1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài giảng Kinh tế phát triển 2 (Bậc Đại học) - ĐH Phạm Văn Đồng

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Kinh tế phát triển 2 (Bậc Đại học) cung cấp cho người học những kiến thức như: Nông nghiệp trong quá trình phát triển; Công nghiệp trong quá trình phát triển; Nghèo đói, bất bình đẳng trong quá trình phát triển; Ngoại thương và phát triển; Phát triển bền vững.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG

MÔN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN 2

(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)

Lưu hành nội bộ - Năm 2020

Người biên soạn: Th.S Huỳnh Thị Thanh Dung

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1: NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 5

1.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp 5

1.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế 5

1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 11

1.2 Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp 16

1.2.1 Lý thuyết về tăng trưởng nông nghiệp 16

1.2.2 Lý thuyết về phát triển nông nghiệp 20

1.2.3 Lý thuyết về năng suất lao động nông nghiệp 23

Chương 2: CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 28

2.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của sản xuất công nghiệp 28

2.1.1 Khái niệm và phân loại công nghiệp 28

2.1.2 Vai trò của sản xuất công nghiệp đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế 30

2.1.3 Những đặc điểm của sản xuất công nghiệp 31

2.2 Thước đo phát triển công nghiệp 34

2.2.1 Hệ số vượt của bộ phận trong hệ thống công nghiệp 34

2.2.2 Tỷ trọng GDP công nghiệp 36

2.2.3 Năng suất lao động công nghiệp 37

2.3 Lý thuyết về phát triển công nghiệp 38

2.3.1 Công nghiệp hóa 38

2.3.2 Các chiến lược phát triển công nghiệp 41

2.3.3 Chiến lược phát triển công nghiệp hướng ngoại 42

Trang 3

Chương 3: NGHÈO ĐÓI, BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT

TRIỂN 45

3.1 Khái niệm nghèo đói, bất bình đẳng 45

3.1.1 Nghèo tuyệt đối 45

3.1.2 Nghèo tương đối 45

3.1.3 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 45

3.2 Các chỉ tiêu đo lường nghèo đói, bất bình đẳng 46

3.2.1 Hệ số GINI 46

3.2.2 Đường Lorenz 48

3.2.3 Một số thước đo khác 50

3.3 Nguyên nhân nghèo đói, bất bình đẳng 50

3.4 Một số lý thuyết về nghèo đói và bất bình đẳng 56

3.4.1 Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets 56

3.4.2 Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis 57

3.4.3 Mô hình tăng trưởng đi đôi với bình đẳng của H.Oshima 58

3.4.4 Mô hình phân phối lại cùng với tăng trưởng kinh tế của World Bank 58

3.5 Kinh nghiệm xoá đói, giảm nghèo của một số nước trên thế giới 59

3.5.1 Hàn Quốc 59

3.5.2 Đài Loan 60

3.5.3 Tuynidi 61

3.5.4 Mỹ Latinh và Caribê – trường hợp thành công Bolivia 62

Chương 4: NGOẠI THƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN 63

4.1 Bản chất của ngoại thương 63

4.1.1 khái niệm 63

4.1.2 Vai trò của ngoại thương với phát triển kinh tế 63

4.1.3 Thước đo phát triển ngoại thương 64

Trang 4

4.2 Lý thuyết về ngoại thương 67

4.2.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối 67

4.2.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh 69

4.2.3 Lý thuyết về sự khác biệt các nguồn lực sản xuất 71

4.3 Chiến lược phát triển ngoại thương 74

4.3.1 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô 75

4.3.2 Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu 79

4.3.3 Chiến lược sản xuất hướng ra xuất khẩu 82

Chương 5: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 85

5.1 Kinh tế và môi trường 85

5.1.1 Khái niệm phát triển bền vững 85

5.1.2 Tiêu chí của phát triển bền vững 86

5.2 Phát triển bền vững 88

5.2.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và môi trường 88

5.2.2 Các chỉ số phát triển bền vững 90

5.2.3 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững 93

5.3 Phát triển bền vững và chi phí môi trường 96

5.3.1 Lý thuyết đường cong KUZNETS 96

5.3.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và chất lượng môi trường trên thế giới 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

Chương 1: NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

1.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

1.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Nông nghiệp ở các nước đang phát triển gắn liền với đại bộ phận dân cư và lao động xã hội, vì vậy nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế Tầm quan trọng của nó thể hiện trên hai khía cạnh gián tiếp và trực tiếp Về mặt gián tiếp, phát triển nông nghiệp kích thích các ngành kinh tế khác tăng trưởng Về mặt trực tiếp, nông nghiệp có phần đóng góp cụ thể cho GDP

Phát triển nông nghiệp sẽ có tác động kích thích các ngành tăng trưởng thông qua các mặt sau:

1.1.2.1 Cung cấp lương thực – thực phẩm cho nền kinh tế

Trong quá trình CNH, công nghiệp và dịch vụ được mở rộng, hệ quả là sản lượng được mở rộng Hai ngành này được mở rộng trên cơ sở: (1) Cần có khối lượng về lương thực – thực phẩm cho lực lượng lao động của ngành mở rộng; (2) Giá lương thực – thực phẩm phải thấp và ổn định để công nghiệp và dịch vụ có thể tích lũy đầu tư và mở rộng sản xuất Phát triển nông nghiệp qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và dịch vụ

1.1.2.2 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp

Khu vực công nghiệp được bắt đầu phát triển từ ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến nông sản, rồi sau đó mở rộng ra các ngành công nghiệp khác Ngành công nghiệp chế biến được mở rộng trên cơ sở: (1) cần có khối lượng lớn nông sản nguyên liệu (cacao, cà phê, lúa, thủy sản, ) với chất lượng đồng nhất, (2) giá nguyên liệu phải thấp và ổn định ảnh để công nghiệp chế biến có thể tích lũy đầu tư mở rộng sản xuất Phát triển nông nghiệp trong nước mới đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến Theo World Bank (2008), thước đo để đánh giá vai

Trang 6

trò của nông nghiệp đối với ngành công nghiệp chế biến là tỷ trọng giá trị nguyên liệu (có nguồn gốc nông sản) so với giá trị sản lượng công nghiệp chế biến

Ở các nước có thu nhập thấp, tỷ trọng giá trị nguyên liệu so với giá trị sản lượng công nghiệp chế biến trung bình là là 46%, và cao nhất là là 96% Tỷ trọng này ở nước ảnh có thu nhập trung bình là 41% và 92%, ở các nước có thu nhập cao

là là 14% và 36% Như vậy, trong giai đoạn đầu của phát triển công nghiệp, ngành nông nghiệp giữ vai trò cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp phát triển 1.1.2.3 Cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế

Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển, nguồn ngoại tệ của quốc gia rất khan hiếm Trong khi ngành công nghiệp còn non trẻ và phần lớn theo chiến lược ―thay thế nhập khẩu‖ công nghiệp chỉ có khả năng tiết kiệm ngoại tệ chứ không thể tạo ra nguồn ngoại tệ kệ cho nền kinh tế Và nguồn ngoại tệ này chủ yếu được dùng để nhập nguyên liệu và công nghệ mà trong nước không thể phát triển công nghiệp

Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy hầu hết các nước phát triển hiện nay như

Úc, Canada, Đan Mạch, New Zealand, Mỹ và Thụy Điển đều thực hiện chiến lược xuất khẩu nông sản trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa

Việt Nam trong thời gian qua cũng cho thấy vai trò của nông nghiệp trong việc cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế

Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu và đóng góp của nông nghiệp (triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2015)

