L ỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở các trường trung học phổ thông Quận 3, thành p
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Đoàn Nhật Quang
QU ẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THÔNG QUA HO ẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN
KHOA H ỌC XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG H ỌC PHỒ THÔNG QUẬN 3, TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Đoàn Nhật Quang
QU ẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THÔNG QUA HO ẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN
KHOA H ỌC XÃ HỘI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG H ỌC PHỒ THÔNG QUẬN 3, TP.HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục
Mã s ố : 60 14 01 14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở các trường trung học phổ thông Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh””, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt
tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh để hoàn thành
luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, Khoa Khoa học Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng - người
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Cán bộ quản lý cùng giáo viên các trường THPT quận 3, Tp Hồ Chí Minh
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
TÁC GIẢ
ĐOÀN NHẬT QUANG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên ĐOÀN NHẬT QUANG , học viên cao học, chuyên ngành Quản lý
giáo dục, khóa 24 (2013-2015) tại Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh.Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của TS NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG thì kết quả nghiên cứu đạt được trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa có ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
ĐOÀN NHẬT QUANG
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài 8
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 11
1.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 27
1.4 Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HO ẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA H ỌC XÃ HỘI Ở TRƯỜNG THPT QUẬN 3, TP HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục tại Quận 3, TP Hồ Chí Minh 36
2.2 Thể thức nghiên cứu 39
2.3 Thực trạng giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội cho học sinh ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh 41
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 41
2.3.2 Thực trạng đánh giá giáo viên thực hiện giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học môn học 43
Trang 62.3.3 Thực trạng cơ sở để lựa chọn các biện pháp giáo dục KNS cho học
sinh THPT phù hợp thông qua dạy học các môn KHXH 442.3.4 Thực trạng cơ sở để tích hợp hệ thống kỹ năng sống trong các môn
khoa học xã hội 452.3.5 Tình hình những khía cạnh được chú trọng khi giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh Trung học phổ thông 462.3.6 Thực trạng hướng tiếp cận khi giáo dục KNS cho học sinh trong nhà
trường phổ thông thông qua dạy học các môn KHXH 472.3.7 Thực trạng chủ thể tổ chức và mức độ thực hiện việc tổ chức các lớp
bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên dạy tích hợp giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy học các môn học KHXH 472.3.8 Thực trạng mức độ tích hợp các kỹ năng sống vào hoạt động dạy
họccác môn khoa học xã hội cho học sinh Trung học phổ thông 482.3.9 Thực trạng về mức độ thực hiện giáo dục KNS cho học sinh vào dạy
học các môn KHXH ở các trường THPT quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh 502.3.10 Thực trạng về phương pháp giáo dục KNS cho học sinh thông qua
hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội trường THPT 512.3.11 Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý về hình thức thực hiện giáo
dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH trường THPT 522.3.12 Thực trạng kỹ thuật dạy học khi giáo dục KNS cho học sinh thông qua
hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 532.3.13 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục KNS khi
tích hợp vào hoạt động dạy học khoa học xã hội cho học sinh Trung
học phổ thông 542.4 Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh 562.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 56
Trang 72.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông
qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 58
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch tích hợp giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn học KHXH 59
2.4.4 Thực trạng việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về việc tích hợp giáo dục KNS vào các môn học KHXH cho học sinh các trường THPT 61
2.4.5 Thực trạng việc quản lý chỉ đạo giáo viên bộ môn tích hợp hoạt động giáo dục KNS vào các môn khoa học xã hội 62
2.4.6 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp giáo dục KNS vào các môn khoa học xã hội 64
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 65
2.5.1 Ưu điểm, nguyên nhân 65
2.5.2 Hạn chế, nguyên nhân 67
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG S ỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA H ỌC XÃ HỘI Ở TRƯỜNG THPT QUẬN 3, TP HỒ CHÍ MINH 71
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp 71
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh 73
3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục tham gia công tác giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội tại các trường THPT Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh 73
3.2.2 Quản lí việc xác định mục tiêu, nội dung giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học các các môn khoa học xã hội tại các trường THPT Quận 3 74
Trang 83.2.3 Quản lí việc lập kế hoạch bồi dưỡng nhận thức và trang bị phương pháp
giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học
xã hội 77
3.2.4 Kế hoạch hóa việc sử dụng các nguồn lực phục vụ giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 80
3.2.5 Đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 83
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội tại các trường THPT Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh 85
3.4 Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PH Ụ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
3 CBQL, GV, NV Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
4 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
14 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT 42 Bảng 2.2 Thực trạng đánh giá của giáo viên thực hiện giáo dục KNS cho học
sinh THPT thông qua hoạt động dạy học môn học 44 Bảng 2.3 Thực trạng cơ sở để lựa chọn các biện pháp giáo dục KNS cho học
sinh THPT phù hợp thông qua dạy học các môn KHXH 44 Bảng 2.4 Thực trạng cơ sở để tích hợp hệ thống kỹ năng sống trong các môn
khoa học xã hội 45 Bảng 2.5 Tình hình những khía cạnh được chú trọng khi giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh Trung học phổ thông 46 Bảng 2.6 Thực trạng hướng tiếp cận khi giáo dục KNS cho học sinh trong nhà
trường phổ thông thông qua dạy học các môn KHXH 47 Bảng 2.7 Thực trạng chủ thể tổ chức và mức độ thực hiện việc tổ chức các lớp
bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên dạy tích hợp giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy học các môn học KHXH 48 Bảng 2.8 Thực trạng mức độ tích hợp các kỹ năng sống vào hoạt động dạy
họccác môn khoa học xã hội cho học sinh Trung học phổ thông 49 Bảng 2.9 Thực trạng mức độ thực hiện của việc tích hợp giáo dục KNS cho
học sinh vào môn khoa học xã hội trường THPT quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh 50 Bảng 2.10 Thực trạng phương pháp giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt
động dạy học các môn khoa học xã hội trường THPT 51 Bảng 2.11 Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý về hình thức thực hiện giáo
dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội trường THPT 52 Bảng 2.12 Thực trạng kỹ thuật dạy học khi giáo dục KNS cho học sinh thông
qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 54
Trang 11Bảng 2.13 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục KNS khi
tích hợp vào hoạt động dạy học khoa học xã hội cho học sinh Trung học phổ thông 55 Bảng 2.14 Thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 56 Bảng 2.15 Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội 58 Bảng 2.16 Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch
tích hợp giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động dạy học các môn học KHXH 60 Bảng 2.17 Thực trạng việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về việc tích hợp giáo
dục KNS vào các môn học KHXH cho học sinh các trường THPT 61 Bảng 2.18 Thực trạng việc quản lý chỉ đạo giáo viên bộ môn tích hợp hoạt động
giáo dục KNS vào các môn KHXH 62 Bảng 2.19 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp giáo dục
KNS vào các môn KHXH 64
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ hội nhập và phát triển không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nền giáo dục các quốc gia trên thế giới Việc đẩy mạnh hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục KNS nói riêng cho thế hệ trẻ là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được ở mỗi quốc gia, vì thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước
Hiện nay, trên thế giới có hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa việc GD KNS vào các chương trình giáo dục ở mọi lứa tuổi, ở các chương trình giáo dục khác nhau, đặc biệt là các chương trình môn học thuộc lĩnh vực KHXH
Do nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cũng như đáp ứng nhu cầu của người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những năng lực cần thiết cho họ: “ năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc
sống” Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng
định, học để cùng chung sống” - mà thực chất là cách tiếp cận KNS trong giáo dục đã
quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông ở Việt Nam Tuy nhiên, nhận thức về KNS, cũng như việc thể chế hóa giáo dục KNS trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật sự cụ thể, đặc biệt về hướng dẫn tổ chức hoạt động GD KNS cho học sinh các cấp, bậc học còn hạn chế
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ mạng sống… Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu KNS Do chưa được tiếp cận với chương trình
Trang 13GD KNS nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh THPT nói riêng còn thiếu hụt những KNS cần thiết Chính vì thiếu KNS mà nhiều học sinh đã giải quyết các vấn đề gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến các tệ nạn, rủi ro
Việc GD KNS cho học sinh THPT có vai trò hết sức quan trọng , không chỉ góp phần củng cố kiến thức từ sách vở mà còn củng cố kiến thức ngoài thực tế, củng cố cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo, hành vi, cách ứng xử và đối phó với những biến đổi ngoài môi trường sống, giúp cho các em tự tin hơn trong các tình huống hay các sự cố xảy ra ngoài ý muốn của bản thân Từ đó, học sinh có thể vận dụng tốt hơn kiến thức
và áp dụng KNS một cách hiệu quả hơn
Trên thực tế cho thấy sau khi các em được giáo dục và rèn KNS, các em tự tin hơn rất nhiều, không biểu hiện những thái độ tiêu cực và dần trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống và các mối quan hệ trong xã hội, mối quan hệ con người với tự nhiên ngày càng hoàn thiện hơn Mặt khác, giúp học sinh củng cố nhân cách, phẩm chất đạo đức vốn có của người Việt
Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện GD KNS cho học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Unicef tại Việt Nam GD KNS cho học sinh được thực hiện bằng việc khai thác nội dung của một số môn học có ưu thế, đặc biệt là các môn học thuộc lĩnh vực KHXH như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân… Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nghiên cứu xây dựng
chương trình GD KNS để đưa vào chương trình giáo dục phổ thông theo hình thức tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường GD KNS thông qua các môn học sẽ gúp học sinh dễ dàng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ
đó hình thành kỹ năng, nâng cao nhận thức, phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, bản lĩnh cũng như sự năng động, sáng tạo của học sinh
Các trường THPT quận 3 trong thời gian vừa qua đã đạt được hiệu quả tích cực trong GD KNS và quản lý GD KNS; đặc biệt lãnh đạo các trường đã chỉ đạo lồng ghép
GD KNS vào các môn KHXH và đã đạt thành tích nhất định Bên cạnh đó, công tác
quản lý GD KNS cho học sinh còn bộc lộ nhiều hạn chế Việc triển khai thực hiện hoạt động GD KNS trong trường THPT còn mang tính bị động, khuôn mẫu, đơn điệu và theo thời vụ Thời lượng cũng như định lượng và sự quan tâm dành cho hoạt động GD
Trang 14KNS cho HS còn hạn chế Phần lớn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp diễn ra còn
nặng tính hình thức, lặp đi lặp lại theo định kỳ về nội dung, hình thức, chủ đề, chủ điểm trong nhiều năm học Đa số triển khai thực hiện tích hợp GD KNS trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp và chỉ là thực hiện tuyên truyền giáo dục đơn thuần chứ chưa
thực sự quan tâm lồng ghép, tích hợp nội dung GD KNS thể hiện tính chuyên biệt, đúng tinh thần Sự thiệt thòi và thiếu hụt về KNS của các em dẫn đến những hậu quả,
hệ lụy đáng tiếc trong vài năm gần đây, đáng để suy ngẫm về trách nhiệm của các nhà
quản lý, nhà giáo, các cấp ngành liên quan và trong toàn xã hội Việc quản lý GD KNS trong nhà trường đúng hướng, đúng nhu cầu góp phần tăng tính hiệu quả giáo dục toàn
diện; tạo ra cơ hội và điều kiện để HS được tiếp cận với những kiến thức, kỹ năng thiết
thực cho chính bản thân các em
Đó cũng là lý do để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở các trường
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở trường THPT Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả GD KNS cho học sinh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học các môn KHXH ở trường trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn
khoa học xã hội ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Thời gian qua, việc lồng ghép, tích hợp GD KNS thông qua hoạt động dạy học
trong các môn học, đặc biệt là các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh đã được các giáo viên bộ môn thực hiện đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn một số hạn chế bất cập trong quá trình quản lý về các mặt như tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá…nên hiệu quả chưa cao Nguyên nhân của thực trạng trên
Trang 15có thể từ nhiều phía, trong đó, phải nói đến các biện pháp quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn học trong nhà trường chưa có sự thống nhất về nhận thức
và hoạt động, chưa có sự thực hiện một cách hệ thống, đồng thời chưa phù hợp với thực tiễn dạy học ở trường THPT Vì vậy, cần phải có những biện pháp quản lý việc tích hợp một cách hợp lý, sát với tình hình thực tế để khắc phục được những hạn chế
và nâng cao hiệu quả GD KNS cho học sinh ở các trường THPT tại TP Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về công tác quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở trường THPT
5.2 Khảo sát thực trạng quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3, TP.Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở trường THPT
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung: Quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học của giáo viên
thuộc bốn môn KHXH là Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Giáo dục công dân
6.2 Về không gian: Nghiên cứu chủ yếu ở các trường THPT Quận 3, TP HCM
6.3 Đối tượng điều tra khảo sát: Cán bộ quản lý, Tổ trưởng bộ môn, Giáo viên
giảng dạy các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận:
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
GD KNS là một hoạt động gồm nhiều thành tố có mối quan hệ với nhau Việc lồng ghép, tích hợp GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH là một trong các thành tố thuộc cấu trúc của hoạt động dạy học nên khi nghiên cứu việc tích hợp GD KNS thông qua hoạt động dạy học phải đặt nó trong mối quan hệ chi phối, ảnh hưởng của các yếu tố khác như người dạy, người học, nội dung, cách thức, môi trường…Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc cần đảm bảo mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, kết quả quản lý trong công tác quản
Trang 16lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3,
TP Hồ Chí Minh
7.1.2 Quan điểm logic lịch sử
Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian
và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, và trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù hợp
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh còn nhiều tồn tại, khó khăn; trên
cơ sở đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
7.2 Phương pháp cụ thể:
7.2.1 P hương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, nghị quyết của Đảng và nhà nước về vấn đề giáo dục và GD KNS cho học sinh trung học phổ thông; phân tích tổng
hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về GD KNS cho học sinh trung học phổ thông
- Cách thực hiện: Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý luận
7.2.2.P hương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Mục đích: Phương pháp này nhằm mục đích thu nhận số liệu về đánh giá của CBQL, GV các trường THPT Quận 3 về thực trạng tích hợp, các biện pháp quản lý việc tích hợp GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH bậc THPT Các đối tượng được điều tra gồm giáo viên, tổ trưởng bộ môn và cán bộ quản lý các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
- Cách thực hiện: Để thực hiện khảo sát tác giả thực hiện các bước sau:
Bước 1: Thiết kế bảng hỏi dành cho các đối tượng
Bước 2: Chọn mẫu nghiên cứu
Bước 3: Gặp và trao đổi mục đích khảo sát với đối tượng khảo sát
Trang 17Bước 4: Tiến hành khảo sát
Bước 5: Tổng hợp kết quả khảo sát
Bước 6: Sử lý kết quả và phân tích
- Cách thực hiện: Để thực hiện phương pháp phỏng vấn bằng cách thức sau: Bước đầu: Tạo sự thân thiết, cởi mở, giới thiệu và trao đổi mục đích phỏng vấn Bước 2: Đặt những câu hỏi mang tính gợi mở, bám sát mục đích nghiên cứu Bước 3: Kết thúc cuộc phỏng vấn
7.2.2.3 Phương pháp quan sát và thu thập thông tin
Thực hiện phương pháp quan sát nhằm củng cố, thu thập thông tin về nội dung nghiên cứu Tác giả lựa chọn tiết học thuộc các môn KHXH, trao đổi với GV về mục đích quan sát và tiến hành dự giờ để quan sát việc tích hợp GD KNS thông qua hoạt động dạy học trên lớp của giáo viên
7.3 Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các kết quả thực nghiệm sư phạm và kết quả điều tra bằng phiếu hỏi
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy
học các môn khoa học xã hội ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Trang 18Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục kỹ
năng sống thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội ở các trường THPT Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Trang 19
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kỹ năng sống (KNS) và vấn đề GD KNS cho con người đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ
để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên Đó là những kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của
xã hội ở những thời điểm khác nhau
KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các
tổ chức xã hội trong và ngoài nước…ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó … Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như: Kỹ năng nhận thức,
kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng ra quyết định [49]
Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo dục chính quy Năm 2007, GD KNS ở Lào được mở rộng sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục môi trường [ 4]
Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của con người, kỹ năng làm việc vì vậy GD KNS được triển khai theo hướng là giáo dục các
kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp [4]
Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, KNS trong đời sống gia đình
Ở Bangladesh: GD KNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai [4]
Ở Ấn Độ: GD KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất và tinh thần, nhằm phát triển năng lực người
Trang 20Các KNS được khai thác giáo dục là các kỹ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán,
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quan hệ liên nhân cách vv…[4]
Như vậy, tổ chức cũng như các nước trên thế giới có sự quan tâm nhất định đến các hiệu quả GD KNS cho con người nói chung và học sinh nói riêng Tác giả sẽ tiếp thu có chọn lọc các hướng nghiên cứu trên nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
Giáo dục KNS là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với 4 mục tiêu quan trọng của giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình
Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội thảo
“Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF, Viện chiến lược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23-25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS
Từ năm học 2002-2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến GD KNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: Giáo dục đạo đức, Tự nhiên-Xã hội (ở lớp 1-3) và môn Khoa học (ở lớp 4-5) KNS được giáo dục thông qua một số chủ đề:
“Con người và sức khoẻ”
Đề tài cấp bộ tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu về “Thực trạng kỹ năng
sống cho học sinh và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên của tác giả Nguyễn Thị Oanh [30]; Giáo dục KNS của tác giả Nguyễn Kỳ Anh – giám đốc Trung tâm giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng; Một số vấn đề chung về
KNS và giáo dục KNS cho học sinh ở nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào
tạo tháng 3/2010;
- Tác giả Hà Nhật Thăng với bài “Kỹ năng sống với bậc THPT” [40]
- Tác giả Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý
và tổ chức văn hoá – giáo dục “Những biện pháp quản lý giáo dục Kỹ năng sống cho
học sinh của Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Trà Vinh”, năm (2009) Tác giả đã
khái quát về thực trạng GD KNS các trường THPT tỉnh Trà Vinh trên cơ sở đó đưa ra
Trang 21một số giải pháp về nâng cao nhận thức, tổ chức hình thức quản lý, tăng cường đánh giá chất lượng GD KNS [29]
- Tác giả Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục:
“Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp”, (2006) [48]
- Tác giả Đinh Tuyết Mai (2007) có thực hiện đề tài “Kỹ năng sống và giáo
dục kỹ năng sông cho sinh viên các trường cao đẳng thành phố Đà Nẵng” Luận văn
thạc sĩ giáo dục, trường Đại học sư phạm Vinh [27]
- Tác giả Nguyễn Xuân Hùng (2009) nghiên cứu đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng
sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sự phạm Nha Trang – Khánh Hòa” Đề tài đã phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GD KNS cho sinh viên nội trú như nâng cao nhận thức, cải tiến hình thức giáo dục, phương thức và tăng cường nội dung GD KNS cho sinh viên
- Tác giả Nguyễn Kiều Duyên, trong luận văn Thạc sĩ “Biện pháp quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh ở một số trường THCS Quận Hoàn Kiếm – Thành phố
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” đã chỉ ra những thực trạng trong công tác quản lý
của các nhà trường dành cho hoạt động quản lý giáo dục KNS trong giai đoạn hiện nay, đồng thời đưa ra một số biện pháp khả thi trong việc quản lý hoạt động giáo dục KNS phù hợp, sáng tạo và hiệu quả;… [19]
- Tác giả Lữ Thị Kim Hoa (2012) có thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh các trường tiểu học quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng” Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý GD
KNS trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp như giải pháp phát huy tiềm năng của cán
bộ, giáo viên và nhu cầu rèn luyện của học sinh, kế hoạch hóa công tác giáo dục KNS cho học sinh
- Tác giả Đoàn Lân (2012) có thực hiện đề tài “Giáo dục kỹ năng sống tích hợp
các môn học cho học sinh tại các trường THCS Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”
Kỹ năng sống là môn học không còn mới đối với học sinh các cấp học Từ lứa tuổi mẫu giáo cho tới học sinh THPT hay sinh viên ĐH cũng cần có KNS Các trung tâm giáo dục đều đưa nội dung GD KNS vào trong hoạt động giảng dạy của mình
Trang 22KNS được coi như là một môn học riêng biệt Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống giáo dục THPT của nước ta thì chưa đưa GD KNS thành một môn học cụ thể, chưa có chương trình học cụ thể Mà KNS chỉ được lồng ghép vào trong các môn học Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về KNS như: nhận thức về vai trò của GD KNS hay thực trạng
GD KNS, biện pháp GD KNS…mà chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn KHXH cấp THPT Song những nghiên cứu riêng lẻ đó cũng góp phần làm cơ sở lí luận để tìm ra biện pháp quản lý
GD KNS thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi: cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia Hoạt động QL xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung
- Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [5]
Các Mác đã nói lên được bản chất của QL là một hoạt động lao động điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, QL là một hiện tượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà nghiên cứu về QL đã nêu lên các khía cạnh khác nhau của khái niệm “QL”
- Theo Ômaror (Liên Xô) - 1983: QL là sự tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu
- Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "
Trang 23- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh
và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định"
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích"
- Peter F Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản
lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công"
Chủ trương của Peter F Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lấy quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp Vì thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tổ chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu tư tưởng là "một xã hội tự do và phát triển" Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về QL Đó là:
- Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì: “QL là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [41]
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [25]
Từ đó có thể thấy, cơ sở chính trong giải quyết độ khó của vấn đề là "quan điểm
về hệ thống", cơ sở chính trong giải quyết độ khó về thời gian là "quan điểm về sự chuyển động” Như vậy, đặc điểm lớn nhất trong lý luận của Peter F Dalark là cách nhìn hệ thống mở và chuyển động" Đây cũng là quan niệm cốt lõi trong tư tưởng triết học về quản lý của ông
Trang 24Tóm lại, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu d-ưới những góc độ, quan điểm khác nhau Như-ng dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, đư-ợc thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra QL là sự điều khiển có
tổ chức và thoả mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; Nhưng tuỳ theo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển
GD có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn là nhân
tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về KHCN thì GD có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc tranh đua đó Phát triển GD trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong chiến lược và mọi chính sách của mỗi quốc gia
Trong các nước phát triển người ta vận dụng lý luận QL GD bắt nguồn từ lý luận QL xã hội Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người trong QL xã hội” A.Gafanaxép (Viện sĩ Liên Xô) chia xã hội thành 3 lĩnh vực: “Chính trị - Xã hội”, “Văn hoá - Tư tưởng” và “Kinh tế” và từ đó có 3 loại QL: “QL chính trị - xã hội”, “QL văn hoá - tư tưởng” và “QL kinh tế” QLGD nằm trong QL văn hoá - tư tưởng [1] Trong cuốn “Cơ
sở lý luận của khoa học QLGD” thì M.I.Kôndakov viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh thì chúng ta không hiểu QL nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể QL trên cơ sở các mặt của đời sống nhà trường để bảo
Trang 25đảm sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và
GD thế hệ đang lớn lên” [26]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [33]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng HS ”
“QLGD nói chung (và QL trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể QL (hệ GD) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - GD thế hệ trẻ, đưa
hệ thống GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.” [42]
QL nhà trường phổ thông là QL hoạt động dạy và học tức là đưa hoạt động đó
từ trạng thái này đến trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu GD [42]
Như vậy, công tác QL trường học bao gồm QL các quan hệ giữa trường học và
xã hội và QL chính nhà trường
QLGD chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học QL vào lĩnh vực GD nhằm đạt những mục tiêu GD đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học - GD theo mục tiêu đào tạo
QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng GD nhằm đẩy mạnh công tác GD & ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng QL quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp QL quá trình GD
Trang 26* Chức năng quản lí giáo dục
Có bốn chức năng cơ bản:
Kế hoạch hóa – Tổ chức – Lãnh đạo (chỉ đạo) – Kiểm tra
Nhân tố gắn kết nội dung - chức năng quản lí chính là quyết định, điều chỉnh, thông tin
1.2.3 Kỹ năng sống
1.2.3.1 Khái niệm
Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo những cách khác nhau
Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là “khả năng thích nghi
và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.”
Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội
và kỹ năng và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sang tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cho rằng kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày
Có thể thấy: quan niệm về kĩ năng sống của UNESCO có nội hàm rộng hơn quan niệm của WHO, vì:
Thứ nhất: những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hàng ngày sẽ bao gồm cả những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng đọc, viết, làm tính…cả những kĩ năng từ đơn giản như là những kĩ năng của cuộc sống nói chung Trong khi đó những kỹ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp để giải quyết
có hiệu quả những tình huống trong cuộc sống…là những kĩ năng phức tạp hơn, đòi hỏi những điều kiện tâm lí và sự tổng hợp các yếu tố kiến thức, thái độ và hành vi
Thứ hai: Những kĩ năng tâm lí – xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong số những
kĩ năng cần thiết trogn cuộc sống hàng ngày
Trang 27Các quan niệm khác: Tương đồng với quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới, còn có quan niệm KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị
và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Tuy cách diễn đạt về KNS khác nhau cũng như nội hàm của khái niệm cũng theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau nhưng có thể thấy có sự thống nhất hiểu kĩ năng sống thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kĩ năng sống theo nghĩa rộng) mà không phải là phạm trù thuộc kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp) Kĩ năng theo nghĩa rộng là năng lực bao hàm cả tri thức, thái độ và hành vi, hành động trong lĩnh vực đó
Nếu hiểu KNS là năng lực (tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng thì KNS là là khả năng áp dụng những hiểu biết và kĩ năng để thực hiện/giải quyết có hiệu quả các vấn đề cả trong những hình huống mới
Còn hiểu KNS là khả năng tâm lí xã hội thì năng lực tâm lí xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác hoặc trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó
Kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng mà con người sử dụng để liên lạc và giao tiếp với những cá nhân khác xung quanh họ, được hình thành và liên tục phát triển trong môi trường sống trên cơ sở các giá trị và quy định xã hội nhất định
Nói khác đi, KNS là cách một cá thể “sống” giữa các cá thể khác: cách các bạn hành xử, cách các bạn nói năng, thậm chí là cạc các bạn cảm nhận và nhìn nhận về một
sự vật hay hiện tượng diễn ra trong cuộc sống
Trang 28- Đó là khả năng con người quản lí một cách thích hợp bản thân, người khác và
cả xa hội trong cuộc sống hàng ngày, điều này có thể xem như là năng lực tâm lí xã hội của kĩ năng sống
- Kĩ năng sống bao hàm kĩ năng xã hội Có nhiều định nghĩa về kĩ năng xã hội trong tâm lí học, nhưng nhìn chung kĩ năng xã hội được hiểu là khả năng thiết lập, duy trì và củng cố các mối tương tác xã hội “Kĩ năng xã hội đề cập đến việc chúng ta tương tác với những người khác (gia đình và bạn bè) như thế nào Việc điều khiển sự tương tác xã hội là một trong những nhiệm vụ khó khăn phức tạp nhất mà con người làm, thu hút vào đó nhiều hệ thống tâm lí như: tri giác, thị giác và thính giác, ngôn ngữ
và việc giải quyết vấn đề…” (Jessica Masty & Yoni Schwab)
1.2.3.3 Mối quan hệ giữa các kĩ năng sống
Trên thực tế các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau Các kĩ năng này liên hệ mật thiết với nhau, đan xen và bổ sung cho nhau, nhờ đó thanh, thiếu niên có thể ứng phó linh hoạt và hiệu quả đối với những nguy cơ và vấn đề khó khăn trong tình huống cuộc sống hàng ngày Ví dụ:
* Khi cần quyết định vấn đề một cách hiệu quả thì những kĩ năng sau đây thường được vận dụng:
- Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng tư duy phê phán; Kĩ năng tư duy sang tạo; Kĩ năng xác định giá trị; Kĩ năng kiên định
* Để có thể giao tiếp một cách hiệu quả cần phối hợp những kĩ năng sau:
- Kĩ năng tự nhận thức; Kĩ năng thương lượng; Kĩ năng tư duy phê phán; Kĩ năng lắng nghe tích cực; Kĩ năng chia sẻ, cảm thông; Kĩ năng kiềm chế
Những kĩ năng sống trên đây thường không được dạy một cách riêng biệt mà phải được thực hiện như một phần không thể tách rời của các chương trình giáo dục đa dạng gắn với các bối cảnh cụ thể
1.2.4 Giáo dục kỹ năng sống
1.2.4.1 Khái niệm
Từ những phân tích về kĩ năng sống và mục đích của giáo dục kĩ năng sống có thể rút ra: Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây
Trang 29dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp
GDKNS là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống
Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học
từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống
cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội
1.2.4.2 Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
* Các nguyên tắc thay đổi hành vi
Viện hàn lâm khoa học Mĩ (NAS) đã nghiên cứu và giới thiệu mô hình 7 nguyên tắc thay đổi hành vi của con người như sau:
- Cung cấp thông tin là điểm khởi đầu tất yếu của bất cứ sự cố gắng mong muốn thay đổi hành vi nào Thông tin cần dễ hiểu và phù hợp với người học đối tượng mà chúng ta muốn họ thay đổi hành vi
- Tập trung vào những thông điệp tích cực, hình thành, duy trì và củng cố những hành vi lành mạnh và hướng tới cuộc sống tốt hơn cho mọi người trong cộng đồng Cần rất hạn chế sử dụng những thông điệp mang tính đe dọa để động viên sự thay đổi hành vi
- Giáo dục theo quy mô nhỏ và cần độ lâu về thời gian:
Giáo dục kĩ năng sống cũng như giáo dục phát triển bền vững chủ định xây dựng các
kĩ năng để có hành vi lành mạnh Điểm phân biệt giữa chương trình giáo dục kĩ năng sống với các chương trình trình khác là: Trong khi các chương trình giáo dục khác thường chỉ cung cấp thông tin ngắn cho một số lớn người tham dự thì chương trình kĩ năng sống được tiến hành trong các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian dài để động viên người tham gia chấp nhận những hành vi mới, để dạy những mô hình các kĩ năng cần thiết nhằm đạt được những
Trang 30hành vi đó, để tiếp tục củng cố những kĩ năng mới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành vi lành mạnh
- Khuyến khích tư duy phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cá nhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nó trong số những phương
án có thể trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm ra phương án phù hợp với mình Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sống cần hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia học được rất nhiều sự lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn
- Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi: Vì sự thay đổi sẽ dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cá nhân nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác với cộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi
- Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng có thể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổ sung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ sở thuận lợi cho sự thay đổi, cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác
- Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ: Sự tái phạm có thể xảy ra Do đó bất kì một chương trình cần tìm đến sự thay đổi hành vi lâu dài thì cần xay dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúp người tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi họ đã tái phạm
* Các nguyên tắc quan trọng đối với giáo dục kĩ năng sống
- Tổ chức các hoạt động cho người học để phản ánh tư tưởng/suy nghĩ và phân tích các trải nghiệm trong cuộc sống của họ
- Khuyến khích người học thay dổi giá trị, thái độ và cách ứng xử cũ để chấp nhận những giá trị, thái độ, cách ứng xử mới
- Đặt tầm quan trọng vào giải quyết vấn đề, không chỉ là ghi nhớ những thông điệp hoặc các kĩ năng
- Cung cấp cơ hội cho người học tóm tắng/tổng kết việc học của mình, giáo viên không tóm tắt thay họ
Trang 31- Người học vận dụng kĩ năng và kiến thức mới vào các tình huống thực của cuộc sống
- Tổ chức các hoạt động học tập dựa trên cơ sở tôn trọng lần nhau giữa người dạy và người học
* Giáo dục kĩ năng sống dựa vào trải nghiệm: Giáo dục dựa vào sự trải nghiệm
hay học tập qua kinh nghiệm dựa trên các hoạt động có hướng dẫn Đây là hình thức học tập gắn liền với các hoạt động có sự chuẩn bị ban đầu và có phản hồi, trong đó đề cao kinh nghiệm chủ quan của người học Như vậy trong hình thức học tập này, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn thúc đẩy việc trực tiếp trải nghiệm của học sinh, đảm bảo quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức của học sinh có ý nghĩa lâu dài
* Các con đường giáo dục kĩ năng sống
- Giáo dục KNS được thực hiện trước hết trong quá trình giáo dục ở nhà trường
- Kĩ năng sống được giáo dục trong nhà trường có thể thông qua tiếp cận KNS
- Học kĩ năng sống trong quá trình dạy học các môn học, các nội dung giáo dục
- thông qua tiếp cận kĩ năng sống Đây là cách thức đạt hiệu quả cao trong quá trình
GD KNS và quá trình dạy học Theo tác giả Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp môn học được chia thành 2 nhóm lớn:
(1) Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học
(2) Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học
Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, thường dựa vào một môn học công cụ Trong trường hợp này môn học tích hợp được cùng một GV giảng dạy
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp
Trang 32Lên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, hệ thống khái niệm trong các môn học phức tạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường
do một GV được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người ta thiên về áp dụng cách 4, tuy có nhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua
vì DHTH là xu hướng tất yếu, đem lại nhiều lợi ích
Tác giả D' Hainaut (1977) đưa ra 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học
- Quan điểm "đơn môn": có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
- Quan điểm "đa môn": một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục được tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung
- Quan điểm "liên môn": nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn
đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau
- Quan điểm "xuyên môn": nội dung học tập hướng vào phát triển những kĩ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau
- Bốn trụ cột trong giáo dục là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: Học để biết, học để chung sống với mọi người, học để tự khẳng định mình, học để làm
- Học KNS thông qua đào tạo chuyên biệt dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Thông qua dịch vụ tham vấn
1.2 4.3 Ý nghĩa của giáo dục KNS cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
* Giáo dục KNS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường THPT: Mục tiêu của giáo dục THPT đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức
sang trang bị năng lực cần thiết cho học sinh, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Bản chất của giáo dục KNS là hình thành và phát triển cho học sinh những khả năng: làm chủ bản thân, giao tiếp ứng xử…rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông
Trang 33* Giáo dục KNS là chuẩn bị hành trang cho học sinh thích ứng với những thách thức của cuộc sống hội nhập và phát triển
- Giữa nhận thức và hành vi con người có khoảng cách KNS là cầu nối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi tích cực lành mạnh
- Trong cuộc sống hội nhập, phát triển người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng, biết ứng xử tích cực và phù hợp sẽ thành công hơn và yêu đời hơn Người thiếu
kĩ năng sống thường vấp ngã, dêc bị thất bại trong cuộc sống
- Bên cạnh việc chuẩn bị hành trang cho cá nhân, giáo dục KNS còn góp phần ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội
Xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống với tốc
độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu Hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trước đây nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro
Nói cách khác, để đến bến thành công và hạnh phúc trong cuộc đời, con người sống trong xa hội trước đây ít gặp những rủi ro và thách thức như con người như con người sống trong xã hội hiện đại Chính vì vậy, con người sống trong xã hội hiện đại cần phải có kĩ năng sống để thành công và nâng cao chất lượng cuộc sống
Để phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống, chúng ta mong muốn mỗi người có một cuộc sống tích cực, lành mạnh, hạnh phúc Chính vì vậy, KNS đã trở thành một tập hợp phần quan trọng trong nhân cách con người sống trong xã hội hiện đại
“ Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ
ta có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta, mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào” (Lewis L.Dunnington)
- Nếu con người có kiến thức, có thái độ tích cực mới dảm bảo 50% sự thành công, 50% còn lại là những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống mà ta thường gọi là kĩ năng sống
Kĩ năng sống giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói
quen lành mạnh Những người có kĩ năng sống là những người biết làm cho mình và
Trang 34người khác cùng hành phúc Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời
và làm chủ cuộc sống của chính họ
1.2.5 Quản lý giáo dục kỹ năng sống
Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản và có hệ thống, còn phải luôn luôn mang lại hiệu quả giáo dục nhân cách, KNS cho các em, đó chính là hình thành cho học sinh ý thức và niềm tin, thái độ ứng
xử đúng đắn trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, hành vi và các kỹ năng hoạt động, các giá trị sống cơ bản cho học sinh
Quản lý GD KNS là quá trình tác động của chủ thể quản lý (CBQL) đến giáo viên và học sinh được tiến hành theo chương trình kế hoạch, nhằm đạt mục tiêu giáo dục học sinh một cách toàn diện Quản lý giáo dục kỹ năng sống trong trường THCS cũng không tách rời các chức năng của quản lý, quản lý nhà trường và quản lý giáo dục Nó là một hoạt động nhằm tiến hành khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục nhằm thay đổi nhận thức hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết
Quản lý GD KNS là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để nâng cao GD KNS trong nhà trường
Quản lý GD KNS chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ
quản lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để tổ chức, thực hiện công tác
GD KNS Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động GD KNS trong nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh
Từ đó có thể nói: “Quản lý GD KNS trong nhà trường được hiểu như là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động GD KNS của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh đã đề ra”
Trang 35Mục tiêu của quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giúp học sinh sống thành công, hiệu quả trong cuộc sống tương lai
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được tiến hành với những chức năng cụ thể: lập kế hoạch giáo dục, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện nội dung, chương trình và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được tiến hành trong mối quan hệ mật thiết với quản lý giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động giáo dục khác
Dạy học là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên nhằm giúp học sinh tự tổ chức hoạt động nhận thức hình thành tri thức, kỹ năng, thái độ thực hiện có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ dạy học đề ra Thông qua hoạt động dạy học có thể tiến hành các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục toàn diện nhân cách học sinh trong đó có việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học là một quá trình được tiến hành bằng việc thực hiện lồng ghép mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng sống với nội dung dạy học môn học và vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh hình thành hành vi mới hoặc thay đổi hành vi thói quen theo chiều hướng tích cực và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đề ra
Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) Quan niệm về kĩ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kĩ năng sống cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định, kĩ năng đặt mục tiêu…nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn
Trang 36Tích hợp GD KNS là những nội dung giáo dục kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh được tích hợp, lồng ghép vào trong những môn học cụ thể Mục đích là trang
bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết thông qua những môn học trong nhà trường THPT
1.2.8 Dạy học
Theo tác giả Lưu Xuân Mới, trong cuốn Lí luận dạy học đại học: Ông cho rằng học chữ phải gắn liền với sự vật cụ thể, học không chỉ dựa vào sách vở mà phải dựa vào thiên nhiên
- Nguyên tắc thích ứng tự nhiên và đảm bảo tính trực quan
- Quá trình dạy học phải trải qua các giai đoạn: Cảm giác, trí nhớ, tư duy và năng lực phê phán sáng tạo
- Quá trình dạy học phải phù hợp với người học và sự hiểu biết là do các giác quan đem lại
Dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình và phát triển nhân cách của người học Đó là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng thời gian và không gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học
1.2.9.1 Ho ạt động dạy
- Dạy học được hiểu là một hình thức đặc biệt của giáo dục (nghĩa rộng), xem như là một trường hợp riêng của giáo dục Dạy học là con đường đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phối hợp với các con đường khác, các hoạt động khác trong quá trình giáo dục, để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đề ra
- Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm
xã hội và nghề nghiệp cho người học nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Dạy học bao hàm trong nó sự học và sự gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là sự giảng giải mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo và điều khiển sự học
Trang 37- Dạy học là một mặt của quá trình dạy và học do người giáo viên thực hiện theo nội dung, chương trình đào tạo đã định nhằm giúp người học đạt được các mục tiêu học tập theo từng bài học hoặc toàn khóa đào tạo Hoạt động dạy học không chỉ hướng tới việc truyền thu kiến thức, hình thành kĩ năng kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của học viên
- Dạy là hoạt động của giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho học sinh những nội dung đáp ứng được những mục tiêu đề ra, mà còn hơn nũa là hoạt động giúp đỡ chỉ đạo và hướng dẫn học sinh trong quá trình lĩnh hội Chỉ khi nào nắm bắt được các điều kiện bên trong (hiểu biết, năng lực, hứng thú…) của học sinh thì giáo viên mới đưa ra được những tác động sư phạm phù hợp để hoạt động học đạt hết quả như mong muốn
1.2.9.2 Hoạt động học
+ Học, theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động phát triển của con người, là sự lĩnh hội những “sức mạnh bản chất người” đã được đối tượng hóa trong các sản phẩm của hoạt động con người
Đó là hoạt động phản ánh những mặt nhất định của hiện thực khách quan vào ý thức người học Tuy nhiên, nó chủ yếu hướng vào người học vào lĩnh hội những chân lí đã được loại người phát hiện nhưng lại là mới đối với họ
- Hoạt động học là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua
đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan
Hoạt động dạy học gồm 2 mặt của quá trình đó là dạy và học luôn đi kèm biện chứng với nhau Hoạt động dạy học có các đặc trưng sau đây:
+ Thể hiện vai trò chủ đạo của giáo viên
+ Là một hoạt động có mục đích rõ ràng
+ Có nội cung, chương trình, kế hoạch cụ thể
+ Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, phòng thí nghiệm,…)
+ Sử dụng các phương tiện đa dạng (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu)
+ Đa dạng về hoạt động: nhận thức, trí tuệ, thao tác, vận động…
Trang 38+ Kết quả hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả của hoạt động học tập
Khoa học xã hội là những môn học liên quan đến Văn hóa- Xã hội Trong chương trình học tại nhà trường THPT, các môn khoa học xã hội gồm: Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân.Thường thì KHXH tập trung nghiên cứu các vấn đề xã hội, triết học
Việt Nam đang triển khai đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông (bắt đầu thí điểm từ năm học 2003 – 2004) Việc đổi mới thể hiện qua đổi mới về mục tiêu, phương pháp giáo dục, nội dung và phưowng pháp giáo dục
Cùng với đổi mới phương pháp giáo dục thì một số nội dung hàm chứa kĩ năng sống đã được tích hợp vào chương trình, sách giáo khoa các môn học ở chương trình các bậc học, ngành học nói chung và ở bậc THPT nói riêng Các môn học được tích hợp kĩ năng sống chủ yếu là những môn thuộc khoa học xã hội như: Ngữ văn, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân
1.3 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học các môn khoa học xã hội
1.3.1 Giáo dục kĩ năng sống thông qua môn Ngữ văn
Với đặc trưng của một môn khoa học về KHXH và nhân văn, bên cạnh nhiệm
vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn ngữ văn còn giúp các học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người
Với tính chất là môn học công cụ, môn ngữ văn giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ
để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội con người
Với tính chất là môn học thẩm mĩ, môn ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách
1.3.1.1 Quan điểm giáo dục KNS trong môn ngữ văn
- Bám sát những mục tiêu giáo KNS, đồng thời bám vào mạch kiến thức – kĩ năng của giờ dạy ngữ văn
Trang 39- Tiếp cận giáo dục KNS theo 2 cách: nội dung và phương pháp dạy học, trong
đó nhấn mạnh đến cách tiếp cận phương pháp Nghĩa là thông qua nội dung và phương pháp dạy học để giáo dục KNS cho học sinh, chứ không phải tích hợp vào nội dung bài dạy Rèn luyện KNS cho học sinbh thông qua các giờ học bộ môn
- Đưa những nội dung giáo dục tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó có
“độ mở” tạo điều kiện cho giáo viên có thể phát huy tính linh hoạt trong việc vận dụng các tình huống giáo dục
- Giáo dục KNS trong môn học ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, là giáo dục theo con đường “mưa dầm thấm lâu” không gượng ép, áp đặt
1.3 1.2 Mục tiêu giáo dục KNS ở trường THPT thông qua các giờ học ngữ văn
- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, cũng như các giá trị tốt đẹp của nhân loại, góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp
- Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần và bản thân người khác
- Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS
- Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả
và tự tin trong những tình huống giao tiếp hàng ngày
- Có suy nghĩ và hành động tích cực, cón những quyết định đúng đắn trong cuộc sống
- Có kĩ năng quan hệ và hợp tác tích cực, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống, giúp học sinh phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân
- Có hứng thú và nhu cầu thể hiện những KNS đã rèn luyện được, đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các kĩ năng đó
- Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, xã hội và cộng đồng
Trang 40- Có ý thức về quyền và trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã
hội, có ý thức định hướng nghề nghiệp
Môn Lịch sử có nhiều thuận lợi trong giáo dục, rèn luyện KNS cho học sinh bởi nội dung chứa đựng nhiều bài học quý báu giúp giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức tự chủ, tinh thần chiến đấu…
Đây cũng là môn học buộc học sinh phải vận dụng rất nhiều kỹ năng tư duy sáng tạo, phân tích đánh giá, vận dụng và rút ra bài học bổ ích cho bản thân
Ví dụ: Trong bài Phong trào cách mạng 1930 – 1935, có thể lồng ghép những
kĩ năng như: Kĩ năng tư duy độc lập, liên hệ thực tế, thể hiện sự đồng cảm, nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc
Hay trong bài: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực pháp kết thúc, những
KNS có thể giáo dục cho học sinh như: kĩ năng nhận định vấn đề, kĩ năng suy đoán
tình huống, kĩ năng rút ra kết luận và nhận xét…
Địa lí là môn học cung cấp cho học sinh những hiểu biết cả về tự nhiên và xã hội Vì vậy việc giáo dục KNS trong môn địa lí là hết sức cần thiết, nhằm giúp học sinh có những kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường, với xã hội, có khả năng ứng phó và giải quyết một số vấn đề thường gặp trong cuộc sống do điều kiện tự nhiên cũng như xã hội mang lại
* Mục tiêu giáo dục KNS trong môn địa lí ở trường THPT
Môn Địa lí với đặc điểm nội dung và phương pháp dạy học đặc trưng sẽ góp phần vào việc giáo dục KNS, tập trung vào các kĩ năng nòng cốt với giáo dục phổ thông Việt Nam như: