(NB) Bài giảng cung cấp cho người học các kiến thức: Những vấn đề chung về tăng trưởng và phát triển kinh tế, tăng trưởng và phát triển, các lý thuyết phát triển, các nguồn lực phát triển. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA KINH TẾ
BÀI GIẢNG
KINH TẾ PHÁT TRIỂN – PHẦN 1
(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)
Người biên soạn: ThS Huỳnh Đinh Phát
Lưu hành nội bộ - Năm 2018
Trang 2MỤC LỤC Nội dung Trang
CHƯƠNG 1 4
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 4
1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế 4
1.1.2 Sự cần thiết phải tăng trưởng kinh tế nhanh 5
1.1.3 Các điều kiện tăng trưởng kinh tế 6
1.1.4 Mục tiêu của phát triển 7
1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng và phát triển 8
1.2.1 Nhóm các chỉ tiêu đo lường sự tăng trưởng 8
1.2.2 Nhóm các chỉ tiêu thay đổi cơ cấu 9
1.2.3 Nhóm các chỉ tiêu về chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường 10
1.2.4 Chỉ số phát triển con người HDI 11
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế 11
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp 11
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp 13
1.4 Phân loại các nước trên thế giới 16
1.4.1 Cơ sở phân loại 16
1.4.2 Đặc điểm của các nước phát triển/đang phát triển 16
1.5 Những trở ngại trong quá trình phát triển 18
1.6 Vai trò của nhà nước trong quá trình phát triển 19
CHƯƠNG 2 22
TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN 22
2.1 Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế thế giới 22
2.2 Tăng trưởng, phát triển và phúc lợi xã hội 27
2.2.1 Tăng trưởng và phát triển 27
2.2.2 Các quan điểm về phát triển 27
2.2.3 Các giá trị trung tâm của phát triển 28
2.3 Đo lường tăng trưởng và phát triển 30
2.3.1 Đo lường tăng trưởng kinh tế 30
2.3.2 Đo lường phát triển kinh tế 31
2.4 Các nhóm quốc gia trên thế giới: đặc điểm và tiêu chí phân loại 44
CHƯƠNG 3 46
CÁC LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN 46
Trang 33.1 Quan điểm của trường phái cổ điển: Adam Smith- David Ricardo 46
3.1.1 Nội dung cơ bản 46
3.1.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 47
3.2 Quan điểm của trường phái tân cổ điển: Alfred Marshall 48
3.2.1 Nội dung cơ bản 48
3.2.2 Mô hình Cobb –Douglas 49
3.3 Quan điểm của J.M Keynes 50
3.3.1 Nội dung cơ bản 50
3.3.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 52
3.4 Mô hình Harrod Domar 52
3.4.1 Nội dung cơ bản 52
3.4.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 53
3.5 Quan điểm của trường phái thay đổi cơ cấu: Athur Lewis-Hollis Chenery 55
3.5.1 Nội dung cơ bản 55
3.5.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 56
3.6 Lý thuyết về các giai đoạn tăng trưởng: Rostow 57
3.6.1 Nội dung cơ bản 57
3.6.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 58
3.7 Mô hình Robert Solow 59
3.7.1 Nội dung cơ bản 59
3.7.2 Ứng dụng vào hoạch định chính sách 60
CHƯƠNG 4 62
CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN 62
4.1 Vốn 62
4.1.1 Phân biệt vốn sản xuất và vốn đầu tư 62
4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư 62
4.1.3 Các nguồn hình thành vốn đầu tư 64
4.2 Lao động 65
4.2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm nguồn lao động xã hội 65
4.2.2 Đánh giá nguồn lao động xã hội và đánh giá việc sử dụng nguồn lao động xã hội 66
4.2.3 Cơ cấu thị trường lao động 69
4.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động 70
4.3 Khoa học công nghệ 71
4.3.1 Khái niệm 71
4.3.2 Các hướng nghiên cứu cơ bản về KHCN 74
Trang 44.3.3 Các cách thức để có KHCN 74
4.4 Tài nguyên thiên nhiên 75
4.4.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại TNTN 75
4.4.2 Vấn đề sở hữu và địa tô của TNTN 76
4.5 Sự đóng góp của từng nguồn lực vào tăng trưởng 76
PHẦN BÀI TẬP 80
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu và là nền tảng để các mục tiêu khác bắt rễ và vận động Điều này lại càng quan trọng với các nước đang phát triển (LDCs) trên con đường đuổi kịp và hội nhập với thế giới về kinh tế, văn hóa và
xã hội
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề hấp dẫn, có tính tiêu điểm trong nghiên cứu và quản lý phát triển Cùng với thời gian khái niệm này ngày càng được bổ sung, hoàn thiện hơn
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- Tăng trưởng là sự gia tăng sản lượng quốc gia trong một thời kỳ nhất định, đồng thời là sự gia tăng các nhân tố sản xuất được sử dụng trong điều kiện trạng thái kinh tế
vĩ mô tương đối ổn định
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về qui mô sản lượng quốc gia hoặc qui mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định
Theo các khái niệm này, thay đổi tăng quy mô sản lượng theo thời gian là tăng trưởng Mặt khác, thay đổi tăng quy mô sản lượng trên đầu người theo thời gian cũng
là tăng trưởng (trong trường hợp này đòi hỏi tốc độ tăng của sản lượng phải lớn hơn tốc độ tăng của dân số)
Khái niệm tăng trưởng này bao hàm các vấn đề: Tăng trưởng tạo ra cái gì? Tăng trưởng dựa trên điều kiện cơ bản nào? Tăng trưởng ở trong trạng thái ra sao?
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Phát triển nói chung là một quá trình vận động đi lên
Theo khái niệm này, trước hết nói tới phát triển là một quá trình lâu dài, không phải trong ngắn hạn mà là dài hạn Trong quá trình đó, mọi thứ luôn thay đổi và thay đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn
Mở rộng khái niệm này, phát triển kinh tế là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, và môi trường trong một thời gian nhất định
Trang 6Nói cách khác, phát triển kinh tế là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế,
là quá trình biến đổi nhiều mặt về kinh tế, xã hội và cấu trúc theo hướng tiến bộ Phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế - xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển thu nhập thấp
Thứ hai, cơ cấu kinh tế - xã hội thay đổi theo hướng tiến bộ Xu hướng tiến bộ của quá trình thay đổi này ở những nước đang phát triển đang hoặc chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá; đó không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra; hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng
Thứ ba, những tiến bộ kinh tế - xã hội chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại Đến lượt mình kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế (thể hiện ở những tiến bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng nguồn vốn trong nước )
Thứ tư, đạt được sự cải thiện sâu rộng chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội như là mục tiêu hàng đầu và là kết quả của sự phát triển Đương nhiên một kết quả như thế không thể chỉ là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người, một con số bình quân có thể che lấp đằng sau nó sự phân phối bất bình đẳng, nạn nghèo đói, thất nghiệp và những thụ hưởng khác về giáo dục, y tế, văn hoá
1.1.2 Sự cần thiết phải tăng trưởng kinh tế nhanh
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội Trong đó, tăng trưởng kinh
tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
– Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng
– Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá… phát triển; là điều kiện cần để xóa đói giảm nghèo
Trang 7– Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okum1 (hay quy luật 2,5% – 1) Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế tăng 2,5% trong vòng một năm
so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%
– Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng
cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội, củng cố quyền lực của chính phủ, tạo thế thuận lợi trên bàn đàm phán quốc tế
– Đối với các nước chậm phát triển như nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển
Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế ―quá nóng‖, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến
bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái
1.1.3 Các điều kiện tăng trưởng kinh tế
- Môi trường an toàn và ổn định: Sự an toàn, ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội
là yêu cầu trước hết để các nhà kinh doanh yên tâm hiện đại hoá bỏ vốn đầu tư, có thể
dự kiến và thực thi những dự án đầu tư dài hạn, nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư
- Thiết lập một môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, cạnh tranh cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Tiếp tục xây dựng, đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với cải cách hành chính Đảm bảo các chính sách nhằm duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là ổn định về tiền tệ, sự ổn định của hệ thống chính sách, luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế
- Xây dựng, đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với cải cách hành chính Cần đặc biệt chú ý đến các biện pháp, chính sách liên quan đến lĩnh vực tài
Trang 8chính và chính sách tài chính: xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán, cơ cấu lại và hiện đại hoá hệ thống ngân hàng thương mại; tiếp tục đổi mới chính sách thuế; chính sách chi ngân sách nhà nước và các chế độ bảo hiểm xã hội và bảo đảm xã hội; quản lý các nguồn tài nguyên tài sản quốc gia; đổi mới quản lý tài chính các doanh nghiệp nhà nước; tăng cường kỷ luật tài chính; đảm bảo tính minh bạch, công khai tài chính của các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước; tăng cường sự giám sát tài chính của Nhà nước và toàn xã hội; chống thất thoát trong đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước
- Cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển nguồn lao động, đặc biệt là nguồn lao động chất lượng cao, bồi dưỡng và phát triển những nhà kỹ trị Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm được sản xuất ra, đây mạnh Ứng dụng khoa học công nghệ, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; đổi mới cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Nhờ đó gia tăng khả năng huy động các nguồn lực, phân bổ các nguồn lực, trong đó có nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả hơn và tạo ra những điều kiện để doanh nghiệp buộc phải tính toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.1.4 Mục tiêu của phát triển
Phát triển kinh tế là một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, và môi trường trong một thời gian nhất định Một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện sẽ không rõ ràng nếu quá trình thay đổi đó không gắn với mục tiêu cụ thể mà quá trình phát triển kinh tế vươn tới Hiện nay trên thế giới bất kể quốc gia theo thể chế nào, những mục tiêu cơ bản mà quá trình phát triển kinh tế vươn tới bao gồm:
(i) Phát triển kinh tế phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn Cần nhấn mạnh rằng trong quá trình phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cần ổn định trong từng giai đoạn, không nhất thiết giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước Chẳng hạn, hiện nay các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng các nước phát triển thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển Cần lưu ý rằng, mục tiêu này là mục tiêu nền tảng, tiền đề để thực hiện các mục tiêu khác Vì không có tăng trưởng thì không có tăng thu ngân sách, như vậy sẽ không có nguồn lực để thực hiện các mục tiêu xã hội
và môi trường
(ii) Quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo thay đổi một cơ bản cơ cấu nền kinh
tế, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại Nền kinh tế nông nghiệp truyền thống với khu vực nông nghiệp đóng góp chủ yếu
Trang 9trong GDP và tổng lao động, còn nền kinh tế công nghiệp hiện đại với khu vực công nghiệp và dịch vụ đóng góp chủ yếu trong GDP và tổng lao động của nền kinh tế (iii) Quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường sống Tăng trưởng và chuyễn dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường sống con người (iv) Quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư Mục tiêu cuối cùng và cơ bản nhất là quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo nâng cao chất lượng của đại bộ phận dân cư xã hội chứ không phải là cho một nhóm dân cư Chất lượng cuộc sống thể hiện qua sinh kế - thu nhập, sức khỏe và giáo dục
1.2 Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng và phát triển
1.2.1 Nhóm các chỉ tiêu đo lường sự tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự tăng lên về sản lượng hằng năm do nền kinh tế tạo ra Do vậy thước đo của sự tăng trưởng là các đại lượng sau: Tổng sản phẩm trong nước (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP); thu nhập quốc dân sản xuất (NI) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)
- Tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quộc nội (Gross Domestic Products, GDP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhất định (thường
là 1 năm)
Có 4 nội dung cần phải lưu ý khi xác định GDP
(1) Thước đo bằng tiền nên chịu sự biến động về giá của hàng hóa và dịch vụ (2) Chỉ tính sản phẩm và dịch vụ cuối cùng để tránh tính trùng chỉ có doanh số cuối cùng được tính vào GDP
(3) Chỉ tính sản lượng những sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất và cung cấp dịch vụ trong biên giới của một quốc gia
(4) Thời gian tính GDP là trong 1 năm
- Tổng sản phẩm quốc dân
Tổng sản phẩm quốc dân hay tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất
ra bởi công dân của một nước trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm)
Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế thường gọi khái niệm này là tổng thu nhập quốc dân (Gross National Income, GNI)
Có 3 nội dung cần phải lưu ý khi xác định GNP
Trang 10(1) Tương tự như GDP, chỉ bao gồm sản phẩm và dịch vụ cuối cùng
(2) Chỉ tính sản lượng những sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất bởi công dân của một quốc gia
Minh họa: Cao su của công ty cao su DT- Việt Nam được sản xuất ở Campuchia, phần sản lượng sản xuất ra được tính vào GNP Tuy nhiên xe hơi của công ty Toyota – Nhật sản xuất ở Việt Nam không đươc tính vào GNP
(3) Thời gian tính GNP là trong 1 năm
Như vậy, GNP là GDP cộng giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất bởi những công dân sống bên ngoài biên giới đất nước trừ đi giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất bởi những công dân nước khác
- Thu nhập đầu người
Thu nhập đầu người (Per Capita Income, CPI) là tổng sản lượng quốc gia (GDP hoặc GNP) chia tổng dân số Thước đo này cho thấy sự khác biệt giữa thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia
- Sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP):
NNP là giá trị còn lại của GNP, sau khi đã trừ đi giá trị khấu hao tài sản cố định (Dp)
NNP = GNP - Dp
NNP phản ánh phần của cải thực sự mới được tạo ra hàng năm
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI):
NDI là phần mà nhân dân nhận được và có thể tiêu dùng, là phần thu nhập ròng sau khi trừ đi thuế (trực thu và thuế gián thu) (Ti+Td) cộng với trợ cấp (Sd):
NDI = NNP - (Ti+Td) + Sd
Mục đích đưa ra các thước đo là để tiếp cận tới các trạng thái phát triển của nền kinh tế, mỗi thước đo đều có ý nghĩa nhất định và được sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Mặc dù đó là các thước đo phổ biến nhất hiện nay, nhưng đó chỉ là những con số xấp xỉ về các trạng thái và tốc độ biến đối trong phát triển kinh tế, vì bản thân các thước đo đó chưa thể phản ánh hết được các sự kiện phát triển cả mặt tốt lẫn mặt chưa tốt Chẳng hạn như các sản phẩm tự túc, công việc nội trợ gia đình, thời gian nghỉ ngơi, sự tự do, thoải mái trong đời sống sinh hoạt, sự tổn hại do bị ô nhiễm môi trường thì được tính bằng cách nào
1.2.2 Nhóm các chỉ tiêu thay đổi cơ cấu
Cơ cấu kinh tế của một nước, theo cách hiểu thông thường là tổng thể các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế và trong từng yếu tố của lực lượng
Trang 11sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Với quan niệm này, phải hiểu cơ cấu không chỉ là qui định về số lượng, chất lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống, mà chính là quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống, còn các quan hệ về số lượng, tỷ
lệ chỉ được xem như là các biểu hiện của các mối quan hệ mà thôi
Thay đổi cơ cấu kinh tế thể hiện trên các mặt: Cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu ngoại thương và cơ cấu đô thị hóa
(1) Cơ cấu ngành kinh tế
- Thước đo: Tỷ trọng đóng góp của các ngành trong GDP (%)
- Xu hướng:
Trình độ phát triến kinh tế cao hơn theo thời gian khi tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp giảm dần, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần
(2) Cơ cấu lao động
- Thước đo: Tỷ trọng lao động của từng khu vực trong tổng lao động (%)
- Xu hướng:
Trình độ phát triến kinh tế cao hơn theo thời gian khi tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp giảm dần, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần
(3) Cơ cấu ngoại thương
- Thước đo: Tỷ trọng tổng giá trị xuất – nhập khẩu so với GDP (%) Thước đo này đánh giá trình độ ―mở‖ của nền kinh tế
- Xu hướng:
Trình độ phát triến kinh tế cao hơn theo thời gian khi tỷ trọng tổng giá trị xuất – nhập khẩu so với GDP (%) tăng dần
(4) Cơ cấu đô thị hóa
Quá trình công nghiệp hóa gắn liền với quá trình đô thị hóa, khi trình độ phát triển càng cao thì đô thị hóa càng diễn ra nhanh Qúa trình đô thị hóa gắn với quá trình dịch chuyễn dân số nông thôn vào thành thị
- Thước đo: Tôc độ tăng trưởng dân số thành thị so với tốc độ tăng trưởng dân số
Trang 12Tiến bộ xã hội thể hiện mức đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: Sức khỏe (thể hiện qua tiêu chí tuổi thọ), tri thức (thể hiện qua tiêu chí học vấn) và mức sống (thể hiên qua tiêu chí thu nhập đầu người) Trình độ phát triển càng cao, các chỉ số đo lường tiêu chí tuổi thọ, tri thức và mức sống càng lớn
Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng: đây là vấn đề phụ thuộc, một mặt vào tổng khả năng thu nhập của nền kinh tế, mặt khác vào chính sách phân phối và phân phối lại nhằm điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội theo hướng bảo vệ người nghèo cũng như giải quyết các vấn đề công bằng xã hội
Môi trường sống gắn liền với môi trường không khí và nước Chỉ tiêu môi trường
đo lường sự phát triển thể hiện ở mức độ ô nhiểm thực tế so với tiêu chuẩn cho phép (TCCP) Trình độ phát triển kinh tế càng cao thì mức độ ô nhiểm càng giảm
Ngoài các chỉ số nêu trên người ta còn dùng các chỉ số đánh giá sự phát triển xã hội ở mặt bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ như: Số giường bệnh, số bệnh viện, bệnh viện
an dưỡng, số bác sĩ, y sĩ bình quân cho một vạn dân Về giáo dục và văn hóa có tổng
số các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, số lớp và số trường học, viện nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện tính bình quân cho ngàn hoặc triệu dân Sự công bằng xã hội trong phân phối sản phẩm cũng là một tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ của xã hội hiện đại Người ta dùng đồ thị Lorenz và hệ số Gini để biểu thị
1.2.4 Chỉ số phát triển con người HDI
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index, HDI) xác định sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế đến chất lượng cuộc sống HDI được phát triển năm
1990 bởi Manbubul Haq (Pakistan) và Amartya Sen (India) UNDP đã cố gắng định lượng những gì mà tổ chức này cho là những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển con người: sống một cuộc sống mạnh khoẻ và trường thọ, thu thập tri thức, và tiếp cận những nguồn lực cần thiết cho một mức sống tử tế Đối với từng yếu tố này, một số đo
cụ thể được xây dựng và được tổng hợp lại thành một chỉ số, chỉ số phát triển con người (HDI) Mỗi năm kể từ năm 1990, UNDP tính toán giá trị HDI cho những nước trên thế giới mà số liệu cho phép và đánh giá sự tiến bộ tương đối của các nước trong việc cải thiện phát triển con người Vì HDI kết hợp các kết quả theo các đơn vị đo lường rất khác biệt nhau - tuổi thọ tính theo năm, tỉ lệ phổ cập giáo dục và tỉ lệ phần trăm người trưởng thành biết chữ, và thu nhập tính theo USD để tiếp cận nguồn lực - mỗi kết quả phải được qui đổi thành chỉ số để có thể tổng hợp lại thành một số đo hỗn hợp
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế 1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
Trang 13Đây là lượng đầu vào mà sự biến đổi của nó trực tiếp làm thay đổi sản lượng đầu
ra Có thể biểu hiện mối quan hệ đó bằng hàm số: Y = F(Xi)
Trong đó: Y là sản lượng, còn Xi (i = 1, 2, , n) là các biến số đầu vào thể hiện các nhân tố đều chịu sự điều tiết của mối quan hệ cung - cầu Một số nhân tố thì ảnh hưởng tới mức cung, một số nhân tố thì ảnh hưởng tới mức cầu Sự cân bằng cung - cầu do giá cả thị trường điều tiết sẽ tác động trở lại các nhân tố trên và dẫn tới kết quả của sự sản xuất, đó là sản lượng của nền kinh tế
Sơ đồ 1.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến cung – cầu thị trường
Ở sơ đồ trên, các biến số đóng vai trò của các nhân tố quyết định tổng mức cung (S), mà sự biến đổi vật chất và giá trị của nó tạo thành tổng sản lượng của nền kinh tế
Đó là các yếu tố sản xuất Còn các yếu tố quyết định đến tổng mức cầu (D) thực chất
đó là các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản lượng thông qua sự cân bằng về cung - cầu (E)
Thực chất của việc tiếp cận đến nguồn gốc của sự tăng trưởng là xác định nhân tố nào là giới hạn của sự tăng trưởng, giới hạn này do cung hay do cầu?
Các nhà kinh tế đặt nền móng cho các học thuyết kinh tế cổ điển nói riêng và kinh tế học nói chung như Adam Smith, Jean Baptiste Say, David Ricardo cho đến Alfred Marshall và ngay cả Karl Marx cũng đều xây dựng các lý thuyết dựa trên quan điểm nghiêng về cung chứ không phải là cầu Trong một giai đoạn nhất định (ngắn hạn) sự khan hiếm của tài nguyên (nguồn đầu vào) hay sự thiếu cung, luôn luôn là giới hạn của sự tăng trưởng, nhất là khi sức sản xuất còn thấp
Trang 14Còn theo trường phái kinh tế học hiện đại, mà xuất phát là Keynes thì mức sản lượng và việc làm là do cầu quyết định Điều này được lý giải sản lượng của nền kinh
tế luôn ở dưới mức tiềm năng, tức là nền kinh tế còn các nguồn lực tiềm năng, công nhân thất nghiệp ở mức tự nhiên, vốn tích luỹ lớn, công suất máy móc chưa tận dụng hết Đó là do khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, năng suất luôn được nâng cao
Do đó cung không phải là vấn đề giới hạn của sự gia tăng sản lượng, mà ở đây nó phụ thuộc vào cầu
Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn còn những nước quá nghèo, chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân Song lại có những nước quá giàu đã đáp ứng được nhu cầu của đất nước và đang mở rộng thị trường ra khỏi biên giới để nhằm đẩy mạnh tăng tr-ưởng Vì vậy mỗi quan điểm trên đều có giá trị trong mỗi hoàn cảnh và điều kiện riêng biệt của mỗi quốc gia
Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển, cung vẫn chưa đáp ứng đựơc cầu,
sự gia tăng sản lượng phải bao gồm sự gia tăng trong đầu vào của các yếu tố sản xuất theo quan hệ hàm số giữa sản lượng với vốn, lao động, đất đai và nguyên liệu, kĩ thuật
R: là đất đai và tài nguyên
T: là tiến bộ của kĩ thuật và công nghệ
Hàm sản xuất trên nói lên sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc vào sản lượng các yếu tố đầu vào trong điều kiện trình độ kĩ thuật và công nghệ nhất định Mỗi yếu tố có vai trò nhất định, do trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi, mỗi lúc quyết định
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp
Các nguồn lực không trực tiếp nhằm mục tiêu kinh tế nhưng gián tiếp có ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế gọi là các nhân tố phi kinh tế Nó có đặc điểm: (1) Không thể lượng hoá được các ảnh hưởng của nó; (2) Phạm vi ảnh hưởng rộng và phức tạp trong xã hội, không thể đánh giá một cách tách biệt rõ rệt được và không có ranh giới rõ ràng
1.3.2.1 Cơ cấu dân tộc
Đề cập các tộc người khác nhau cùng sống tạo nên một cộng đồng quốc gia Cơ cấu này có thể chia theo chủng tộc (sắc tộc , bộ tộc) theo khu vực sinh sống lâu đời tạo
Trang 15nên những khác biệt nhất định (miền núi, miền thảo nguyên, miền đồng bằng ) theo tỉ trọng số lượng trong tổng số dân số (thiểu số, đa số )
Do điều kiện sống khác nhau đã tạo nên sự khác biệt về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất và về địa lí, vị trí kinh tế - xã hội trong cộng đồng
Sự phát triển tổng thể kinh tế có thể đem lại những biến đổi kinh tế có lợi cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc khác Đó là những nguyên nhân nảy sinh ra xung đột giữa các dân tộc Do vậy lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng nó đảm bảo được bản sắc, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục sự xung đột và sự mất ổn định chung của cộng đồng Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.3.2.2 Cơ cấu tôn giáo
Vấn đề tôn giáo đi đôi với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người có thể theo một tôn giáo Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lí tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm
lí -xã hội riêng của dân tộc Nhưng ý thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo
sự biến đổi của sự phát triển của xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung thường có ảnh hưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể có sự hoà hợp, nên có chính sách đúng đắn của Chính phủ
1.3.2.3 Đặc điểm văn hoá - xã hội
Đây là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều quá trình phát triển của đất nước Nói đến văn hoá dân tộc là một khái niệm rất rộng, bao hàm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông, đến các tích luỹ tinh hoa của nhân loại về khoa học nghệ thuật văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những tập tục tốt đẹp đã xây dựng được, mà mọi người thừa nhận từ lâu đời Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia
Nói chung trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng của lao động, của kĩ thuật và công nghệ, của trình độ quản lí kinh
tế - xã hội Vì thế trình độ văn hoá cao là mục tiêu của sự phát triển Để phát triển lâu dài và ổn định, đầu tư cho phát triển văn hoá được coi là đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất
1.3.2.4 Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Đây cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh
tế Nó thể hiện như một lực lượng đại diện ý chí của một cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra Thể chế
Trang 16được thông qua các mục tiêu phát triển dự kiến, các nguyên tắc quản lí kinh tế -xã hội, các luật pháp, các chế độ, chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện
Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục
cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng Ngược lại một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ kinh tế cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra xung đột chính trị, xã hội Một thể chế phù hợp với phát triển hiện đại phải thể hiện ở các mặt:
- Phải có tính năng động, linh hoạt, mềm dẻo luôn thích nghi được với những biến động phức tạp do tình hình thế giới và trong nước khó lường trước
- Phải đảm bảo sự ổn định của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn và xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển
- Phải tạo cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả, nhằm tranh thủ được vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới, là cơ sở của sự tăng tốc trong quá trình phát triển
- Tạo ra một sự kích thích mạnh mẽ mọi tiềm lực vật chất trong nước hướng vào đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu
- Tạo được đội ngũ đông đảo những người có năng lực quản lí , có trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng những thành công các kĩ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ chế quản lí kinh tế
Dù quan trọng đến đâu, thể chế cũng chỉ tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chế các mặt bất lợi
1.3.2.5 Truyền thống, tập quán với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Truyền thống tập quán (trong sản xuất, tiêu dùng và các sinh hoạt xã hội) là kết quả lâu dài của lịch sử - tự nhiên và xã hội, được thể hiện qua kiểu cách sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ, các hình thức sinh hoạt xã hội của các cộng đồng, các khu vực và vùng lãnh thổ
Quốc tế hóa và toàn cầu hóa làm cho thị trường các nhân tố được mở rộng Trong khi đó, truyền thống và tập quán ít bị quốc tế hóa và toàn cầu hóa, nó trở thành lợi thế để các quốc gia duy trì tăng trưởng, chuyển hóa nó vào hàng hóa, dịch vụ đáp ứng cầu cho cả thị trường bên ngoài
Cần chú ý rằng, truyền thống, tập quán là lợi thế, nhưng không có ý nghĩa tuỵêt đối và vĩnh viễn Khoa học và nghệ thuật vận dụng truyền thống, tập quán là phải phối
Trang 17hợp với các nhân tố khác như thế nào để nó hóa thân vào các yếu tố kinh tế và được thời đại chấp nhận Hàng hóa dịch vụ dựa trên đó phải duy trì được tính cạnh tranh ở các thị trường
1.3.2.6 Diễn biến của thời tiết
Thời tiết, khí hậu biến đổi theo những quy luật của nó.Tuy vậy con người chỉ có
thể tiếp cận sự vận động của nó theo quy luật số lớn mà không thể biết hết mọi diễn biến của nó trong ngắn hạn
Thời tiết có thể tạo nên những thuận lợi bất ngờ, nhưng cũng có thể đưa lại nhiều mất mát và đau khổ không lường trước cho con người Để tối đa hóa những thuận lợi, tối thiểu hóa những bất lợi, ngày nay các nước đều có chiến lược phát triển bền vững, chính sách thân thiện với thiên nhiên, chung sống với thiên nhiên
1.4 Phân loại các nước trên thế giới
1.4.1 Cơ sở phân loại
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Người ta thường dựa vào các chi tiêu : thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ tử vong trẻ em hoặc chỉ số phát triển con người (HDI) để phân loại các quốc gia trên thế giới và đánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, từng châu lục Các quốc gia phát triển có thu nhập bình quân đầu người trên 20000 USD/năm, tỷ lệ tử vong của trẻ em thường rất thấp và chỉ số phát triển con người từ 0,7 đến gần bằng 1 Các quốc gia đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người dưới 20000 USD/năm, tỉ lệ tử vong của trẻ em thường khá cao và chỉ số phát triển con người dưới 0,7
Ngoài ra, còn có các cách phân loại khác, ví dụ, căn cứ vào cơ cấu kinh tế, người
ta chia các quốc gia trên thế giới ra các nhóm nước: nước công nghiệp, nước nông nghiệp; căn cứ vào thể chế chính trị, người ta phân loại thành các nước tư bản, các nước xã hội chủ nghĩa…
1.4.2 Đặc điểm của các nước phát triển/đang phát triển
Xuất phát từ trình độ phát triển và những đặc trưng trong quá trình vận động, Ngân hàng Thế giới đề nghị sắp xếp các nước trên thế giới thành 4 nhóm: các nước công nghiệp phát triển, các nước mới công nghiệp hóa, các nước đang phát triển, các nước xuất khẩu dầu mỏ
Trang 18Bảng 1.1 Các tiêu chí phân loại nhóm nước trên thế giới
Các chỉ tiêu,
thông số để phân
loại
Các nước công nghiệp phát triển DCs
Các nước mới công nghiệp hóa NICs
Các nước đang phát triển LDCs
1 Giai đoạn kinh
- Đã công nghiệp hóa,
đi vào giai đoạn trưởng thành
- Trên 10.000USD
- Định hình và chuyển dịch nhanh theo các lợi thế
- Kỹ thuật hiện đại
- Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp
- Tỷ trọng xuất khẩu chiếm ưu thế trong GDP
- Các truyền thống, tập tục lạc hậu suy giảm nhanh
- Hệ thống quản lý hoàn thiện theo sự tiến
bộ của môi trường kinh tế
- Đã thiết lập mạng các quan hệ kinh tế-thể chế với bên ngoài, hoạt động có hiệu quả
- Đã công nghiệp hóa trongthời kỳ đặc biệt những nắm1960-1980, đang ở giai đầu của trưởng thành về kinh tế
- Trên 6.000USD
- Định hình và chuyển dịch nhanh theo các lợi thế
- Kỹ thuật hiện đại, có
sự kết hợp thích dụng các loại hình kỹ thuật
- Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng công nghiệp- dịch vụ-nông nghiệp
- Các truyền thống, tập tục lạc hậu suy giảm nhanh
- Đã và đang tìm cách nối kết các quan hệ kinh tế-thể chế với các nước phát triển và đang phát triển
- Đang hoặc chưa công nghiệp hòa, đang
ở giai đoạn cất cánh hoặc trước cất cánh
- Bao gồm ba nhóm: + Thu nhập bình quân trong khoảng 2.000-6.000USD
+ Thu nhập bình quân
từ 600-2000USD + Thu nhập bình quân dưới 600USD
- Đang trong quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh
tế kỹ thuật
- Độ chuyển dịch nhỏ
- Cơ cấu ngành đang trong thời kỳ nông nghiệp- công nghiệp-dịch vụ
- Nhiều truyền thống tập tục lạc hậu đang
đè nặng, thậm chí quyết định sự phát triển
- Đang tìm cách nối kết các quan hệ kinh tế-thể chế với các nước phát triển và đang phát triển
-Đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện
hệ thống các công cụ quản lý
Trang 19Các nước xuất khẩu dầu mỏ (hầu hết các nước này đều gia nhập Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC) là những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn, khai thác và xuất khẩu dầu mỏ là ngành chính trong GDP Mặc dù có thu nhập bình quân đầu người cao, nhưng lại thiếu chuyên gia, công nhân lành nghề,… nên nhìn chung các nước này chưa
đi lên nhanh, cơ cấu kinh tế mất cân đối, phân phối thu nhập còn chứa đựng nhiều bất bình đẳng Gần đây, các nước này đang cố gắng điều chỉnh cơ cấu với mức độ khác
nhau và kết quả cũng rất khác nhau
Nhìn chung, các nước đang phát triển có những tương đồng về mặt bằng phát triển, hoàn cảnh lịch sử-chính trị, nhưng giữa họ cũng có những khác biệt, tạo nên bức tranh đa sắc trong thống nhất là chậm phát triển Những khác biệt này quyết định việc lựa chọn và sử dụng lợi thế của từng nước: Quy mô đất nước (Dân số, diện tích); Điều kiện lịch sử - tự nhiên; Vai trò của khu vực Nhà nước và tư nhân; Việc lựa chọn đồng minh và sự giúp đỡ của các đồng minh… Bên cạnh những khác biệt, LDCs có những giống nhau cơ bản là: Mức sống thấp, Tỷ lệ tích lũy nhỏ, Trình độ kỹ thuật lạc hậu, Năng suất lao động thấp Những đặc điểm này tác động, quy định lẫn nhau, tạo nên
‖vòng luẩn quẩn‖của đói nghèo và chậm phát triển
1.5 Những trở ngại trong quá trình phát triển