1.1.2.4 Cung cấp nguồn nhân lực cho ngành kinh tế

Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa khu vực nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng lao động quốc gia Trong quá trình phát triển, các ngành công nghiệp- dịch vụ mở rộng sản xuất - kinh doanh kéo theo cầu lao động

Trang 7

mở rộng Đáp ứng được nhu cầu lao động này là nhờ lao động nông nghiệp dịch chuyển sang Mức độ dịch chuyển nguồn lao động theo mô hình sau:

∆La = ∆Pa + ∆Sa

Trong đó:

∆La: Thay đổi số lượng lao động nông nghiệp

∆Pa: Số lao động mới bổ sung hang năm cho khu vực nông nghiệp

∆Sa: Số lao động dịch chuyển ra khỏi khu vực nông nghiệp

1.1.2.5 Cung cấp vốn cho nền kinh tế

Nông nghiệp cung cấp vốn cho nền kinh tế thế để đầu tư vào phát triển kinh

tế nông nghiệp cung cấp vốn thông qua hai cách: trực tiếp và gián tiếp

Trực tiếp: thông qua thu thuế từ nông nghiệp (bao gồm thuế đất, xuất khẩu nông sản nhập tư liệu sản xuất nông nghiệp) Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa,

ra thuế đánh vào nông nghiệp rất cao và đây cũng là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước trong giai đoạn này

Gián tiếp: Thông qua chính sách tỷ giá hình cánh kéo giữa giá hàng nông sản

và giá đầu vào nông nghiệp giá hàng tiêu dùng theo hướng ảnh giá hàng nông sản có

xu hướng ổn định và tăng chậm Trong khi giá đầu vào nông nghiệp và giá hàng tiêu dùng tăng nhanh Đây là cách điều tiết thu nhập và lợi nhuận từ nông nghiệp nhằm tạo tích lũy cho công nghiệp, mở rộng vốn cho khu vực công nghiệp Hầu hết các nước đang phát triển đều áp dụng các chính sách thuế và tỷ giá hình cánh kéo để tạo vốn trên nền kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa Chính sách điều tiết sẽ giảm dần khi trình độ phát triển kinh tế được nâng cao

1.1.2.6 Đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế

Theo Kuznets (1964) nông nghiệp có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

Ngành kinh tế có hai khu vực: Nông nghiệp và phi nông nghiệp (Các ngành kinh tế còn lại)

Với Ya giá trị GDP do nông nghiệp đóng góp, Yn Giá trị GDP do các ngành phi nông nghiệp đóng góp, và Y là tổng GDP của nền kinh tế

Ta có: Y = Ya + Yn (1)

Xem xét thay đổi GDP, ta có: ∆Y = ∆Ya + ∆Yn (2)

Trang 8

Từ phương trình (2) ta mở rộng ∆Y = ∆Ya + ∆Yn

∆Y = ∆Ya Ya + ∆Yn

Trang 10

Ghatak và Ingersent (1984) ứng dụng công thức Kuznets trong việc xác định

xu hướng đóng góp của nông nghiệp trong tốc độ tăng trưởng GDP

Xác định đóng góp nông nghiệp trong tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm Đặt Yt: GDP năm thứ t Yt-1: GDP năm thứ (t-1)

(Ya,t): GDP khu vực nông nghiệp trong năm thứ t

(Ya,t-1): GDP khu vực nông nghiệp trong năm thứ (t-1) (Yn,t): GDP khu vực phi nông nghiệp trong năm thứ t

(Yn,t-1): GDP khu vực phi nông nghiệp trong năm thứ (t-1)

Rn: Tốc độ tang trưởng của GDP khu vực phi nông nghiệp giữa năm thứ t và t-1

Ra: Tốc độ tăng trưởng của GDP khu vực nông nghiệp giữa năm thứ t và t-1

Xác định đóng góp nông nghiệp trong tốc độ tăng trưởng GDP đối với dài hạn

Mục tiêu: Xác định đóng góp của khu vực nông nghiệp trong tốc độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ năm thứ 0 đến năm thứ t

Ví dụ: Trong giai đoạn từ 1996 – 2016 của một quốc gia

Trang 11

(3) Năm đầu của kỳ phân tích (1996)

Pa, Pn của năm đó là 0.35 và 0.65

Ra, Rn: là tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của giai đoạn gắn với năm đầu của kỳ phân tích là 0.01 và 0.08

Năm cuối của kỳ phân tích (2016) Pa, Pn của năm đó là 0.15 và 0.85

Ra, Rn là tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của giai đoạn gắn với năm cuối của kỳ phân tích 0.038 và 0.081

Đo lường tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của một biến số trong một giai đoạn

1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất ra đời đầu tiên, gắn với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

Sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm hai ngành chính là trồng trọt

và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng, hoạt động sản xuất nông nghiệp ngoài trồng trọt

và chăn nuôi còn bao gồm cả các ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp Mặt khác, khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề có liên quan đến sản xuất nông nghiệp phải đặt nông nghiệp trong mối quan hệ mật thiết với kinh tế nông thôn và vấn đề nông dân

Trang 12

Có thể nói nông nghiệp, nông thôn và nông dân là ba vấn đề không thể tách rời trong quá trình phát triển nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất có những đặc điểm riêng biệt, những đặc điểm đó có ảnh hưởng rất lớn đến công tác tổ chức quản lý đối tượng của sản xuất nông nghiệp

Là những cơ thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi), chúng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật sinh vật riêng và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên (quy luật vận động của thời tiết, khí hậu ) Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp

là những cây trồng, vật nuôi nên sản phẩm nông nghiệp là những sản phẩm tươi sống có hàm lượng nước cao (có loại rất cao) nên chóng bị hỏng, gây tổn thất sau thu hoạch rất lớn Có thể nói sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên và phụ thuộc vào sự thay đổi của các yếu tố đó Vì vậy, trong quá trình phát triển nông nghiệp, con người không thể ngăn cản hay can thiệp thô bạo vào quá trình sinh vật, trái lại phải nghiên cứu và nhận thức được các quy luật đó để vận dụng thích hợp vào sản xuất.ũng như việc đề ra các Từ đặc điểm này có thể rút

ra kết luận: Nông nghiệp không thể là một hệ thống kinh tế đơn thuần mà là một hệ thống sinh vật kỹ thuật Nó là một trong những ngành kinh tế phức tạp nhất chính sách, giải pháp kinh tế đối với nông nghiệp

Nhận thức đặc điểm này giúp cho ta có biện pháp phân vùng, quy hoạch sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế (thế mạnh) từng vùng, từng địa phương cũng như từng cơ sở sản xuất Trong quá trình xây dựng, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và đưa tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo phù hợp với đặc điểm sinh lý, yêu cầu về kỹ thuật sản xuất (kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch) của từng loại cây trồng, vật nuôi Việc nghiên cứu sản xuất giống mới, nhập khẩu giống mới vào sản xuất nông nghiệp cần phải thận trọng, phải qua khảo nghiệm, kiểm tra chặt chẽ và phải được khu vực hoá đối với từng loại giống Nếu việc bố trí các loại cây trồng, vật nuôi không phù hợp với từng vùng sinh thái từng loại đất đai hoặc nhập khẩu các loại giống cây trồng, vật nuôi không thích hợp sẽ gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp

Nhận thức và vận dụng các quy luật sinh vật vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp không có nghĩa là con người hoàn toàn lệ thuộc vào chúng và bất lực trước

tự nhiên Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, con người ngày càng có khả năng cải tạo tự nhiên, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống Vì vậy, mỗi

Trang 13

quốc gia, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp trên cần có chiến lược đầu tư cải tạo, chinh phục thiên nhiên, phục vụ phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá, đặc biệt là những vùng có khả năng

