Tại Cục SHTT đã có một số nghiên cứu về vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo; thông tin SHCN đối với hoạt động nghiên cứu - triển khai hoặc có một số bài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ TOÀN THẮNG
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ TOÀN THẮNG
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Hải
Hà Nội, 2010
Trang 31
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết nghiên cứu 9
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Kết cấu của Luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Tổng quan về nhãn hiệu 12
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 12
1.1.2 Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu 14
1.2 Khái niệm thông tin KH&CN 15
1.2.1 Khái niệm thông tin 15
1.2.2 Khái niệm thông tin KH&CN 16
1.2.3 Khái niệm thông tin về nhãn hiệu 18
1.3 Mối quan hệ giữa thông tin KH&CN và nhãn hiệu 19
1.3.1 Thông tin KH&CN đối với việc xác lập quyền (thẩm định đơn) đối với nhãn hiệu 20
1.3.2 Thông tin KH&CN đối với việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu 26 1.4 Khái quát về việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu 28
1.4.1 Quản lý nhãn hiệu 28
1.4.2 Bảo hộ nhãn hiệu 30
* Kết luận Chương 1 32
CHƯƠNG 2 .33
THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC THÔNG TIN KH&CN 33
TRONG VIỆC XÁC LẬP VÀ THỰC THI QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 33
2.1 Khái quát về thực trạng xác lập và khai thác quyền SHCN đối với nhãn hiệu 33
Trang 42
2.1.1 Thực trạng xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu 33
2.1.2 Thực trạng khai thác quyền SHCN đối với nhãn hiệu 37
2.2 Thực trạng khai thác các nguồn thông tin KH&CN trong thẩm định đơn đăng ký nhãn hiệu 43
2.2.1 Thông tin KH&CN đối với việc thẩm định hình thức 43
2.2.2 Thông tin KH&CN đối với việc thẩm định nội dung 44
2.3 Thực trạng khai thác các nguồn thông tin KH&CN trong xác lập quyền đối với nhãn hiệu 4746
2.3.1 Nhận thức của doanh nghiệp về thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu 4746
2.3.2 Thiệt hại của doanh nghiệp do tranh chấp về nhãn hiệu do thiếu thông tin KH&CN 5150
2.4 Thực trạng khai thác các nguồn thông tin KH&CN trong giải quyết vụ việc liên quan đến thực thi quyền 5352
2.4.1 Thông tin KH&CN trong việc giám định và giải quyết khiếu nại xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu 6261
2.4.2 Thông tin KH&CN trong việc xác định khả năng bảo hộ đối với nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi, nhãn hiệu nổi tiếng 65
2.4.3 Thông tin KH&CN trong việc giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại 68
* Kết luận Chương 2: 73
CHƯƠNG 3 .74
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC THÔNG TIN KH&CN 74
TRONG VIỆC XÁC LẬP VÀ THỰC THI QUYỀN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 74
3.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, khai thác các nguồn thông tin KH&CN trong xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu 74
3.1.1 Quy định hiện hành và vấn đề cần xử lý 74
3.1.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách 79
3.2 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN về nhãn hiệu 82
3.2.1 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN quốc gia về nhãn hiệu 82
3.2.2 Xây dựng nguồn thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu do địa phương quản lý 83
3.3 Tăng cường năng lực khai thác thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu 86
3.3.1 Xây dựng mô hình khai thác thông tin KH&CN đối với nhãn hiệu 87 3.3.2 Nâng cao hiệu quả khai thác thông tin KH&CN 90
* Kết luận Chương 3 94
Trang 53
KẾT LUẬN 95KHUYẾN NGHỊ 97DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 64
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSDL: Cơ sở dữ liệu
DNTN: Doanh nghiệp tƣ nhân
GCNĐKNH: Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu KH&CN: Khoa học và công nghệ
SHCN: Sở hữu công nghiệp
SHTT : Sở hữu trí tuệ
Trang 75
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1 Thống kê số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu từ 2003-2008 trang 39 Bảng 2 Thống kê hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng trang 40 Bảng 3 Thống kê hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sở hữu trang 40 Bảng 4 Khiếu nại về việc cấp Văn bằng bảo hộ trang 42 Bảng 5 Khiếu nại về việc vi phạm quyền SHCN trang 42 Bảng 6 Thống kê số lƣợng Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đã
đƣợc cấp từ 2003-2008 .trang 44
Trang 8Vấn đề thông tin KH&CN, đặc biệt là thông tin SHCN với việc quản lý
và bảo hộ nhãn hiệu được chú ý nhiều từ những năm 1980, khi mà số đơn đăng ký nhãn hiệu đang có xu hướng tăng dần lên nên vấn đề thẩm định đơn cần kịp thời và chính xác càng ngày càng được ưu tiên quan tâm và cũng là khi tình trạng xâm phạm quyền SHTT đặc biệt là nhãn hiệu đang ngày trở nên báo động Bởi vậy thông tin KH&CN cho việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu là một vấn đề bức thiết cần giải quyết
Với mong muốn nâng cao năng lực tài nguyên thông tin và năng lực vận hành của cả hệ thống nhằm chủ động đáp ứng nhanh chóng, chính xác các nhu cầu thông tin của mọi giới dùng tin, đồng thời góp phần hạn chế những thiếu sót, những lỗi đáng tiếc hay hạn chế những tranh chấp quyền đối với nhãn hiệu cần khai thác vai trò của thông tin KH&CN trong giai đoạn thẩm định đơn cũng như việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu Do vậy tôi chọn
“Vai trò của thông tin khoa học và công nghệ trong việc quản lý và bảo hộ nhãn hiệu” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý
KH&CN
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên bình diện quốc tế, việc ban hành các Công ước và Hiệp ước liên quan đến SHCN có thể kể đến: Công ước Paris về bảo hộ SHCN 1883, tiếp đến là Hiệp ước Hợp tác về sáng chế - PCT, Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hoá, Thỏa ước Madrid và Nghị định thư về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, gần đây nhất là Hiệp định về các Khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (Hiệp định TRIPS) chứa các điều khoản về chuẩn
Trang 97
mực liên quan đến sự sẵn sàng, phạm vi, việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, mua bán và duy trì và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục liên quan, và các thoả thuận chuyển tiếp và thể chế
Một số các nghiên cứu của các học giả nước ngoài có liên quan đến thông tin KH&CN trong lĩnh vực SHCN, ví dụ tác giả Shinichiro Suzuki
thuộc Viện Sáng chế và Sáng kiến đã có nghiên cứu qua tác phẩm Mục đích
sử dụng biểu đồ sáng chế - Vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo Tác giả Shahid Alikhan với tác phẩm Lợi ích kinh tế - xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển, NXB Bản đồ
phát hành năm 2007 Tổ chức European Patent Office đã phát hành tác phẩm
Patent information products and services 2008 bàn về thông tin sáng chế
Tại Việt Nam, thông tin KH&CN trong lĩnh vực SHCN cũng được một
số học giả quan tâm, có thể điểm một số công trình, đó là Nguyễn Tuấn Hưng, Giám đốc Trung tâm thông tin thuộc Cục Sở hữu trí tuệ với bài nghiên cứu
Khai thác và ứng dụng thông tin sáng chế
Các Hội thảo khoa học có liên quan đến thông tin KH&CN trong lĩnh
vực SHCN, có thể kể đến Hội thảo về “Thông tin sáng chế và hiệp ước hợp
tác bằng sáng chế (PCT)” do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Cục sở
hữu trí tuệ Việt Nam, Đại học Bách khoa Hà nội phối hợp tổ chức năm 2003 Ngày 2 tháng 2 năm 2007, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ đã tổ chức Hội thảo lần thứ nhất
Dự án "Ứng dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam" Lần đầu tiên, thư
viện điện tử về sở hữu công nghiệp (IPLib) đã được giới thiệu Thư viện này bao gồm tất cả các đơn sở hữu công nghiệp được nộp vào Cục Sở hữu trí tuệ
từ năm 1982 đến nay đã được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp (vào khoảng 130.000 đơn các loại và hơn 90.000 văn bằng bảo hộ) và theo dự kiến được cập nhật thường xuyên Thư viện điện tử IPLib này là nguồn thông tin pháp lý đầy đủ nhất và là nguồn thông tin khoa học công nghệ có giá trị về tình trạng bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam
Trang 108
Năm 2009 Cục SHTT phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
đã tổ chức Hội thảo Phát triển và ứng dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt
Nam trong khuôn khổ Dự án hợp tác kỹ thuật Việt Nam – Nhật Bản Dự án
hợp tác kỹ thuật Việt Nam – Nhật Bản do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, đã được triển khai tại SHTT từ 01/01/2005, và sẽ kết thúc vào 31/03/2009 Trong hơn bốn năm qua, Dự án đã phát triển và đưa vào ứng dụng Hệ thống thông tin SHTT tại Việt Nam, bao gồm hệ thống máy tính cùng các phần mềm ứng dụng như Hệ thống tra cứu thông tin dùng cho thẩm định đơn sở hữu công nghiệp, Hệ thống thư viện điện tử để cung cấp thông tin sở hữu công nghiệp
đã công bố cho công chúng, Hệ thống nộp và nhận đơn sở hữu công nghiệp điện tử
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN Vai trò của thông tin
khoa học và công nghệ đối với hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội của học viên Nguyễn Thị Hương đã đề cập đến vai trò
của thông tin KH&CN đối với việc bảo hộ quyền SHCN trên địa bàn TP Hà Nội, Luận văn này đã phân tích các tác động tích cực và chưa tích cực của thông tin KH&CN đến đối tượng khảo sát là bảo hộ và thực thi quyền đối với các đối tượng nói chung của quyền SHCN, Luận văn cũng đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của thông tin KH&CN đối với quyền SHCN nói chung Do đối tượng khảo sát của Luận văn này khá rộng, nên các giải pháp mà Luận văn đề ra chưa có tác dụng chuyên sâu đối với từng đối tượng
có tính đặc thù riêng của quyền SHCN
Tại Cục SHTT đã có một số nghiên cứu về vai trò của thông tin sáng chế trong việc thúc đẩy hoạt động sáng tạo; thông tin SHCN đối với hoạt động nghiên cứu - triển khai hoặc có một số bài viết trên các Tạp chí về thông tin SHTT… nhưng mới chỉ đề cập đến việc khai thác nguồn dữ liệu, phục vụ tra cứu thông tin hoặc là các mẫu hướng dẫn đơn giản phục vụ cho người nộp đơn yêu cầu đăng ký mà chưa có nghiên cứu nào đến vai trò hay việc ứng dụng thông tin KH&CN trong giai đoạn thẩm định đơn cũng như trong thực thi việc bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu
Trang 119
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình khoa
học nào đề cập đến vai trò của thông tin KH&CN đối với việc quản lý và bảo
hộ nhãn hiệu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Chứng minh thông tin KH&CN có vai trò quan trọng trong việc quản lý
và bảo hộ nhãn hiệu
4 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò của thông tin KH&CN trong giai đoạn thẩm định
hình thức và thẩm định nội dung để cấp GCNĐKNH
- Nghiên cứu vai trò của thông tin KH&CN trong giai đoạn thực thi
việc bảo hộ nhãn hiệu
- Luận văn sử dụng các số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
trong giai đoạn 2003-2008
- Khảo sát cCác chuyên gia, thẩm định viên
- Khảo sát 20 doanh nghiệp (lớn, nhỏ và vừa) thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Các cán bộ, chuyên giaKhảo sát tại cơ quan Thanh tra KH&CN
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thông tin KH&CN có vai trò gì trong việc quản lý và bảo hộ nhãn
hiệu?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau đây:
- Thông tin KH&CN là yếu tố không thể thiếu đối với cơ quan có trách
nhiệm cấp GCNĐKNH thẩm định hình thức và thẩm định nội dung để quyết
định bảo hộ hay từ chối bảo hộ nhãn hiệu (nhất là các nhãn hiệu có yếu tố
nước ngoài);
- Thông tin KH&CN có liên quan đến nhãn hiệu là yếu tố quan trọng
đối với các doanh nghiệp trong việc đưa sản phẩm hoặc dịch vụ của mình ra
thị trường;
Comment [T1]: số lượng bao nhiêu
người?
Comment [T2]: số lượng người anh
phỏng vấn trong tổng số 20 doanh nghiệp?
Trang 1210
- Thông tin KH&CN là yếu tố bắt buộc phải có đối với các cơ quan
thực thi quyền đối với nhãn hiệu trong việc xử lý các hành vi xâm phạm
quyền SHCN
8 Phương pháp nghiên cứu
1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Ngoài việc nghiên cứu các tài liệu
sẵn có từ nguồn các văn bản Pháp luật liên quan đến đề tài như Luật SHTT
2005, các nghị định, thông tư, tạp chí và báo cáo chuyên ngành để thu thập
thông tin về cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu; đề tài đã phân
tích, tổng hợp các thông tin qua một số nguồn tài liệu: sách tham khảo, tạp chí
ngoài ngành, số liệu thống kê, thông tin đại chúng: báo chí, bản tin của các cơ
quan thông tấn, bài viết trên các trang Web để phản ánh thực trạng vấn đề
nghiên cứu từ thực tiễn cuộc sống
Thu thập, thống kê số liệu sẵn có: tận dụng các loại số liệu có sẵn, tồn
tại trong lĩnh vực đăng ký nhãn hiệu của Cục SHTT, số liệu về các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa (thông tin định
lượng)
2) Phương pháp thực nghiệm: xử lý thông tin: thu thập, thống kê, phân
tích thông tin từ công việc nghiên cứu tài liệu, bao gồm thao tác cụ thể:
- Thu thập các thông tin định tính thông qua các phương pháp phỏng
vấn sâuđể thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, nghiên
cứu khoa học, hoạch định chính sách: tham khảo ý kiến của chuyên gia nhãn
hiệu về một số giải pháp đưa ra nhằm đóng góp thông tin KH&CN nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động xây dựng và phát triển nhãn hiệu
- Thu thập các thông tin định lượng qua kháo sát 20 doanh nghiệp (lớn,
nhỏ và vừa) trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thu thập, thống kê số liệu sẵn có: tận dụng các loại số liệu có sẵn, tồn
tại trong lĩnh vực đăng ký nhãn hiệu của Cục SHTT, số liệu về các doanh
Formatted: Normal, Justified, Line
spacing: 1,5 lines, Widow/Orphan control
Formatted: Font: 14 pt
Trang 13Phương pháp này được sử dụng để xây dựng các luận cứ phục vụ cho viêc chứng minh giả thuyết nghiên cứu
3) Phương pháp chuyên gia: tác giả Luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu để thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, nghiên cứu khoa học, hoạch định chính sách: tham khảo ý kiến của chuyên gia nhãn hiệu
về một số giải pháp đưa ra nhằm đóng góp thông tin KH&CN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xây dựng và phát triển nhãn hiệu
34) Phương pháp logic - lịch sử: thu thập thông tin về các chuỗi sự việc trong quá khứ, sắp xếp các sự việc theo diễn biến, quan hệ nhân quả giữa các
sự việc để nhận biết được logic của quá trình phát triển sự việc
9 Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm 3 Chương (không kể phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến
nghị và Danh mục tài liệu tham khảo):
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng việc khai thác thông tin KH&CN trong việc xác
lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu
Chương 3: Nâng cao hiệu quả khai thác thông tin KH&CN trong việc
xác lập và thực thi quyền đối với nhãn hiệu
Trang 1412
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về nhãn hiệu
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Khi Luật SHTT 2005 ra đời, lần đầu tiên thuật ngữ “nhãn hiệu” được
sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc gia bởi lẽ trước đây “nhãn hiệu hàng hoá” được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ Điều 4.16 Luật SHTT
định nghĩa: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của
các tổ chức, cá nhân khác nhau” Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mãn điều
kiện phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi
là nhãn hiệu Tính mở và tính khái quát của quy định cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ Điều này hoàn toàn phù hợp với
xu thế phát triển không ngừng của KH&CN, với sự xuất hiện ngày càng
phong phú của các dạng dấu hiệu
Nhãn hiệu mang lại tác dụng to lớn đối với cả doanh nghiệp và khách hàng của doanh nghiệp Tác dụng và sự cần thiết của nó càng thể hiện rõ trong bối cảnh hội nhập kinh tế Đối với doanh nghiệp, tác dụng của nhãn hiệu thể hiện trên một số các khía cạnh:
Thứ nhất, khi bước chân vào kinh doanh, sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ là khi mà doanh nghiệp bước vào giai đoạn chinh phục người tiêu dùng thông qua chính chất lượng sản phẩm/dịch vụ, giá cả và các dịch vụ bổ trợ khác Việc tạo dựng một nhãn hiệu cũng chính là việc doanh nghiệp tuyên
bố về sự có mặt của mình trên thị trường và là cơ sở để phát triển doanh nghiệp
Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp: khi đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp đã đặt mình vào vị trí được bảo vệ trước pháp luật và có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trường
Thứ ba, tạo điều kiện tiếp cận khách hàng và mở rộng thị trường: nhãn
Trang 1513
hiệu giúp khách hàng nhận biết và có thái độ tin cậy đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, do tin tưởng vào các nhãn hiệu quen thuộc, uy tín, chất lượng hàng hóa/dịch vụ tốt, nhờ đó mà thị trường ngày càng được mở rộng hơn
Thứ tư, là dấu hiệu thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với khách hàng: đối với những nhãn hiệu uy tín, việc thể hiện nhãn hiệu trên sản phẩm/dịch vụ nhiều khi được xem là cam kết của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp thường cố gắng để tránh làm tổn thương khách hàng
Thứ năm, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp: một nhãn hiệu uy tín trên thị trường có thể mang lại giá trị lớn cho doanh nghiệp, nó chính là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp được tạo dựng trong quá trình kinh doanh Thậm chí đối với những nhãn hiệu nổi tiếng thì giá trị của nhãn hiệu nhiều khi lớn hơn giá trị thực tế của các tài sản cố định khác
Trong điều kiện hội nhập kinh tế, nhãn hiệu ngày càng có ý nghĩa và giá trị to lớn bởi khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng sản phẩm và trách nhiệm của doanh nghiệp Mặt khác, với quá trình hội nhập, khách hàng có nhiều cơ hội để lựa chọn, vì vậy với những sản phẩm có nhãn hiệu đáng tin cậy sẽ là lựa chọn của họ, vì khách hàng có thể khẳng định nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm, tạo tâm lý yên tâm, tin cậy, có thể đòi hỏi trách nhiệm của người cung cấp, giảm chi phí do tránh được việc sử dụng sản phẩm chất lượng kém
Sự cần thiết tạo lập và gìn giữ nhãn hiệu đã được chứng minh qua nhiều trường hợp trong thực tế: Hai chiếc sơ mi cùng do một doanh nghiệp (công ty
An Phước) sản xuất và không có sự khác biệt đáng kể về chất liệu, nhưng nếu mang nhãn hiệu An Phước thì có giá 218 nghìn đồng/chiếc, còn nếu mang nhãn hiệu Pierre Cardin thì có giá 526 nghìn đồng/chiếc, chiếc áo mang nhãn hiệu “Nhabeco” của công ty may Nhà Bè có giá 150 nghìn đồng/chiếc Như vậy với cùng một sản phẩm là áo sơ mi nhưng ở các nhãn hiệu khác nhau thì
Trang 1614
người mua sẽ phải sử dụng các chi phí khác nhau và tất nhiên chất lượng cũng khác nhau Bởi vậy uy tín và danh tiếng của một nhãn hiệu có thể nói là nguồn gốc, là cơ sở sản sinh lợi nhuận cho doanh nghiệp
1.1.2 Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu
Văn bản pháp luật Việt Nam
Hoạt động bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu của Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật sau:
- Luật SHTT ngày 29.11.2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT ngày 19.06.2009;
- Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14.02.2007 của Bộ KH&CN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về SHCN;
Các điều ước Quốc tế
+ Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ SHCN;
+ Hệ thống Madrid gồm Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc
tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989;
+ Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO);
+ Ngoài ra, Việt Nam cũng thừa nhận và áp dụng Bảng phân loại quốc
tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu theo Thỏa ước Nice năm
1957 và Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu theo Thỏa ước Vienne năm 1973 Bảng phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu phân bổ tất cả các chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanh vào 45 nhóm, bao gồm 34 nhóm hàng hóa
Trang 1715
và 11 nhóm dịch vụ (hiện nay đang áp dụng phiên bản Nice 9) Bảng phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu phân bổ tất cả các yếu tố đồ họa của nhãn hiệu thành 29 loại, trong đó có 144 phân loại với 1.887 mục Hai bảng phân loại này luôn được doanh nghiệp lẫn các cơ quan nhãn hiệu quốc gia tham chiếu và vận dụng để tiến hành tra cứu các nhãn hiệu tương tự hoặc trùng lặp trong các hoạt động liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu
1.2 Khái niệm thông tin KH&CN
1.2.1 Khái niệm thông tin
Theo nghĩa rộng, thuật ngữ “Thông tin” thường có nghĩa là mọi ý tưởng, sự kiện hay tác phẩm được sáng tạo ra “Thông tin” cũng có thể được
sử dụng để nói đến một yếu tố dữ liệu nào đó, thông tin là một yếu tố có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì mà người đó biết)
và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thay đổi này Có những quan niệm đã đồng nhất thông tin và vật mang thông tin Do khuôn khổ có hạn, Luận văn không bàn chi tiết vào vấn đề này
Thông tin là một vấn đề phức tạp bao chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú vì thế nó được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo nghĩa chung nhất thì thông tin được hiểu là những tri thức được
sử dụng để định hướng, tác động tích cực và để điều khiển nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệ thống
Khái niệm thông tin hay tin tức là khái niệm trừu tượng, phi vật chất và rất khó được định nghĩa một cách chính xác Thông tin là nhận biết của con người về thế giới xung quanh Thông tin là một hệ thống những tin tức và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn trong trạng thái của nơi nhận tin Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin Ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, thông tin càng trở thành một trong những nhu cầu sống còn của con người và khái niệm "thông tin" đang trở thành khái niệm cơ bản, chung của nhiều khoa học… Để có thể làm chủ được thông tin, khai thác và sử dụng nó một cách có hiệu quả, cần
Trang 1816
phải chú ý không chỉ nội dung, tính chất, đặc điểm của mỗi thông tin cụ thể
mà còn phải thấy được đằng sau cái cụ thể là cái bản chất chung nhất của thông tin, đó là: "Cái đa dạng được phản ánh" Nắm vững mặt bản thể luận và mặt nhận thức luận của khái niệm thông tin sẽ cho chúng ta phương pháp luận chung nhất để tiếp cận và xử lý thông tin Do khuôn khổ có hạn, Luận văn không bàn chi tiết vào vấn đề này
1.2.2 Khái niệm thông tin KH&CN
Dưới góc độ pháp luật, Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN đã nêu rõ:
- “Thông tin KH&CN" là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội
và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch
vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”
- “Hoạt động thông tin KH&CN" là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin KH&CN; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin KH&CN”
- "Tài liệu" là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và sử dụng
- “Vật mang tin" là phương tiện vật chất dùng để lưu giữ thông tin gồm giấy, phim, băng từ, đĩa từ, đĩa quang và các vật mang tin khác”
- "Nguồn tin KH&CN" bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập”
Trang 1917
- "Tổ chức dịch vụ thông tin KH&CN" là đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật”
Như vậy có thể hiểu, thông tin KH&CN là toàn bộ các tư liệu dạng văn bản, hình ảnh, ngôn ngữ phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ Thông tin KH&CN bao gồm các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, các cơ cấu, máy móc, các chất đã được sáng tạo ra trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Thông tin KH&CN cho biết rõ bản chất, nguồn gốc, nguyên tắc vận hành, hoạt động của máy móc, thiết bị công nghệ hoặc quy trình phát triển và lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu – phát triển công nghệ Nếu ai có được các thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đó sẽ chiếm được lợi thế hơn hẳn so với người khác không có đủ thông tin
Thông tin KH&CN bao gồm các tư liệu liên quan đến các chủ đề sau:
- Tài liệu thiết kế, quy trình, phương án công nghệ, hồ sơ kỹ thuật;
- Tài liệu chuyên môn dùng cho mục đích huấn luyện, đào tạo kỹ năng công nghệ;
- Thông tin SHCN;
- Thông tin từ các sách, báo, tạp chí chuyên ngành;
- Kỷ yếu hội nghị, hội thảo;
- Giáo trình, cẩm nang chuyên ngành;
- Catalo giới thiệu các máy móc, thiết bị công nghệ;
- Các tài liệu khác: luận văn, đề tài, đề án…
Trong phạm vi của Luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu đến thông tin KH&CN về SHCN, trong đó đối tượng SHCN là nhãn hiệu
Theo Điều 31.1, chương 6, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày
22/09/2006: “Hệ thống thông tin SHCN bao gồm tập hợp các thông tin liên
Trang 2018
quan đến tất cả các đối tượng SHCN được bảo hộ tại Việt Nam, các thông tin chọn lọc theo mục đích hoặc theo chủ đề về các đối tượng SHCN của nước ngoài, được phân loại, sắp xếp phù hợp và thuận tiện cho việc tìm kiếm (tra cứu), phân phối và sử dụng.”
1.2.3 Khái niệm thông tin về nhãn hiệu
Thông tin nhãn hiệu được thiết lập và phát triển thành một hệ thống nhỏ trong hệ thống thông tin SHCN Hệ thống thông tin nhãn hiệu được hiểu
là toàn bộ các thông tin về các dấu hiệu của mẫu nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, và thông tin về tình trạng pháp lý liên quan đến đăng ký nhãn hiệu được ghi nhận trong quá trình thực hiện các thủ tục xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu Cụ thể là: các tư liệu chứa thông tin về đơn đăng ký nhãn hiệu và các thông tin có liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu do cơ quan SHTT quốc gia hoặc quốc tế tạo ra trong quá trình tiến hành các thủ tục xác lập và bảo hộ quyền SHCN
Thông tin nhãn hiệu bao gồm các tư liệu sau:
+ Thông tin về Đơn yêu cầu cấp GCNĐKNH;
+ Thông tin về Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu;
+ Thông tin về Công bố Đơn và Công bố Văn bằng bảo hộ trên Công báo SHCN;
+ Thông tin quy trình tiếp nhận, xử lý đơn nhãn hiệu;
+ Thông tin khác:quảng cáo sản phẩm/dịch vụ, từ điển, sách, báo, tạp chí liên quan, phương tiện truyền hình, truyền thông, Internet,v.v
Nội dung thông tin nhãn hiệu gồm:
- Thông tin thư mục: số đơn, ngày nộp đơn, phân loại hình, phân loại sản phẩm/dịch vụ; yếu tố loại trừ, phạm vi bảo hộ; thông tin về người nộp đơn, dữ liệu ưu tiên;
- Thông tin về mẫu nhãn hiệu: ảnh chụp mẫu nhãn (có thể là ký tự, số,
Trang 211.3 Mối quan hệ giữa thông tin KH&CN và nhãn hiệu
Nhãn hiệu là những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Như phần khái niệm
đã nêu: Nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc là sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Ví dụ: trong ngành may mặc có các nhãn hiệu Levi’s, Pierre Cardin, La Coste, dịch vụ lưu trú nhà hàng, khách sạn có các nhãn hiệu Kinh Đô, Rex, Caravel, Quê Hương…Nhãn hiệu
có chức năng chỉ nguồn gốc thương mại và chống mọi biểu hiện nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại Nhãn hiệu bảo vệ uy tín doanh nghiệp trong kinh doanh Chúng ta biết các sản phẩm giải khát có tiếng trên thế giới với nhãn hiệu uy tín Coca-Cola, Heneiken, hay như của Việt Nam có Tribeco, Sapuwa, Hòa Bình, DR Thanh Khi sản phẩm đã đạt uy tín nhất định thì nhãn hiệu của sản phẩm luôn là đối tượng bị bắt chước, làm nhái bởi các đối thủ cạnh tranh hoặc những kẻ làm hàng giả với mục đích là gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc thương mại của sản phẩm Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sẽ giúp cho việc bảo hộ uy tín của sản phẩm, chống các hành vi làm hàng giả, hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác, bảo đảm thực hiện hiệu quả việc quảng cáo, hướng dẫn người tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ Trong quảng cáo thương mại sản phẩm, dịch vụ, những đối tượng được sử dụng nhiều nhất
là nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng
Trang 2220
hóa Những dấu hiệu, hình ảnh đó qua quá trình sử dụng tạo ấn tượng cho người tiêu dùng về chất lượng, tiêu chuẩn, đặc tính nhất định của sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó, thông qua đó người tiêu dùng có thể lựa chọn và quyết định đúng đắn về loại sản phẩm, dịch vụ mình ưa thích Do vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu chính là bảo vệ hoạt động quảng cáo thương mại sản phẩm, dịch vụ của chủ SHCN trên thị trường Việc bảo hộ đó đồng thời tạo ra hàng rào pháp lý hiệu quả chống lại các quảng cáo gây nhầm lẫn hoặc quảng cáo so sánh của các đối thủ cạnh tranh Nhờ vậy quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng được bảo vệ
Sau đây, Luận văn xin đề cập đến hai nội dung chính của thông tin KH&CN
1.3.1 Thông tin KH&CN đối với việc xác lập quyền (thẩm định đơn) đối với nhãn hiệu
Sau khi người nộp đơn đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký và giấy tờ cần thiết nhằm xác lập quyền, Cục SHTT sẽ tiến hành thẩm định đơn Quá trình thẩm định đơn gồm hai giai đoạn: thẩm định hình thức và thẩm định nội dung
- Đối với giai đoạn thẩm định hình thức:
Mục đích của giai đoạn này nhằm xác định xem đơn có hợp lệ hay không Thông thường nếu không có thiếu sót, Cục SHTT sẽ tiến hành công bố đơn trong vòng 1 tháng Nếu phát hiện ra thiếu sót, Cục SHTT sẽ ra thông báo cho người nộp đơn để sửa chữa thiếu sót đó
Trong giai đoạn này, thông tin KH&CN bao gồm các thông tin về tính hợp lệ của đơn như: tài liệu cần thiết đã quy định, tính thống nhất, hình thức trình bày, mô tả nhãn hiệu, phân nhóm sản phẩm/dịch vụ theo Bảng phân loại Nice 9…
- Đối với giai đoạn thẩm định nội dung
Đây là giai đoạn quan trọng nhất đối với việc xác lập quyền Mục đích của việc thẩm định nội dung đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ là để xác định
Trang 2321
đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ mà luật pháp quy định hay không Thẩm định nội dung bao gồm những công việc sau đây:
- Tra cứu tìm tài liệu từ nguồn thông tin tối thiểu;
- Đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu với các tài liệu đối chứng tìm được;
- Kết luận về khả năng bảo hộ của dấu hiệu, xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu
a) Nguồn thông tin KH&CN cần tra cứu
Theo quy định trong Luật SHTT, các nguồn thông tin có thể cung cấp các tư liệu để làm căn cứ và lý do từ chối cấp Văn bằng bảo hộ cho một đơn đăng ký nhãn hiệu tương đối đa dạng Để thẩm định nội dung, các thẩm định viên nhãn hiệu cần tiến hành tra cứu các nguồn thông tin tối thiểu sau đây:
- Các đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại Cục SHTT có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn và các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam mà Cục SHTT đã được WIPO thông báo với ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự;
- Các nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ hoặc thừa nhận bảo hộ đang còn hiệu lực tại Việt Nam (kể cả các nhãn hiệu nổi tiếng) dùng cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan;
- Các nhãn hiệu được đăng ký đã chấm dứt hiệu lực trong thời hạn chưa quá 5 năm, trừ trường hợp nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực vì lý do không sử dụng theo quy định tại Điều 95.1.d Luật SHTT, dùng cho sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự;
- Các chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam;
- Chỉ dẫn nguồn gốc địa lý hàng hoá, dịch vụ; tên địa lý, các loại dấu chất lượng, dấu kiểm tra; quốc kỳ, quốc huy của các quốc gia; cờ, tên, biểu tượng của các cơ quan, tổ chức của Việt Nam và thế giới; tên và hình ảnh lãnh
tụ, anh hùng dân tộc, tên và hình ảnh danh nhân Việt Nam và nước ngoài mà
Trang 24Để làm được điều này, các thẩm định viên tại Cục SHTT cần đến các chương trình sau:
Chương trình IPAS
Chương trình IPAS là chương trình quản trị đơn SHCN để hỗ trợ thẩm định viên quản lý, tra cứu tình trạng Đơn và Văn bằng Đây là chương trình quản lý duy nhất thống nhất dữ liệu về SHCN tại Việt Nam Chương trình này cho phép người quản lý cũng như thẩm định viên theo dõi tình trạng đơn SHCN từ lúc tiếp nhận cho đến khi cấp Văn bằng Đồng thời theo dõi cả tình trạng các thông tin liên quan đến đơn đó như: Sửa đổi, chuyển nhượng, gia hạn, khiếu nại, công văn bổ sung
(Màn hình chính)
Trang 2624
(Màn hình hiển thị kết quả)
b) Tra cứu xác định nhãn hiệu, nhãn hiệu đối chứng
Mục đích và yêu cầu của việc tra cứu xác định đối chứng là tìm kiếm tất cả thông tin từ nguồn thông tin tối thiểu liên quan đến dấu hiệu yêu cầu bảo hộ để đánh giá, so sánh và kết luận về tính phân biệt của dấu hiệu nêu trong đơn
Đối với các dấu hiệu chữ bằng tiếng Việt, là các chữ đơn âm, cần tra riêng rẽ từng từ, cụm từ, không cần phải cắt, tách từ;
Đối với các chữ có nghĩa trong tiếng Việt, cần tra cứu để tìm ra cả những đối chứng có nghĩa tương tự trong tiếng Anh, tiếng Pháp, từ Hán-Việt, tiếng Nga, tiếng Hán để thực hiện việc đánh giá tính tương tự theo ngữ nghĩa (Sự cần thiết thực hiện tra cứu này do trước đây đã quy định 4 ngôn ngữ trên
là các ngôn ngữ thông dụng cần được xem xét trong thực tế bảo hộ nhãn hiệu ngoài tiếng Việt và chấp thuận bảo hộ các nhãn hiệu chỉ gồm từ tiếng Nga, tiếng Hán) Quy trình trên cũng cần được tiến hành trong trường hợp yếu tố chữ gồm những từ có nghĩa tương đương trong tiếng Anh, tiếng Pháp, từ Hán-Việt, tiếng Nga, tiếng Hán Trường hợp từ Hán-Việt sẽ chỉ lưu ý khi là từ tương đối thông dụng hoặc là trường hợp đặc biệt;
Trang 2725
Đối với yếu tố chữ là các từ tự đặt, không có nghĩa trong ngôn ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp: đối chứng là các từ trùng về ký tự với tiền
tố, hậu tố hoặc các ký tự đứng ở giữa;
Đối với dấu hiệu dạng hình vẽ, hình ảnh hoặc dấu hiệu có chứa yếu tố hình, cần tra cứu theo phân loại hình căn cứ vào Bảng phân loại các yếu tố hình của nhãn hiệu (Thoả ước Vienna);
Đối với dấu hiệu chữ có nghĩa cụ thể hoặc dấu hiệu hình chỉ một đối tượng cụ thể, cần tra cứu với đối chứng là hình hoặc chữ có ý nghĩa tương ứng
c) Đánh giá khả năng bảo hộ của dấu hiệu
Đánh giá khả năng bảo hộ của dấu hiệu theo quy định tại điều 72, 73 Luật SHTT, điểm 39.2 Thông tư và được chi tiết hoá như sau:
Những yếu tố sau đây bị từ chối bảo hộ kể cả trong trường hợp kết hợp với các yếu tố khác:
- Dấu hiệu không nhìn thấy được: như dấu hiệu âm thanh, mùi, vị …;
- Dấu hiệu trái với trật tự xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh quốc gia (Điều 8.1 Luật SHTT và Điều 39.2.b.iii Thông tư);
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước ;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
Trang 28- Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ
1.3.2 Thông tin KH&CN đối với việc thực thi quyền đối với nhãn hiệu
Tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu có những dấu hiệu phức tạp đã gây một số thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến sự nỗ lực đầu tư sáng tạo của các tổ chức, cá nhân, cũng như đến trật tự thị trường, tâm lý xã hội
+ Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu có dấu hiệu phổ biến
Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu xảy ra với hầu hết các loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và xảy ra phổ biến dưới dạng sao chép nhãn hiệu, thực hiện hành vi làm các nhãn hiệu tương tự tới mức độ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang còn hiệu lực bảo hộ
Hàng giả, hàng nhái, hàng có chứa yếu tố vi phạm liên quan đến hầu hết các chủng loại sản phẩm, từ các sản phẩm tiêu dùng thông thường đến các mặt hàng điện tử cao cấp, từ thuốc chữa bệnh cho đến các phương tiện sản xuất, từ các dịch vụ như chăm sóc sức khoẻ, du lịch cho đến hoạt động giáo dục, đào tạo… Gần đây, ngoài những hình thức xâm phạm truyền thống nêu trên đã xuất hiện các dạng xâm phạm mới, phức tạp hơn
Xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu xảy ra cả ở khu vực sản xuất, chế biến lẫn khu vực lưu thông và xuất nhập nhẩu; trong đó phổ biến nhất là ở khâu lưu thông và nhập khẩu, liên quan tới nhiều thành phần kinh tế: tư nhân, nhà nước và liên doanh, thậm chí ở cả một số doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài
Trang 29vi phạm về nhãn hiệu (trong đó có cả những mặt hàng được coi là "cao cấp")
từ các nước xung quanh được nhập khẩu vào Việt Nam theo nhiều con đường khác nhau
Hàng hoá xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đã xuất hiện với các chủng loại sản phẩm (hàng hoá) có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng cho người tiêu dùng và cho xã hội Việc nhái các nhãn hiệu đã xảy ra cả với những sản phẩm có công dụng hoặc chức năng đặc biệt như thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, thép xây dựng, xi măng Thiệt hại do xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu có xu hướng tăng Nhiều doanh nghiệp khẳng định rằng hàng giả sản phẩm của họ chiếm phần lớn thị phần, làm cho bản thân doanh nghiệp đó không phát triển được Việc sao chép nhãn hiệu là không khó để có thể nhận biết hành vi, nhưng thuật ngữ “tương tự tới mức gây nhầm lẫn” thì pháp luật lại không quy định cụ thể, bởi vậy mỗi cơ quan có trách nhiệm thực thi quyền đối với nhãn hiệu lại có những cách hiểu khác nhau Trong trường hợp này, vai trò của thông tin KH&CN là vô cùng cần thiết
Căn cứ xác định mức độ vi phạm, xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu dựa vào các nguồn thông tin sau:
- Thông tin về Pháp luật liên quan;
- Thông tin về Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu: tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ, yếu tố loại trừ,
- Thông tin về Đơn nhãn hiệu có liên quan;
Trang 30Thẩm định viên nhãn hiệu của Cục SHTT
Các thẩm định viên nhãn hiệu là các cán bộ tại Cục SHTT có chuyên môn để thẩm định khả năng bảo hộ của nhãn hiệu
Công chúng, người nộp đơn, doanh nghiệp
Để tiến hành các thủ tục đăng ký nhãn hiệu, người nộp đơn cần tìm hiểu trước các thông tin nhãn hiệu nhằm:
+ Xác định phân loại sản phẩm, hàng hóa dịch vụ theo Phân loại quốc
tế Nice 9;
+ Đánh giá sơ bộ về khả năng bảo hộ của nhãn hiệu dự định đăng ký: tìm ra các nhãn trùng lặp, tương tự theo các tiêu chuẩn bảo hộ nhãn hiệu
Do vậy, người nộp đơn cần sử dụng các cơ sở dữ liệu sau:
+ Cơ sở dữ liệu về đơn đăng ký trực tiếp tại Cục SHTT thông qua chương trình IPLib (đây là thư viện số về SHCN của Cục SHTT) tại địa chỉ website http://www.noip.gov.vn
+ Cơ sở dữ liệu về đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế Romarin (một cơ sở
dữ liệu bao gồm các đơn đăng ký nhãn hiệu theo Madrid) thông qua website của tổ chức SHTT thế giới tại địa chỉ: http://www.wipo.int/romarin
Trang 3129
Quản lý tài sản trí tuệ
- Đối với các chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, doanh nghiệp cần phải theo dõi, duy trì hiệu lực của các Văn bằng này cũng như thời hạn hiệu lực của Văn bằng bảo hộ
- Xác định các nhãn hiệu dự kiến sẽ đăng ký xác lập quyền trong tương lai, tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh, mở rộng thị trường Vì bảo hộ chỉ mang tính chất vùng, lãnh thổ, nên muốn đăng ký nhãn hiệu vào nước nào, cần nộp đơn vào cơ quan SHCN tương ứng của nước đó Ví dụ, nếu muốn bán sản phẩm vào thị trường châu Âu, cần lựa chọn đăng ký nhãn hiệu OHIM; muốn vào Hoa Kỳ, cần nộp đơn đăng ký vào USPTO…
- Giám sát và theo dõi nhãn hiệu mới đăng ký vào Cục SHTT xem có khả năng xâm phạm với quyền đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ, thông qua việc đọc và tra cứu các đơn nhãn hiệu được công bố trong Công báo SHCN hàng tháng nhằm kịp thời đưa ra phản đối cấp, tránh những thiệt hại đáng tiếc
Tuy nhiên, việc cập nhật dữ liệu trong hệ thống IPLib không phải lúc
nào cũng đáp ứng được nhu cầu cập nhật thông tin đầy đủ nhất, do vậy vẫn còn một khoảng trống dữ liệu cần quan tâm
Thực thi quyền SHTT
Để bảo vệ hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường, các doanh nghiệp cần tuân thủ việc sử dụng nhãn hiệu độc quyền đã được bảo hộ Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong các vụ xâm phạm SHTT, số lượng xâm phạm nhãn hiệu thường chiếm tỷ lệ cao
Khi xảy ra xâm phạm, doanh nghiệp cần tra cứu các nhãn hiệu đã bảo
hộ làm căn cứ chứng minh quyền, phạm vi bảo hộ do vậy nếu thiếu thông tin
về tình trạng pháp lý, yêu cầu bảo hộ không có, yếu tố loại trừ sẽ gây khó khăn trong việc xác định mức độ xâm phạm
Ngay cả đối với doanh nghiệp đang phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải tra cứu nhãn hiệu nhằm tránh xâm phạm quyền đã được xác
Trang 3230
lập của chủ thể khác nhằm loại bỏ nguy cơ tranh chấp, kiện tụng trong thực tế Doanh nghiệp cũng có thể yêu cầu hủy bỏ Văn bằng bảo hộ đã được xác lập của đơn vị khác do thiếu nguồn thông tin trong quá trình thẩm định của cơ quan có thẩm quyền
1.4.2 Bảo hộ nhãn hiệu
Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu càng được đề cao nhằm bảo đảm
và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ
Trong việc kinh doanh hiệu quả tại thị trường trong nước hàng hoá nội địa cũng phải cạnh tranh với vô vàn hàng hoá cùng loại do người trong nước sản xuất cũng như được nhập khẩu dễ dàng từ nhiều nước khác nhau Người chủ nhãn hiệu cũng phải nhận rõ một điều, đó là để tăng cường tính cạnh tranh của một sản phẩm, thường họ phải:
- Cải tiến kỹ thuật, sáng tạo hoặc áp dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng hoặc giảm giá thành của sản phẩm;
- Tạo các mẫu mới của hàng hoá để hấp dẫn, thu hút người tiêu dùng Tuy nhiên, tất cả các thành tựu trên chứa trong một sản phẩm khi giới thiệu với công chúng thì luôn luôn được thực hiện dưới một nhãn hiệu cụ thể của nhà sản xuất Đây là dấu hiệu đầu tiên và dễ dàng nhất để họ có thể phân biệt được sản phẩm của nhà sản xuất này với các nhà sản xuất khác để dễ dàng chọn lựa Do đó, bảo hộ nhãn hiệu luôn là một việc hết sức quan trọng
và cấp thiết đối với nhà sản xuất nhằm tạo lập và tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá
Như trên đã nói, việc bảo hộ nhãn hiệu mang tính lãnh thổ, thường giới hạn trong một quốc gia, một nhóm nước hoặc một khu vực chấp nhận sự bảo
hộ đó Sự bảo hộ trong những không gian cụ thể như vậy trong thực tế đã là rất hữu hiệu và đã mang lại những lợi ích cho chủ nhãn hiệu và công chúng trong nhiều năm tồn tại của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu Tuy nhiên, do sự hoà nhập của nền kinh tế, hàng hoá dễ lưu thông từ quốc gia này sang quốc gia
Trang 3331
khác, thậm chí đến cả những quốc gia khá xa xôi về địa lý đối với nước xuất
xứ, việc bảo đảm được khả năng cạnh tranh của hàng hoá tại mọi thị trường ngoài nước để chống lại việc làm hàng giả hoặc cạnh tranh bất chính là điều
vô cùng quan trọng Việc bảo hộ nhãn hiệu không chỉ thực hiện tại nước xuất
xứ nữa, mà chủ nhãn hiệu cần thiết phải mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu đến những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hoá tới bằng các thủ tục xác lập quyền của mình kịp thời tại các vùng lãnh thổ đó
Thực tiễn của việc bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trong những năm gần đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu nhất là trong xu thế hiện nay Một số dẫn chứng cụ thể:
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tạo ra và phát triển được những nhãn hiệu được thừa nhận rộng rãi trong nước và thậm chí ở nhiều thị trường nước ngoài như "sagiang" cho bánh phồng tôm, "BITI'S" cho giầy dép và đồ đi chân, "bến tre" cho kẹo dừa, "VINATABA" cho thuốc lá Các nhãn hiệu này
đã được bảo hộ rất hiệu quả ở Việt Nam nhưng chủ nhân của các nhãn hiệu này lại không kịp thời bảo hộ các nhãn hiệu đó ở nước ngoài, nhất là các nước quanh Việt Nam, mặc dù họ biết hàng hoá của mình đã được xuất khẩu và được ưa chuộng ở các nước đó Hậu quả là các nhãn hiệu đó đã bị chính những đối thủ cạnh tranh hoặc chính những người bản xứ, trước kia là nhà phân phối các sản phẩm đó đứng ra đăng ký chiếm đoạt quyền đối với nhãn hiệu đó tại nước ngoài Hậu quả là việc xuất khẩu hàng mang các nhãn hiệu trên bị đình trệ, thị phần bị mất, thậm chí hàng thật xuất khẩu sang các thị trường trên lại bị tạm giữ hoặc tịch thu Tất nhiên, một số chủ nhân của các nhãn hiệu trên đã tiến hành kiện tụng và sau một quá trình pháp lý đã đòi lại được nhãn hiệu của mình, nhưng một số cũng đang rơi vào tình trạng kiện cáo khá phức tạp và tốn kém
Ngược lại, một số sản phẩm của các hãng uy tín của nước ngoài, sau một thời gian lưu thông đã chiếm được uy tín trên thị trường Việt Nam, nhưng một điều trớ trêu là chủ của các sản phẩm đó không thực hiện kịp thời
Trang 3432
sự bảo hộ các nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam Mặc dù, đây là những hãng lớn hoặc những hãng sản xuất ở các quốc gia láng giềng với Việt Nam Sự chậm chễ đó đã làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, đó là việc các hãng khác (của Việt Nam hoặc nước ngoài) tranh thủ chiếm đoạt để đăng ký các nhãn hiệu đó làm của mình, những kẻ trục lợi thì tranh thủ làm giả hoặc nhái các nhãn hiệu đó để lừa dối người tiêu dùng nhằm thu lợi bất chính mà cơ quan pháp luật lại không có cơ sở để xử lý Tất nhiên luật pháp Việt Nam cũng có các điều khoản để giúp người chủ đích thực của các nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi đòi lại nhãn hiệu của mình, nhưng những quá trình pháp lý như vậy thường lâu dài và không khỏi mang lại những thiệt hại nhất định cho họ về lợi nhuận cũng như uy tín của nhãn hiệu Tất cả những thực tiễn trên càng khẳng định tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu trong phạm vi một quốc gia và trên bình diện quốc tế trong thời đại kinh tế "thông thoáng" hiện nay
* Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã đề cập đến cơ sở lý luận, trong đó nhấn mạnh các khái niệm nhãn hiệu, thông tin KH&CN, mối quan hệ giữa thông tin KH&CN và nhãn hiệu
Thông tin KH&CN nói chung, và thông tin nhãn hiệu nói riêng chính là nền tảng căn bản cho các hoạt động SHCN Trong quy trình tạo dựng, đăng
ký, bảo vệ nhãn hiệu, kể từ việc đăng ký, xác lập quyền, cho đến khi xem xét, thẩm định, cấp văn bằng bảo hộ và bảo vệ, thực thi quyền SHCN, tất cả đều cần đến thông tin nhãn hiệu, việc cần làm trước hết trong các khâu nói trên luôn luôn phải thực hiện tra cứu thông tin trong tất cả các nguồn thông tin KH&CN, nhằm cung cấp các đối chứng cần thiết để phân tích, đánh giá, ra quyết định đúng đắn khi thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn có liên quan Vậy thực trạng khai thác thông tin KH&CN đối với việc quản lý và bảo
hộ nhãn hiệu ra sao? Chương 2 của Luận văn xin phân tích cụ thể
Trang 352.1.1 Thực trạng xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay việc xây dựng, phát triển mới cũng như giành giật từng chút thị phần đã và đang trở nên ngày càng khó khăn hơn Trong bối cảnh đó, nhãn hiệu của doanh nghiệp có thể bị rơi vào trong những nguy cơ rủi ro pháp lý Những rủi
ro này có thể là nhãn hiệu đó bị doanh nghiệp đối thủ khác nộp đơn đăng ký trước hoặc đã được bảo hộ trước đó do nộp đơn sớm hơn và khi đó chính doanh nghiệp - chủ sở hữu thực sự của nhãn hiệu lại phải đối mặt với vụ kiện xâm phạm quyền SHCN liên quan đến nhãn hiệu của chính mình do đối thủ cạnh tranh khởi xướng Một rủi ro khác có thể là nhãn hiệu của doanh nghiệp này bị từ chối bảo hộ vì tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác đã đăng ký trước của người khác, v.v,…
+ Từ sự thật không có nhiều nhãn hiệu đăng ký được nhìn thấy trên thị trường:
Hàng năm số lượng rất lớn đơn đăng ký nhãn hiệu mới được nộp ở Việt Nam, bao gồm đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp tại Cục SHTT hoặc tại các Văn phòng đại diện của Cục SHTT và đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid được nộp tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) trước khi chuyển về Việt Nam và được tiếp nhận bởi Cục SHTT
Số lượng đơn đăng ký được ghi nhận ngày càng tăng tính theo hàng năm, đạt mức tăng trung bình khoảng gần 20% Tổng kết từ năm 1982 đến hết năm
2008, tổng số đơn quốc gia là 160.421 đơn, trong đó Cục SHTT đã cấp 90.920 GCNĐKNH Từ năm 1949 (Việt Nam là thành viên của Madrid
Trang 3634
Agreement) và từ 11/07/2006 (Việt Nam trở thành thành viên của Madrid Protocol) đến ngày 31/12/2008, đã có tổng cộng 60.719 nhãn hiệu đăng ký quốc tế chỉ định hoặc mở rộng lãnh thổ vào Việt Nam Như vậy, bằng một vài
số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy số lượng đơn quốc gia và đơn quốc tế đạt con số rất lớn Vậy nếu xét dưới khía cạnh sử dụng thực tế, phải chăng tất
cả các nhãn hiệu đã đăng ký đều đang sử dụng tại Việt Nam? Câu trả lời là không Mặc dù chưa có một thống kê hay điều tra chính thức nào về thực trạng sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký ở Việt Nam, tuy nhiên, trong thực tế chỉ
có khoảng 15-20% số lượng nhãn hiệu đã đăng ký là đang được sử dụng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số lượng lớn nhãn hiệu đăng ký lại chưa bao giờ được nhìn thấy trên thị trường có thể được lý giải bằng nhiều lý do rất
đa dạng, chẳng hạn như một số chủ thể muốn đăng ký nhãn hiệu để đầu cơ, để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác, để giữ chỗ cho một dự án đầu tư vào Việt Nam mà khả năng kiếm lợi nhuận có thể chưa thực sự rõ ràng, chủ sở hữu đã bị phá sản, không còn tồn tại hoặc thu hẹp thị trường, v.v…
+ Cho đến khi đăng ký nhãn hiệu mới gặp rào cản:
Vì có nhu cầu khẳng định chủ quyền của mình đối với nhãn hiệu mà có thể đã mất nhiều công sức, tiền bạc và thời gian tạo dựng nên đã quyết định nộp đơn đăng ký bảo hộ Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau người nộp đơn nhận được quyết định từ chối bảo hộ của Cục SHTT nêu rõ nhãn hiệu bị từ chối bảo hộ với lý do nhãn hiệu này xung đột với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký từ trước nhãn hiệu đối chứng Giả sử doanh nghiệp hoàn toàn không biết về nhãn hiệu đối chứng thì điều này có thể đã thực sự gây bất ngờ cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp đó phải suy nghĩ liệu có nên tiếp tục sử dụng hay dừng việc sử dụng nhãn hiệu đang có uy tín tốt của mình để tránh nguy cơ bị kiện do xâm phạm quyền SHCN hay không?
+ Liệu có thể yêu cầu chấm dứt hiệu lực của nhãn hiệu đối chứng? Như đã nói ở phần trên, hầu hết các nhãn hiệu đối chứng chỉ có trong
cơ sở dữ liệu nhãn hiệu quốc gia mà có thể chưa bao giờ được sử dụng trong
Trang 3735
thương mại Trong khi đó vấn đề nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký đối với chủ sở hữu đã được quy định đầy đủ trong Luật SHTT năm 2005 của Việt Nam Điểm 95.1.d quy định nếu chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người khác được chủ sở hữu cho phép sử dụng nhãn hiệu mà không sử dụng nhãn hiệu đã đăng
ký trong thời hạn 5 năm liên tục thì nhãn hiệu đã đăng ký đó có thể bị chấm dứt hiệu lực bởi đơn yêu cầu chấm dứt hiệu lực được nộp bởi bất kỳ bên thứ
3 Quy định này chỉ có 2 ngoại lệ: một là, chủ sở hữu nhãn hiệu có nguy cơ bị chấm dứt hiệu lực chứng minh được rằng nhãn hiệu đã đăng ký không sử dụng là do có lý do chính đáng, và hai là, nhãn hiệu đó đã được bắt đầu sử dụng hoặc bắt đầu sử dụng lại trước ít nhất 3 tháng tính đến ngày có yêu cầu
chấm dứt hiệu lực của bên thứ 3.(Điểm 95.1.d Luật SHTT năm 2005) Để xác
định được liệu chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng có sử dụng nhãn hiệu đối chứng hay không trước hết cần phải hiểu khái niệm “sử dụng” trong Luật SHTT Theo Điểm 124.5 của Luật này thì sử dụng nhãn hiệu phải được hiểu
là chủ sở hữu hoặc người được sử dụng hợp pháp thực hiện các hành vi như: gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ Tiếp đến, để chứng minh chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng không sử dụng nhãn hiệu trong 5 năm liên tục, cần phải thuê công ty chuyên nghiệp về cung cấp dịch
vụ điều tra thị trường để xác định chủ sở hữu nhãn hiệu không thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam bất kỳ hành vi nào thuộc khái niệm “sử dụng” đã nêu trên đây Nếu kết quả điều tra cho thấy không có nhãn hiệu đối chứng nào như đã yêu cầu điều tra được xác định là hiện đang sử dụng hoặc mặc dù đã sử dụng nhưng đã ngừng sử dụng 5 năm liên tục thì cần phải chuẩn bị hồ sơ càng sớm càng tốt và nộp đơn yêu cầu Cục SHTT chấm dứt hiệu lực của nhãn hiệu đối chứng Theo Điểm 21.2.b Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ KH&CN ngày 14/02/2007, hồ sơ gồm những tài liệu sau:
- Tờ khai yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, theo
Trang 38- Chứng từ nộp phí, lệ phí theo quy định
Trên cơ sở đầy đủ hồ sơ, Cục SHTT sẽ xem xét và ra văn bản thông báo cho chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng về yêu cầu chấm dứt hiệu lực và đồng thời ấn định thời hạn 2 tháng kể từ ngày thông báo để chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng có ý kiến Tuỳ trường hợp Cục SHTT cũng có thể tổ chức cuộc đối thoại trực tiếp giữa người có yêu cầu chấm dứt hiệu lực và chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng Tuy vậy, tuỳ thuộc vào chứng cứ do các bên cung cấp, Cục SHTT sẽ ra quyết định chấm dứt hiệu lực hoặc quyết định từ chối chấm dứt hiệu lực Nếu không đồng ý, một trong các bên có quyền thực hiện quyền khiếu nại đối với người ra quyết định đó hoặc tiến hành khởi kiện vụ án hành chính
Thực trạng nhãn hiệu đã đăng ký nhưng chưa bao giờ được sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng lại quay trở lại tình trạng không sử dụng trong nhiều năm đã thực sự trở thành một trong những rào cản đối với tự do thương mại
và dịch vụ Chừng nào chúng ta chưa có hành động cụ thể để chấm dứt hiệu lực của những nhãn hiệu đó thì chừng đó chúng vẫn còn hiện hữu trong Đăng
bạ Quốc gia nhãn hiệu và tiếp tục cản trở quyền cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp
Theo số liệu của Cục SHTT, tổng số đơn yêu cầu đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp cho Cục SHTT như sau:
Trang 3937
Bảng 1 Thống kê số đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu từ 2003-2008
Người nộp đơn Việt Nam
2.1.2 Thực trạng khai thác quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Có nhiều hình thức khai thác quyền SHCN khác nhau, trong phạm vi của luận văn này, tác giả phân loại các hình thức khai thác quyền SHCN đối với nhãn hiệu thành 3 loại như sau:
- Khai thác hợp pháp (thông qua hợp đồng chuyển giao và đăng ký tại Cục SHTT)
- Khai thác bán hợp pháp (thông qua hợp đồng chuyển giao nhưng không đăng ký tại Cục SHTT)
- Khai thác bất hợp pháp (sử dụng quyền SHCN của người khác mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu)
Sau đây là thực trạng các hình thức khai thác quyền SHCN:
+ Khai thác hợp pháp
Việc chuyển giao quyền SHCN được tiến hành một cách hợp pháp khi
2 bên tiến hành các thủ tục cần thiết để ký hợp đồng licence hoặc hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đối với đối tượng SHCN
Bảng 2 Thống kê hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
Số lượng đơn yêu cầu đăng ký Hợp đồng
chuyển giao quyền sử dụng Số lượng Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đã được đăng bạ Các bên ký
Trang 4038
Số lƣợng đơn yêu cầu đăng ký Hợp đồng
chuyển giao quyền sử dụng Số lƣợng Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đã đƣợc đăng bạ Các bên ký
20 (92)
242 (467)
157 (222)
66 (139)
15 (84)
238 (445)
(133)
60 (211)
9 (109)
146 (453)
77 (141)
55 (373)
4 (5)
136 (519)
(87)
65 (268)
27 (867)
153 (1222)
53 (72)
70 (300)
12 (818)
135 (1190)
(267)
77 (441)
20 (45)
230 (723)
132 (260)
76 (477)
33 (103)
241 (840)
VN-VN : Chuyển giao giữa Người Việt Nam- Người Việt Nam
VN-NN : Chuyển giao giữa Người Việt Nam- Người nước ngoài
NN-NN : Chuyển giao giữa Người nước ngoài- Người nước ngoài
(Số trong ngoặc đơn là số lƣợng đối tƣợng đƣợc chuyển giao licence)
Bảng 3 Thống kê hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sở hữu
Số lƣợng đơn đăng ký Hợp đồng chuyển
nhƣợng quyền sở hữu đối tƣợng SHCN nhƣợng quyền sở hữu đối tƣợng Số lƣợng Hợp đồng chuyển
SHCN đã đƣợc đăng bạ C¸c
227 (650)
376 (880)
122 (178)
4 (16)
246 (889)
372 (1083)
2004 171
(393)
7 (7)
191 (368)
369 (768)
157 (329)
11 (13)
231 (579)
359 (921)