- Mức thu nhập bình quân đầu người thấp: Các nhà kinh tế thế giới thường lấy mức thu nhập bình quân đầu ngời 2000USD làm mốc, đạt được mức này phản ánh sự biến đổi về chất trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, phản ánh khả năng giải quyết những nhu cầu cơ bản của con người Hiện nay, hầu hết các nớc đang phát triển chưa đạt được mức thu nhập đến 2000USD, còn khoảng 50 nước thu nhập dưới 6000 USD /người Điều này phản ánh khả năng hạn chế của các nước đang phát triển trong việc giải quyết các nhu cầu cơ bản về vật chất, văn hoá, giáo dục, y tế
- Tỉ lệ tích luỹ thấp: để có nguồn vốn tích luỹ thì cần phải hy sinh tiêu dùng,
như-ng khó khăn là ở chỗ các nước đanhư-ng phát triển có mức thu nhập thấp , hầu như chỉ đủ đáp ứng những nhu cầu cơ bản tối thiểu.Vì vậy việc giảm tiêu dùng để tích luỹ là rất khó khăn ở các nước phát triển thường giành từ 20 - 30% thu nhập để tích luỹ, trong khi đó ở các nước nông nghiệp chỉ có khả năng tiết kiệm dới 10 % thu nhập Nhưng phần lớn phần tiết kiệm này là dùng để trang trải nhà ở và trang thiết bị khác cho dân
số tăng lên Do vậy hạn chế qui mô cho tích luỹ phá ttriển kinh tế Hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn, kĩ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu Mà nền kinh tế muốn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều phải có
sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp với trình độ sản xuất tiên tiến hiện đại, trình độ quản lí thành thạo
Trang 20- Áp lực về dân số và việc làm: Dân số đang phát triển vốn đã đông, sự bùng nổ
về dân số ở các quốc gia này tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh tế Tỉ lệ tăng dân số thường ở mức cao hơn tỉ lệ tăng trưởng kinh tế nên đã làm cho mức sống của nhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm tất yếu dẫn đến sức mua giảm và tỉ lệ tích luỹ cũng giảm, sự mất cân đối giữa tích luỹ và đầu tư đã làm hạn chế sản xuất và dẫn đến thất nghiệp trầm trọng gây mất ổn định xã hội, nợ nước ngoài gia tăng
Những đặc trưng trên đây đã vạch rõ ra những trở ngại rất lớn, đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra
"Vòng luẩn quẩn" của sự nghèo khổ làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng gia tăng:
1.6 Vai trò của nhà nước trong quá trình phát triển
- Cơ chế thị trường không chỉ có những ưu việt mà còn có nhiều khuyết tật, những thất bại thị trường trong việc điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế, đòi hỏi phải
có sự can thiệp của Nhà nước Nói cách khác, để tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh
và bền vững, vừa phải sử dụng cơ chế thị trường, vừa phải có sự can thiệp của nhà nước Về phương diện người quản lí vĩ mô, nhà nước thông qua thể chế, các chính sách và công cụ để tạo ra điều kiện cho sự ổn định và phát triển kinh tế Các công cụ kinh tế quan trọng và phổ biến nhất là công cụ tài chính, tiền tệ, giá cả, phân phối thu nhập Kế hoạch hoá cũng là công cụ hết sức quan trọng được sử dụng, song khác về nguyên tắc so với cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước kia
- Trong mô hình phát triển kinh tế, Chính phủ (G) cũng là một nhân tố như các tác nhân: Người tiêu dùng (C), người sản xuất (I) và người nước ngoài (X - M) trong việc tạo ra giá trị sản lượng
Trang 21tham gia vào tổng cung (AS) và tổng cầu (AD) và điều hoà giá cả Những mối quan hệ này cho thấy vai trò rất lớn của Chính phủ trong hoạt động của thị trường
Để thể hiện vai trò trong quá trình phát triển, Nhà nước thực hiện các chức năng sau:
- Đảm bảo các lợi ích công cộng của xã hội: Đó là đảm bảo trật tự an ninh, quốc phòng, bảo đảm phát triển sự nghiệp phúc lợi công cộng của xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, cấu trúc hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường
- Thực hiện ngân sách quốc gia :
Nhà nước phải tạo ra các nguồn thu cho ngân sách (chủ yếu là thuế) đó là nguồn đầu vào để tạo ra các hàng hoá công cộng và chi tiêu thường xuyên của Chính phủ cho các hoạt động, đó cũng là nguồn dự trữ đảm bảo cho sự cân đối và ổn định trong quá trình phát triển
- Tổ chức và phối hợp các hoạt động trên phạm vi quốc gia:
Căn cứ vào những mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, Chính phủ đề ra các chế độ, tổ chức bộ máy làm việc ở các cấp, phối hợp với guồng máy kinh tế chung, tạo ra những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển đạt được lợi ích mong muốn của xã hội
- Thực hiện sự phân bố, điều chỉnh quyền công dân và đảm bảo dân chủ và công bằng xã hội:
Thông qua các chính sách về thu nhập, về bảo hiểm và giá cả nhằm điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Đồng thời qui định rõ các quyền của công dân, đảm bảo cho cá nhân, tổ chức một sự tự do trong hoạt động kinh tế, chống lại sự độc quyền, đảm bảo sự ổn định về sở hữu tài sản Để có thể phát huy mọi khả năng về nguồn vốn, công nghệ và nhân lực cho sự phát triển
-Tăng cường và hoàn thiện các quan hệ thị trường tạo thuận lợi cho sự tăng ởng nhanh chóng:
trư-Thị trường, nơi quan hệ cung - cầu được thực hiện thông qua giá cả, đã tạo ra một động lực thúc đẩy sản xuất, phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Do vậy phải có chính sách và luật để mở rộng hơn nữa qui mô của thị trường, tạo ra sự giao lưu thương mại, nhằm kích thích sự đổi mới công nghệ và tăng thêm đầu tư, dẫn tới sự tăng trưởng nhanh
Đồng thời phải bổ sung những mặt yếu mà cơ chế thị trường không thể tạo ra được như các ngành sản xuất có tính chất xương sống của nền kinh tế, phân bổ đúng đắn nguồn nhân lực giữa thành thị và nông thôn, phát triển các cơ sở hạ tầng kĩ thuật
và xã hội
Trang 22Bên cạnh đó phải hạn chế những mặt bất lợi cho xã hội mà cơ chế thị trường đưa lại, như khai thác tài nguyên thái quá đi đến phá hoại môi sinh, ô nhiễm môi trường, sản xuất hàng giả, sản phẩm độc hại Hạn chế xu thế độc quyền trong sản xuất và tiêu thụ, sự làm giàu phi pháp và sự phân phối không công bằng là nguyên nhân dẫn đến phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng tạo ra những xung đột cho xã hội
- Lựa chọn qui mô, bước đi và vạch ra kế hoặch chương trình phát triển, thúc đẩy
có hiệu quả sự phát triển kinh tế
Ở các nước đang phát triển, sự thiếu vốn, thiếu lao động có kĩ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến, cấu trúc xã hội bất hợp lí, chủ nghĩa phân lập, sự độc quyền đang là những trở ngại thực sự cho sự chuyển đổi Do vậy Nhà nước phải có sự lựa chọn qui
mô đầu tư hợp lí, bước đi thích hợp nhằm phát triển các yếu tố kinh tế vốn yếu kém, thể hiện trong các chương trình kế hoạch phát triển, có các biện pháp hiệu lực tác động vào các hoạt động kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển đúng hướng, đúng mục tiêu
Trang 23CHƯƠNG 2 TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN 2.1 Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế thế giới
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế thế giới
2.1.1.1 Thời kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến đầu những năm 1990
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, sự phát triển của kinh tế thế giới có thể được chia thành bốn thời kỳ: thời kỳ khôi phục (từ sau CTTG thứ hai đến đầu những năm 1950); thời kỳ tăng trưởng nhanh (từ đầu những năm 50 đến đầu những năm 1970); thời kỳ đình trệ (từ đầu những năm 1970 đến cuối những năm 1980); và thời kỳ điều chỉnh, cải cách và chuyển đổi (từ cuối những năm 1980 đến những năm 1990) Trong hai thời kỳ đầu, kinh tế thế giới tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển Trong những năm 1950 và 1960, kinh tế thế giới đã đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất trong lịch sử: 5,9%/năm Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1970 đến cuối những năm 1980, kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn giảm sút với tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm dần qua mỗi thập niên Trong thập niên 1970, GDP thế giới bình quân tăng 3,9%, giảm 2% so với hai thập niên trước; trong thập niên 1980, GDP tăng bình quân 3,4%, giảm 0,5% so với những năm 1970
Cũng trong giai đoạn này, thế giới tồn tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập, hai thị trường riêng biệt và ba lực lượng kinh tế Các nước tư bản chủ nghĩa đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và năng động, đặc biệt từ sau chiến tranh đến đầu những năm
1970 Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa tuy đạt tăng trưởng rất cao ở giai đoạn đầu nhưng do duy trì chính sách kinh tế và cơ chế cứng nhắc, thiếu hiệu quả nên dần dần gặp phải nhiều khó khăn.Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và chính trị ở Liên
Xô (cũ) và các nước Đông Âu vào cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 là đỉnh cao của sự trì trệ và khó khăn này
2.1.1.2 Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay
Sau cuộc chiến tranh lạnh, thế giới đã hình thành và phát triển một thị trường rộng lớn và thống nhất với cơ chế kinh tế thị trường
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh với mức tăng trung bình 2,6%/năm Tốc độ tăng trưởng trung bình của các nước phát triển là 2,4%/năm, trong đó Mỹ đạt tốc độ tăng cao nhất 3,2%/năm Nhật Bản là nước gặp nhiều khó khăn nhất trong số các nước công nghiệp phát triển, tốc độ tăng GDP trung bình chỉ đạt 1,4%/năm Các nước Châu Âu và khu vực đồng euro tăng trung bình
Trang 241,9%-2,0%/năm Trong nhóm các nước có thu nhập cao, các nước mới công nghiệp hoá ở Châu Á tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, khoảng 6,0%/năm
Cũng trong thời gian này, các nước đang phát triển Châu Á là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, trung bình 7,7%/năm, trong đó Trung Quốc dẫn đầu với 10,1%/năm Đây cũng là thời kỳ khó khăn của các nền kinh tế các nước Đông Âu và Liên Xô cũ Tính chung cả thập kỷ, các nước Đông Âu có tốc độ tăng trưởng -1,6%/năm, trong đó Nga suy giảm nhiều nhất với tốc độ -4,6%/năm Các khu vực Mỹ La-tinh, Trung Đông – Bắc Phi và các nước vùng Châu Phi- Sa-ha-ra đạt tốc độ tăng trưởng tương đối thấp, lần lượt là 3,4%, 3,4% và 2,3% mỗi năm
Thập kỷ 90 còn chứng kiến sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) – một khuôn khổ tự do hoá thương mại đa phương trên quy mô toàn cầu và có tác động
to lớn đến sự phát triển của thương mại quốc tế Đến đầu thế kỷ 21, WTO đã có gần
150 nền kinh tế thành viên và điều chỉnh hầu hết khối lượng thương mại thế giới Nền kinh tế thế giới sau khi trải qua thời kỳ phát triển nóng từ những năm 1980, đến năm 2008 cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã kết thúc chuỗi thời gian tăng trưởng, đồng thời có những tác động sâu rộng cho đến thời điểm hiện tại Điểm mặt các nền kinh tế trên thế giới, từ những nền kinh tế phát triển cho đến đang phát triển, dường như bóng đen của cuộc khủng hoảng nổ ra cách đây gần 6 năm vẫn chưa đi qua Dấu hiệu cho thấy, các nền kinh tế chủ yếu trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu EU, Nhật Bản,… đều không mấy khởi sắc Theo một cuộc khảo sát của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong 14 chu kỳ kinh tế kể từ năm 1929 đến nay, đợt phục hồi kinh tế lần này là chậm chạp nhất
2.1 2 Những đặc điểm và chiều hướng phát triển của kinh tế thế giới
2.1.2.1 Kinh tế thế giới chuyển từ phát triển theo chiều rộng (gia tăng nguồn lực) sang phát triển theo chiều sâu (nâng cao hiệu quả)
Những thập niên cuối của thế kỷ 20, các nhân tố phát triển theo chiều rộng như các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng, khoáng sản, ưu thế về nguồn lao động giá rẻ… suy giảm rõ rệt Cuộc khủng hoảng dầu lửa trong thập kỷ 70 và 80 đã thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm các biện pháp phát triển chiều sâu như nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu, năng lượng; nghiên cứu phát triển các loại vật liệu mới, các
kỹ thuật công nghệ cao như máy tính, điện tử, vi điện tử, tự động hoá, sinh học… Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ vào nửa sau của thế kỷ XX đã tạo ra một bước ngoặt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất của toàn xã hội, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh tế thế giới Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các ngành chủ yếu như điện tử, năng lượng nguyên tử, công nghệ hoá dầu, công nghệ
Trang 25hàng không vũ trụ, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin… và hình thành nên những phương thức, mô hình sản xuất mới với năng suất và hiệu quả cao hơn, thúc đẩy sức sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng Dựa trên những thành tựu đó, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã bùng nổ trên phạm vi ngày càng rộng hơn và tác động ngày càng sâu sắc hơn đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới Kết quả là kinh tế thế giới chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp sang một loại hình kinh tế mới dựa trên chất xám và kỹ thuật, công nghệ cao – kinh tế tri thức Trong thế kỷ 20, sản xuất công nghiệp thế giới tăng 35 lần trong khi thế kỷ 19 chỉ tăng 3 lần Những thành tựu khoa học – công nghệ đã và sẽ trực tiếp đi vào lực lượng sản xuất trong khoảng thời gian rất ngắn, trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội, tạo nên động lực chính của sự phát triển của kinh tế thế giới trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế thế giới có những bước chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ, trong đó tỷ trọng giá trị nông nghiệp không ngừng suy giảm; tỷ trọng công nghiệp có xu hướng thu hẹp ở các nước công nghiệp phát triển nhưng vẫn tăng lên ở các nước đang phát triển; đồng thời tỷ trọng ngành dịch vụ không ngừng mở rộng Năm 1900, nông nghiệp chiếm 1/3 GDP thế giới, đến nay chỉ còn khoảng 3%, trong khi công nghiệp chiếm 35% và dịch vụ chiếm 60% Thậm chí, ở nhiều nước công nghiệp phát triển, dịch vụ đã chiếm tới hơn 75% lực lượng lao động, đóng góp gần 70% vào GDP
2.1.2.2 Gắn liền với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ 4.0, nền kinh tế tri thức sẽ là một đặc trưng nổi bật của kinh tế thế giới trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI
Giá trị của các yếu tố đầu vào truyền thống như nguyên nhiên liệu, đất đai, lao động phổ thông hoặc ít đào tạo ngày càng giảm Trong khi chất xám, tri thức và thông tin có vai trò ngày càng tăng và mang tính quyết định đối với các quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ và đóng góp tỷ lệ ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Trong thời gian tới, tất cả các nước sẽ điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao vai trò chủ đạo và dẫn đầu của các ngành kinh tế dựa trên các công nghệ mới và có hàm lượng chất xám cao để làm động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
2.1.2.3 Quá trình kép toàn cầu hoá-tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế phát triển mạnh thành một trào lưu bao trùm, cuốn hút hầu hết các nước
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới thống nhất theo cơ chế thị trường đã làm cho quan hệ kinh tế, văn hoá giữa các nước phát triển nhanh chóng Sự vận động của các công ty xuyên quốc gia thông qua dịch chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, lao động… cũng như sự mở rộng những quan hệ kinh tế quốc tế như thương
Trang 26mại, đầu tư, vay nợ… ra phạm vi toàn cầu đang thúc đẩy hình thành nên thị trường thế giới ngày càng thống nhất với những ―luật chơi‖ chung Quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư cũng phát triển mạnh, thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với 146 thành viên (tính đến tháng 7 năm 2003), điều chỉnh đến 95-98% thương mại của thế giới là biểu hiện của tự do hoá thương mại toàn cầu Bên cạnh đó, xu thế khu vực hoá với sự phát triển của các liên kết kinh tế-thương mại khu vực như EU, ASEAN, NAFTA, APEC… và các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương làm sâu sắc thêm xu thế toàn cầu hoá Trong bối cảnh đó, các nước trên thế giới đều tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của mình cũng như tranh thủ vốn, công nghệ, thị trường và tri thức quản lý-kinh doanh tiên tiến phục vụ cho phát triển kinh tế Không nước nào có thể đứng ngoài quá trình hội nhập nếu không muốn tự tách mình khỏi trào lưu phát triển chung và bị tụt hậu Những biểu hiện về sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá bao gồm:
– Tự do hoá thương mại tiếp tục được đẩy mạnh và thương mại quốc tế tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới Trong những thập kỷ qua, tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới luôn luôn cao gấp đôi, gấp ba lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thế giới Hai thập niên đầu thế kỷ XXI là khoảng thời gian có tính chất ―quyết định‖ đối với sự phát triển của thương mại thế giới trong nhiều thập niên tới Trong thập niên đầu tiên sẽ diễn ra Vòng đàm phán Doha của WTO, và những thoả thuận đạt được trong đàm phán về hai lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nhiều khả năng sẽ đưa lại một thời kỳ tăng trưởng cao hơn cho thương mại thế giới – Những năm đầu thế kỷ 21, do khó khăn của các nền kinh tế lớn, đầu tư nước ngoài có chiều hướng suy giảm, đồng thời luồng đầu tư cũng nhằm vào những địa điểm đầu tư an toàn và có lợi thế so sánh trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới phát triển khả quan trong những năm tới, luồng vốn đầu tư nước ngoài cũng có xu hướng gia tăng và chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư trực tiếp do trong nền kinh tế thế giới hiện tồn tại những lượng vốn dư thừa khổng lồ Đặc điểm mới là các nguồn vốn sẽ chuyển hướng sang những địa bàn có cơ sở hạ tầng thông tin-viễn thông hiện đại, có nguồn nhân công với tri thức và tay nghề cao Bên cạnh đó, do tác động của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, tiêu chí ―an toàn‖ trở nên ngày càng quan trọng đối với các nhà đầu tư
– Các công ty xuyên quốc gia (TNC) sẽ ngày càng lớn mạnh và đóng vai trò động lực đối với sự phát triển của kinh tế thế giới Tốc độ tăng của các công ty đa quốc gia rất lớn, đến cuối thế kỷ 20 đã có hơn 60.000 công ty với khoảng 500.000 chi nhánh trên toàn cầu và chiếm trên 30% tổng giá trị GDP toàn thế giới Quy mô kinh doanh,
Trang 27phạm vi và lĩnh vực hoạt động của các TNC không ngừng mở rộng Từ cuối thế kỷ
XX, làn sóng mua bán, sáp nhập của các TNC đã hình thành nên các công ty khổng lồ
có mặt trên khắp các châu lục và chiếm thị phần quan trọng trên thị trường thế giới Thương mại giữa các công ty con của các TNC với nhau chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới; trên 4/5 đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên thế giới là của các TNC; và trên 9/10 thành quả nghiên cứu và triển khai kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật trên thế giới nằm trong tay các TNC Trong những thập niên tới, các tập đoàn kinh tế khổng lồ có doanh số lớn hơn cả GDP của các nước loại trung bình sẽ là chủ thể chính đẩy nhanh tốc độ toàn cầu hoá luồng vốn đầu tư, thương mại quốc tế cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ
2.1.2.4 Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các nước ngày càng có xu hướng lựa chọn chiến lược kinh tế phát triển bền vững
Trong những thập kỷ tới, quá trình toàn cầu hoá kinh tế tiến triển ngày càng nhanh và mạnh, mang lại những cơ hội phát triển lớn lao nhưng đồng thời cũng đi kèm với những thách thức không kém phần gay gắt, nhất là các thách thức về môi trường-
xã hội Việc ký kết hàng loạt thoả thuận quốc tế về môi trường, ví dụ như Nghị định thư Kyoto cụ thể hoá Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, cùng với việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu về Phát triển bền vững (Nam Phi, ngày 26/8-4/9/2002) cho thấy vấn đề phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế Do vậy, trong những thập kỷ tới mô thức phát triển kinh tế bền vững sẽ dần trở thành lựa chọn phổ biến của các quốc gia, nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên và giải quyết các vấn đề xã hội
2.1.2.5 Kinh tế thế giới sẽ tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt trong hai thập niên tới, trước hết là nguy cơ của khủng hoảng kinh tế-tài chính và chủ nghĩa khủng bố quốc tế
– Nguy cơ khủng hoảng kinh tế-tài chính: Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã dẫn đến nhất thể hoá thị trường tài chính thế giới với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế-tài chính quốc gia Chính sự luân chuyển tự do của các dòng vốn trên thị trường tài chính quốc tế là nguy cơ gây ra các bất ổn về tài chính tiền tệ, và các cuộc khủng hoảng nếu xảy ra ở một khu vực dù không lớn vẫn có thể làm điêu đứng thị trường tài chính và kinh tế toàn cầu Từ cuối thế kỷ XX, các cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính khu vực ở châu Á đã ảnh hưởng lớn đến các khu vực khác và kéo lùi tốc độ tăng trưởng của toàn bộ kinh tế thế giới
– Nguy cơ khủng bố quốc tế: Xu hướng gia tăng của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, xung đột vũ trang và tội phạm xuyên quốc gia cũng sẽ đặt ra nhiều rủi ro đối với sự phát triển của kinh tế thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Nếu không có sự
Trang 28phối hợp hiệu quả hơn giữa các quốc gia để ngăn chặn những nguy cơ này, lòng tin của người tiêu dùng và các nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, từ đó có thể dẫn đến những bất ổn, xáo trộn trong nền kinh tế thế giới Khủng bố quốc tế sẽ làm tăng chi phí sản xuất do các chính phủ, công ty đều phải chi tiêu nhiều hơn cho an ninh, đồng thời dẫn đến sự chuyển dịch các luồng vốn đầu tư nước ngoài đến những địa điểm an toàn hơn, mà hệ quả là các nước đang và kém phát triển sẽ là những nước chịu thiệt hại nhiều nhất
2.2 Tăng trưởng, phát triển và phúc lợi xã hội
Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế,
sẽ không thể tạo ra phát triển kinh tế
Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác; thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu bất bình đẳng xã hội Những phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không những không thúc đẩy được phát triển; mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại được lâu dài
2.2.2 Các quan điểm về phát triển
- Quan điểm nhấn mạnh vào tăng trưởng
Quan điểm này cho rằng tăng thu nhập là quan trọng nhất, nó như đầu tàu, kéo theo việc giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế và xã hội Thực tế cho thấy những nước theo quan điểm này đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, không ngừng tăng thu nhập Song cũng cho thấy những hạn chế cơ bản sau:
+ Sự tăng trưởng kinh tế quá mức nhanh chóng vì những động cơ có lợi ích cục
bộ trước mắt đã dẫn đến sự khai thác bừa bãi không chỉ trong phạm vi quốc gia mà
Trang 29còn trên phạm vi quốc tế, khiến cho nguồn tài nguyên bị kiệt quệ và môi trường sinh thái bị phá huỷ nặng nề
+ Cùng với sự tăng trưởng là sự bất bình đẳng về kinh tế và chính trị xuất hiện, tạo ra những mâu thuẫn và xung đột găy gắt: Xung đột giữa khu vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp; xung đột giữa giai cấp chủ và thợ; gắn với nạn thất nghiệp tràn lan; xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; xảy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh tế -
xã hội, do quá trình phát triển kinh tế không đều tạo nên
+ Tăng trưởng đưa lại những giá trị mới, song nó cũng phá huỷ và hạ thấp một số giá trị truyền thống tốt đẹp cần phải bảo tồn và phát huy như: nền giáo dục gia đình, các giá trị tinh thần, đạo đức, thuần phong mỹ tục, chuẩn mực của dân tộc Đồng thời với việc làm giàu bằng bất cứ giá nào thì tội ác cũng phát triển; các băng đảng lũng đoạn, sản xuất hàng giả, buôn lậu chất ma tuý với qui mô quốc tế sẽ gia tăng
+ Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng còn đưa lại những diễn biến khó lường trước, cả mặt tốt và không tốt, nên đời sống kinh tế xã hội thường bị đảo lộn, mất ổn định, khó có thể lường trước được hậu quả
- Quan điểm nhấn mạnh vào sự bình đẳng và bất bình đẳng trong xã hội:
Sự phát triển kinh tế đựợc đầu tư dàn đều cho các ngành, các vùng và sự phân phối được tiến hành theo nguyên tắc bình quân Đại bộ phận dân cư đều được chăm sóc về văn hóa, giáo dục, y tế của Nhà nước, hạn chế tối đa sự bất bình đẳng trong xã hội
Hạn chế của quan điểm này là nguồn lực hữu hạn lại bị phân phối dàn trải nên không thể tạo ra được tốc độ tăng trưởng cao và việc phân phối đồng đều cũng không tạo ra được động lực thúc đẩy người lao động
- Quan điểm phát triển toàn diện
Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên, vừa nhấn mạnh về số lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Theo quan điểm này tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết Ngày nay trên thế giới đã cụ thể được phát triển toàn diện với tên gọi là phát triển bền vững
2.2.3 Các giá trị trung tâm của phát triển
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Trang 30Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là
"sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng
và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
Năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh
sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường
Như vậy, phát triển bền vững là hướng đến các giá trị trung tâm bao gồm phát triển đảm bảo sự hòa kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường
Phát triển bền vững về mặt kinh tế đòi hỏi phải sử dụng tối ưu các nguồn lực, trong đó yếu tố quan trọng nhất là nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ để duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế lâu dài, ổn định
Phát triển bền vững về mặt xã hội đòi hỏi phát triển kinh tế phải đi đôi phát triển xã hội: chống đói nghèo, thất nghiệp và bất công xã hội cũng như cải thiện sâu rộng về mọi khía cạnh của cuộc sống cho tất cả mọi người; đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển vật chất và tinh thần, bảo đảm duy trì và phát triển những giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại
Phát triển bền vững về mặt môi trường đòi hỏi trong bất kỳ chiến lược phát triển nào theo hướng bền vững cũng phải tính toán kỹ các tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên sao cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người trong khuôn khổ đảm bảo cân bằng các hệ sinh thái Phát triển bền vững về môi trường, do đó, liên quan trước hết đến xử lý, khắc phục ô nhiễm,
Phát triển bền vững
Môi trường
Trang 31phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Các khía cạnh khác nhau của phát triển bền vững có mối liên hệ biện chứng với nhau Không thể có phát triển bền vững nếu thiếu đi một khía cạnh nào đó đã nêu của phát triển bền vững nói chung
2.3 Đo lường tăng trưởng và phát triển
2.3.1 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo lường như sau:
(1) Tốc độ tăng trưởng sản lượng của thời điểm t so với thời điểm gốc 0
0
gy
Trong đó:
gy: Tốc độ tăng trưởng (Growth rate, %)
Y: Sản lượng quốc gia (GDP, GNP, CPI)
∆Y = Yt – Y0; Yt: Sản lượng năm thứ t; Y0: Sản lượng năm thứ 0;
(2) Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng năm
) 100 (
1
1 ,
t
t t t yg
Trong đó:
gy, t: Tốc độ tăng trưởng sản lượng của năm thứ t (%)
Y: Sản lượng quốc gia (GDP, GNP, CPI)
Yt: Sản lượng năm thứ t; Yt-1: Sản lượng năm thứ (t-1)
(3) Tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân hàng năm
)100(11
0
n y
t
g
Trong đó:
gy : Tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân hàng năm trong giai đoạn (0, t)
Y: Sản lượng quốc gia (GDP, GNP, CPI)
Yt: Sản lượng năm thứ t; Y0: Sản lượng năm thứ (0)
Tình huống 2.1: Cho biết dữ liệu GDP Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2000
Trang 32Yêu cầu:
1 Xác định tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2000 so với năm 1995
2 Xác định tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm
3 Xác định tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của giai đoạn 1995 –
099 78
0
gy
2 Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm
0
n y
Ghi chú: Để tránh ảnh hưởng của yếu tố giá, khi xác định tốc độ tăng trưởng
kinh tế không được sử dụng GDP giá thực tế mà phải sử dụng GDP giá so sánh (giá cố định) Hiện nay ở Việt Nam, Tổng cục Thống kê công bố GDP theo giá so sánh năm
1994 hoặc năm 2010
2.3.2 Đo lường phát triển kinh tế
Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế theo hướng bền vững, cần đánh giá trên cả
3 mặt: kinh tế, tiến bộ xã hội và môi trường
2.3.2.1 Kinh tế
Bao gồm hai nhóm thước đo: Tăng trưởng kinh tế và thay đổi cơ cấu kinh tế
2.3.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
- Thước đo: Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP; Năng suất lao động (GDP/lao động)
Lưu ý: Sử dụng giá so sánh hoặc cố định khi phân tích
Trang 33- Xu hướng:
Trình độ phát triến kinh tế cao hơn theo thời gian khi:
- Quy mô GDP cao hơn và tốc độ tăng trưởng GDP duy trì ổn định theo từng giai đoạn phát triển
- Quy mô năng suất lao động (NSLĐ) cao hơn và tốc độ tăng trưởng NSLĐ duy trì ổn định theo từng giai đoạn phát triển
Tình huống 2.2: Cho biết dữ liệu GDP của quốc gia A trong giai đoạn 2000 –
2014
ĐVT: Tỷ đồng (giá so sánh 2010) Năm GDP (Triệu đồng, giá so sánh 2010) Lao động (Nghìn người)
Phân tích theo các giai đoạn: 2001-2005; 2006-2010; 2011-2014; 2001-2014
1 Xác định thay đổi quy mô GDP, NSLĐ và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng của GDP và NSLĐ
2 Vẽ đường xu hướng tăng trưởng hàng năm GDP và NSLĐ trong giai đoạn 2001-2014 (Sử dụng Excel)
Trang 34Thay đổi quy mô GDP:
0
(100)
t
Y Y Y
Thay đổi năng suất lao động:
0
(100)
t
y y y
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP:
1 0
1 (100)
t n Y
Y g
Y
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của năng suất lao động:
1 0
1 (100)
t n y
y g
2 Vẽ đường xu hướng tăng trưởng hàng năm GDP và NSLĐ
Sử dụng phần mềm Excel để vẽ đường xu hướng
Biến ‗năm‘ trên trục hoành, biến ‗tốc độ tăng trưởng GDP và NSLĐ‘ trên trục tung
Tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP:
1 1(100)
t t Yt
t
Y Y g
Y
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của năng suất lao động:
1 1(100)
t t Yt
t
Y Y g
Y
Trang 352.3.2.1.2 Thay đổi cơ cấu kinh tế
Thay đổi cơ cấu kinh tế thể hiện trên các mặt: Cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu ngoại thương và cơ cấu đô thị hóa
(1) Cơ cấu ngành kinh tế
- Thước đo: Tỷ trọng đóng góp của các ngành trong GDP (%)
Bảng 2.1: Xu hướng thay đổi cơ cấu ngành kinh tế trên thế giới (%)
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch
vụ
Nông nghiệp
Công nghiệp
Công nghiệp
Dịch
vụ
Nông nghiệp
Công nghiệp
Trang 36III Trung quốc 27 41 32 12 48 40
Nguồn: World Bank ( 2014)
Trường hợp của Trung quốc và các nước Đông Nam Á cũng tương tự, tuy nhiên chưa thể hiện tầm quan trọng của ngành dịch vụ vì tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch
vụ vẫn còn thấp hơn khu vực công nghiệp (ngoại trừ Thailand) Điều này cho thấy, trình độ phát triển kinh tế của các nước khu vực còn thấp nhiều so với trình độ phát triển thế giới Đáng lưu ý là so với các nước, Việt Nam có tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp (20%) cao hơn hẳn các nước Điều này thể hiện trình độ phát triển kinh tế của VN còn thấp so với trình độ phát triển của khu vực
Tình huống 2.3: Cho biết dữ liệu GDP của quốc gia A trong giai đoạn 1986-2014
2 Phân tích xu hướng thay đối cơ cấu ngành kinh tế của quốc gia A
3 So sánh với các nước trên thế giới, xác định trình độ phát triển của quốc gia A Cho biết cơ cấu kinh tế của các nước trong năm 2014 như sau:
Đóng góp của từng khu vực trong GDP:
- Khu vực Nông Lâm Thủy sản (Pa): a Y a(100)
P Y
- Khu vực Công nghiệp - Xây dựng (Pi): i i(100)
Y P Y
Trang 37- Khu vực Thương mại-Dịch vụ (Ps): s s(100)
Y P Y
Bảng Cơ cấu ngành kinh tế (%) Năm NL Thủy sản Công nghiệp - Xây dựng Thương mại -Dịch vụ Tổng số
2 Phân tích xu hướng thay đối cơ cấu ngành kinh tế của quốc gia A
Bảng Cơ cấu ngành kinh tế cho thấy, từ năm 1986 đến 2014, cơ cấu ngành kinh
tế của quốc gia A thay đổi theo hướng khi trình độ phát triến kinh tế cao hơn, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp giảm dần, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần và khu vực dịch vụ trở nên ngành đóng góp chủ yếu trong GDP
3 So sánh với các nước trên thế giới
(2) Cơ cấu lao động
- Thước đo: Tỷ trọng lao động của từng khu vực trong tổng lao động (%)
Trang 382 Phân tích xu hướng thay đối cơ cấu lao động của quốc gia A
Hướng dẫn
1 Cơ cấu lao động qua các năm
Đặt La: Số lao động của khu vưc Nông Lâm Thủy sản ; Li : Số lao động của khu vưc Công nghiệp - Xây dựng ; Ls : Số lao động của khu vưc Thương mại - Dịch vụ ;
Tỷ trọng lao động khu vực Công nghiệp - Xây dựng (PLi): Li i (100)
T
L P L
Tỷ trọng lao động khu vực Thương mại - Dịch vụ (PLs): Ls s(100)
T
L P L
Bảng Cơ cấu lao động trong giai đoạn 1986 – 2014 (%)
2 Phân tích xu hướng thay đối cơ cấu lao động của quốc gia A
Kể từ năm 1986 đến 2014, cơ cấu lao động chuyễn dịch theo hướng tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp giảm dần, trong khi các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần Ngành Thương mại – Dịch vụ trở thành ngành có tỷ trọng lao động cao nhất trong quá trình phát triển
(3) Cơ cấu ngoại thương
- Thước đo: Tỷ trọng tổng giá trị xuất – nhập khẩu so với GDP (%) Thước đo này đánh giá trình độ ―mở‖ của nền kinh tế
Trang 39Giá trị nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 6000 14200 26350 101260
(100)
t Xt
(100)
t Mt
t
M OL
Trang 40(4) Cơ cấu đô thị hóa
Quá trình công nghiệp hóa gắn liền với quá trình đô thị hóa, khi trình độ phát triển càng cao thì đô thị hóa càng diễn ra nhanh Qúa trình đô thị hóa gắn với quá trình dịch chuyễn dân số nông thôn vào thành thị
- Thước đo: Tôc độ tăng trưởng dân số thành thị so với tốc độ tăng trưởng dân số
Bảng 2.2: Tăng trưởng dân sô tự nhiên và thành thị theo nhóm nước từ 1980 – 2000
Nhóm quốc gia dân số tự nhiên (%) Tốc độ tăng trưởng dân số thành thị (%) Tốc độ tăng trưởng
Tình huống 2.6: Cho biết dữ liệu Dân số tự nhiên và dân số thành thị của quốc gia A
trong giai đoạn 1990-2014