Do chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên nên sản xuất nông nghiệp thường gặp phải thiên tai, gây thiệt hại lớn đến kết quả thu hoạch Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước phải nghiên cứu các chính sách bảo hiểm sản xuất, chính sách bảo trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và chính sách hỗ trợ cho nông thôn khi có thiên tai nói riêng

Do đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp nên để giảm tổn thất sau thu hoạch

và đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cần chú trọng đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch như chế biến, bảo quản, vận chuyển, hệ thống kho chứa v.v

Chu kỳ sản xuất nông nghiệp nói chung là dài và không giống nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi

Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sinh vật nên kết quả sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào quy luật sinh trưởng, phát dục của từng loại cây trồng, vật nuôi Vì vậy trong nông nghiệp chu kỳ sản xuất nói chung là dài và không giống nhau giữa các loại cây trồng, vật nuôi Đối với những cây trồng ngắn ngày (cây lương thực, rau, đậu .) hay những vật nuôi chóng cho sản phẩm (gia cầm) cũng phải từ 2 đến 3 tháng Còn đối với những cây lâu năm (cây công nghiệp, cây

ăn quả ), các loại gia súc lớn (trâu, bò ) thì phải từ 3 đến 5 năm hoặc lâu hơn nữa mới cho sản phẩm và cho thu hoạch trong nhiều năm

Đặc điểm này đòi hỏi khi xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản (xây dựng vườn cây lâu năm), xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phải phù hợp với chu kỳ sản xuất, chu kỳ kinh doanh của từng loại cây trồng, vật nuôi Cần tính toán chặt chẽ nhu cầu vật tư, tiền vốn đảm bảo quá trình sản xuất tiến hành thuận lợi Việc nghiên cứu áp dụng các chính sách kinh tế, nhất là các chính sách tài chính, tín dụng vào nông nghiệp cần xem xét cụ thể cho phù hợp với chu kỳ sản xuất của từng loại cây, con Trong đó ngành tài chính, ngân hàng cần lưu ý xác định thời hạn cho vay và lãi suất phù hợp với nông nghiệp Cần áp dụng nhiều loại thời hạn cho vay (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) để khuyến khích nông nghiệp (chủ yếu là nông dân) đầu tư phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả, khai thác lợi thế nông nghiệp nhiệt đới (trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm ) hoặc đầu tư cải tạo

Trang 14

đất đai Trong công tác tổ chức quản lý, cần áp dụng hình thức tổ chức sản xuất thích hợp để người lao động quan tâm đến tất cả các khâu, các công đoạn của chu kỳ sản xuất nhằm đạt kết quả cuối cùng cao nhất

1.1.3.1 Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất lớn

Do cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng nên sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất rõ rệt Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, có thời kỳ nhu cầu tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn rất căng thẳng (thời kỳ làm đất, gieo trồng ), ngược lại có thời kỳ lại rất nhàn rỗi (thời

kỳ chăm sóc) Mặt khác, do sự biến đổi của thời tiết, khí hậu giữa các mùa nên mỗi loại cây trồng thường có sự thích nghi nhất định với điều kiện đó dẫn đến thời vụ gieo trồng và thu hoạch của các loại cây trồng cũng rất khác nhau Muốn hạn chế tính chất thời vụ cần lưu ý, ở thời kỳ căng thẳng cần đảm bảo đủ nhu cầu về công cụ sản xuất, tập trung sức lao động, tiền vốn kịp thời Cần có kế hoạch dự trữ vật tư, kỹ thuật; kế hoạch huy động sức lao động và vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu trong lúc mùa vụ khẩn trương Để giảm bớt tình trạng nông nhàn, cần quan tâm phát triển nông nghiệp toàn diện, nhất là quan tâm khôi phục các ngành nghề truyền thống, phát triển các ngành công nghiệp nông thôn và các hoạt động dịch vụ Về phía Nhà nước và các ngành dịch vụ nông nghiệp (tín dụng, vật tư, thuỷ nông ) cần nghiên cứu thực hiện các chính sách, giải pháp để đáp ứng kịp thời nhu cầu vật

tư tiền vốn cũng như các dịch vụ kỹ thuật; đáp ứng kịp thời nhu cầu thời vụ của từng loại cây trồng

Do sản xuất và thu hoạch theo thời vụ nên quy luật cung cầu có tác động rất mạnh đến giá cả các loại nông sản (thông thường giá giảm vào thời kỳ thu hoạch, tăng vào đầu kỳ hoặc cuối kỳ thu hoạch hay lúc giáp hạt) Vì vậy, Nhà nước cần đầu

tư nghiên cứu các chính sách và giải phát cụ thể để điều tiết cung cầu, đảm bảo lợi ích cho người sản xuất nông nghiệp Chẳng hạn đối với lương thực hoặc một số nông sản xuất khẩu chủ lực, khi giá thị trường xuống quá thấp, gây bất lợi cho nông dân, Nhà nước có thể quy định giá sàn và bắt buộc các tổ chức kinh doanh, xuất khẩu mua dự trữ Trong thời gian dự trữ, các tổ chức đó được Nhà nước cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, thậm chí không lấy lãi Hoặc Nhà nước đầu tư cho việc nghiên cứu công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm để tránh tổn thất sau thu hoạch, kéo dài thời gian tiêu thụ có ích cho người sản xuất

1.1.3.2 Ruộng đất là tư liệu sản xuất

Trang 15

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản hàng đầu và đặc biệt, không thể thiếu, không thể thay thế được Ruộng đất tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm nông nghiệp Nó không chỉ là điều kiện vật chất để tồn tại ngành này mà còn tham gia với vai trò là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp Hậu quả của sản xuất nông nghiệp nói chung phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng ruộng đất Mặt khác, hiệu quả sử dụng ruộng đất lại phụ thuộc vào mức độ đầu tư các tư liệu sản xuất khác (vật tư, giống, thuỷ lợi ), đầu tư vốn vào đơn vị diện tích đất đai sử dụng

và phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất, giải quyết mối quan hệ giữa ruộng đất và nông thôn

Ruộng đất tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp với tư cách là tư liệu sản xuất nhưng nó có những đặc điểm khác với các tư liệu sản xuất khác: ruộng đất

là tài nguyên thiên nhiên có giới hạn về diện tích, có vị trí cố định và chất lượng đất đai không đồng đều giữa các vùng Những đặc điểm đó ảnh có hưởng lớn đến việc khai thác, sử dụng ruộng đất vì vậy cần được nghiên cứu và vận dụng một cách thích hợp vào thực tiễn phát triển nông nghiệp Trong đó cần đặc biệt quan tâm đến chính sách đầu tư cho công tác phân vùng, quy hoạch sử dụng ruộng đất, đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ, cải tạo đất và sử dụng ruộng đất; chính sách thuế sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng

1.1.3.3 Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn phức tạp và mang tính khu vực rất rõ nét

Hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm các khâu từ cung ứng các điều kiện sản xuất (cung ứng các yếu tố đầu vào) đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Các hoạt động đó được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp, thuộc nhiều vùng lãnh thổ có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như lịch sử truyền thống rất khác nhau Mỗi vùng, mỗi địa phương có những lợi thế riêng, đồng thời cũng có những khó khăn, phức tạp trong khi phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng

Vì vậy sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao cần tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành có liên quan, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm Cần gắn phát triển nông nghiệp với lâm - ngư nghiệp và công nghiệp chế biến ở từng địa phương, từng vùng lãnh thổ Việc quy hoạch các vùng nông nghiệp chuyên môn hoá (vùng lúa, chè, cà phê, mía ) cần gắn với việc quy hoạch phát triển giao thông vận tải, các ngành dịch vụ và công nghiệp chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm

Trang 16

Để tận dụng được lợi thế so sánh của từng vùng trong phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng, cần làm tốt công tác phân vùng, quy hoạch và bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng Đồng thời, Nhà nước cần quan tâm đầu tư đồng bộ cho các vùng, các địa phương về cơ sở hạ tầng cũng như đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là những vùng khó khăn, những vùng chậm phát triển Cần nghiên cứu và thực hiện các chính sách ưu đãi đối với những vùng khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội Đối với những vùng có nhiều lợi thế trong phát triển nông nghiệp, cần có chính sách ưu tiên trong đầu tư vốn, tạo điều kiện và khuyến khích các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào các vùng đó

1.2 Lý thuyết về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp

1.2.1 Lý thuyết về tăng trưởng nông nghiệp

và phát triển công nghiệp, người sản xuất nông nghiệp phải sản xuất trên phần diện tích đất nông nghiệp còn lại Hệ quả là chi phí sản xuất tăng, lợi nhuận nông nghiệp

có xu hướng giảm Để tối đa hóa lợi nhuận, người sản xuất sẽ sử dụng lợi dụng đầu

tư trở lại sản xuất, bổ sung vào vốn sản xuất Do đó, lợi nhuận nông nghiệp có xu hướng giảm nên vốn trong nông nghiệp cũng có xu hướng giảm Vốn có quan hệ cùng chiều với sản lượng, hệ quả là ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp Như vậy, theo Ricardo giới hạn đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thay đổi sản lượng nông nghiệp Thay đổi sản lượng theo thời gian là tăng trưởng ảnh Do

đó, giới hạn đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tăng trưởng nông nghiệp

Trang 17

* Ứng dụng vào hoạch định chính sách

Các nguyên lý của lý thuyết Ricardo đã vận dụng trong phát triển nông nghiệp của các nước đang phát triển trên các khía cạnh sau đây:

(1) Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp

Tài nguyên đất nông nghiệp là yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp bị giới hạn do đó tăng trưởng sản lượng nông nghiệp bằng cách mở rộng diện tích đất nông nghiệp sẽ bị giới hạn, khi hết khả năng mở rộng diện tích, thay đổi sản lượng sẽ bằng không, như vậy tăng trưởng nông nghiệp bằng 0 Phương thức sản xuất theo cách này gọi là phương thức quảng canh hay tăng trưởng theo bề rộng

Điều này gợi ý cho thế giới tìm cách tăng trưởng sản lượng mà không phụ thuộc vào diện tích đất nông nghiệp Ngày nay, trên thế giới đã có phương thức sản xuất nông nghiệp thực hiện tăng sản lượng ngay trên mỗi đơn vị diện tích, do đó tăng trưởng nông nghiệp vẫn gia tăng mà không phụ thuộc vào diện tích phương thức sản xuất theo cách này được gọi là phương thức thâm canh hay tăng trưởng theo chiều sâu Việc đưa nhanh ứng dụng công nghệ mới như giống quy trình canh tác thủy lợi hóa, hóa học hóa, cơ giới hóa ra tác động tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích Ngày nay dân số thế giới tăng nhanh nhu cầu lương thực thực phẩm tăng cao nhưng nông nghiệp vẫn đáp ứng được

(2) Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động nông nghiệp nông thôn

Quy mô diện tích đất nông nghiệp không đổi, dân số lao động nông nghiệp tăng, hệ quả là quy mô diện tích đất nông nghiệp tính trên lao động sẽ giảm, rất lại

là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân Nguồn lực này trở nên khan hiếm so với nguồn lực lao động, do đó sẽ xuất hiện tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp và nông thôn, hiệu quả sử dụng lao động nông nghiệp sẽ rất thấp

Từ đó gợi ý cho thế giới, tìm cách sử dụng hiệu quả lao động trong nông nghiệp và nông thôn, ngày nay trên thế giới đã có cách nâng cao hiệu quả như sau: Gắn với phát triển của công nghiệp và dịch vụ, đẩy nhanh dịch chuyển lao động qua khu vực này Trong nông nghiệp tiến hành đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp theo hướng đa dạng cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển ngành nghề chế biến, ngành nghề truyền thống, ứng dịch vụ sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái

1.2.1.2 Mô hình hai khu vực

Trang 18

Mô hình hai khu vực đề cập đến tương tác giữa hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng Mô hình này do Lewis (1954) phát hiện ra đầu tiên và Oshima (1993) bổ sung

* Mô hình Lewis

Theo Lewis (1954) Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế chính là hiệu quả sử dụng lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp (L, labour) Đất đai ngày càng khan hiếm, trong khi lao động ngày càng tăng Nên sẽ dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp đễ mức sản phẩm biên của lao nghiệp bằng không

*Mô hình Tân Cổ Điển (New Classical School) Luận điểm cơ bản

Dưới tác động của khoa học và công nghệ, chất lượng đất không ngừng nâng cao Do đó đường tổng sản phẩm sẽ không nằm ngang, MPa > 0

Trang 19

Khi hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp, Wi sẽ tăng chứ không phải

Đầu tư chiều sâu cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi

Giai đoạn 1: Đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo bề rộng

- Đa dạng hóa sản xuất thu hút lao động tại nông nghiệp không cần dịch chuyển qua khu vực công nghiệp

- Không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, vốn đầu tư lớn như đầu tư cho công nghiệp

- Nông nghiệp mở rộng sản lượng và xuất khẩu tạo ngoại tệ nhập khẩu máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động

Giai đoạn 2: Đồng thời đầu tư phát triển theo bề rộng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp: Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, sản xuất theo quy mô lớn (trang trại) để mở rộng quy mô sản lượng

Công nghiệp: Phát triển công nghệ chế biến, tăng sản xuất sản phẩm đầu vào của nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động

Giai đoạn 3: Đồng thời đầu tư phát triển theo chiều sâu các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Nông nghiệp: Đẩy nhanh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp và ứng dụng công nghệ sinh họctăng năng suất lao động

Công nghiệp: Dịch chuyển hướng xuất khẩu, tang các ngành công nghiệp thâm vốn đầu tư, thu hẹp các ngành công nghiệp thâm dụng lao động

Trang 20

Giải quyết các vấn đề thiếu hụt lao động và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

1.2.2 Lý thuyết về phát triển nông nghiệp

1.2.2.1 Mô hình Todaro (1969)

Theo Todaro, quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn, tuần tự từ thấp đến cao

Giai đoạn 1: Nền nông nghiệp tự cung tự cấp (độc canh)

- Sản lượng nông nghiệp tăng chủ yếu là do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Giai đoạn 2: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa

- Sản lượng nông nghiệp gia tăng chủ yếu từ nâng cao sản lượng trên một đơn

vị diện tích đất nông nghiệp do áp dụng công nghệ sinh học

Giai đoạn 3: Nông nghiệp hiện đại (Chuyên môn hóa, quy mô trang trại)

- Vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định đối với việc tăng sản lượng

*Ứng dụng chính sách: Các nguyên lý của Torado được vận dụng phát triển

nông nghiệp ở các nước đang phát triển trên hai khía cạnh sau:

Thứ nhất: nhận diện xu hướng phát triển nông nghiệp theo xu hướng 3 giai đoạn, vốn và công nghệ là lợi thế lớn trong quy mô sản xuất lớn

Thứ hai: trình độ phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia đều qua ba bước, độc canh, đa canh và chuyên môn hóa với hình thức sản xuất trang trại

