháp mà còn thể hiện nhu cầu cập nhật kiến thức, cập nhật thông tin Một phương pháp ra đời, có thể được đón nhận nồng nhiệt vào một thời điểm nhất định nào đó, sau đó cũng có thể bộc lộ những khiếm khuyết, không còn thích hợp nữa ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, hoặc trở nên lỗi thời hoàn toàn, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của các phương pháp khác Sự ra đời của một phương pháp, sự thay thế bằng phương pháp khác, sự phát huy các thế mạnh, sự khắc phục các bất cập hay sự kết hợp hài hoà các phương pháp trong cùng một thời điểm thể hiện nguyện vọng vươn tới những điều tốt đẹp hơn, hiệu quả hơn trong giảng dạy và học ngoại ngữ ở từng giai đoạn cụ thế với những nhu cầu cụ thể được đặt ra Ví dụ: những đòi hỏi cấp bách của chiến tranh,
Trang 18mục tiêu khoa học vũ trụ trong mối liên kết của các nước với Liên-xô cũ, hoặc giáo dục ngoại ngữ trong bối cảnh toàn cầu hoá Và thực tế là trên lĩnh vực này, dù cách tiếp cận có khác nhau thì vẫn là những tranh luận xoay quanh các đường hướng chỉ đạo, thiết kế chương trình, soạn thảo giáo trình, nguồn ngữ liệu, các kỹ năng ưu tiên, các bước lên lớp, vai trò của tiếng mẹ đẻ, mối quan hệ với công nghệ hiện đại để từ đó có hướng đào tạo giáo viên và tăng cường năng lực của học viên Đây cũng là diễn đàn quốc tế với sự tham gia đông đảo của tất cả những ai quan tâm đến giáo học pháp ngoại ngữ,
Xu hướng lấy người học làm trung tâm chiếm ưu thế rõ ràng trong hơn hai thập kỷ gần đây Điều đó là cần thiết và phù hợp với những chuyển biến thường xuyên của việc dạy và học ngoại ngữ Trung tâm của
sự chú ý là người học không có nghĩa là đẩy vai trò người dạy xuống hàng thứ yếu vì chính người dạy là người thực hiện quy trình lấy người học làm trung tâm Khác với công nhân làm việc theo dây chuyền hoặc nhà du hành vũ trụ liên tục lệ thuộc vào những điều khiển bên ngoài, người giáo viên ngoại ngữ có được những chủ động nhất định trên lớp Cùng với giáo trình quy định sử dụng, với khung chương trình đươc soạn thảo và thông qua, với quỹ thời gian cho phép, người thày có thể mang đến cho học trò nhiều hơn chúng ta tưởng Học ngoại ngữ ở ngoài môi trường tiếng, từ phong tục, tập quán, thói quen, ứng xử giao tiếp trong gia đình, ngoài xã hội, cách suy nghĩ, lối sống, những điều cấm kị, lễ hội đến đời sống chính trị, kinh tế của đất nước mà họ học tiếng luôn là những mối quan tâm của người học và cũng là những nỗ lực nghiên cứu của người thày Trong các trường đại học, một trong những hành trang vào đời mà thày và trò đang cùng chuẩn bị là khả năng sử dụng ngoại ngữ không những để giao tiếp thông thường mà chủ yếu phục vụ cho chuyên môn đang theo học Ngoài xã hội, nhu cầu sử dụng ngoại ngữ hiện nay là rất lớn và ở khắp mọi
Trang 19lĩnh vực, với nhiều đối tượng đa dạng Nâng cao năng lực ngoại ngữ của người Việt cũng là góp phần hữu hiệu vào quá trình hội nhập của đất nước.
II NÂNG CAO NĂNG Lự c NGOẠI NGỮ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
II l Trên phạm vi toàn xã hội
Vai trò của ngoại ngữ trong đời sống xã hội của một quốc gia là vấn
đề đã rất rõ ràng Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, xã hội Viêt nam đang hình thành nhu cầu phát triển nhanh chóng năng lực sử dụng ngoại ngữ của dân chúng Đi ngược dòng thời gian, chúng ta nhận thấy:
truớc những năm 70, Việt-nam trải qua những năm tháng chiến tranh rồi
khắc phục hậu quả chiến tranh Mặc dù những người sử dụng thành thạo một hay nhiều ngoại ngữ vẫn được trọng dụng và có những lơị thế nhất định trong chuyên môn hoặc khi tìm kiếm việc làm, nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ trong xã hội chưa được thể hiện rõ nét và cũng chưa có những chính sách khuyến khích từ phía nhà nước: chúng ta còn có những
ưu tiên khác cấp bách hơn Vả lại, dân chúng thực sự chưa có điều kiện sử dụng ngoại ngữ trong đời sống thường ngày Dường như các chuyên gia ngoại ngữ trình độ cao là một bộ phận cán bộ công tác trong các đơn vị quốc phòng, an ninh hay ngoại giao Họ sử dụng ngoại ngữ phục vụ cho công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và công tác ngoại giao Đồng thời cũng phải tính đến đội ngũ cán bộ giảng dạy ngoại ngữ ở bậc đại học
Vào những năm 80, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng Chúng ta
mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế, văn hoá với các nước trong khu vực
và trên thế giới Lúc này, không chỉ các cán bộ làm công tác ngoại ngữ ở các cơ quan nhà nước quan tâm đến việc học ngoại ngữ mà nhu cầu học ngoại ngữ đã phát triển trên diện rộng hơn Mục tiêu học tập của số đông các bộ là chuẩn bị điều kiện cho việc đi học tập, thực tập, trao đổi hoặc công tác ờ nước ngoài Nhờ những chuyến đi như thế này, cán bộ Việt-
Trang 20nam không chỉ tiếp thu được kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến mà còn giải quyết khá cơ bản tình hình kinh tế gia đình trong hoàn cảnh đất nước còn quá nhiều khó khăn Trong dần chúng, nhu cầu học ngoại ngữ đã tăng lên rõ rệt và dẫn đến sự khởi sắc của các trung tâm ngoại ngữ hình thành nhiều ở thành phố Tuy nhiên động cơ sử dụng ngoai ngữ vẫn còn rất mờ nhạt.
Vào những năm 90 hay nói đúng hơn là vào những năm đầu mở cửa
của Việt nam và sau khi Mỹ bỏ cấm vận, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới, sẵn sàng làm bạn với các nước, chuẩn bị cho hội nhập vào khu vực và quốc tế Các nhà đầu tư nước ngoài dến việt nam ngày càng nhiều, đổng thời các nhà sản xuất Việt-nam cũng tìm cách mở rộng thị trường ra nước ngoài Ở lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là ở bậc đại học và sau đại học, du học và liên kết đào tạo quốc tế đã trở thành xu thế Học và sử dụng ngoại ngữ trở thành nhu cầu thiết thực ở các thành phố lớn, những trung tâm kinh tế thương mại lớn
Ngày nay, chúng ta thấy rằng số lượng người có trinh độ và khả
năng sử dụng ngoại ngữ trong xã hội là rất lớn Người lao động trí óc, nghệ thuật, chân tay hay lĩnh vực dịch vụ đều thấy được vai trò và vị trí của ngoại ngữ trong đời sống nghề nghiệp Nhu cầu sử dụng ngoại ngữ tăng lên đáng kể Doanh nhân, tiểu thương, lái xe tắc xi có nhu cầu sử dụng ngoại ngữ để phục vụ cho chính công việc hàng ngày của mình Rõ ràng, nhận thức chung của xã hội và từng cá nhân đã có nhiều thay đổi Đã
có thể nói đến sự bùng nổ về nhu cầu học ngoại ngữ tạo nên môt thị trường dạy ngoại ngữ nhộn nhịp Dường như trên phạm vi toàn xã hội, ngoại ngữ là môn học thu hút được nhiều người học nhất Đồng thời, điều kiện dạy và học ngoại ngữ đã được cải thiện một cách rõ rệt Số lượng, chủng loại sách giáo khoa, sách tham khảo, thiết bị dạy học tăng lên đáng
Trang 21kể về số lượng và chất lượng, các loại giáo trình, bãng đĩa học ngoại ngữ
có bán khắp nơi
Tuy nhiên, giao tiếp là một hoạt động mang dấu ấn của một cộng đồng, khả năng tiếp xúc, trao đổi, thuyết phục bằng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ là nãng lực văn hoá Trong xã hội hiện nay, mối quan
hệ giữa các cá nhân ngày càng đa dạng, phức tạp và diễn ra với tốc độ cao trong đời sống hàng ngày và trong công việc, buộc người lao động phải có một năng lực giao tiếp văn hoá có hiệu quả mới có thể sống và lao động cùng với những người thuộc các nền văn hoá khác Người lao động Việt- nam sẽ cùng hợp tác và cạnh tranh với người lao động nước ngoài Ngoài việc nắm vững các quy luật hoạt động ngôn ngữ còn phải hiểu biết các quy tắc văn hoá-xã hội riêng biệt chi phối hoạt động giao tiếp giữa các thành viên của từng cộng đổng để tránh những hiểu lầm và hiểu sai một cách đáng tiếc Giao tiếp trong khoa học, trong các lĩnh vực chuyên môn không phải là ngoại lệ Để thành công, người sử dụng ngoại ngữ cũng cần tích luỹ những kiến thức ngôn ngữ cần thiết và phát triển thường xuyên năng lực giao tiếp Chưa bàn tới vai trò của các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước trong chiến lược phát triển ngoại ngữ, chúng tôi ý thức được rằng đây là trách nhiệm trực tiếp của các cơ sở đào tạo ngoại ngữ, các giáo viên giảng dạy ngoại ngữ Bởi, dạy ngoại ngữ ở nhiều nơi trong nước ta cho đến những năm gần đây vẫn mới chỉ là chú trọng nhiều đến năng lực ngôn ngữ, cụ thể là những yếu tố cấu trúc ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng Nhưng trên thực tế thì người học lại rất cần biết ứng xử ngôn ngữ phù hợp để diễn đạt ý định giao tiếp của mình Thực tế là quan hệ giữa hình thức ngôn ngữ và phát ngôn không phải là
1 -1 Một chức nãng ngôn ngữ có thể được biểu hiện bằng nhiều cấu trúc ngữ pháp khác nhau và ngược lại, một cấu trúc ngữ pháp có thể biểu hiện nhiều hành động lời nói khác nhau trong các tình huống giao tiếp khác
Trang 22nhau Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi ưu tiên đến công tác dạy và học ngoại ngữ cho đối tượng sinh viên không chuyên ngữ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà-nội Nâng cao năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ cho các đối tượng sinh viên không những là giúp họ thuận lợi hơn trong việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương lai, mà cũng là một phần rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ của người Việt-nam.
II.2 Đối với sinh viên đại học
Khi tiến hành nghiên cứu này, chúng tôi đã xây dựng một phiếu tham khảo dành cho sinh viên trong Trường Chúng tôi nghĩ rằng tham khảo ý kiến của họ giúp chúng tôi nhìn nhận lại công việc hàng ngày của mình và có những chỉnh sửa, cải tiến kịp thời nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Phiếu bao gồm 19 câu hỏi liên quan đến những thông tin cá nhân (tên, tuổi, khoá, khoa, ngoại ngữ đang theo học tại trường ), những chủ trương lớn của nhà trường trong đào tạo ngoại ngữ (đăng ký học ngoại ngữ, phân bố thời lượng, phân lóp ngoại ngữ theo trình độ, miễn học ), chương trình, giáo trình đang sử dụng Chúng tôi cũng quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên, đến những đề xuất của họ Đúng là
"Không thày đố mày làm nên" nhưng người học thời nay không thụ động đón nhận kién thức từ người thầy mà họ tích cực tham gia vào quá trình đào tạo của mình, điều này đặc biệt được thể hiện rõ ở các lớp ngoại ngữ
Trong giáo học pháp, người ta thường xuyên dùng từ dạy/học thay thê cho dạy và học Điều đó phần nào nói lên sự bình đẳng giữa người dạy và
người học cũng như trách nhiệm của hai phía đối với các hoạt động chung trên lớp
Sau đó, chúng tôi chuẩn bị 200 phiếu và phát cho sinh viên các khoa Tâm lý, Đông phương, Quốc tế và Du lịch là đối tượng chúng tôi đã chon trước Tại sao lại chọn 4 khoa này? Đây là những khoa chúng tôi đã có
Trang 23điều kiện tiếp xúc và đều là những khoa chúng tôi chú trọng giảng dạy ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành Chúng tôi đã có những đánh giá sơ
bộ để chuẩn bị các bước đào tạo tiếp theo Số lượng phiếu thu về là 197 phiếu Các câu trả lời của sinh viên phản ánh những suy nghĩ của các em:
* Vê nhữns chủ trươns lớn của nhà trườns trons đào tao nọ oai nsữ: Câu 8: Suy nghĩ của em về chủ trương phân lớp học ngoại ngữ theo trình
độ của sinh viên?
Chúng tôi đã phân các câu trả lời cho câu hỏi này thành 3 nhóm:
- Hợp lý, trình độ sinh viên không đồng đều có người thi vào khối
c , có người khối D, vì vậy phân chia theo trình độ là hợp lý
- Em ủng hộ chủ trương này của Nhà trường
b Cho đây là chủ trương đúng, nhưng vẫn có điều làm các em băn khoăn:
- Em cho rằng chủ trương này rất hợp lý và rất hiệu quả Song nếu như vậy thì khi thi cũng nên chia đề thi theo trình độ của sinh viên.
- Hình thức đáng khuyến khích, nội dung chưa phủ hợp
- Tốt nhưng d ề tạo tâm lý tự ty cho sinh viên
- Cần thiết song chưa thiết thực
Trang 24- Rất không khoa học
- Không tốt Phân loại theo trình độ nhưng khi thi lại đánh đồng Câu 18: Nếu được miễn học môn ngoại ngữ, em s ẽ sử dụng thời gian đó vào việc gì?
Đối với câu hỏi này, phần lớn sinh viên đã trả lời đúng như mong đợi của chúng tôi là để các em tập trung thời gian hoàn thiện ngoại ngữ ở trình độ cao, hoặc theo học một ngoại ngữ khác, hoặc dành cho tin học, hoặc cho chuyên ngành các em dang theo học, đi thực tế Với những mục đích trên, sinh viên tránh được lãng phí thời gian Tuy nhiên, cũng có 3%
số sinh viên được hỏi dùng thời gian miễn học ngoại ngữ để làm thêm để
có thu nhập hoặc có kinh nghiệm 1% trả lời là không thích được miễn học ngoại ngữ vì các em hiểu rõ rằng học ngoại ngữ là một quá trình liên tục, nếu không học đều dặn sẽ đánh mất thói quen sử dụng ngoại ngữ Mặt khác, các em cũng không muốn học ngoại ngữ ở nơi khác
* v ể chương trình, giáo trình đcins sử duns:
Câu 10: Theo em, thời lượng dành cho môn ngoại ngữ trong chương trình đào tạo cử nhân cửa khoa em đang theo học là :
- Quá nhiều
- Nhiều và cẩn thiết
- Vừa phải
- Chưa dử, cần b ổ sung thêm
Trong 4 phương án lựa chọn trên, chỉ có 1/197 sinh viên cho là quá nhiều, đại đa số cho là vừa p h ả i, số còn lại chia thành hai nhóm đồng đều
là nhiều và cần thiết/ chưa đủ, cần b ổ sung thêm Điều này cho thấy rằng
sinh viên đã ý thức được tầm quan trọng của ngoại ngữ trong nhà trường
và ngoài xã hội sau này khi các em tham gia vào thị trường lao động Dưới góc độ những người giảng dạy ngoại ngữ, tuy đây chỉ là tham khảo bước
Trang 25đầu một số lượng nhỏ sinh viên trong trường, chúng tôi yên tâm với quy định về thời lượng hợp lý dành cho môn học này.
Câu 13: Tên giáo trình đang sử dụng trên lớp
Theo em, giáo trình này có phù hợp với em không? tại sao?
Đối với câu hỏi này, sau khi nêu tên giáo trình, sinh viên đã đưa ra những câu trả lời đa dạng bởi nhu cầu, sở thích, cách nhìn nhận của các
em cũng đa dạng Hơn nữa, các em học các thứ tiếng khác nhau, đang học
ở các giai đoạn khác nhau nên trong phần trả lời có nhiều khác biệt cũng
là điều dễ hiểu Có sinh viên thích học sâu ngữ pháp, sinh viên khác chú trọng đến đọc hiểu, em khác chỉ quan tâm đến nghe nói Tuy nhiên, dưới góc độ chuyên môn, chúng tôi có thể rút ra nhiều điều bổ ích Ví dụ, có thể bảo lưu ý kiến rằng một giáo trình đo người nước ngoài biên soạn có thể là giáo trình hiện đại thú vị nhưng phần ngữ pháp lại thiếu hệ thống Hoặc một giáo trình chuyên ngành Du lịch mà lại chỉ đề cập đến mảng Lễ tân-Khách sạn là chưa đầy đủ Hay một giáo trình cho đối tượng không chuyên ngữ mà thiên về nghe nói chưa chắc đã hợp lý Chúng tôi xin trích dẫn một số câu trả lời:
- Phù hợp vì tính hợp lý phát triển cả bốn kỹ nân %
- Giáo trình hiện đại, thú vị, tuy nhiên thiếu chú trọng đến ngữ pháp
- Giáo trình không phủ hợp với trình độ
- Không thiết thực lổm và nặng vê nội dung
- Quá khó, do luyện kỹ năng nghe quá nhiều
* V é nhu cầu, nsuxên vong, đ ể xuất của sinh viên
Trong vòng nhiều năm, khi vào trường, sinh viên được đãng ký học ngoại ngữ theo nguyện vọng của mình Khi tham khảo lý do các em theohọc ngoại ngữ này hay ngoại ngữ khác, các em đã trả lời rất rõ ràng:
* Câu 7: Lý do khiến em học ngoại ngữ này à bậc đại học?
Trang 26Các câu trả lời có thể xếp thành các nhóm chính như sau:
- Đó là ngoại ngữ yêu thích:
V ì em đ ã thích tiếng Anh từ lâu
Là sỏ thích, khả năng phát triển của em
Em rất thích tiếng Pháp
- Học để sử dụng:
Đ ể giao tiếp, hiểu biết, quan hệ với người nước ngoài
Tiếng Anh là ngôn ngữ toàn cầu, tiện sử dụng
- Đa số sinh viên đều ý thức được rằng học ngoại ngữ trong trường
là để có thêm những khái niệm bằng chuyên ngành bằng ngoại ngữ và chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai, cũng chính vì thế, họ muốn học tiếp ngoại ngữ đã được học ở phổ thông, trên nền ngoại ngữ đã hình thành:
Em muốn học tiếp ngoại ngữ đ ã học ỏ p h ổ thông
Em đ ã có nền từ p h ổ thông, đã có kiến thức, d ễ học
Rất cần cho nglìê nghiệp tương lai
Em học đ ể sau này d ễ kiếm việc làm
Có ích cho nghê nghiệp
Muốn tìm hiểu sâu sắc về chuyên ngành
Tiếng Trung quốc có ít người học nên d ễ kiếm việc làm
Cũng chính vì vậy, khi trả lời câu hỏi 14: Ngoài giáo trình, các em thích được tiếp cận với các tài liệu b ổ trợ gi? thì các em đã trả lời, ví dụ :
Các bài báo, tài liệu về các điểm du lịch, các phong tục, tập quán,
lể hội phục vụ nghê du lịch
Các giáo trình chuyên ngành bằng tiếng nước ngoài
Tư liệu, sáclì tham khảo chuyên môn
Những tài liệu về đất nước, con người, văn hoá truyền thống, lịch sứ của ngôn ngữ mình học
Trang 27Luyện kỹ năng viết
Sách báo chuyên ngành
Tạp chí ngoại ngữ chuyên ngành
Chúng tôi cho rằng chưa nói đến nỗ lực và ý thức của người học, nếu mỗi cơ sở đào tạo thấy được tầm quan trọng của công việc này, nếu các nhà hoạh định chính sách thực hiện trách nhiệm điều tiết và chỉ đạo hợp lý thì những cải thiện đáng kể là điều hoàn toàn có thể hy vọng Như vậy, tuy cùng là đào tạo ngoại ngữ nhưng ở các trường khác nhau thì chương trình và nội dung đào tạo có khác nhau Một khi yếu tố chuyên ngành đặc thù được nhìn nhận nghiêm túc, một khi sinh viên có thể tiếp cận, hiểu đúng, dịch đúng được các văn bản chuyên ngành thì chúng ta mới có thể nói được rằng đào tạo ngoại ngữ của ta đã đi đúng hướng Ở các trường không chuyên ngữ, có thể sinh viên chưa nói được lưu loát, nhưng giúp các em quản lý được vốn từ chuyên môn là hết sức cần thiết trong quá trình đào tạo theo hướng chuyên ngành
III ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ THEO HƯỚNG CHUYÊN NGÀNH
Không ai có thể phủ nhận những tiến bộ đáng kể trong công tác đào tạo ngoại ngữ trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng Tuy nhiên, trong bối cảnh giao lun văn hoá quốc tế ngày càng mạnh mẽ, với xu thế hội nhập khu vực và thế giới thì ngoại ngữ lại càng đóng vai trò quan trọng Đào tạo ngoại ngữ không chỉ còn là đào tạo ngoại ngữ thông dụng hàng ngày mà phải vươn tới các chuyên ngành Điều này đòi hỏi phải có những tổng kết, những xem xét lại, nhũng đề xuất mới, những bước chuyển mới có cân nhắc trong giảng dạy và học ngoại ngữ Thực tế là dạy
và học ngoại ngữ đang tuân theo vòng xoáy cùa quy luật cung/cầu bởi hoạt động này đang thuộc về “Thị trường ngôn ngữ" Nếu chúng ta chấp
Trang 28nhận quy luật này thì chúng ta phải có một cách nhìn nhận và một thái độ
ứng xử thích hợp.
Đây là vấn đề chung của tất cả các trường đại học và chúng tôi hy vọng được chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm ở các buổi trao đổi chuyên môn với các truờng đại học khác, đặc biệt là dưới sự chủ trì của các cấp lãnh đạo ngành giáo dục về chiến lược phát triển ngoại ngữ Để đạt được mục tiêu đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành, nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chuyên môn và các đơn vị đào tạo ngoại ngữ Việc mở rộng đội ngũ các cán bộ giảng dạy kiêm nhiệm, cộng tác viên từ các đơn vị trong trường, các cơ quan, viện nghiên cứu ngoài trường sẽ hỗ trợ tích cực cho quy trình đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành Cơ chế hiện nay của các trường và của Đại Học Quốc Gia Hà Nội liên kết đào tạo và xây dựng các môn học liên ngành một cách hợp lý sẽ tạo sức mạnh cho một quy trình đào tạo ngoại ngữ chất lượng và sát với thực tế sử dụng Các trường chuyên ngữ cũng không tự hài lòng với các mô hình đào tạo ngữ văn truyền thống xoay quanh các mảng Lý thuyết tiếng, Thực hành tiếng
và Văn học mà cũng đã bắt đầu chú trọng đến các chuyên ngành mà xã hội quan tâm, chuẩn bị cho sinh viên tham gia thị trường lao động
Đào tạo chuyên ngữ như ở trường Đại học Tổng hợp cũ, Đại học Ngoại Ngữ thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội thuộc Bộ Giáo Dục và Đào tạo, bao gồm đào tạo ngoại ngữ cơ sở và ngoại ngữ nâng cao Thực tế cho thấy rằng hiện nay, muốn được thị trường lao động với các nhóm ngành nghể đa dạng, với các chuyên môn khác nhau chấp nhận, các cử nhân chuyên ngữ phải có những kiến thức chuyên ngành và phái có khả năng sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành Từ biết đến
sử dụng là cả một khoảng cách phải vượt qua Đế làm được điều này, những cử nhàn chuyên ngữ phải hoặc theo học các chương trình đào tạo
Trang 29tiếp tục, hoặc đào tạo văn bằng 2, hoặc tự đào tạo bằng cách khi làm việc
ở chuyên ngành nào thì họ sẽ bổ sung kiến thức của chuyên ngành đó Những kiến thức về chuyên ngành được học trong nhà trường dường như chưa đủ để đi sâu vào một chuyên ngành cụ thể
Nói đến ngoại ngữ chuyên ngành tức là nói đến việc sử dụng ngoại ngữ trong các lĩnh vực chuyên môn sâu với phạm vi hẹp Đào tạo ngoại ngữ cho các chuyên ngành của đại học Bách Khoa, Kinh Tế, Xây Dựng, Kiến Trúc, Thương Mại, Giao Thông, Sư Phạm, Đại học Khoa Học
Tự Nhiên, Đại học KHXH&NV cùng có điểm chung là đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành, nhưng chủ trương, mục đích, đối tượng, nội dung, chương trình, tổ chức đào tạo các chuyên ngành rất khác nhau
Vì vậy, không có đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành chung chung mà phải là đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cụ thể Đây là việc hết sức khó khăn, những lại không thể thoái thác được nếu chúng ta muốn học sinh khi
ra trường thành thạo một chuyên môn và một ngoại ngữ để lập nghiệp và thành đạt, để phục vụ đất nước một cách hữu hiệu Chỉ đào tạo cử nhân
ngoại ngữ ở các trường chuyên ngữ hoặc chỉ đào tạo ngoại ngữ cơ sở ở các
trường đại học không chuyên ngữ là cần thiết nhưng chưa đủ Đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành là xu hướng hiện nay trên thế giới, nó phải được gắn với môi trường nghề nghiệp nên không thể chỉ là một phần trong chương trình đào tạo của các trường chuyên ngữ mà nhất thiết phải là mối quan tâm của các trường đào tạo chuyên ngành, các trường khoa học cơ bản Thí dụ: Khoa Ngoại Ngữ Chuyên Ngành Đại học Bách Khoa Hà-nội hoặc Bộ môn Ngoại Ngữ Chuyên Ngành Đại học KHTN, Đại học Quốc gia Hà-nội
III.2.1.Nhu cầu vê ngoại ngữ chuyên ngành
Trang 30Những năm gần đây, cồng tác đào tạo ngoại ngữ được thực hiện trong điều kiện đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường Với chính sách mở cửa, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật nhằm theo kịp với các nước phát triển, hội nhập với khu vực và thế giới, nhu cầu
sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành ngày càng trở nên cấp thiết
a) Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, giáo viên, cán bộ khoa học, các nhà nghiên cứu cần đến ngoại ngữ chuyên ngành đê tham khảo tài liệu chuyên môn, tham gia hội nghị, hội thảo quốc tế, làm việc với chuyên gia nước ngoài, trau dồi nghiệp vụ, công bố kết quả nghiên cứu
b) Xã hội cần đến ngoại ngữ chuyên ngành và các cử nhân ngoại ngữ chuyên ngành làm công tác biên , phiên dịch cho các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế, giảng dạy, biên soạn giáo trình, xây dựng chương trình ngoại ngữ chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo khác nhau Các nhà nghiên cứu khoa học có trình độ về ngoại ngữ chuyên ngành sẽ có điều kiện phát huy nhiều hơn năng lực chuyên môn của mình và khảng định mình trong giới khoa học trong nước cũng như quốc tế,
c) Dưới góc độ hoàn thiện cơ cấu ngành nghề và đổi mới phương pháp đào tạo tại các trường đại học, nhu cầu về ngoại ngữ chuyên ngành là tất yếu và cần được đầu tư nghiên cứu Công tác đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cần được xem xét lại và cải thiện nhiều hơn nữa so với hiện nay thì mới đạt kết quả cao, có hiệu quả và tránh lãng phí
IH 2.2 Thực trạng đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành
Muốn đào tạo được ngoại ngữ chuyên ngành cần phải có một đội ngũ cán bộ giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, được trang bị kiến thức giáo học pháp ngoại ngữ Tại các trường có dạy ngoại ngữ chuyên ngành hiện nay ở Hà Nội, đội ngũ cán bộ giảng dạy chủ yếu vẫn là những sinh viên đã tốt nghiệp chuyên ngữ Một số ở nước ngoài về cũng không được
Trang 31đào tạo về ngoại ngữ chuyên ngành Mặc dù trong những năm gần đây đã
có nhiều cải thiện, nhiều giáo viên đã hoàn tất chương trình cao học về giảng dạy ngoại ngữ, song nói chung phương pháp giảng dạy vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu và nhu cầu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành
Có một số người cho rằng chỉ có các nhà chuyên môn mới dạy được ngoại ngữ chuyên ngành Chúng tôi nghĩ rằng họ cũng có cơ sở nhất định nào đó để nêu ra ý kiến trên đây Tất nhiên không đến mức khẳng định rằng không biết gì về chuyên ngành cũng có thể thành công, nhưng cần thiết phải thực tế, phải tính đến thực tế của lĩnh vực dạy ngoại ngữ Chúng
ta không có các nhà khoa học để giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, trừ những trường hợp rất đặc biệt;
Và nếu có đi chăng nữa thì phương thuốc cứu chữa có thể làm căn bệnh nan giải gấp đôi: nguy cơ thiếu năng lực giảng dạy ngoại ngữ (nếu muốn chấp nhận rằng ngoại ngữ không phải dạy thế nào cũng được); Nguy cơ tiếp theo là giờ ngoại ngữ cho đối tượng chuyên ngành biến thành giờ đọc địch các bài khoá chuyên môn, thầy đọc, thầy dịch, thầy giải thích bàng tiếng Việt, trò nghe, trò đối chiếu, trò ghi chép Có những tiết học một chuyên gia đã dịch được 8 trang giáo trình cho học viên Chúng ta phấn đấu dạy ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành chứ không phải dạy chuyên ngành bằng ngoại ngữ Vậy thì tốt hơn hết là làm tất cả với những gì chúng ta có: giáo viên tiếng nước ngoài phải dạy ngoại ngữ chuyên ngành
Tại trường Đại học KHXH&NV, Bộ môn Tiếng nước ngoài có 29 cán bộ biên chế, khoảng 30 cán bộ hợp đổng Cần phải thừa nhận rằng chất lượng giảng dạy chưa cao, chưa đổng bộ Chúng tôi sơ bộ đánh giá tình hình và nêu những để xuầt ở phần tiềp theo
Trang 32V ề giáo trìn h : Đã là môn ngoại ngữ dành cho một trường đại học
khoa học xã hội và nhân văn thì giáo trình cũng phải phản ánh được nét đặc thù của trường đó Chương trình và giáo trình phải được thiết kế sao cho khi ra trường sinh viên có khả năng giao tiếp trong các tình huống thông thường và sử dụng được tài liệu chuyên môn bằng ngoại ngữ Bộ môn Tiếng nước ngoài không thể lấy nguyên xi giáo trình lưu hành ngoài thị trường sách trong nước và thế giới hoặc những giáo trình đã sử dụng từ vài thập kỷ trước trong trường để giảng dạy cho sinh viên hiện nay Tính chuyên ngành và tính cập nhật là vô cùng quan trọng và thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay Điều này các cấp quản lý , các giáo viên đứng lớp
và sinh viên đều ý thức được Tuy nhiên, để thực hiện đổi mới giáo trình, trách nhiệm của Bộ môn là rất lớn Chúng tôi chủ trương biên soạn tài liệu bổ trợ cho những giáo trình hiện có ở giai đoạn cơ sở và biên soạn mới một số giáo trình theo hướng chuyên ngành Số lớp tiếng Anh chiếm
đa số, sinh viên của từng khoa được biên chế theo lớp riêng nên viêc biên soạn giáo trình là hợp lý Riêng các lớp tiếng Nga, Pháp và Trung quốc thuộc các nhóm ngành I,M,N lại là các lớp ghép sinh viên từ nhiều khoa nên việc chọn, biên soạn và sử dụng giáo trình vẩn còn là vấn đề mở Sẽ không có ngoại ngữ theo hướng một chuyên ngành mà là ngoại ngữ cho nhóm ngành Những bất cập là không tránh khỏi Để tránh thành lập các lớp ghép và tránh quá tải cho đội ngũ cán bộ giảng dạy tiếng Anh ( 9 biên chế phải sử dụng thêm trên 30 cán bộ hợp đồng), nên chăng hoặc là có sự điều tiết của nhà trường và các khoa, bộ môn chủ quản trong việc phân bố sinh viên học các thứ tiếng, hoăc cho phép Bộ môn Tiếng nước ngoài đề xuất giảng dạy tiếng gì cho đối tượng nào là thích hợp Có nhiều trường đại học, với số lượng sinh viên rất lớn không chủ trương mở các lớp ghép sinh viên của nhiều khoa Dựa trên đội ngũ cán bộ ngoại ngữ trong biên
Trang 33chế hiện có của Bộ môn, đã đến lúc chúng ta phải đưa vấn đề này ra xem xét lại.
Về đội ngũ giáo viên:
Lớp học ngoại ngữ không thể có đông sinh viên Theo quy định của Đại học Quốc gia và trên thực tế của trường Đại học KHXH&NV, một lớp
có từ 30 đến 35 sinh viên Căn cứ vào tổng số sinh viên toàn trường trong
5 học kỳ đầu, nhẩm tính chúng ta cũng thấy được số lượng lớp mà Bộ môn Tỉéng nước ngoài phải chịu trách nhiệm đào tạo hàng năm Hai năm gần
đây, nhà trường lấy năm học 2002-2003 và 2003-2004 là "năm Bộ môn"
Trên tinh thần đó, cán bộ thấy được vai trò hết sức quan trọng của các bộ môn Bộ môn là đơn vị học thuật nòng cốt, có chức năng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ Hưởng ứng chủ trương trên của nhà trường, dựa trên đặc thù của đơn
vị và của môn học, một mặt Bộ môn động viên cán bộ nhận thêm giờ ngoài giờ chuẩn dể hạn chế việc mời ngoài, một mặt cũng tạo điều kiện để giáo viên có thời gian tự bồi đường, nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp giảng dạy, cập nhật kiến thức, theo học các chương trình đào tạo sau đại học trong và ngoài nước Các sinh hoạt chuyên môn cụ thể được phân cấp quản lý về các tổ chuyên môn theo từng thứ tiếng giảng dạy trong trường Bên cạnh đó, tập thể cán bộ sẽ phấn đấu theo hướng chuyên mồn hoá, tham gia giảng dạy lâu dài và tương đối ổn định ở các khoa và bộ môn, chuẩn bị điều kiện để xin thành lập khoa ngoại ngữ chuyên ngành xã hôi và nhân văn
Nói đến đổi mới quy trình đào tạo ngoại ngữ là phải đề cập đến hàng loạt các yếu tố hỗ trợ tích cực tạo nên thành công cho việc giảng dạy
và học ngoại ngữ Vấn đề này đòi hỏi những nghiên cứu dài hạn, toàn diện, thích ứng với từng giai đoạn phát triển, từng loại đối tượng đào tạo
Trang 34Nghiên cứu này của chúng tôi chỉ là những suy nghĩ, đề xuất phần nhỏ trong đó và sẽ chú trọng đến các nội dung sau:
1 Chiến lược đào tạo ngoại ngữ
2 Chương trình và nội dung đào tạo ngoại ngữ
3 Khía cạnh văn hoá trong đào tạo ngoại ngữ
IV CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGOẠI NGỮ Ở BẬC ĐẠI HỌC
IV 1 Cần phải có một chiến lược đào tạo ngoại ngữ
Sự mất cân đối trong việc lựa chọn ngoại ngữ anh văn để học là điều khó tránh khỏi khi tiếng Anh trở thành ngôn ngữ có ưu thế đặc biệt: hầu hết lượng thông tin khoa học trong các ấn phẩm và trên mạng thông tin quốc tế hiện nay được viết bằng tiếng Anh Cùng với sự bùng nổ thông tin
và tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, thuật ngữ khoa học cũng ngày càng phong phú, hầu hết có nguồn gốc từ tiếng Anh Còn nữa, ngoài đường, gu ngôn ngữ cũng là gu tiếng Anh Tại các nơi cồng cộng, cửa hiệu, siêu thị, ngôn ngữ quảng cáo vẫn là tiếng Anh Vấn đề đật
ra là chúng ta cần cân nhắc học ngoại ngữ gì để hỗ trợ được nhiều cho người học trong việc tham khảo tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài hữu ích cho công tác chuyên môn Đương nhiên nhu cầu giao tiếp thông dụng không bị loại trừ Nếu chỉ dựa trên một cái gọi là nhu cầu của người học
để đưa ra chủ trương lấy tiếng Anh làm ngoại ngữ duy nhất để giảng dạy
sẽ là một sai lầm Chức năng quản lý và điều tiết đào tạo ngoại ngữ của ngành giáo dục đòi hỏi nhìn nhận rõ ràng mục đích, khả năng, điều kiện,
vị thế quốc tế của chúng ta để từ đó hoạch định và thực thi một chính sách giáo dục ngoại ngữ khôn khéo, uyển chuyển, đa mục tiêu, tránh bị lôi cuốn vào khuynh hướng độc tôn ngoại ngữ đang có nguy cơ lan rộng
Những năm cuối của thập kỷ 70 đã cho chúng ta một bài học vô cùng quý giá về giảng dạy và sử dụng tiếng Trung quốc Việc ngừng dạy
Trang 35thứ tiếng này trên pham vi toàn quốc ở các bậc học và buộc chuyển sang các thứ tiếng khác đã thể hiện những tổn thất về mặt tinh thần và quan hệ ngoại giao giữa hai nước Hơn thế nữa, việc không phát huy được trí tuệ của đội ngũ cán bộ thông thạo tiếng Trung quốc đã thực sự gây ra những thất thoát cả về tài chính lẫn thời gian cho người học Cho đến nay, khi quan hệ hai nước đã được cải thiện, mối giao lưu về mọi mặt của hai nước láng giềng càng ngày càng gia tăng thì dường như cung chưa đủ so với cầu trên "thị trường" tiếng Trung quốc Đây cũng là điều để chúng ta suy nghĩ
để tránh sự lãng phí một thời và tạo điều kiện cho công tác đào tạo trong nhà trường thích ứng với thị trường lao động
Những năm trước 1990, giảng dạy tiếng Nga góp phần hữu hiệu vào việc phát triển tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa Việt-nam và các nước cộng hoà thuộc Liên-xô cũ Nhờ sự giúp đỡ lớn lao của bạn, một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật được đào tạo cơ bản, vừa có trình độ chuyên môn cao, vừa có trình độ tiếng Nga vững vàng, trở về phục vụ cho việc khôi phục và xây dựng nền kinh tế của đất nước sau những năm dài chiến tranh Từ tháng 8 năm 1991, sau biến cố chính trị được đánh dấu bằng sự sụp đổ của hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở các nước Đống Âu, tiếng Nga không còn giữ vai trò gần như độc tôn, không còn là thứ tiếng tối cần thiết trong việc hình thành thị trường lao động đã dẫn đến việc hoặc thả nổi, hoặc không tiếp tục giảng dạy thứ tiếng này ở hàng loạt các trường, các tỉnh thành Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản đã không tận dụng được hết khả nãng chuyên môn của mình, bất đắc dĩ rơi vào tình cảnh hoặc không kiếm được việc làm, hoặc việc làm không ổn định, phải tìm cách đào tạo lại, theo học một thứ tiếng khác vì cuộc sống Sự hồi sinh trong viêc dạy và học tiếng Nga chưa có gì đảm báo đẽ tin rằng tiếng Nga
sẽ dành lại vị thế trước đày của mình
Trang 36Dưới góc độ kinh tế-xã hội, gần đây nhất, vụ kiện về cá Ba sa hay tôm Sú Việt nam là tiếng chuông cảnh tỉnh kịp thời trong quan hệ thương mại với Mỹ Nếu chúng ta quá kỳ vọng vào một thị trường lớn nhưng rất nhiều cạm bẫy mà quên đi những bạn hàng cũ - những bạn hàng tiềm năng, mà không để tâm tìm kiếm thêm bạn hàng mới thì sự phụ thuộc vào một siêu cường cùng với những điêù kiện chính trị thường thấy, sẽ mang đến cho chúng ta những hậu quả khôn lường, đi ngược lại mong đợi của chúng ta, của nhân dân ta Sự việc con tôm, con cá Việt- nam vươn tới các thị trường bên ngoài làm chúng tôi liên tưởng đến công cụ trao đổi thương mại là ngoại ngữ Điều chúng tôi muốn khẳng định là cần thiết có chính sách ưu tiên trong đào tạo ngoại ngữ nhưng không có nghĩa là chỉ chọn học và dạy tiếng Anh, nhất là trong bối cảnh hiện nay của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà-nội với hai lý do:
1 Các ngành khoa học Xã hội và Nhân văn không chỉ cần đến tiếng Anh mà còn đòi hỏi nắm vững các ngoại ngữ khác
2 Đội ngũ cán bộ giảng dạy ngoại ngữ hiện có trong nhà trường
IV.2 Đào tạo ngoại ngữ tại trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn.
Đơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo ngoại ngữ trong Nhà trường là
Bộ môn Tiếng nước ngoài
Bộ môn Tiếng nước ngoài trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn là một đơn vị trực thuộc trường gồm 28 cán bộ chính thức (trong biênchế và có hợp đồng làm việc dài hạn) được phân ra 5 tổ chuyên môn và 1
bộ phận văn phòng với số lượng như sau:
- 6 cán bộ tiếng Nga (chiếm 21,5%)
- 6 cán bộ tiếng Pháp (chiếm 21,5%)
- 4 cán bộ tiếng Trung quốc (chiếm 14,5%)
- 10 cán bộ tiếng Anh (chiếm 35,5%)
Trang 37- 2 cán bộ Văn phòng (chiếm 7,3%)
Nhìn tỷ lệ giáo viên các thứ tiếng và số lượng các lớp ngoại ngữ cụ thể trong 2 năm học 2002-2003 và 2003-2004, chúng ta thấy sự mất cân đối trầm trọng trong việc phân bố các lớp học ngoại ngữ trong Nhà trường Điều này giải thích tại sao phải mời 30 giáo viên tiếng Anh bên ngoài Đây cũng là điều trăng trở đòi hỏi Bộ môn sớm tìm ra giải pháp giảm đến tối đa số hợp đồng trên mà vẫn đảm bảo khối lượng và chất lượng cóng việc được giao
DANH SÁCH C Á C LÓP NGOẠI NGỮ NĂM HỌC 2002-2003
HỌC KỲ 1
Trang 40Từ bảng danh sách trên chúng ta thấy:
1 Tổng số lớp giảng dạy trong học kỳ: 113 lớp
Trừ các lớp ghép, còn lại 98 lớp thuần ngữ (từ số 1 đến số 98), trong đó:
- Số lớp tiếng Anh: 83/98 (chiếm 85%)
- SỐ lớp tiếng Pháp: 8/98 (chiếm 7,8%)
- Số lớp tiếng Nga: 5/98 (chiếm 4,9%)
- Số lớp tiếng Trung: 2/98 (chiếm 1,9%)
2 Lớp ghép là lớp tập hợp sinh viên từ các khoa và theo học một trong 3 thứ tiếng: Pháp, Trung quốc hoặc Nga Lý do ghép là ở các khoa không đủ
số lượng sinh viên học 3 thứ tiếng trên để biên chế thành một lớp riêng Cũng chính vì hoàn cảnh đặc biệt của các lớp này mà phòng Đào tạo và Bộ môn Tiếng nước ngoài phải trực tiếp điều hành và sắp xếp lịch học, phòng học Bất cập nảy sinh khi lịch học 2 môn Giáo dục Thể chất và Giáo dục Quốc phòng được xếp theo khoa, mà không theo lớp Nếu trong 1 lớp ghép
có sinh viên của 4 khoa thì sinh viên cứ thay phiên nhau nghỉ giờ ngoại
6 DL+ĐP: Du lịch+Đỏng phương.
7 QT+DL: Quốc tẽ+Du lịch.