Mời các bạn cùng tham khảo Tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ hạt nhân: Số 54/2018 để nắm chi tiết hơn nội dung các bài viết Ứng dụng kỹ thuật kiểm tra không phá hủy mới đánh giá độ sâu cọc móng công trình hiện hữu; Khám phá mới về bí ẩn chứa trong sự bền vững của các đồng vị carbon; Năng lượng hạt nhân thế giới năm 2017 và những thách thức trong đổi mới công nghệ năng lượng hạt nhân; Chính sách đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng và chương trình điện hạt nhân của Trung Quốc...
Trang 2ThS Nguyễn Thanh Bình - Ủy viên
TS Trịnh Văn Giáp - Ủy viên
TS Đặng Quang Thiệu - Ủy viên
TS Hoàng Sỹ Thân - Ủy viên
TS Thân Văn Liên - Ủy viên
TS Trần Quốc Dũng - Ủy viên
ThS Trần Khắc Ân - Ủy viên
KS Nguyễn Hữu Quang - Ủy viên
KS Vũ Tiến Hà - Ủy viên
ThS Bùi Đăng Hạnh - Ủy viên
Thư ký: CN Lê Thúy Mai
Biên tập và trình bày: Nguyễn Trọng Trang
Địa chỉ liên hệ:
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
59 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội
8- Khám phá mới về bí ẩn chứa trong sự bền vững của các đồng
vị carbon HOÀNG SỸ THÂN 12- Năng lượng hạt nhân thế giới năm 2017 và những thách thức trong đổi mới công nghệ năng lượng hạt nhân
LÊ ĐẠI DIỄN 18- Chính sách đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng và chương trình điện hạt nhân của Trung Quốc
HOÀNG SỸ THÂN 24- Năng lượng hạt nhân hồi sinh trong năm 2018 TRẦN MINH HUÂN
27- Chương trình phát triển hài hòa
LÊ DOÃN PHÁC
TIN TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
31- Tin về kết quả đoàn công tác tại Thụy Sĩ 33- US-NRC công nhận công nghệ lò phản ứng công suất nhỏ không cần nguồn điện dự phòng
35- Các cơ sở liên bang Hoa Kỳ có thể thu lợi nhuận từ các lò phản ứng môđun nhỏ
36- Máy bay không người lái của Vương quốc Anh khảo sát Fukushima Dai-ichi
Trang 3ỨNG DỤNG KỸ THUẬT KIỂM TRA KHÔNG PHÁ HỦY MỚI ĐÁNH GIÁ ĐỘ SÂU
CỌC MÓNG CÔNG TRÌNH HIỆN HỮU
Đo địa chấn song song (PSM) là kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) hiệu quả đánh giá
độ sâu móng công trình hiện hữu, hiện nay vẫn còn rất mới ở Việt Nam Một số kết quả nghiên cứu
và triển khai áp dụng kỹ thuật trên một số công trình thực tế được trình bày Kết quả thu được cho thấy khả năng nhận diện loại vật liệu, chất lượng cọc móng Độ chính xác chiều dài cọc móng đánh giá khoảng ± 0,5 m Kỹ thuật tin cậy cao khi các cọc móng nằm trong môi trường đất đồng nhất và khoảng cách đặt ống đo với móng trong phạm vi 1,5 m Một kết hợp kỹ thuật đo địa chấn với các kỹ thuật hạt nhân đo địa tầng trong lỗ khoan (γ- γ) hoặc (γ - tự nhiên) có thể nâng cao độ tin cậy đánh giá độ sâu móng trong trường hợp địa tầng đất phức tạp Nghiên cứu có giá trị triển khai áp dụng tin cậy PSM - một kỹ thuật kiểm tra NDT mới cho điều tra khảo sát khôi phục, nâng cấp các công trình đang hiện hữu
Trang 4chất lượng móng các công trình hiện hữu (cũ)
tăng lên do nhu cầu sửa chữa, khôi phục và nâng
cấp cũng như kiểm định các công trình đang sử
dụng Trong một số trường hợp, nhu cầu nhận
diện độ sâu, loại vật liệu, chất lượng móng được
đặt ra do hồ sơ các công trình cũ đã bị thất lạc
Các kỹ thuật đánh giá cọc móng công trình hiện
hữu khác biệt với các phương pháp NDE thông
thường do có sự hiện diện của các công trình nằm
phía trên móng (không thể tiếp cận đầu móng)
Kỹ thuật đo địa chấn song song (Parallel Seismic
Test Method) có thể sử dụng phù hợp tốt cho các
công trình không thể tiếp cận đầu móng
Một chương trình thực nghiệm đã được
tiến hành để phân tích các khả năng của phương
pháp NDE đo địa chấn song song cho đánh giá
móng sâu trong điều kiện không để tiếp cận đầu
móng cọc Báo cáo trình bày một số kết quả thực
nghiệm đánh giá khả năng kỹ thuật với hệ thiết bị
đo địa chấn SPL-97 trong xác định chiều dài các
cọc móng, nhận diện loại vật liệu kết cấu móng,
lựa chọn khoảng cách sóng địa chấn truyền qua
đất đến đầu thu và vận tốc sóng nén ở các tầng đất
lân cận móng cọc kiểm tra
2 NGUYÊN LÝ KỸ THUẬT KIỂM TRA
Nguyên lý kỹ thuật của phương pháp đo
địa chấn song song được mô tả trong hình 1 Để
thực hiện kiểm tra, một lỗ khoan lân cận móng và
sâu hơn một chút được chuẩn bị Phần công trình
liên kết với móng được tác động gõ búa để phát
sóng địa chấn, sóng sẽ truyền xuống cọc móng
qua đất đến đầu thu địa chấn đặt trong ống đo (lỗ
khoan) đầy nước ghi nhận Thời gian truyền sóng
được đo từ điểm tác động đến đầu thu Đầu đo
nén trong các lớp đất và đường sóng truyền từ điểm phát đến đầu thu trong kiểm tra địa chấn song song rất phức tạp, phụ thuộc vào địa tầng
và tính chất của các lớp đất khác nhau Để làm rõ nguyên lý của kiểm tra địa chấn song song, các ảnh hưởng của đường truyền sóng ứng suất đến đầu tiên có thể được đơn giản hóa ở 02 trường hợp Thứ nhất, khi cọc nằm trong địa tầng đất đồng nhất có cùng vận tốc sóng nén không đổi thì thời gian truyền song địa chấn trong cọc trực tiếp đến đầu thu được mô tả trong hình 1 và có thể được biểu diễn theo phương trình (1):
Hình 1 Đường truyền sóng trực tiếp
p conc
i i
c v
c - khoảng cách giữa móng và ống đo; vconc- vận tốc truyền trong bê tông móng; vp - vận tốc sóng nén của đất
Trang 5trên có vận tốc sóng nén nhỏ hơn ở tầng đất nằm
bên dưới, khi ấy thời gian sóng đến đầu tiên có
thể do sóng truyền từ cọc móng qua tầng đất bên
dưới và đi ngược lên tới đầu thu Sóng bị khúc xạ
tạo bởi sóng dọc tới ở góc tới hạn sẽ truyền dọc
theo mặt phân cách trong môi trường bên dưới
Sóng khúc xạ do nhiễu xạ dọc theo mặt phân cách
sẽ tạo một sóng hướng vào môi trường phía trên
Sóng này được gọi là sóng đầu và truyền với một
vận tốc theo hướng nghiêng một góc (900 - i c) so
với mặt phân cách, trong đó i c là góc tới hạn của
sóng tới Thời gian truyền t h của sóng khúc xạ
được xác định bởi phương trình (2)
Hình 2 Đường truyền sóng khúc xạ
) ](
tan cos
1 [
2 1
2
a d H
v i i
p p
conc
h = + + − − −
(2)Trong đó vp1 - vận tốc sóng nén tầng đất
trên; vp2 - vận tốc sóng nén tầng đất dưới
Hiện trường và quy trình thực nghiệm
Một hiện trường thực nghiệm được lựa chọn phù hợp là các hệ cọc móng bê tông của một công trình dự án chung cư cao ốc Ba nhóm cọc ép D, E, N có chiều dài cọc đóng kiểm soát để tiến hành các thí nghiệm đo địa chấn song song
Ba lỗ khoan thí nghiệm có đường kính ~ 60 mm được đặt ống nhựa đường kính 60 mm Độ sâu khoan với nhóm cọc D là 18 m, nhóm E là 28 m
và nhóm N là 50 m Khoảng cách giữa các cọc với ống đo trong mỗi nhóm nằm trong khoảng từ 0,4 m đến 3,0 m (hình 3)
Hình 3 Sơ đồ hiện trường thí nghiệm
Trang 6đến khi toàn bộ độ sâu đo được kiểm tra để tạo
được biểu đồ tín hiệu thu nhận
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Độ sâu móng
Thực hiện ghi nhận thời gian sóng đến đầu
tiên từ mỗi lần gõ phát sóng và biểu diễn thành
biểu đồ theo độ sâu cho tất cả các cọc Nhận diện
chân cọc là độ sâu trên biểu đồ nơi có sự thay đổi
độ dốc của đường biểu diễn thời gian sóng đến
đầu tiên Các kết quả thí nghiệm đo địa chấn song
song cho mỗi cọc của nhóm N được đưa ra trong
bảng 1 Sai khác trong các độ sâu móng đánh giá
qua đất lân cận cọc có thể thu nhận trước khi tín
hiệu bị suy giảm và biểu diễn rõ ràng khuynh
hướng của dữ liệu đo, các đường biểu diễn biên
độ suy giảm theo độ sâu của các cọc trong một
nhóm được vẽ trên cùng một biểu đồ (hình 4)
Hình 4 Suy giảm biên độ tín hiệu nhận được từ nhóm cọc D và E
Trên cơ sở tín hiệu suy giảm vượt khỏi khả năng có thể ghi nhận tin cậy, biến thiên của vận tốc sóng nén theo độ sâu và đường truyền sóng không ổn định, khoảng cách giữa ống đo và móng nên được lựa chọn trong phạm vi 1,5 m Ở khoảng cách ống đo lớn hơn, giải đoán biểu đồ thời gian đến đầu tiên trở nên khó khăn đặc biệt khi tình trạng đất bề mặt phức tạp
Vận tốc truyền sóng trong cọc và đất
Như một cách để nhận diện loại vật liệu móng kết cấu, vận tốc sóng truyền trong cọc móng có thể được đánh giá theo độ dốc của biểu
đồ biểu diễn thời gian dóng đến đầu tiên theo độ sâu trong đất lân cận cọc Các vận tốc truyền sóng được tính toán từ các kết quả của thí nghiệm đo địa chấn song song được mô tả trong bảng 2
Kết quả bảng 2 cho thấy các vận tốc sóng nén trong đất phù hợp với các số liệu tra cứu
về vận tốc của lớp đất bề mặt [1] Vận tốc sóng truyền trong các nhóm cọc cũng phù hợp với dải
Trang 7N5 3,807 Km/s 0,810 Km/s 10,59 m
Nhóm E
E1 3,491 Km/s 0,439 Km/s 18,49 m E2 3,360 Km/s 0,424 Km/s 15,86 m E3 3,362 Km/s 0,578 Km/s 17,46 m E4 3,284 Km/s 0,452 Km/s 16,32 m
4 BÀN LUẬN
Các kết quả từ chương trình thực nghiệm
cho phép đánh giá khả năng ứng dụng của kỹ
thuật địa chấn song song trong đánh giá chiều dài
cọc, nhận diện chất lượng cọc Các thực nghiệm
cho thấy thực tế sự biến thiên của vận tốc sóng
nén trong các lớp đất và đường sóng truyền từ
điểm phát đến đầu thu trong kiểm tra địa chấn
song song rất phức tạp, phụ thuộc vào địa tầng
và tính chất của các lớp đất khác nhau Một tầng
đất cứng hơn ở gần mũi cọc có thể dẫn đến sóng
qua tầng đất này có thời gian truyền ngắn hơn từ
cọc tới đầu thu so với đường truyền trực tiếp phụ
thuộc vào vận tốc tương đối giữa các tầng đất
và khoảng cách giữa cọc vào ống đo Khả năng
truyền sóng trực tiếp càng lớn nếu ống đo càng
gần với móng và thay đổi độ dốc trong biểu đồ đo
phụ thuộc lớp đất cứng nằm gần đáy cọc
Kết hợp kỹ thuật đo địa chấn song song
và kỹ thuật đo gamma địa tầng
Do sự thay đổi vận tốc sóng nén trong các
lớp đất, đường truyền sóng địa chấn từ điểm phát
tới đầu thu trong thí nghiệm đo địa chấn song
song có thể phức tạp gây khó khăn giải đoán
Tình trạng đất bề mặt và tính chất của các lớp đất
xung quang móng cọc khác nhau là nguyên nhân
Hình 5 Kết hợp kỹ thuật đo địa chấn và
đo gamma địa tầng trong giải đoán độ sâu móng
bị thất lạc không còn hồ sơ lưu trữ
Công trình sửa chữa và gia cường cầu Nhị Thiên Đường 1
Hai trụ T3.1 và T3.2 được lựa chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả thí nghiệm
mô tả trong bảng 3 và trên hình 6
Trang 8Hình 6 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song
song trụ T3.1 và T3.2 Cầu Nhị Thiên Đường 1.
Công trình sửa chữa và nâng cấp Cầu
cảng Tân Cảng
05 cọc móng V2, V5, V7, V9, V10 được
lựa chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả
thí nghiệm mô tả trong bảng 4 và hình 7
Bảng 4 Số liệu cọc móng cầu cảng Tân
Thép hình I
350
Thép ống D600
Thép ống D350
Thép hình I
350
Hình 7 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song
song trụ V2 và V5 - Cầu cảng Tân Cảng
Công trình mở rộng Cầu chữ Y
02 cọc móng trụ cầu 6B và 7C được lựa
chọn thí nghiệm địa chấn song song Kết quả thí
nghiệm mô tả trong bảng 5 và trên hình 8
Chiều dài cọc xác định (m) 25,04 25,83 Vận tốc sóng trong cọc (m/s) 3590 3967 Kiểu cọc Bê tông 40x40 cm Bê tông 40x40 cm
Hình 8 Kết quả biểu đồ đo địa chấn song song trụ 6B và 7C - Cầu chữ Y
6 KẾT LUẬN
Từ các kết quả thực nghiệm kỹ thuật đo địa chấn song song tại hiện trường thí nghiệm và trên công trình, một số kết luận có thể rút ra:
• Xác định đáy móng theo biểu đồ thời gian sóng đến đầu tiên là khá rõ ràng khi môi trường đất xung quanh móng có độ cứng đồng nhất cho phép đánh giá tin cậy chiều dài cọc, nhận diện chất lượng cọc
• Sử dụng các lỗ đo trong phạm vi khoảng 1,5 m so với móng, đáy các cọc móng có thể nhận diện từ biểu đồ thời gian sóng đến đầu tiên theo
độ sâu và ở độ sâu nơi biên độ sóng đến suy giảm đáng kể
• Đáy cọc móng thể bị giải đoán lầm lẫn
do sự thay đổi vận tốc sóng nén ở biên giới giữa các tầng đất Một đề nghị kết hợp kỹ thuật đo địa
Trang 9Các kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ khả
năng của kỹ thuật đo địa chấn song song có thể áp
dụng cho các điều kiện hiện trường phức tạp Các
khả năng và kết quả thu nhận được có giá trị để
áp dụng tin cậy một kỹ thuật NDT mới cho công
tác điều tra khảo sát khôi phục, nâng cấp các công
trình hiện hữu
Nguyễn Lê Sơn, Nguyễn Văn Thái Bình, Phạm Thị Lan Anh Trung tâm NDE (TP HCM)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Obrutsky L et al (2010), Eddy Current
Richard J Finno, Peter W Osborn, Final Reports
of project: “Non-destructive Evaluation of a Deep
Foundation Test”, Infrastructure Technology
Institute (ITI) at the Northwestern University
National Geotechnical Experimentation Site,
June 1997
2 M F Aouad L D Olson, Olson
Engineering, “Applications of NDT Methods
for the Determination of Unknown Bridge
Foundation Depths”, The Fourth International
Conference on Non-Destructive Testing in Civil
Engineering, NDT-CE ‘97”, Liverpool- UK, 8-11
APRIL 1997
3 Lanbo Liu and Guo Tieshuan, “Seismic
Non-Destructive Tests on Reinforced Concrete
Column of the Longtan Highway Bridge,
Guangxi, China”, Proceedings of Symposium
on the Application of Geophysics to Engineering
Trang 10KHÁM PHÁ MỚI VỀ BÍ ẨN CHỨA TRONG SỰ BỀN VỮNG
Số Magic là số của proton hoặc notron
trong một hạt nhân nào đó làm cho hạt nhân này
trở lên bền vững hơn so với các hạt nhân có số
notron và proton không phải là số Magic Các số
magic được xác định một phần bằng lực liên kết
spin-quỹ đạo liên quan đến spin của các proton
và notron trong hạt nhân Goeppert Mayer và J Hans D Jensen đã đề xuất ý tưởng này để giải thích việc tách các trạng thái lượng tử của proton
và notron vào năm 1949 và đã nhận giải thưởng Nobel Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu được nguồn gốc thực sự của lực hạt nhân
Trang 11Các nhà khoa học đã tiên đoán rằng số
magic bằng 6 là trường hợp rất đặc biệt bởi vì nó
sẽ cho phép chúng ta tìm hiểu một cách thấu đáo
nguồn gốc của liên kết spin-quỹ đạo Tuy nhiên
sự tồn tại của hạt nhân với số magic bằng 6 vẫn
chưa được xác nhận
Mới đây một nhóm các nhà khoa học quốc
tế, trong đó có sự tham gia của các cán bộ Viện
Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam), đã tiến hành thí nghiệm tại Trung tâm
Vật lý hạt nhân của Đại học Tổng hợp Osaka
Nhóm đã phát hiện ra hạt nhân carbon, nguyên tố
quan trọng cho sự sống, có chứa số magic bằng 6
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành một số thí nghiệm
để đo bán kính phân bố của các proton trong các
đồng vị khác nhau của nguyên tố carbon (các
đồng vị có cùng số proton nhưng có số notron
khác nhau) Thật thú vị, các nhà khoa học thấy
rằng bán kính phân bố proton trong các đồng vị
carbon khác nhau lại có bán kính phân bố proton
khá bằng nhau Nhóm nghiên cứu vừa công bố
phát hiện mới của họ trong tạp chí nổi tiếng
thế giới về khoa học tự nhiên, tạp chí Nature
Communications
Tác giả đứng đầu của bài báo này, Trần
Đình Trọng, đã phát biểu rằng “Việc kết hợp các
kết quả đo bán kính phân bố proton của chúng tôi
với tốc độ chuyển dời tứ cực điện và số liệu về khối lượng nguyên tử đã cho phép chúng tôi đoán nhận được rất có thể có một đồng vị của carbon với số magic bằng 6”
Để giải thích được các kết quả thực nghiệm, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều tính toán lý thuyết Bán kính phân bố proton tính bằng
lý thuyết phù hợp khá tốt với các số liệu thực nghiệm Họ cũng nghiên cứu việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo đối với các đồng vị của carbon thông qua việc phân tích số liệu đo được bằng thực nghiệm và tính bằng lý thuyết của năng lượng cần để thêm vào hoặc tách một proton ra khỏi hạt nhân cho mỗi đồng vị
Hooi Jin Ong đã nói rằng “Việc phân tích
số liệu thực nghiệm của chúng tôi đã xác nhận rằng việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo tồn tại ở mọi hạt nhân” “Ngoài ra, số magic bằng 6
là cũng rất dễ nhận ra như các số magic khác”
Việc đoán nhận được số magic bằng 6 đã cho phép nghiên cứu nguồn gốc của việc tách mức do tương tác spin-quỹ đạo trong hạt nhân Khám phá mới của nhóm nghiên cứu đã làm gia tăng những kiến thức cơ bản về lực spin-quỹ đạo, nguồn gốc của số magic trong hạt nhân và độ bền vững của hạt nhân, những yếu tố quan trọng để hiểu về hạt nhân nguyên tử
Trang 12Hình 1: Cấu trúc vỏ tính bằng thế năng
dao động tử điều hòa có tính đến xung lượng góc
quỹ đạo (trái) và lực liên kết spin quỹ đạo (phải).
Hình 2 Bằng chứng về số magic proton
bằng 6 (xem mũi tên màu xanh) thu được qua
việc đánh giá một cách hệ thống các số liệu thực
nghiệm (a) Bán kính phân bố proton không phụ
thuộc vào khối lượng hạt nhân (b) Xác suất
chuyển dời điện, (c) Khe vỏ proton (proton shell
gap), (d) Sự phụ thuộc của khe vỏ proton vào số
notron và proton.
Hình 3 Minh họa lực liên kết spin-quỹ đạo Hạt nhân sẽ bền vững hơn khi xung lượng quỹ đạo góc và spin của một proton hoặc notron
có cùng hướng.
Để tìm hiểu sâu về nghiên cứu này, hãy đọc bài báo khoa học với tiêu đề ““Evidence for prevalent Z = 6 magic number in neutron-rich carbon isotopes” trong tạp chí Nature Communications (https://www.nature.com/ articles/s41467-018-04024-y).
Dưới đây là một số hình ảnh của nhóm cán bộ Viện Vật Lý trong các thí nghiệm đo bán kính phân bố proton trong các đồng vị của carbon tại Trung tâm Vật lý Hạt nhân tại Đại học Tổng hợp Osaka (Nhật Bản)
Trang 13Hoàng Sỹ Thân
(lược dịch)
Trang 141 Thông tin chung về năng lượng hạt nhân thế
giới năm 2017
Tính đến tháng 12-2017, trên thế giới có
448 lò phản ứng (LPU) hạt nhân tại các nhà máy
điện hạt nhân (NMĐHN) đang vận hành và 59 lò
phản ứng đang trong quá trình xây dựng Các khu
vực với số lượng lớn các lò phản ứng đang vận
hành bao gồm bắc Mỹ, Tây Âu và châu Á Các lò
phản ứng đang được xây dựng tập trung chủ yếu
tại châu Á và Đông Âu (hình 1)
Trong số các lò phản ứng được bắt đầu
khởi công xây dựng năm 2017, đáng chú ý là
sự kiện NMĐHN Rooppur (Bangladesh) đã tiến
hành đổ bêtông cho lò phản ứng đầu tiên vào
ngày 30-11-2017 (hình 4)
NMĐHN Rooppur với hai lò
VVER-1200 và tổng công suất 2.400 MW được xây dựng theo thiết kế của Nga cách thủ đô Dhaka của Bangladesh 160 km theo hợp đồng ký ngày 25-12-2015 Nhà thầu xây dựng là JSC Atomstroyexport, ROSATOM Lò phản ứng có tên gọi VVER-1200/ V-523
Lò phản ứng thứ 3 phiên bản VVER V-412 công suất 1000 MWe cũng được khởi công xây dựng vào ngày 29-6-2017 tại NMĐHN Kudankulam, Ấn Độ
Tổ máy số 5 NMĐHN Shin-Kori, Hàn Quốc cũng trải qua một năm nhiều song gió với việc khởi công xây dựng (1-4-2017), tạm dừng xây dựng (24-6-2017) và tái khởi công trở lại vào 25-10-2017 Các tổ máy Shin-Kori 5 và 6 dự định xây dựng là thiết kế lò APR-1400 với công suất
1455 MWe do KHNP xây dựng và vận hành
NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN THẾ GIỚI NĂM 2017
VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN
Trang 15Hình 1 Phân bố các NMĐHN trên thế
giới (PRIS - Power Reactor Information System,
2017)
Hình 2 Số LPU được khởi công xây dựng
Hình 3 Số LPU bắt đầu phát điện thương
Trang 165-2017) của công ty điện lực Kansai, Nhật Bản
Đây là hai tổ máy PWR công suất 830 MWe mỗi
được phê duyệt để khởi động lại và đã được đưa
vào hoạt động thương mại sau khi đạt được các
là Onagawa-2 của điện lực Tohoku và Shimane-2 của điện lực Chugoku
2 Đổi mới công nghệ năng lượng hạt nhân và những vấn đề đặt ra
Nóng lên toàn cầu là một vấn đề ngày càng trở thành vấn đề cấp bách trên thế giới Năng lượng hạt nhân là một trong số ít công nghệ
có thể góp phần làm giảm sự thay đổi khí hậu bằng cách giảm phát thải CO2. Sau giai đoạn sụt giảm và bắt đầu vào thế kỷ 21, số lò phản ứng hạt nhân trên thế giới bắt đầu tăng Tuy nhiên, tai nạn Fukushima ảnh hưởng lớn đến các chương trình năng lượng nguyên tử của nhiều quốc gia
Hiện nay số lò phản ứng hạt nhân bắt đầu tăng trở lại, nhưng sự chấp nhận của công chúng trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước đây ở nhiều nước
Năng lượng hạt nhân không chỉ có vấn
đề an toàn mà còn có một số khó khăn do tạo ra các vật liệu phóng xạ và công nghệ nói chung có lien quan tới sản xuất vũ khí hạt nhân Tuy nhiên,
nó có những tính chất đặc biệt như mật độ năng lượng cực kỳ cao, nguồn tài nguyên dồi dào, và lượng phát thải CO2 gần như bằng không
Theo lộ trình năng lượng hạt nhân của các cơ quan quốc tế (Nuclear Energy Agency, International Energy Agency 2015 Technology Roadmap - Nuclear Energy), năng lực của năng lượng hạt nhân sẽ không thay đổi từ nay cho tới năm 2050 ở các nước OECD, nhưng sẽ tăng nhanh ở các nước đang phát triển Các nước phát triển đang giúp đỡ những nước đang phát triển thành công trong việc sử dụng năng lượng hạt
Trang 17doanh nghiệp) Sự đổi mới trong công nghệ năng
lượng hạt nhân bao gồm một loạt các hoạt động
- nghiên cứu cơ bản, phát triển, trình diễn, triển
khai thí điểm, và phổ biến rộng rãi - dẫn đến một
sản phẩm mới hoặc cải tiến đáng kể cho đến khi
nó được đưa vào thị trường, và do đó cần nhiều
nỗ lực hơn ngoài các nghiên cứu R & D
Ngoài ra, sự đổi mới còn là những hệ
thống tiên tiến cần thiết để đạt được sự đổi mới
trong các hệ thống năng lượng hạt nhân Các hệ
thống đổi mới bao gồm các chủ thể của sự đổi
mới (cơ quan chính phủ, các nhà nghiên cứu R &
D, các nhà cung cấp hệ thống / dịch vụ, các nhà
cung cấp năng lượng) và các mối quan hệ của họ,
các khuôn khổ thể chế, cơ sở hạ tầng đổi mới và
thực tiễn quản lý v.v
Năng lượng hạt nhân là một giải pháp
để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng
trong tương lai một cách bền vững Hiện trạng
công nghệ hạt nhân cho thấy mức độ tuân thủ cao
với các tiêu chí phát triển bền vững và hiệu năng
tuyệt vời so với các giải pháp thay thế năng lượng
khác Tuy nhiên, vẫn còn có những vấn đề lo ngại
của công chúng về việc triển khai năng lượng hạt
nhân quy mô lớn có thể được giải quyết một cách
đáng kể bằng cách tiếp cận sáng tạo hơn Điều
này nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới công
nghệ hạt nhân
Đối với việc triển khai mạnh mẽ hơn ứng
dụng năng lượng hạt nhân trong tương lai, các
giải pháp sáng tạo được tìm kiếm trong các lĩnh
Để đáp ứng nhu cầu về các nhà máy điện hạt nhân hiện tại và các cơ sở chu trình nhiên liệu,
có rất nhiều dự án đang tiến hành với các yếu tố đổi mới về nhiều chủ đề như suy thoái / lão hóa vật liệu, nhiên liệu hiệu suất cao và độ tin cậy cao của nhiên liệu, đánh giá không phá hủy và đặc tính vật liệu, thiết bị và điều khiển (I&C) với việc hiện đại hóa phần cứng và các hệ thống, quản lý rủi ro tài sản hạt nhân, công nghệ và ứng dụng phân tích và đánh giá rủi ro an toàn v.v…
Các chương trình R & D điển hình cho việc triển khai ngắn hạn (5-10 năm) là nhằm mục đích phát triển các lò phản ứng thế hệ III và III +, với các tính năng cải tiến như tăng cường độ an toàn (bằng các đặc tính cố hữu và các hệ thống thụ động), thiết kế chuẩn hóa, đơn giản hóa và chắc chắn hơn , độ khả dụng cao hơn và tuổi thọ dài hơn, giảm khả năng xảy ra các sự cố nóng chảy và ảnh hưởng tối thiểu tới môi trường trong trường hợp xảy ra tai nạn nghiêm trọng Hơn một chục lò phản ứng thế hệ III và III + đang trong các giai đoạn phát triển thiết kế khác nhau; Trong
đó, tập trung vào sự phát triển tiến hóa của lò phản ứng nước áp lực (PWR), lò phản ứng nước sôi (BWR) và thiết kế lò phản ứng nước nặng (PHWR)
Các chương trình triển khai dài hạn tập trung vào các hệ thống hạt nhân thế hệ IV Ví dụ, Diễn đàn quốc tế thế hệ IV (GIF), được thành lập vào tháng 1 năm 2000 và gồm 11 thành viên, đã lựa chọn 6 hệ thống đầy hứa hẹn để đối phó với
Trang 18tới hạn (SCWR) và các lò phản ứng nhiệt độ rất
cao (VHTR) GIF đã thành lập các ban chỉ đạo hệ
thống để thực hiện các công việc R&D cần thiết
cho từng hệ thống bằng cách lập kế hoạch và lồng
ghép các dự án R&D của các nước thành viên góp
phần vào thiết kế chung Hiện nay, các kế hoạch
R&D chi tiết đã thu hẹp rất nhiều khoảng cách
công nghệ cho mỗi công nghệ được lựa chọn và
đang được xem xét
Về mặt kỹ thuật, các lò phản ứng hạt nhân
sản xuất năng lượng dưới dạng nhiệt và có thể
cung cấp các sản phẩm năng lượng khác ngoài
điện, bao gồm cả nhiệt sưởi ấm, đặc biệt là để
sản xuất nước ngọt và hydro Vì việc cung cấp
nhiệt với nhiệt độ cao là công cụ cho việc sản
xuất hydro hạt nhân hiệu suất cao, các lò phản
ứng nhiệt độ cao, giống như VHTR, đang nhận
được sự quan tâm ngày càng tăng Nhiều quốc
gia với các chương trình năng lượng hạt nhân tiên
tiến, như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc và
EURATOM, đã đưa ra các chương trình sản xuất
hydro từ năng lượng hạt nhân
Phát triển công nghệ năng lượng hạt nhân
đòi hỏi phải có thời gian dài và bao gồm cả các
thiết bị thử nghiệm / thí nghiệm / chế tạo phức
hợp lớn, phức tạp, và các nhà máy sản xuất năng
lượng với các yêu cầu về chất lượng (cấp độ hạt
nhân) rất đặc biệt Nghiên cứu liên quan đến năng
lượng hạt nhân bao gồm một phạm vi rộng các
nguyên tắc, sử dụng nhiều tài nguyên và mang
tính dài hạn và phải tính đến các mối quan tâm
không phổ biến vũ khí hạt nhân và bảo vệ bức xạ
trong quá trình phát triển
Việc triển khai công nghệ năng lượng hạt
hội cho sự phát triển và cải tiến công nghệ tiên tiến
Nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng: Khả năng đổi mới của một quốc gia hoặc của công ty phụ thuộc vào nguồn nhân lực có trình độ, tiếp cận với các cơ sở nghiên cứu và phát triển, kiến thức về văn hoá tổ chức cho sự đổi mới Sự hợp tác quốc tế và liên ngành trong các lĩnh vực này đang ngày càng trở nên quan trọng
Các đặc điểm đặc biệt của công nghệ hạt nhân đòi hỏi sự phát triển hạt nhân phải được thực hiện trong các khuôn khổ pháp lý cụ thể về hạt nhân, các quy định về sức khoẻ và an toàn, không phổ biến vũ khí hạt nhân và kiểm soát xuất khẩu Những khuôn khổ pháp lý đã được thiết lập này, cả quốc gia lẫn quốc tế, có thể có cả những tác động tích cực và tiêu cực đối với đổi mới công nghệ hạt nhân
Về mặt chính sách, các chính phủ quan tâm đến việc đảm bảo rằng điện hạt nhân có vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cần phải có chính sách lâu dài, trong khuôn khổ chính sách quốc gia, tuân thủ các quy tắc quốc tế phù hợp và hỗ trợ tài chính cho việc phát triển các
hệ thống năng lượng hạt nhân đổi mới
Nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng cho R&D hạt nhân đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở
hạ tầng đặc biệt Các chiến lược quốc gia, bao gồm các cách tiếp cận quốc tế, nên được thiết lập
để phát triển và bảo tồn kiến thức, xây dựng và duy trì các cơ sở hạ tầng cần thiết
Hợp tác quốc tế là công cụ cho sự thành công của các hoạt động nghiên cứu và phát triển
Trang 19tăng trưởng nhanh và nhu cầu điện tăng nhanh.
Tất cả, trên 160 lò phản ứng với tổng
công suất khoảng 168.000 MWe đã được đặt
hàng hoặc lên kế hoạch, và hơn 300 lò phản ứng
khác được đề xuất
Các mối quan ngại về an ninh năng lượng
và những ràng buộc về hiệu ứng nhà kính đối với
việc đốt nhiên liệu hóa thạch đã đưa điện hạt nhân
trở lại chương trình nghị sự về các dự án năng
lượng mới ở nhiều nước Vào cuối năm 2017 có
59 lò phản ứng đang được xây dựng trên thế giới
- một minh chứng cho thấy xu thế khó có thể đảo
ngược của điện hạt nhân và cùng với sự phát triển
này là những đòi hỏi ngày càng cao về đổi mới
công nghệ, pháp quy và an toàn
Lê Đại Diễn Trung tâm Đào tạo hạt nhân
Trang 20VÀ CHƯƠNG TRÌNH ĐIỆN HẠT NHÂN
CỦA TRUNG QUỐC
Từ đầu những năm 2000, Trung Quốc đã
kiên định đẩy mạnh chương trình điện hạt nhân
để phát triển bền vững và đáp ứng mục tiêu phát
triển hài hoà giữa kinh tế, xã hội, và bảo vệ môi
trường
Mức tăng trưởng cao của Trung Quốc từ
những năm 1980 chủ yếu dựa trên chương trình
phát triển năng lượng Theo đó, nhu cầu sử dụng
năng lượng cũng tăng tới 200% và gần 150% tính
trên đầu người, và hơn một nửa của mức tăng
trưởng này diễn ra từ năm 2001 Hiện nay, Trung
Quốc đã trở thành nhà sản xuất và tiêu thụ năng
lượng lớn thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ Các
sản phẩm chế biến - nguồn xuất khẩu hàng đầu
và nhân tố đóng góp chủ yếu cho GDP của nước
này - chiếm khoảng 60% tổng mức tiêu thụ điện
năng Mối liên hệ chặt chẽ giữa nhu cầu sử dụng
năng lượng ngày một cao và sự phát triển kinh tế
cũng như chính sách năng lượng đã trở thành mối
quan tâm hàng đầu của chính phủ Trung Quốc
Chính sách và mục tiêu phát triển điện hạt
nhân của Trung Quốc
Chiến lược phát triển năng lượng “kinh
tế, sạch và an toàn” đã được Trung Quốc tuân
thủ nghiêm túc sau những bước đi ban đầu Điều
này đã thúc đẩy cuộc cách mạng năng lượng, và
những cải cách trong các hình thức sản xuất và
sử dụng năng lượng, tối ưu hóa cơ cấu cung cấp
năng lượng và nâng cao hiệu quả phát triển, sử
dụng nguồn năng lượng sạch
Trung Quốc hiện đang phát triển sử dụng nguồn năng lượng phi hóa thạch, song song với việc sử dụng một cách hiệu quả nguồn năng lượng hóa thạch Mục tiêu là giảm tỉ lệ tiêu thụ than và dầu, tăng tỉ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt và đặc biệt là tăng tỉ lệ đóng góp của năng lượng hạt nhân Đến năm 2020, tỷ lệ năng lượng phi hóa thạch trong tiêu thụ năng lượng ở Trung Quốc sẽ đạt 15%, tỷ trọng sử dụng khí tự nhiên
sẽ là hơn 10%, và tỷ lệ tiêu thụ than sẽ được kiểm soát dưới mức 62% Từ năm 2013 đến năm 2015,
tỷ trọng nhiệt điện than ở Trung Quốc đã được hạ xuống từng bước, giảm từ 78,36% (2013) xuống 74,94% (2015) Tỷ lệ điện từ năng lượng gió và năng lượng mặt trời đã tăng từ 2,78% (2013) đến 4,32% (2015), và của điện hạt nhân tăng từ 2,10% (2013) lên 3,01% (2015) Trong 10 năm tới, Trung Quốc đặt mục tiêu nâng tỉ lệ đóng góp của điện hạt nhân tăng lên 10%
Ngược dòng lịch sử, tháng 1/1955, Trung Quốc khởi động chương trình phát triển năng lượng nguyên tử Năm 1964, nước này thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên ký hiệu A Ba năm sau đó, Trung Quốc thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử thứ hai,
ký hiệu H Năm 1970, trọng tâm của các chương trình hạt nhân chuyển sang mục đích dân sự khi bắt đầu xây dựng nhà máy điện hạt nhân Năm
1991, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Kỳ Sơn (Qinshan) thuộc tỉnh Chiết Giang (Zhejiang) ở