1.2.2.2 Mô hình Park (1992)

Quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn: sơ khai, đang phát triển

và phát triển Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau và được mô tả dưới dạng hàm sản xuất

Giai đoạn 1: Sơ khai

Y = F(N,L) (1)

Y: Sản lượng nông nghiệp N: Yếu tố tự nhiên (Nature)

L: Lao động (Labour)

Trang 21

Giai đoạn 2: Đang phát triển

Sản lượng nông nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào được sản xuất

từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học – Chemical inputs)

Y = F(N,L) + F(Ci) (2)

Ci: Đầu vào do công nghiệp cung cấp

Sản lượng trên 1 ha đất nông nghiệp (năng suất đất) tăng lên tương ứng với lượng phân bón và thuốc hóa học sử dụng tăng lên (công nghệ sinh học)

Giai đoạn 3: Phát triển

Nền kinh tế đạt mức toàn dụng (Full employment), không còn tình trạng bán thất nghiệp trong nông nghiệp

Sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào công nghệ thâm dụng vốn (Công nghệ

cơ khí - máy móc) sử dụng trong nông nghiệp

Trang 22

Sản lượng trên 1 lao động (năng suất lao động, y) tăng lên tương ứng với lượng vốn sản xuất (K) sử dụng tăng thêm và thu nhập của 1 lao động (Income, I) cũng tăng lên tương ứng

K: Vốn sản xuất y: NSLĐ I: Thu nhập26

1.2.2.3 Mô hình Fisher – Clark - Fourastié (1939-1940)

Nền kinh tế hình thành 3 khu vực (lý thuyết 3 khu vực): Khu vực 1 (primary sector – Nông nghiệp), khu vực 2 (Secondary – Công nghiệp), và khu vực 3 (Tertiary – Dịch vụ)

Quá trình phát triển triển kinh tế là quá trình chuyển đổi từ trình độ phát triển thấp lên cao với 3 giai đoạn

Khu vực 1: nông nghiệp trong GDP và lao động chiếm chủ yếu

Khu vực 2: Công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong GDP

Khu vực 3: Dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong GDP

I2 F1

Trang 23

Hình 1.5: Tỷ trọng từng khu vực trong GDP theo trình độ phát triển trên thế giới

*Ứng dụng vào hoạch định chính sách

(1) Nhận diện được đặc trưng cụ thể của từng giai đoạn phát triển trong quá trình công nghiệp hóa Xu hướng phát triển nông nghiệp mang tính quy luật từ sơ khai, đang phát triển tiến tới trình độ phát triển

- Khi trình độ phát triển càng cao, tỷ trọng lao động của khu vực nông nghiệp càng thấp

- Khi trình độ phát triển càng cao, tỷ trọng lao động của khu vực dịch vụ sẽ chiếm chủ yếu trong tổng lao động của nền kinh tế

- Dự báo được xu hướng của khu vực tạo nhiều việc làm nhất cho nền kinh tế

là khu vực dịch vụ

(2) Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và trình độ phát triển nông nghiệp

từ thấp đến cao bao gồm: Lao động, công nghệ sinh học và vốn, và công nghệ cơ khí Đặc biệt là giai đoạn phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển của nganh công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp

(3) Giai đoạn đang phát triển, tăng sản lượng theo hướng tăng năng suất đất, trong khi giai đoạn phát triển tăng sản lượng theo hướng tăng năng suất lao động

1.2.3 Lý thuyết về năng suất lao động nông nghiệp

y: năng suất lao động

L: số lượng lao động nông nghiệp

Y: Sản lượng nông nghiệp

Có 2 cách tiếp cận đo lường Y đó là: Sản lượng nông nghiệp là tổng sản lượng của ngành nông nghiệp (gia so sánh) và Sản lượng nông nghiệp là GDP nông nghiệp (giá so sánh)

(2) Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động

Trang 24

Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của năm thứ t so với năm thứ 0

yt : Năng suất lao động của năm thứ t; và y0: Năng suất lao động của năm 0

- Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động bình quân hang năm giai đoạn (0,t)

- Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động hàng năm

gy = ( y

t – yt-1

) (100)

yt -1 Trong đó: yt : Năng suất lao động năm t; yt-1: Năng suất lao động năm t-1

- Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động bình quân hàng năm trong giai đoạn (0,t)

n: Tổng số năm trong giai đoạn (0,t) bắt đầu từ năm thứ 0

1.2.3.1 Mối quan hệ giữa năng suất lao động và số lượng lao động

Hình 1.6 Mối quan hệ giữa năng suất lao động và lao động

Trang 25

Tại điểm A tương ứng với điểm gốc 0

L0: Số lượng nông nghiệp thời điểm 0

Y0: Tổng sản lượng nông nghiệp tại thời điểm 0

y0: Năng suất lao động tại thời điểm 0

Y0 = y0* L0Tại điểm B tương ứng với điểm gốc t

Lt: Số lượng nông nghiệp thời điểm t

Yt: Tổng sản lượng nông nghiệp tại thời điểm t

yt: Năng suất lao động tại thời điểm 0

Yt = yt* LtThay đổi sản lượng nông nghiệp giữa 2 thời điểm t và 0

Yt - Y0 = yt* Lt - y0* L0 (1) Trong hình 1.6 ta có:

- Diện tích hình (I) S(I) = y0* L0

- Diện tích hình 0LtByt S(0LtByt) = yt* Lt

Vậy phương trình (1) viết lại:

Yt - Y0= S(I) - S(0LtByt) = S(II) + S(III) + S(IV) (2)

Trong hình 1.6 ta có:

S(II) = (Lt – L0)* y0 = ∆L*y0 (3)

S(III) = (yt - y0)* y0 = ∆y* y0 (4)

S(IV) = ∆L*∆y (5)

Thay phương trình (3), (4) và (5) vào phương trình (2) ta có:

Yt - Y0= ∆L*y0 + ∆y* y0+ ∆L*∆y (6)

Chia 2 về phương trình (6) cho Y0 ta có:

∆y +

∆L*∆y

Y0 y0* L0 y0* L0 y0* L0 L0 L0 y0* L0

Đặt: RY: Tốc độ tăng trưởng sản lượng nông nghiệp

RL: Tốc độ tăng trưởng số lượng lao động nông nghiệp

Ry: Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động nông nghiệp

(7)

Trang 26

Viết lại phương trình (7) ta có:

∆L*∆y

(8)

y0* L0Trong phương trình (8) vì L0 là số lượng lao động một quốc gia nên giá trị rất lớn so với ∆L Do đó, tiến về 0

Viết lại phương trình (8) ta có:

RY = RL + Ry (9)

RL = RY - Ry (10)

Phương trình (10) cho biết khi RY không đổi, quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng số lượng lao động quan hệ nghịch chiều Nói cách khác, năng suất lao động quyết định số lượng lao động và có quan hệ nghịch chiều với số lượng lao động nông nghiệp (năng suất lao động tăng, số lượng lao động giảm và ngược lại)

Bài tập ứng dụng: Cho biết dữ liệu của quốc gia A giai đoạn 2009 – 2019

Năm GDP nông nghiệp (tỷ đồng) Tổng số lao động Lao động nông nghiệp

Trang 27

2019 790 51.699 24.488

Yêu cầu:

1 Xác định năng suất lao động

2 Xác định tốc độ tăng trưởng năng suất lao động năm 2019 so với năm

2009

3 Xác định tốc độ tăng trưởng năng suất lao động hằng năm

4 Xác định tốc độ tăng trưởng năng suất lao động bình quân hàng năm

5 Nhận xét mối quan hệ giữa năng suất lao động và tỷ trọng nông nghiệp

Trang 28

Chương 2: CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 2.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của sản xuất công nghiệp

2.1.1 Khái niệm và phân loại công nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm

Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất to lớn và độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên, chế biến các tài nguyên đó cũng như sản phẩm của nông - lâm - ngư nghiệp và sửa chữa các sản phẩm công nghiệp có thời gian sử dụng lâu dài

Hoạt động khai thác trong công nghiệp: là sự tác động của lao động nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa các tài nguyên với môi trường tự nhiên

Hoạt động chế biến có đặc trưng cơ bản là làm thay đổi tính chất cơ lý hoá hoặc mối quan hệ tương quan của các đối tượng chế biến nhằm tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng

Hoạt động sửa chữa bao gồm sửa chữa các tư liệu sản xuất là sản phẩm công nghiệp (máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất, phương tiện vận tải v.v ) và các tư liệu tiêu dùng (ô tô, xe máy, máy giặt, tủ lạnh v.v.)

Hoạt động sản xuất công nghiệp có quy mô rất lớn và đa dạng, vì vậy, để thuận tiện cho công tác quản lý người ta phải tiến hành phân loại theo những tiêu thức khác nhau

Căn cứ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của hoạt động sản xuất người ta chia công nghiệp thành các ngành chuyên môn hoá (ngành cấp II), các ngành chuyên môn hoá lại được chia thành các ngành chuyên môn hoá hẹp và cứ thế tiếp tục phân nhánh tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của công nghiệp

2.1.1.2 Phân loại

Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu được sử dụng để phân loại gồm: đặc điểm về công nghệ, về công dụng của sản phẩm, về nguyên liệu sử dụng Các doanh nghiệp được đưa vào cùng một ngành chuyên môn hoá hoặc ngành chuyên môn hoá hẹp theo một hoặc một vài đặc điểm chung Ví dụ: công nghiệp chế biến

gỗ có đặc điểm chung là cùng khí nông nghiệp có đặc điểm chung về công dụng của sản phẩm là sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp hoá chất thì có đặc trưng

cơ bản là sự biến đổi hoá hoọctrong quá trình chế biến

Trang 29

Cách phân loại này có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp bởi khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp thì chủ yếu và trước hết cũng là chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp (cơ cấu theo ngành)

Căn cứ vào công dụng chung của sản phẩm công nghiệp thì công nghiệp gồm 2 bộ phận: công nghiệp A và công nghiệp B

Công nghiệp A là bộ phận công nghiệp sản xuất ra tư liệu sản xuất còn công nghiệp B là bộ phận sản xuất ra tư liệu tiêu dùng Khi phân loại theo tiêu thức này, người ta căn cứ vào công dụng chủ yếu của sản phẩm, bởi lẽ rất nhiều loại sản phẩm vừa được sử dụng như một tư liệu sản xuất nhưng cũng có thể được sử dụng với tư cách là một tư liệu tiêu dùng Ví dụ: điện năng là sản phẩm công nghiệp A

vì bộ phận chủ yếu được sử dụng trong sản xuất mặc dù có một bộ phận được sử dụng trong tiêu dùng Vải được xem là sản phẩm của công nghiệp B mặc dù một

bộ phận được sử dụng trong sản xuất

Cách phân loại này rất quan trọng trong việc xác lập tương quan tỷ lệ giữa 2 nhóm ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, vì sự cân đối giữa hai khu vực này vừa là cơ sở cho việc tái sản xuất xã hội, vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp

Căn cứ vào hình thức sở hữu có thể chia sản xuất công nghiệp thành ba nhóm: công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp thuộc sở hữu tổng hợp

Cách phân loại này cho thấy sự phân bố sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ làm cơ sở cho việc nghiên cứu những nhân tố dẫn tới sự phân bố không đồng đều

và đề ra chủ trương chính sách nhằm từng bước khắc phục sự mất cân đối trong phát triển công nghiệp theo lãnh thổ

Ngoài cách phân loại chủ yếu trên, tuỳ theo yêu cầu cụ thể người ta có thể

áp dụng nhiều cách phân loại khác nữa như phân loại theo mối quan hệ trực tiếp sử dụng đầu vào là gỗ, ngành cơ thuộc (chia thành công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương), phân loại theo trình độ kỹ thuật - công nghệ (chia thành công nghiệp hiện đại và tiểu thủ công nghiệp), theo quy mô (chia thành quy mô lớn, vừa

và nhỏ) Mỗi cách phân loại sẽ dẫn đến một cơ cấu kinh tế tương ứng và có những tác dụng tương ứng đối với việc nghiên cứu động thái phát triển của sản xuất công nghiệp

Trang 30

2.1.2 Vai trò của sản xuất công nghiệp đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

Theo Cruz (2013) vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế bao gồm: 2.1.2.1 Công nghiệp thúc đẩy gia tăng sản lượng cho nền kinh tế

Công nghiệp là ngành cung cấp khối lượng lớn hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa sản xuất trong nền kinh tế Nhờ tăng trưởng công nghiệp, ngành xây dựng và hệ thống cơ sở hạ tầng được mở rộng Hơn nữa sự phát triển công nghiệp kéo theo sự đáp ứng của các ngành dịch vụ đầu vào và đầu ra cho công nghiệp Như vậy, công nghiệp không những trực tiếp tạo ra sản lượng mà còn gián tiếp thúc đẩy mở rộng các ngành khác tham gia mở rộng sản lượng cho hành kinh tế

2.1.2.2 Công nghiệp thúc đẩy gia tăng việc làm và thu nhập cho nền kinh tế Trong quá trình phát triển, khi trình độ phát triển kinh tế cao hơn sẽ có dịch chuyển cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là ngành chủ yếu sang công nghiệp, tỷ trọng việc làm, giá trị gia tăng công nghiệp sẽ có đóng góp chủ yếu trong nền kinh tế Do

đó, công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và thu nhập cho nền kinh tế

2.1.2.3 Công nghiệp thúc đẩy phát triển nông nghiệp

Công nghiệp là ngành cung cấp các đầu vào hiện đại cho sản xuất nông nghiệp như: như máy móc, thiết bị cơ giới, phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất dẻo… thông qua phát triển công nghiệp, nông nghiệp có điều kiện thay đổi sản xuất

từ canh tác quy mô nhỏ, truyền thống, ống xanh quy mô lớn, hiện đại, sản lượng và năng suất lao động tăng Hiện đại cho các khâu thu hoạch và sau thu hoạch, sơ chế, bảo quản, góp phần giảm thất thoát, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá thành và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm từ nông sản Như vậy, công nghiệp có vai trò thúc đẩy phát triển nông nghiệp

2.1.2.4 Công nghiệp giải quyết tình trạng thặng dư lao động trong nông nghiệp và nông thôn

Theo mô hình lewis (1954) trong khu vực nông nghiệp và nông thôn có thặng

dư lao động đến mức năng suất biên bằng 0 Điều này có nghĩa là khi dịch chuyển

số lao động dư thừa sang khu vực công nghiệp, nông nghiệp không bị ảnh hưởng Phát triển công nghiệp sẽ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, tạo tích lũy vốn cho quá trình công nghiệp hóa

2.1.2.5 Công nghiệp phát huy vai trò lợi thế về quy mô

Trang 31

Ngành công nghiệp là ngành sản xuất gắn với lợi thế về quy mô, với quy mô sản xuất sản lượng lớn chi phí trên đơn vị sản xuất ra sẽ thấp và như vậy có năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường so với sản xuất nông nghiệp

2.1.2.6 Phát triển công nghiệp sẽ tránh được tình trạng bất ổn giá xuất khẩu sản phẩm thô

Xuất khẩu sản phẩm thô từ ngành nông - lâm - ngư và khai khoáng của các nước đang phát triển thường phụ thuộc rất nhiều vào biến động trên thị trường thế giới, đặc biệt là giá bán Sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu và hàng hóa sử dụng nguyên liệu xuất khẩu thô sẽ tránh được biến động giá hàng hóa trên thị trường thế giới

2.1.2.7 Phát triển công nghiệp thúc đẩy thay đổi giá trị xã hội

Phát triển công nghiệp sẽ tạo nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn cho dân cư, đô thị hóa được đẩy mạnh và thu nhập của dân cư vùng đô thị và nông thôn được cải thiện, bất bình đẳng giảm đi, trình độ dân trí nâng cao Như vậy, giá trị xã hội được cải thiện

2.1.3 Những đặc điểm của sản xuất công nghiệp

Nguyên lý chủ thể quản lý phải phù hợp với đối tượng quản lý đòi hỏi phải nghiên cứu và nắm vững các đặc điểm cơ bản của sản xuất công nghiệp nhằm phát huy tối đa các tác động quản lý đối với sự phát triển của công nghiệp nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng

Sản xuất công nghiệp có nhiều đặc điểm khác biệt hoàn toàn với các ngành sản xuất khác như nông nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ, cụ thể:

2.1.3.1 Quá trình sản xuất công nghiệp

Có thể chia ra làm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn có thể do một

bộ phận trong hệ thống dây chuyền sản xuất hoặc do một bộ phận độc lập thực hiện

Đối với những sản phẩm đòi hỏi phải sản xuất theo hệ thống dây chuyền thì các công đoạn phải sắp xếp theo đúng trình tự quy định từ khi nguyên liệu bắt đầu đưa vào sản xuất đến khi sản phẩm tạo ra (công đoạn đóng gói như: sản xuất nước giải khát, mì ăn liền, xà phòng )

Đối với những sản phẩm phải lắp ráp nhiều chi tiết lại với nhau mới tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh thường bố trí sản xuất các bộ phận chi ciết sản phẩm ở

Trang 32

nhiều cơ sở khác nhau (các phân xưởng trong doanh nghiệp hoặc các cơ sở độc lập) sau đó lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh (ô tô, xe máy, xe đạp .) Với những loại sản phẩm này, các bộ phận sản xuất có thể tiến hành đồng thời với nhau Tuy nhiên, trong từng công đoạn để tạo ra được những chi tiết sản phẩm lại

có quá trình sản xuất riêng, theo trình tự quy định

Đặc điểm này cho phép các nhà sản xuất có thể lựa chọn mức độ chuyên môn hoá phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà không nhất thiết phải thực hiện sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm

Từ đặc điểm này có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa về tổ chức quản lý quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp

Sản xuất sản phẩm công nghiệp có khả năng thực hiện chuyên môn hoá sâu, chuyên môn hoá sản xuất ra chi tiết sản phẩm, từ đó có điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm cuối cùng Tuy nhiên, do tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hoá chi tiết sản phẩm nên muốn sản xuất đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải tuân thủ các vấn đề có tính nguyên tắc là: tiêu chuẩn hoá sản xuất và tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị sản xuất các bộ phận chi tiết sản phẩm với lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh Muốn vậy, từng ngành (ngành chuyên môn hoá), từng doanh nghiệp (công

ty, tổng công ty) phải có quy hoạch sản xuất hơp lý - từ xác định vị trí đặt các cơ

sở sản xuất phụ tùng (linh kiện) đến thống nhất về tiêu chuẩn sản phẩm, quy mô sản xuất, trang bị máy móc thiết bị, đào tạo công nhân Cần tránh tình trạng tự phát trong sản xuất phụ tùng và không kiểm soát được chất lượng

Cần quan tâm nghiên cứu hoàn thiện cách thức tổ chức sản xuất khoa học trong từng cơ sở sản xuất cũng như giữa các cơ sở sản xuất có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng

Do sản xuất theo dây chuyền và đi vào chuyên môn hoá nên việc quan tâm giáo dục, rèn luyện công nhân về ý thức, thái độ và tác phong lao động có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, một người kém ý thức trong lao động có thể ảnh hưởng đến

cả dây chuyền sản xuất và nhiều khi gây thiệt hại rất lớn

2.1.3.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất

Công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người tạo ra

Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao Hay nói cách

Trang 33

khác, lao động tạo ra sản phẩm trong công nghiệp là lao động có kỹ thuật, lao động bằng máy móc

Từ đặc điểm này, muốn khẳng định một vấn đề có tính quyết định trong phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia là phải quan tâm ngay từ đầu việc đầu tư,

áp dụng công nghệ hiện đại (có thể là nhập khẩu hoặc nghiên cứu trong nước) và thường xuyên nghiên cứu, đổi mới công nghệ cũng như quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề Đặc biệt trong thời đại ngày nay, hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, thời đại kinh tế tri thức thì việc đầu tư cho hiện đại hoá công nghệ và đào tạo nhân lực ngày càng trở nên cấp bách

2.1.3.3 Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất và sản phẩm tạo ra

Từ một nguồn nguyên liệu, sau mỗi chu kỳ sản xuất, với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm với nhiều công dụng khác nhau; cùng một loại sản phẩm có thể tạo ra nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau (từ gỗ, sắt, thép, nhựa có thể tạo ra muôn vàn các sản phẩm khác nhau)

Đặc điểm này thể hiện khả năng mở rộng sản xuất, khả năng sáng tạo, khả năng nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp rất cao so với các ngành kinh tế khác

Từ đặc điểm này đòi hỏi trong phát triển công nghiệp, từng ngành chuyên môn hoá cũng như từng doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm Nghĩa là từ một nguồn nguyên liệu tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau hoặc cùng một loại sản phẩm phải tạo ra nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau để thoả mãn nhu cầu khách hàng Cần nhớ rằng nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và luôn thay đổi Vì vậy, nếu chậm nắm bắt nhu cầu khách hàng để rồi chậm đổi mới sản phẩm thì nguy cơ thất bại là khó tránh khỏi

Do sản xuất công nghiệp có khả năng tạo ra nhiều loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, trong đó nhiều loại sản phẩm là nhu cầu thiết yếu của đời sống con người, nên ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần có chiến lược và quy hoạch phát triển từng ngành công nghiệp chuyên môn hoá phù hợp với từng giai đoạn, trong đó cần xác định những ngành công nghiệp mũi nhọn, trọng yếu cần tập trung đầu tư và những sản phẩm công nghiệp nào phải nhập khẩu

Trang 34

2.2 Thước đo phát triển công nghiệp

Xem xét phát triển công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế, thế các thước đo sau đây được quan tâm: hệ số vượt, tỷ trọng khu vực công nghiệp trong GDP và năng suất lao động ngành công nghiệp

2.2.1 Hệ số vượt của bộ phận trong hệ thống công nghiệp

Để xem xét ngành cụ thể nào trong khu vực công nghiệp giữ vai trò mũi nhọn, chúng ta sử dụng thước đo hệ số vượt của bộ phận, được tính theo công thức sau:

Rei =

gi

gI Trong đó

Rei: hệ số vượt của ngành y

gi: tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp y

gI: tốc độ tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp

Đối với các ngành công nghiệp trọng điểm, hệ số Rei lớn hơn 1 có nghĩa rằng tốc độ tăng trưởng của ngành đó lớn hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn khu vực công nghiệp, cho thấy tính vượt trội của ngành cho biết dữ liệu về giá trị sản xuất công nghiệp của quốc gia trong giai đoạn 2014 – 2019, giá trị sản xuất công nghiệp của quốc gia theo giá so sánh năm 1994

Minh họa: Cho biết dữ liệu giá trị sản xuất công nghiệp của quốc gia A trong giai đoạn 2014 – 2019

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất công nghiệp quốc gia A (Giá so sánh 1994, tỷ đồng)

Trang 35

2019 là 187,4%

Các ngành có hệ số vƣợt bao gồm công nghiệp chế biến chế tạo, chế biến gỗ

và sản phẩm từ gỗ tre nứa, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học sửa chữa bảo dƣỡng và lắp ráp máy móc thiết bị

Trang 36

2.2.2 Tỷ trọng GDP công nghiệp

Để đánh giá vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế, chúng ta Sử dụng thước đo tỉ trọng GDP công nghiệp Khi trình độ phát triển kinh tế càng cao thì

tỉ trọng GDP công nghiệp càng lớn so với tỉ trọng GDP nông nghiệp

Tỷ trọng GDP công nghiệp được xác định bảng cho thấy trước 1997 tỷ trọng GDP nông nghiệp lớn hơn tỉ trọng GDP công nghiệp kể từ năm 1997, tỷ trọng công nghiệp lớn hơn tỉ trọng GDP nông nghiệp, công nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, khoảng cách đóng góp của công nghiệp so với nông nghiệp tăng theo thời gian

Yi,t: GDP công nghiệp của năm thứ t

Yi: GDP của năm thứ t Minh họa: Cho biết dữ liệu của quốc gia A giai đoạn 2000 đến 2014

Bảng 2.2 GDP của quốc gia A (giá so sánh 1994, tỷ đồng)

GDP nông nghiệp

GDP công nghiệp

Tỷ trọng GDP nông nghiệp

Tỷ trọng GDP công nghiệp

Trang 37

Tính tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp và nông nghiệp?

2.2.3 Năng suất lao động công nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sản xuất theo lao động của ngành công nghiệp, chúng ta

sử dụng thước đo năng suất lao động công nghiệp Khi trình độ phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động công nghiệp cũng lớn hơn so với năng suất lao động nông nghiệp và năng suất lao động chung

Năng suất lao động công nghiệp được xác định như sau:

yi,t = (

Yi,t

) (100)

Li,t Trong đó:

yi,t: năng suất lao động công nghiệp năm thứ t

Yi,t: GDP công nghiệp của năm thứ t

Li,t: số lao động khu vực công nghiệp của năm thứ t

Minh họa: Cho biết dữ liệu của quốc gia A trong giai đoạn 2000 – 2014 Bảng 2.3 GDP của quốc gia A (giá so sánh 1994, tỷ đồng)

GDP nông nghiệp

GDP công nghiệp

Tổng lao động (nghìn người)

Lao động nông nghiệp

Lao động công nghiệp

Trang 38

2.3 Lý thuyết về phát triển công nghiệp

2.3.1 Công nghiệp hóa

Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh

tế nông nghiệp sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, tỷ trọng lao động nông nghiệp từ chỗ chiếm đa số đã giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp Theo khái niệm trên, công nghiệp hóa là quá trình tất yếu của phát triển kinh

tế trong mỗi quốc gia, trong đó nền tảng công nghiệp hóa là phát triển công nghiệp dựa vào kinh nghiệm và dữ liệu của nhiều quốc gia, Chenery và Cộng Sự 1986 phân

Trang 39

chia công nghiệp hóa thành 3 bước khởi đầu phát triển và hoàn thiện công nghiệp hóa, từ thấp đến cao

Mỗi bước căn cứ vào thước đo GDP bình quân đầu người, cơ cấu ngành kinh

tế, phần trăm GDP, tỷ trọng công nghiệp chế tạo, tỷ trọng lao động nông nghiệp, tỷ

lệ phần trăm dân số đô thị hóa

Bảng 2.4 Các bước công nghiệp hóa

CNH

Khởi đầu CNH

Phát triển CNH

A: Agriculture, I: Industry, S: Service

a Bước khởi đầu công nghiệp hóa

Quốc gia được tính là khởi đầu công nghiệp hóa đảm bảo bốn thước đo GDP trên người trên năm theo giá USD năm 2004 là 1.440 - 2800; tỷ trọng GDP nông nghiệp Vậy lớn hơn hoặc bằng 20% và tỷ trọng GDP nông nghiệp nhỏ hơn tỉ trọng GDP công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp từ 20 đến 40%, tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 45 đến 60%, tỉ lệ dân số đô thị từ 35 đến 50%

b Bước phát triển công nghiệp hóa

Quốc gia được xem là phát triển công nghiệp hóa đảm bảo 4 thước đo: trên người trên năm theo giá USD năm 2004, từ hơn 2800 – 5760 USD; tỷ trọng GDP

Trang 40

nông nghiệp phải nhỏ hơn 20% và tỷ trọng GDP công nghiệp phải lớn hơn tỉ trọng GDP dịch vụ tỷ trọng công nghiệp chế biến lớn hơn 40 đến 50%, tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 30% đến 45%; tỷ lệ dân số đô thị từ hơn 50 đến 60%

c Bước hoàn thiện công nghiệp hóa

Quốc gia được xem là hoàn thiện công nghiệp hóa phải đảm bảo 4 thước đo:

mô hình Chenery và cộng sự có ý nghĩa quan trọng cho các nước đang phát triển nhận diện được các bước đi của quá trình công nghiệp hóa, nhất là các thước đo rất phổ biến dễ dàng áp dụng

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) phân loại các quốc gia trên thế giới thành 4 nhóm, theo 4 giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa, từ thấp lên cao: Các nước kém phát triển - các nước đang phát triển - công nghiệp mới - các nước đã công nghiệp hóa Mỗi giai đoạn dựa vào các tiêu chuẩn

cụ thể:

- Cho thấy Việt Nam nằm trong nhóm các nước đang phát triển của mô hình Upadhyaya, tương đương với giai đoạn đang phát triển của quá trình công nghiệp hóa

- Có ý nghĩa quan trọng cho các nước đang phát triển nhận diện được các bước đi của quá trình công nghiệp hóa, nhất là các thước đo rất đơn giản, phổ biến,

dễ dàng áp dụng Hiện nay, hầu hết các nước áp dụng mô hình này

- Mô hình thay đổi cơ cấu ngành và phát triển công nghiệp haraguchi 2014, dựa vào dữ liệu của 100 Quốc gia với chuỗi thời gian 40 năm từ 1963 đến 2007 đưa

ra lập luận: khi thu nhập quốc gia tăng lên, tỷ trọng GDP nông nghiệp có xu hướng giảm trong khi tỷ trọng dịch vụ tăng dần Không giống như hai khu vực này tỉ trọng GDP công nghiệp trong này kinh tế không liên tục giảm hoặc tăng trong suốt quá trình phát triển Tuy nhiên công nghiệp hoạt động như một động lực phát triển ở một giai đoạn nhất định của sự phát triển

Khi trình độ phát triển thấp GDP trên người nhỏ hơn 4.000 USD tỷ trọng GDP nông nghiệp lớn hơn công nghiệp Khi trình độ ở giai đoạn phát triển trên người lớn hơn 4.000 và nhỏ hơn 14.000 USD tỷ trọng GDP nông nghiệp giảm dần trong khi công nghiệp tăng nhanh và đạt mức cao nhất tại mức GDP đầu người bằng

14000 USD GDP trên người lớn hơn 14.000 USD, tỷ trọng GDP nông nghiệp tiếp tục giảm nhanh, công nghiệp bắt đầu giảm trong khi ngành dịch vụ tiếp tục tăng

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm