1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng

68 248 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Tác giả Hoàng Diễm Lụa
Trường học Khoa NH – TC
Thể loại tiểu luận
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 636 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, chính phủ cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.

Trang 1

MỤC LỤC

1.2.3.3 Mạng lưới chi nhánh, trình độ, nghiệp vụ cán bộ công nhân viên

của ngân hàng 18

a, Chi phí huy động 19

- Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kì vọng của người gửi tiền .20

- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc 20

- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất của tài sản sinh lãi 21

1.3.1.2 Nhân sự và công nghệ thông tin 22

1.3.1.4 Uy tín của ngân hàng 23

1.3.2.1 Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước 24

1.3.2.2 Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước 24

1.3.2.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn 25

1.3.2.4 Tâm lý, thói quen của người tiêu dùng 25

2.1.2.1 Quyền tổ chức quản lý, kinh doanh 27

2.2.2 Phân tích thực trạng huy động vốn của chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An .37 c, Tình hình huy động vốn trung - dài hạn 42

3.2.1 Thực hiện tốt công tác phân tích thị trường huy động vốn 51

3.2.2 Đa dạng hoá hình thức huy động vốn 52

3.2.3 Xây dựng chính sách tiếp cận và chăm sóc khách hàng hiệu quả 53

3.2.4 Quản lý nguồn vốn theo đúng phương pháp, mục tiêu 54

3.2.5 Đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ của cán bộ 55

- Cải tiến tài khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp 56

- Cải tiến tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tài khoản cá nhân 58

Trang 2

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHNO & PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

NHTM: Ngân hàng thương mại

DNVVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ

DTBB: Dự trữ bắt buộc

TG KKH: Tiền gửi không kỳ hạn

TG CKH: Tiền gửi có kỳ hạn

TG TK KKH: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

TG TK CKH Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Bảng 2.7: Tình hình huy động vốn trung- dài hạn 50Bảng 2.8: cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng 51

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của nước ta Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế đất nước Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, chính phủ cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Ở nước ta thị trường chứng khoán chưa thực sự phát triển do vậy lượng vốn huy động được bằng con đường tài chính trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế Do vậy quá trình nhận và phân phát nguồn vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông

qua các NHTM và thị trường tín dụng Theo thống kê, ở Việt Nam hơn 80% (tạp chí

khoa học đào tạo ngân hàng số 19/2007) lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống

ngân hàng cung cấp Do đó vai trò của Ngân hàng trong hoạt động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng

Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng của NHTM Có chính sách, chiến lược huy động vốn tốt giúp NHTM không những chủ động được nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh mà còn tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động.Trong điều kiện hoạt động cung ứng dịch vụ và kinh doanh nói chung, huy động vốn nói riêng của các NHTM chịu sức ép cạnh tranh ngày càng cao từ các kênh huy động vốn khác trong nền kinh tế, việc tìm ra những giải pháp giúp ngân hàng chủ động nguồn vốn cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động này ngày càng trở nên cấp thiết Vậy hoạt động huy động vốn được thực hiện như thế nào? Làm thế nào để đẩy mạnh huy động vốn? Đó là những câu hỏi cần được trả lời trong hoạch định trong chính sách chiến lược phát triển kinh tế Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề

tài “ Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng’’.

Trang 4

• Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT Hòa An – Cao Bằng.

• Đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT Hòa An – Cao Bằng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là các nguồn vốn tín dụng được huy động và cung ứng tại chi nhánh NHNo & PTNT Hòa An – Cao Bằng

4 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu,

danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục chuyên đề gồm 3 phần:

Chương 1: Lý Luận Chung Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Thương Mại

Chương 2: Thực Trạng Huy Động Vốn Tại Chi Nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp

Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Hòa An – Cao Bằng

Chương 3: Giải Pháp Đẩy Mạnh Huy Động Vốn Tại Chi Nhánh Ngân Hàng

Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Hòa An – Cao Bằng

Trang 5

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Hoạt động cơ bản của NHTM

1.1.1 Khái niệm NHTM

Lịch sử đã ghi nhận sự hình thành, phát triển của ngành Ngân hàng được quyết định bởi quá trình phát triển của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ Đồng thời cũng còn những yếu tố khác có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc và sự phát triển của hệ thống ngân hàng như: chế độ pháp quyền, điều kiện chiến tranh và tình trạng khủng hoảng kinh tế, tài chính

Ở Việt nam, hệ thống Ngân hàng đã được đổi mới một cách đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều

tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng Từ năm 1986, hoà vào công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hệ thống ngân hàng được tổ chức lại theo Nghị định 53/HĐBT được tách ra làm hai cấp: NHNN đảm nhận công tác phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ, còn chức năng kinh doanh được thực hiện bởi các NHTM

Năm 1991, sự ra đời của các NHTM cổ phần cùng các NHTM quốc doanh đã góp phần rất lớn vào công cuộc phát triển đất nước Luật “Tổ chức tín dụng” của Việt nam ban hành vào ngày 12/12/1997 đã định nghĩa NHTM như sau:

“NHTM là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là một hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”

1.1.2 Những hoạt động chính của NHTM

NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền

tệ Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi ích của chủ sở hữu (lợi ích của

Trang 6

chủ ngân hàng) NHTM tối đa hóa giá trị đó bằng cách đi vay và cho vay lại So với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hoá của NHTM là một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn Giá cả của loại hàng hoá này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, nó chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh Vì vậy lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ lãi cho vay với chi phí trả lãi huy động Để có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một giá mua hợp lý cũng như đa dạng các hình thức huy động Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro Với vị thế kinh doanh NHTM thực hiện các dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng Ngày nay, hệ thống NHTM phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội Sự đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho NHTM trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế.

Những hoạt động cơ bản của NHTM:

1.1.2.1 Hoạt động nhận tiền gửi

Đây là một hoạt động cơ bản của NHTM Ngân hàng nhận được các khoản tiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng

1.1.2.2 Hoạt động tín dụng

Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toán bình thường), sẽ được sử dụng để cho vay Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của NHTM Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng được phân thành:

- Căn cứ vào mục đích

• Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai

Trang 7

• Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

• Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn

• Thuê mua và các loại khác

- Căn cứ vào thời hạn cho vay

• Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn

• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam thì loại cho vay này có thời hạn từ 1- 5 năm Tín dụng trung hạn thường sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với thời hạn thu hồi vốn nhanh

• Cho vay dài hạn: Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng này thường để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà

ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp

- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

• Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào sự uy tín của bản thân khách hàng

• Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng nhưng phải

có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba

- Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

• Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và được thực hiện bằng các kỹ thuật như tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ,

• Cho vay bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, ví dụ như tài trợ thuê mua…

- Căn cứ vào phương pháp hoàn trả

Trang 8

• Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ

• Cho vay hoàn trả theo yêu cầu

- Ngoài các loại cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho

khách hàng bằng uy tín của mình Đối với loại nghiệp vụ này, ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì ngân hàng phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán Vì thế, nghiệp vụ này còn được gọi là tín dụng bằng chữ ký Tín dụng bằng chữ ký bao gồm: tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ, bảo lãnh của ngân hàng

1.1.2.3 Hoạt động đầu tư

Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trường

Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện góp vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới

1.1.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối

Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho vay cũng như kiếm lời Việc kinh doanh ngoại tệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất nhập khẩu,

1.1.2.5 Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng

• Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ chuyển tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ Có hai phương thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng điện và chuyển tiền bằng thư

• Thu chi hộ tiền hàng: Theo những lệnh uỷ nhiệm thu hoặc uỷ nhiệm chi, ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng chuyển trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng khi nhận được chứng từ khách hàng nhờ thu hộ

• Nghiệp vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác của khách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản chứng khoán, vàng bạc, giấy tờ có giá để hưởng hoa hồng

• Mua bán hộ: Theo sự uỷ nhiệm của khách hàng ngân hàng thực hiện nghiệp

vụ phát hành hộ trái phiếu hoặc chứng khoán cho các công ty, hoặc phát hành trái khoán Chính phủ Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng có được

Trang 9

một khoản thu nhập dưới hình thức hoa hồng phát hành Ngân hàng có thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường theo lệnh của khách hàng với

tư cách là một trung gian môi giới trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán

1.2 Huy động vốn của ngân hàng thương mại

Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm 2 loại chính nếu phân chia theo hình thức sở hữu: Nguồn vốn của chủ ngân hàng và các khoản nợ Khác với nhiều loại hình doanh nghiệp, vốn chủ của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn, các khoản

nợ là nguồn chủ yếu của ngân hàng

1.2.1 Vốn chủ sở hữu

Để bắt đầu hoạt động kinh doanh, chủ ngân hàng phải có vốn - vốn chủ sở hữu (VCSH) Nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của chủ ngân hàng, chủ ngân hàng cần phải cân nhắc về qui mô và cơ cấu VCSH hợp lý Hơn nữa, đây còn là đối tượng quản lý ngày càng chặt chẽ của Ngân hàng Trung ương nhằm đảm bảo an toàn cho người gửi tiền

Vốn chủ được hình thành bằng nhiều cách khác nhau Để phân biệt với các khoản tiền của chủ thể khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ), chủ ngân hàng gọi vốn mình ứng ra trong kinh doanh là vốn tự có Với chức năng trung gian tài chính, chủ ngân hàng không ngừng mở rộng huy động tiền gửi của chủ thể khác để đầu

tư, do vậy, dần dần vốn của chủ ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn Một số ngân hàng Trung ương qui định giới hạn tỷ lệ vốn chủ trên tổng tiền gửi nhằm tăng đảm bảo an toàn cho người gửi tiền Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, song VCSH có vai trò rất quan trọng, góp phần xác định qui mô và cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là trung và dài hạn, cũng như tạo ra trang thiết bị và công nghệ ngân hàng hiện đại

“Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo & PTNT Việt Nam đạt 7.702 tỷ VND; Nguồn: Agribank - những cột mốc chặng đường và lịch sử”.

Sau đây là các bộn phận cấu thành VCSH:

1.2.1.1 Vốn ban đầu (VCSH ban đầu)

VCSH ban đầu hình thành theo các cách khác nhau tùy theo tính chất sở hữu khác nhau VCSH ban đầu phải tuân thủ các qui định của các nhà chức trách tiền tệ Các qui định thường nêu rõ số vốn tối thiểu - vốn pháp định mà chủ ngân hàng cần phải

Trang 10

có khi bắt đầu hoạt động Vốn pháp định có thể được qui định cho từng loại ngân hàng trong từng điều kiện cụ thể.

VCSH không phải hoàn trả Chủ ngân hàng có thể tăng, giảm hoặc thay đổi cơ cấu VCSH, quyết định chính sách phân phối lợi nhuận

1.2.1.2 VCSH hình thành trong quá trình hoạt động (VSCH bổ xung)

Bao gồm cổ phần phát hành thêm (hoặc ngân sách cấp thêm) trong quá trình hoạt động, lợi nhuận tích lũy, thặng dư vốn, các quỹ…

- Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêmNgân hàng có thể phát hành thêm cổ phần (thường hoặc ưu đãi) hoặc xin cấp thêm vốn ngân sách để mở rộng qui mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro; Trong những trường hợp cần duy trì thị giá của cổ phiếu, hoặc duy trì quyền lãnh đạo của những cổ đông quan trọng, ngân hàng có thể mua lại một số cổ phiếu của những cổ đông quan trọng, ngân hàng có thể mua lại một số cổ phiếu đã phát hành hoặc tăng tỷ lệ lợi nhuận chia cho cổ phiếu

- Lợi nhuận bổ xung VCSHĐối với các ngân hàng cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông theo giá trị các cổ phần, và phần bổ xung VCSH dưới tên gọi “lợi nhuận tích lũy lại” - quỹ tích lũy Phần này về bản chất là thuộc sở hữu các cổ đông, song được “vốn hóa” nhằm mở rộng qui mô của VCSH Các NHTM thuộc sở hữu Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ thua lỗ (năm trước) và các chi phí đặc biệt, được trích bổ xung VCSH theo qui định của Nhà nước Nhiều ngân hàng trong điều lệ hoạt động của mình đều qui định mức vốn Điều lệ (tối thiểu là bằng vốn pháp định), và thường xuyên bổ sung vốn điều lệ bằng trích lợi nhuận

- Các quỹTrong môi trường lạm phát, VCSH bị giảm giá Để bảo toàn giá trị, các ngân hàng có thể trích lập quỹ bảo toàn vốn tính theo tỷ lệ lạm phát Quỹ này làm gia tăng qui mô VCSH

Kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro Nhiều tài sản của ngân hàng

đã sinh lãi một thời gian dài, sau đó có thể bị tổn thất Do vậy, các ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất (nếu có) - quỹ dự phòng tổn thất Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, VCSH sẽ tăng và ngược lại

Trang 11

Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh giá Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá

cổ phiếu được ghi lại dưới tên gọi thặng dư của vốn

Do giá trị các tài sản và nợ của ngân hàng thường xuyên thay đổi theo giá trị thường, đặc biệt là các chứng khoán và bất động sản Mặc dù chưa bán, ngân hàng thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá thị trường Những chênh lệch do đánh giá lại được đưa vào quỹ đánh giá lại Quỹ này thường xuyên biến động gắn liền với thay đổi thị giá, cho phép nhà quản lí đánh giá giá trị thị trường của VCSH

Ngân hàng thường trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế như quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ đào tạo, quỹ nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, Phần lớn các quỹ này được sử dụng trong kỳ

- Cổ phần ưu đãi có thời hạn và Giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu

Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các khoản vay dài hạn bằng giấy nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu cũng thuộc VCSH mặc dù chúng mang một

số tính chất của một khoản nợ Tuy nhiên phần này thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lí ngân hàng như không làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức…

Kết luận: Vốn tự có hay vốn điều lệ càng lớn, sức chịu đựng của ngân hàng

càng lớn khi mà tình hình kinh tế và tình hình hoạt động ngân hàng trải qua những giai đoạn khó khăn Vốn tự có càng lớn, khả năng tạo lợi nhuận càng lớn vì có thể đa dạng hoá các nghiệp vụ ngân hàng, có cơ hội làm ra nhiều tiền hơn Tuy nhiên không phải vốn tự có càng lớn càng tốt vì nếu nó quá lớn thì lợi nhuận chia cho các cổ đông cũng

sẽ giảm, giá cổ phiếu cũng sẽ giảm theo Ngược lại, vốn tự có quá nhỏ sẽ cản trở hoạt động của ngân hàng Vậy tỷ lệ vốn tự có/tổng nguồn là bao nhiêu thì hợp lý ? Theo thoả ước Basel vào năm 1992, các ngân hàng phải đạt hệ số vốn tự có so với tài sản có dựa

trên cơ sở rủi ro là: 8% ( còn gọi là hệ số Cook ) Đây được coi là tỷ lệ chuẩn dùng để

đánh giá mức vốn tự có của các ngân hàng Nếu theo tỷ lệ này thì hầu như không có ngân hàng nào tại Việt Nam có thể đáp ứng được vì phần lớn tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản rủi ro của các ngân hàng này đều ở mức từ 5% đến 6% Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới là khác nhau, nếu đem áp dụng 1 tỷ lệ cho tất cả thì không hợp lý Vì nhiều ngân hàng có hệ số Cook nhỏ hơn 8% vẫn hoạt động khá tốt Do đó tỷ lệ chuẩn trên chỉ là tương đối, quan trọng hơn là cơ cấu vốn tự có trong tổng nguồn của mỗi ngân hàng phù hợp với hoạt động của chính nó, đáp ứng được các chính sách, quyết định của ngân hàng

Trang 12

1.2.2 Vốn nợ

1.2.2.1 Nhận tiền gửi và các hoạt động nhận tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tại khoản tiền gửi để giữ

hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư

Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền

có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau

a, Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán)

Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kì hạn là loại tiền gửi

mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào Nghĩa là nếu một người vừa gửi tiền sáng nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay buổi chiều cùng ngày, còn nếu chưa cần sử dụng thì anh ta cứ để đấy khi nào cần thì rút Thông thường, chủ các tài khoản tiền gửi không

kì hạn thường yêu cầu ngân hàng thanh toán hộ mình cho các đối tác qua tài khoản mà không cần phải đến ngân hàng rút tiền nữa Việc này đẩy nhanh tốc độ lưu thông của tiền và hạn chế bớt tiền mặt trong thanh toán Chính ưu điểm này của tiền gửi thanh toán đã khiến nó rất được ưa thích và phổ biến với tất cả mọi người, đặc biệt là các doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động mua bán thường xuyên Ngày nay tài khoản tiền gửi thanh toán đảm nhiệm rất nhiều chức năng hữu dụng đối với chủ tài khoản Người chủ tài khoản có thể phát séc từ tài khoản của mình, thanh toán các loại hoá đơn qua ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy ATM của ngân hàng…Mạng lưới ngân hàng càng

mở rộng và phát triển thì càng tạo nhiều thuận lợi cho những người sở hữu các tài khoản tiền gửi thanh toán Giờ đây người ta có thể mua bán với nhau dù cách xa hàng ngàn km, có thể đi du lịch khắp nơi mà chỉ cần mang theo một chiếc thẻ tín dụng được chấp nhận toàn cầu Đặc biệt, từ sau thập niên 70 các ngân hàng đã bắt đầu trả lãi suất cho các khoản tiền gửi thanh toán, dù lãi suất rất thấp Tuy nhiên điều này càng làm tăng sự ưa thích của các khách hàng vì tiền của họ không những có thể rút được ra bất

kì lúc nào mà còn sinh lãi khi không dùng đến trong một khoảng thời gian dài

Đối với ngân hàng, tiền gửi thanh toán cũng là khoản vốn huy động khá hấp dẫn Bởi chi phí (lãi suất) cho loại tiền gửi này thấp nhất trong các loại tiền gửi Để thu hút tiền gửi thanh toán, các ngân hàng tạo rất nhiều sản phẩm cũng như tiện ích sử dụng khiến cho khách hàng có rất nhiều lựa chọn Chỉ riêng về Thẻ đã có rất nhiều loại và nhiều tính năng phù hợp với mỗi loại khách hàng Tương lai, tiền gửi thanh toán sẽ thay

Trang 13

thế hầu như toàn bộ tiền mặt, nó không những giúp người sở hữu thuận lợi trong các giao dịch, ngân hàng có thêm nhiều vốn mà còn giúp Nhà nước quản lý có hiệu quả lượng tiền mặt trong lưu thông.

b, Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Bên cạnh những khoản tiền gửi thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp thương mại, tổ chức xã hội đều gửi một lượng tiền nhất định tại ngân hàng với thời hạn xác định Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp hay tổ chức luôn có một lượng tiền tạm thời chưa cần sử dụng, họ gửi nó vào ngân hàng với các kì hạn khác nhau để hưởng lãi (lãi suất cao hơn lãi suất của tiền gửi không kì hạn) nhằm tạo thêm thu nhập cho mình Tuy nhiên lượng tiền gửi có kì hạn của các tổ chức chiếm một lượng rất nhỏ so với lượng tiền gửi không kì hạn, đồng thời rất khó dự đoán được sự biến động của nó

do sự biến động của hoạt động kinh doanh sản xuất của các doanh nghiệp

c, Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùng đến, họ tích luỹ lại cho tương lai Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm của mình Một trong những cách đó là gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng Ngân hàng thu hút tiền gửi của người dân bằng việc đảm bảo an toàn cho tài sản của họ đồng thời trả lãi để khuyến khích họ gửi nhiều tiền với thời hạn lâu dài Huy động tiền gửi trong dân cư là nghiệp

vụ truyền thống đem lại cho ngân hàng một lượng vốn rất lớn để có thể tiến hành các hoạt động cho vay và đầu tư sinh lợi Thông thường tiền gửi tiết kiệm có 2 loại chính :

• Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

• Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn

Với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn, người gửi có thể rút bất cứ khi nào họ

muốn Còn với tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, người gửi chỉ có thể rút tiền khi đến hạn nhưng lại được hưởng mức lãi suất cao hơn nhiều so với tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Người gửi tiết kiệm có kì hạn có quyền yêu cầu ngân hàng thay đổi kì hạn tiền gửi của mình, nhập các sổ tiết kiệm lại với nhau, dùng sổ tiết kiệm để thế chấp vay vốn…Đặc biệt, hiện nay để cạnh tranh hầu như các ngân hàng đều cho người gửi tiền tiết kiệm có kì hạn rút tiền trước hạn khi cần Điều này làm tăng sức hấp dẫn của tiền gửi tiết kiệm có kì hạn Hơn nữa, người dân cũng có thể yên tâm hơn khi khoản tiền gửi của mình trong ngân hàng được bảo hiểm, trong trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán thì người gửi vẫn có thể nhận lại toàn bộ hoặc một phần số tiền của mình từ tổ chức bảo hiểm tiền gửi

d, Tiền gửi của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Trang 14

Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên hệ với nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh Các ngân hàng đều gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc thanh toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác…Lượng tiền gửi này thường không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng.

1.2.2.2 Vay và hoạt động đi vay của ngân hàng thương mại

Bên cạnh việc huy động vốn từ nhận tiền gửi, các ngân hàng còn đi vay để tăng lượng vốn nắm giữ nhằm đảm bảo và phát triển hoạt động kinh doanh của mình Vốn vay của ngân hàng có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau nhu: vay từ Ngân hàng nhà nước, vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn…Nguồn vốn vay chỉ chiếm tỷ trọng vừa phải trong kết cấu nguồn song nó rất cần thiết và quan trọng đối với các ngân hàng

a, Vay Ngân hàng Nhà nước ( vay ngân hàng Trung ương)

Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu tinh của các ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, là người cho vay sau cùng Thông thường tất các ngân hàng thương mại và một số tổ chức tài chính khác trong nước được NHNN cho phép thành lập đều được hưởng quyền vay tại ngân hàng NHNN trong những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt vốn Đối với các NHTM thì vay mượn tại NHNN

là một dịch vụ hết sức tiện lợi và hấp dẫn vào lúc nó hạ lãi suất tái chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền nới lỏng để kích thích đầu tư Nhưng trường hợp không may diễn ra là khi các ngân hàng đến vay vào lúc NHNN không muốn khuyến khích sự bành trướng của tín dụng hay đang muốn thắt chặt cung ứng tiền tệ chống lạm phát Lúc đó lãi suất chiết khấu được đẩy lên cao và với những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của NHNN thì các ngân hàng chỉ miễn cưỡng vay trong những tình huống ngặt nghèo và tìm cách trả nợ rất nhanh Những khi ấy, các khoản vay từ NHNN chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tài sản nợ của các ngân hàng Dù ít hay nhiều, thường xuyên hay thình thoảng thì vay NHNN vẫn là một khoản mục hiển nhiên trong tài sản nợ

NHNN cấp tín dụng cho các NHTM qua 2 hình thức:

- Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tái cấp vốn Các thương phiếu

đã được các ngân hàng thương mại chiết khấu sẽ trở thành tài sản của họ Khi cần tiền

họ mang chúng lên NHNN để tái chiết khấu Nghiệp vụ này làm thương phiếu của NHTM giảm đi và dự trữ tăng lên NHNN kiểm soát việc vay mượn này một cách chặt chẽ Thông thường NHNN chỉ chiết khấu cho các thương phiếu có chất lượng (có thời hạn đáo hạn ngắn và khả năng trả nợ cao), và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kì

Trang 15

- Thế chấp hay ứng trước bảo đảm hay không có bảo đảm Đây là hình thức cho vay thời hạn ngắn, chủ nợ không bán các phiếu nợ cho ngân hàng mà chỉ đem gửi các phiếu đó làm vật bảo đảm cho việc vay tiền.

Ở Việt Nam hiện nay, có các loại cho vay của NHNN đối với các NHTM như

c, Vay trên thị trường vốn

Để huy động được lượng vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu cho vay thường xuyên (đặc biệt là cho vay trung và dài hạn), bên cạnh việc thu hút tiền gửi, các Ngân hàng thường chủ động đi vay trên thị trường vốn Cũng giống như các doanh nghiệp, Ngân hàng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường Thông thường đây là các khoản vay không có đảm bảo, nên những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi suất cao hơn thì sẽ vay được nhiều hơn Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách đó mà phải thông qua ngân hàng đại lí hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng Đầu tư Có thể nói thị trường tài chính với vai trò trung gian điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các ngân hàng Thị trường tài chính càng phát triển thì khả năng chuyển đổi các công cụ

nợ dài hạn của các ngân hàng càng tăng

d, Các nguồn khác

Trang 16

Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, Ngân hàng còn có các nguồn vốn vay khác như:

- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ

thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ….Trong đó Uỷ thác đầu tư là dịch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng Với dịch vụ này, khách hàng uỷ thác tiền bạc, tài sản của mình cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tư vào những dự án khả thi để sinh lãi Ngân hàng với lợi thế về uy tín và thông tin cũng như khả năng thẩm định dự

án tốt sẽ tiến hành hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cho khách hàng đồng thời thu lời cho chính mình qua phí dịch vụ Trong tương lai, dịch vụ Uỷ thác đầu

tư hứa hẹn rất phát triển, là một nguồn thu hút vốn khá tốt và trở thành một sản phẩm cạnh tranh hấp dẫn không kém sản phẩm tiền gửi

- Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể

hình thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ L/C…), hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết dư tiền gửi từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để cho vay Đặc điểm của nguồn này là thời gian tồn tại ngắn vì phần lớn chúng đều ở trong trạng thái chờ luân chuyển, do đó các ngân hàng

ít khi chỉ sử dụng chúng để cho vay lâu dài mà chỉ để bổ sung thêm nguồn ở thời điểm hiện tại

- Nguồn khác: Các khoản nợ khác như Thuế chưa nộp, lương chưa trả…Đây là

nguồn mà ngân hàng tạm thời chiếm dụng, không có ảnh hưởng đáng kể tới nguồn vốn cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Hình thức sản phẩm huy động vốn

Để thu hút được nhiều tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, các NHTM không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn của mình Các NHTM có thể tiến hành phát triển, đa dạng hoá sản phẩm dựa trên nhiều tiêu chí như sau:

Theo kì hạn và lãi suất

Với các sản phẩm tiền gửi, NHTM thường chia ra nhiều kì hạn khác nhau để khách hàng có thể chọn lựa các kì hạn gửi tiền phù hợp với nhu cầu của mình

- Đối với tiền gửi ngắn hạn (< 12 tháng): ngân hàng phân loại tiền gửi theo thời gian từng quý: không kì hạn, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng

- Đối với tiền gửi trung và dài hạn (> 12 tháng): các kì hạn tiền gửi được chia ra thành: 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng và 60 tháng

Hầu hết các NHTM hiện nay đều phân loại tiền gửi theo các kì hạn trên, để tạo

sự khác biệt thu hút khách hàng gửi tiền, nhiều ngân hàng đã chia nhỏ thời gian của kì hạn hoặc đưa ra nhiều kì hạn mới như: kì hạn 1 tháng, 2 tháng và 13 tháng Các kì hạn

Trang 17

mới này sẽ tạo cho người gửi tiền sự linh hoạt trong khi rút và gửi tiền, đồng thời tăng thêm mức thu nhập từ lãi suất tiền gửi.

Tương ứng với các kì hạn tiền gửi là các mức lãi suất khác nhau, tăng dần theo thời gian của kì hạn gửi tiền Biên độ giữa các mức lãi suất này dao động trong khoảng 0,1%/tháng và rất khác nhau giữa các NHTM Sự cạnh tranh về lãi suất tiền gửi luôn diễn ra gay gắt ở từng mức lãi suất tiền gửi cho các kì hạn Mỗi một NHTM đều xây dựng những chiến lược lãi suất riêng dựa trên mặt bằng lãi suất chung Sự chênh lệch lãi suất giữa các NHTM cổ phần và NHTM quốc doanh thường khá rõ ràng, điều này cũng dễ hiểu vì: các NHTM quốc doanh có uy tín và thâm niên hoạt động lâu năm hơn

so với các NHTM cổ phần, để cạnh tranh thu hút vốn các NHTM cổ phần sẽ phải tăng lãi suất của mình cao hơn mới hấp dẫn được khách Chênh lệch lãi suất giữa các

NHTM luôn ảnh hưởng tới tâm lý của người gửi tiền, dù khoảng cách đó nhiều khi không lớn Nhiều khách hàng luôn thích gửi tiền ở những ngân hàng có lãi suất cao nhất để được hưởng tiền lãi nhiều hơn

Bên cạnh đó, các NHTM hiện nay cũng phát triển các chứng chỉ tiền gửi tương ứng với nhiều lượng tiền gửi khác nhau và áp dụng biểu lãi suất bậc thang cho các chứng chỉ tiền gửi loại này để khuyến khích khách hàng gửi nhiều tiền vì càng gửi nhiều càng được hưởng lãi cao

Theo tiện ích của sản phẩm

Nói chung, những sản phẩm huy động vốn đều giống nhau về bản chất nên để tạo sự khác biệt các NHTM thường tăng thêm nhiều tiện ích cho các sản phẩm khiến cho khách hàng ưa thích chúng hơn Việc làm này đòi hỏi sự sáng tạo của bộ phận phát triển sản phẩm trong mỗi ngân hàng Các ngân hàng thường đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn của họ dựa trên 2 cách:

Một là, đưa thêm các tiện ích mới vào các sản phẩm huy động truyền thống

Chẳng hạn như đối với thẻ ATM, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng ngoài chức năng chính là cho phép khách hàng rút tiền mặt tại máy ATM, thanh toán hoá đơn qua các máy POS, ngân hàng có thể đưa thêm một số tiện ích mới như: Thanh toán các loại cước phí (điện, nước, điện thoại ), trả lương, quản lý chi tiêu cá nhân, được ưu đãi ở một số cửa hàng Đối với các loại tiền gửi có kì hạn, hiện nay ngân hàng có thể cho phép người gửi rút tiền trước kì hạn, dễ dàng chuyển đổi kì hạn theo ý mình Chi phí cho việc tăng thêm các tiện ích mới cho các sản phẩm truyền thống cũng chiếm một phần đáng kể trong chi phí huy động vốn chung Do đó, tuỳ thuộc vào khả năng của từng ngân hàng

mà số tiện tích mới của các sản phẩm huy động vốn của chúng ít hay nhiều

Trang 18

Hai là, phát triển sản phẩm hoàn toàn mới với những tiện ích nổi trội Đây là

công việc rất khó khăn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại Hiện nay, các loại sản phẩm huy động vốn được phát triển đã khá đầy đủ, đa dạng, việc tạo ra một sản phẩm mới hoàn toàn khác biệt những sản phẩm cũ là điều ít ngân hàng nào dám nghĩ tới, mà hầu hết họ đều đa dạng các sản phẩm huy động vốn theo cách thứ nhất (dựa trên nền tảng các sản phẩm cũ)

Tóm lại, việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, chú ý phát triển sản

phẩm riêng biệt sẽ tạo dựng cho các ngân hàng thương mại những dấu ấn nhất định đối với khách hàng gửi tiền, khuyến khích họ gửi tiền nhiều hơn, làm tăng lượng vốn huy động cho các ngân hàng thương mại

1.2.3.2 Hoạt động tiếp thị, khuyến mại

Bên cạnh việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, các NHTM đều không ngừng đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, khuyến mại sản phẩm của mình đến với khách hàng Đây là chiến lược huy động vốn rất hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng Các hoạt động tiếp thị sản phẩm huy động vốn được các ngân hàng tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau, chủ yếu là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: truyền hình, báo chí, tờ rơi, thư tay Nội dung của các chương trình quảng cáo này cũng được các ngân hàng thiết kế sao cho sản phẩm cũng như hình ảnh của ngân hàng mình thật hấp dẫn người xem nhất Bên cạnh hoạt động tiếp thị sản phẩm, các ngân hàng cũng tổ chức các đợt khuyến mại để tăng cường huy động vốn Các đợt khuyến mại này thường được triển khai vào các thời điểm trong năm như: đầu năm, giữa năm hay cuối năm, hoặc cũng có khi tuỳ thuộc vào chiến lược huy động vốn của mỗi ngân hàng Thông thường các NHTM triển khai chương trình khuyến mại lớn bằng các đợt huy động vốn dự thưởng với tổng giá trị giải thưởng khá lớn, rất thu hút được sự tham gia của khách hàng Ngoài những đợt huy động dự thưởng lớn đó, các ngân hàng cũng triển khai xen kẽ các đợt khuyến mại nhỏ với từng loại sản phẩm huy động vốn của mình như: tặng quà khách hàng thân thiết, khách hàng gửi tiền với số lượng lớn

Những chi phí cho hoạt động tiếp thị và khuyến mại này cũng chiếm phần khá lớn trong chi phí huy động vốn, đòi hỏi các ngân hàng phải tính toán, cân nhắc kì lưỡng trước khi triển khai, để tránh việc lượng vốn huy động được nhiều nhưng cho phí huy động lại quá lớn, thì hiệu quả huy động vốn không cao

1.2.3.3 Mạng lưới chi nhánh, trình độ, nghiệp vụ cán bộ công nhân viên của ngân hàng

Mở rộng mạng lưới chi nhánh

Trang 19

Để thu hút được nhiều vốn từ dân cư, các NHTM còn không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh của mình Qui mô, khả năng tài chính của ngân hàng nào càng lớn thì số lượng chi nhánh của nó càng nhiều và trải rộng trên nhiều nơi, khả năng thu hút càng lớn Tuy nhiên trước khi thành lập thêm chi nhánh các ngân hàng phải tìm hiểu rõ địa bàn đặt chi nhánh, dự đoán được khả năng phát triển của chi nhánh trong tương lai, nếu không việc lập thêm chi nhánh sẽ không có tác dụng thu hút vốn mà còn làm tăng chi phí hoạt động cho ngân hàng

Nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ huy động vốn

Cán bộ huy động vốn là những người trực tiếp xây dựng và triển khai các chương trình huy động vốn của ngân hàng Trình độ và nghiệp vụ của những người này

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng Hiện nay các ngân hàng đều cố gắng lựa chọn cũng như đào tạo các cán bộ của mình thành thạo về nghiệp

vụ cũng bồi dưỡng nâng cao các kiến thức về marketing và ngân hàng Bên cạnh việc đào tạo trực tiếp cán bộ tại nơi làm việc, các NHTM thường tổ chức các khoá bồi dưỡng, nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho cán bộ ở các cơ sở trong nước và nước ngoài Đây là việc làm có ý nghĩa khá quan trọng cho công tác huy động vốn trong hiện tại cũng như tương lai của ngân hàng

Lãi suất trả cho = Quy mô huy động x Lãi suất huy động

nguồn huy động

Chi phí huy động khác: Chi phí huy động khác rất đa dạng và không ngừng gia tăng trong điều kiện các ngân hàng gia tăng cạnh tranh phi lãi suất Nó bao gồm chi phí trả trực tiếp cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, kèm bảo hiểm…), chi phí tăng tính tiện ích cho người gửi tiền ( mở chi nhánh, quầy, phòng, điểm huy động, trang bị thêm máy đếm máy soi tiền cho khách kiểm tra, huy động vốn tại nhà, tại cơ quan…), chi phí lương cho cán bộ phòng nguồn vốn, chi phí bảo hiểm tiền gửi…Một

số chi phí khác được tính chung vào chi phí quản lý và rất khó phân bổ cho hoạt động huy động vốn

Xác định lãi suất huy động là công việc phức tạp, quyết định tới chất lượng nguồn huy động, từ đó tới chất lượng tài sản, đòi hỏi tính nhạy bén của nhà quản lí

Trang 20

ngân hàng Ngân hàng cẩn phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc nguồn huy động để xác định lãi suất và các chi phí huy động khác.

b, Lãi suất huy động

Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường, phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ Với mỗi nguồn cụ thể ngân hàng có phương pháp riêng để tính toán lãi suất huy động

- Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kì vọng của người gửi tiền

Lãi suất = Tỷ lệ lạm phát + Tỷ lệ thu nhập kì vọng

huy động bình quân của người gửi tiền

Để có lãi suất thực dương, lãi suất huy động huy động phải lớn hơn tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, không phải nguồn nào cũng trả lãi suất thực dương Những nguồn có

kì hạn ngắn ( khách hàng lựa chọn tính thanh khoản cao hơn tính sinh lời), ngân hàng thường trả lãi suất thực âm

Tỷ lệ thu nhập kì vọng của người gửi tiền phụ thuộc vào rủi ro của mỗi ngân hàng, tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khách và những tiện ích mà người gửi kì vọng nhận được từ ngân hàng Những loại tiền gửi mà tiện ích thu được từ ngân hàng càng cao, lãi suất ngân hàng trả cho nguồn tiền càng thấp

- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc

Lãi suất = Lãi suất gốc (lãi suất tái chiết khấu + Tỷ lệ thu nhập

nguồn hoặc lãi suất liên ngân hàng, lãi suất kì vọng của

(nhóm nguồn) trái phiếu ngắn hạn của Chính phủ) người gửi tiền

Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính, nguồn cung ứng tiền từ Ngân hàng Trung ương, từ các tổ chức tài chính khác ngày càng có ý nghĩa hơn đối với các NHTM Với môi trường này, NHTM xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc Nhưng lãi suất gốc quan trọng là: lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Trung ương, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hoặc lãi suất trái phiếu ngắn hạn của Chính phủ Những ngân hàng lớn, ở các trung tâm tài chính thường lấy các lãi suất này làm điểm xuất phát khi xác định lãi suất huy động

Ngân hàng sử dụng lãi suất gốc để xác định lãi suất trả cho các nguồn tiền gửi ngắn hạn Từ lãi suất gốc, ngân hàng đa dạng các tỷ lệ lãi suất khác nhau theo nguyên tắc:

• Lãi suất bình quân thực dương, tương quan về an toàn sinh lợi với các hoạt động đầu tư khách như mua vàng, chứng khoán;

• Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất cho vay cùng kì hạn;

Trang 21

• Lãi suất tỷ lệ thuận với kì hạn;

• Lãi suất tỷ lệ thuận với quy mô;

• Lãi suất tỷ lệ nghịch với tính thanh khoản;

• Lãi suất tỷ lệ thuận với khả năng sử dụng vốn của tiền gửi;

• Lãi suất tỷ lệ với độ an toàn của ngân hàng và các tiện ích mà ngân hàng cung cấp

- Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất của tài sản sinh lãi.

Trong điều kiện cạnh tranh để tìm kiếm nguồn tiền, nhiều ngân hàng bằng nỗ lực tiết kiệm chi phí khác (như chi phí quản lí) và chấp nhận tỷ lệ thu nhập ròng thấp để gia tăng lãi suất huy động Ngân hàng có thể xác định lãi suất huy động tối đa trong mối tương quan với lãi suất sinh lời của các tài sản

Lãi suất Tỷ lệ sinh lời Tỷ lệ chi phí Tỷ lệ thuế thu nhập

nguồn = tính từ tài sản được - khác ròng phân - và thu nhập ròng

(nhóm tài trợ bằng nguồn bổ cho nguồn tính trên nguồn

nguồn) (nhóm nguồn) (nhóm nguồn) (nhóm nguồn)

Ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với môi trường cạnh tranh và chiến lược huy động vốn, trong mối tương quan với các lãi suất khác trong ngân hàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tại ngân hàng thương mại

1.3.1 Nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Chính sách huy động vốn của ngân hàng

Chính sách huy động vốn của ngân hàng là tổng thể các chiến lược và biện pháp huy động vốn của một ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút vốn tối đa Chính sách này thay đổi theo từng thời kì, phù hợp với mục tiêu cụ thể của ngân hàng nhưng nhìn chung luôn bao gồm các nội dung

- Hình thức huy động vốn: Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn thì

trước hết phải đa dạng hoá hình thức huy động Hình thức huy động càng phong phú thì ngân hàng càng dễ huy động hơn Ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức huy động như: phát hành trái phiếu, kì phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều thời hạn và lãi suất khác nhau Các hình thức huy động vốn được đưa ra phải dựa trên

cơ sở nghiên cứu phân tích thị trường và tâm lí khách hàng một cách kĩ lưỡng thì mới

có thể hấp dẫn khách hàng gửi tiền

- Lãi suất huy động: Đối với người gửi tiền là các doanh nghiệp, họ gửi tiền vào

các ngân hàng với mục đích thanh toán thì lãi suất không phải vấn đề họ quan tâm Điều họ quan tâm nhất là việc sử dụng các dịch vụ từ ngân hàng và loại tiền gửi này gọi

Trang 22

là tiền gửi không kì hạn Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận tiền gửi không kì hạn thì vốn huy động của ngân hàng còn bao gồm cả tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm của dân cư Bộ phận tiền gửi này họ gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi,

vì vậy lãi suất là điều họ quan tâm và bộ phận này rất nhạy cảm với lãi suất Ngoài ra khi chưa đủ vốn để sử dụng thì ngân hàng còn đi vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ Ngân hàng Trung ương…Để tạo được nhiều vốn thì ngân hàng phải có chính sách lãi suất hợp lí vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền lại vừa phù hợp với lãi suất cho vay của ngân hàng để tránh thua lỗ Hiện nay một số ngân hàng để thu hút khách gửi tiền đã

sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất theo các thời hạn tiền gửi khác nhau, trả lãi cho tài khoản tiền gửi không kì hạn đồng thòi để không bị ứ đọng vốn thì họ giảm cả lãi suất cho vay Tuy nhiên sự tăng giảm lãi suất này chỉ giới hạn trong một biên độ nhất định để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lãi

- Bảo hiểm tiền gửi : Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro xảy ra là

điều không tránh khỏi Vì vậy sự an toàn của các ngân hàng thương mại luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông, các nhà điều hành và đặc biệt là đối với người gửi tiền Bởi vì phần lớn vốn kinh doanh của ngân hàng là vốn huy động từ bên ngoài Để lấy được niềm tin từ người gửi tiền đồng thời bảo vệ lợi ích cho họ tránh được những tổn thất khi ngân hàng gặp rủi ro mất khả năng thanh toán thì các ngân hàng thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi Các công ty bảo hiểm tiền gửi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ tiền cho người gửi tiền trong giới hạn bảo hiểm

1.3.1.2 Nhân sự và công nghệ thông tin

- Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng

+ Phương diện quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự Về Tài sản

Nợ, Có tức là trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng dự đoán được những rủi

ro xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không, nắm bắt được những biến đổi ngoài thị trường một cách nhanh chóng để tư vấn cho khách hàng của mình nên đầu tư vào đâu có hiệu quả cao nhất Từ đó thu hút được khách hàng làm cho môi trường đầu tư của ngân hàng ngày càng mở rộng Mặt khác, do quản lí tốt nên trong quá trình hoạt động ngân hàng đảm bảo an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền nhiều hơn

+ Trình độ nghiệp vụ: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì trong quá trình hoạt động kinh doanh, mọi thao tác nghiệp vụ đều được thực hiện nhanh chóng chính xác và có hiệu quả, từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng kinh doanh, giảm thấp chi phí hoạt động và thu hút được nhiều khách hàng

+ Thái độ phục vụ khách hàng: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm lý cũng như tình cảm của người gửi tiền Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởi mở nhiệt tình

Trang 23

trong giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách hàng thì sẽ gây được thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều khách hàng đến giao dịch, gửi tiền tại ngân hàng hơn.

- Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ thông tin ở hầu hết các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán qua tài khoản khách hàng đến việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính Hệ thống công nghệ và thông tin càng hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc tìm kiếm, quản lý thông tin về khách hàng, thị trường cũng như toàn bộ ngân hàng Đồng thời một hệ thống công nghệ và thông tin tốt cũng giúp cho việc triển khai các kế hoạch chiến lược huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả tốt nhất, đồng thời sẽ gây được ấn tượng tốt đẹp với khách hàng

1.3.1.3 Mạng lưới hoạt động của ngân hàng

Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có tiền nhàn rỗi họ

sẽ đến các chi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như thế vừa tiết kiệm thời gian đi lại vừa đảm bảo an toàn khi cho số tiền của họ Ngày nay, các ngân hàng đều

cố gắng mở thật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân cũng như đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh khác Với một mạng lưới chi nhánh rộng trải khắp đất nước, đến cả những vùng sâu vùng xa, các ngân hàng sẽ có điều kiện cấp các dịch vụ của mình cho người dân một cách chu đáo và tiện lợi nhất Tuy nhiên để mở thêm nhiều chi nhánh thì các ngân hàng phải cân nhắc về khả năng vốn, khách hàng mục tiêu, địa điểm hoạt động và các yếu tố khác để tránh rơi vào tình trạng mất khả năng quản lý, kinh doanh không hiệu quả

1.3.1.4 Uy tín của ngân hàng

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, uy tín là điều tối quan trọng, quyết định đến 50% sự thành công trong hoạt động Uy tín của ngân hàng chính là vị trí, hình ảnh tốt đẹp của ngân hàng trong lòng khách hàng Để có được niềm tin và uy tín đối với khách hàng (cả mới và cũ) thì các ngân hàng đều phải trải qua một thời gian gây dựng hoạt động mới có được Uy tín của ngân hàng biểu hiện qua thâm niên, kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng, vốn chủ sở hữu lớn, các sản phẩm hấp dẫn, chất lượng phục

vụ tốt, hoạt động kinh doanh hàng năm có lợi nhuận cao, mối liên hệ với các tổ chức tài chính khác rộng…Một ngân hàng có uy tín trên thị trường dễ tạo được niềm tin và sự yêu thích của khách hàng, dễ lôi kéo khách hàng đến gửi tiền hơn là những ngân hàng không có uy tín

Trang 24

1.3.2 Các nhân tố khách quan

1.3.2.1 Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước ban hành các chính sách chỉ đạo về hoạt động nhằm đảm bảo các ngân hàng thương mại hoạt động theo đúng định hướng của nó, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước Các chính sách của NHNN thay đổi theo từng thời kì, tùy thuộc vào chính sách kinh tế chung của nhà nước và sự phát triển của thị trường tài chính Để kiểm soát việc huy động vốn của các NHTM, NHNN có các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu Tất cả những quy định, chính sách này được áp dụng cho tất cả các NHTM nên ảnh hưởng của chúng tới mỗi ngân hàng là rất khác nhau Cụ thể :

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc : Các NHTM vừa phải đảm bảo tỷ lệ dữ trữ theo yêu cầu

của NHNN vừa phải đáp ứng nhu cầu cho vay nên tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn để cho vay Khi đó chi phí huy động vốn của các NHTM sẽ phải cao hơn để thu hút càng nhiều vốn càng tốt, đồng thời vốn huy động để cho vay sẽ nhỏ hơn Các ngân hàng nhỏ, vốn ít, khả năng huy động hạn chế thì tỷ lệ dự trữ cao sẽ trở thành một gánh nặng khó giải quyết

- Lãi suất chiết khấu : NHNN thực hiện tái chiết khấu vốn để cung ứng tiền ra

lưu thông bằng biện pháp tái chiết khấu Nếu chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát thì lúc đó NHNN cung ứng tiền ra lưu thông với lãi suất chiết khấu cao Và như vậy, nguồn vốn vay từ NHNN của các NHTM sẽ bị hạn chế Khi đó, các ngân hàng muốn tăng lượng vốn huy động sẽ phải tìm cách huy động từ các nguồn khác chứ không nên trông chờ vào việc đi vay Ngân hàng Nhà nước

1.3.2.2 Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước

Hoạt động của các NHTM nằm trong hoạt động kinh tế chung của đất nước nên chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế Khi nền kinh tế vào thời kì tăng trưởng, sản suất phát triển tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do

đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận lợi hơn Mặt khác, nó cũng tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho ngân hàng, từ đó ngân hàng phải tìm biện pháp

để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực cho hoạt động kinh doanh của mình Khi môi trường đầu tư mở rộng thì thu nhập của ngân hàng không ngừng phát triển, tạo tiền để cho việc mở rộng vốn tự có của ngân hàng Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm thu nhập của người dân giảm khiến cho họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà chuyển sang tích luỹ bằng các tài sản khác như: Vàng, ngoại tệ mạnh…Lượng tiền gửi của ngân hàng sẽ sụt giảm cùng với việc môi trường đầu tư của ngân hàng bị

Trang 25

thu hẹp do các doanh nghiệp không muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện sản suất thua lỗ.

1.3.2.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường vốn.

Trong quá trình thu hút vốn, các ngân hàng luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh không những của các ngân hàng trong ngành mà còn của các tổ chức tài chính khác Sản phẩm tiền gửi của ngân hàng dễ bắt chước đòi hỏi các ngân hàng phải rất cố gắng trong việc đưa thêm những tiện ích vào sản phẩm cũng như triển khai những chương trình huy động vốn hấp dẫn nhằm thu hút được khách hàng Bên cạnh đó, các ngân hàng còn bị cạnh tranh bởi các tổ chức tài chính khác như: Các công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm…Các tổ chức này tuy không có chức năng nhận tiề gửi như ngân hàng song lại có nhiều dịch vụ phong phú thu hút tiền đầu tư của người dân và các doanh nghiệp Ngày này, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán lại càng khiến cho thị trường vốn của các ngân hàng thu hẹp lại, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn Do vậy để có thể thu hút được những nguồn vốn có chất lượng, các ngân hàng phải không ngừng đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn và nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng

1.3.2.4 Tâm lý, thói quen của người tiêu dùng

Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng Nếu những vùng dân cư người ta quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ là chính thì việc huy động vốn sẽ gặp khó khăn Chẳng hạn vào thời kì vàng còn có giá trị thì người ta dùng tiền nhàn rỗi đi mua vàng về cất trữ…Còn khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ sẽ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn Khi đó cơ hội huy động vốn của ngân hàng tăng lên

Ở những nước phát triển, nhu cầu giao dịch thanh toán qua ngân hàng rất phát triển Hầu hết những người dân có thu nhập đều mở tài khoản để thanh toán qua ngân hàng Tuy nhiên ở những nước kém phát triển, thu nhập của người dân thấp, nhu cầu giao dịch qua ngân hàng còn hạn chế nên ít người mở tài khoản tại ngân hàng Điều này

sẽ hạn chế khả năng tạo tiền của NHTM, không phát huy được tính hiệu quả của tài khoản giao dịch

Mức thu nhập và chu kì chi tiêu của người dân cũng là những yếu tố trực tiếp tác động đến lượng tiền gửi vào ngân hàng Nhìn chung thu nhập của người dân càng cao, nhu cầu đầu tư và giao dịch của họ tăng lên tương đối so với nhu cầu tiêu dùng thì nhu cầu mở tài khoản cũng như gửi tiền vào ngân hàng sẽ tăng lên Chu kỳ chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền Vào những dịp nghỉ lễ trong năm, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến

Trang 26

Có thể nói đây không phải yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng những lại có giá trị ở chỗ nó khiến cho gần hết tiền nhàn rỗi trong dân cư được luân chuyển vào ngân hàng.

Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN HUYỆN HÒA AN – CAO BẰNG 2.1 Khái quát về chi nhánh NHN O & PTNT Hòa An – Cao Bằng

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển chi nhánh NHN O & PTNT Hòa An – Cao Bằng

Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hoà an, tỉnh Cao bằng thành lập ngày 26/3/1988, trụ sở giao dịch chính đặt tại khu giữa Thị trấn Nước Hai, huyện Hoà An, có phòng giao dịch Cao Bình là đơn vị trực thuộc, trụ sở giao dịch đặt tại -Phố Cao bình, xã Hưng đạo

Từ khi được thành lập và đi vào hoạt động đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam ( nói chung) và NHNo huyện Hoà an (nói riêng) được đổi tên 3 lần, vào các thời điểm cụ thể như sau:

Trang 27

• Giai đoạn từ ngày thành lập, từ 3/1988 đến 11/1990, có tên là Ngân hàng phát triển Nông nghiệp huyện Hoà An, ( Tên viết tắt là NHPTNo) theo Nghị định 53/HĐBT, ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ).

• Giai đoạn từ 11/1990 đến 11/1996, có tên là Ngân hàng Nông nghiệp huyện Hoà An, theo QĐ 400/CT, ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

• Giai đoạn từ 11/1996 đến nay, có tên là Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT huyện Hoà An (tên viết tắt là NHNo&PTNT Hoà An), theo QĐ 280/QĐ - NH5, ngày 15/10/1996 của Thống đốc NHNN Việt nam

Kể từ khi thành lập đến nay, chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT huyện Hoà An đã phải đối mặt với những thử thách lớn trong hoạt động kinh doanh của mình như tình hình kinh doanh còn lạc hậu, thiếu vốn đầu tư, cơ sở vật chất thiếu Tuy nhiên tập thể cán bộ công nhân viên của ngân hàng đã không ngừng phấn đấu vươn lên đem lại niềm tin cho khách hàng, củng cố khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, từng bước củng cố và mở rộng phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng Với

phương châm đặt ra cho hoạt động trong thời gian qua là: Phát triển vững chắc- an

toàn- hiệu quả, chi nhánh NHNO & PTNT Hoà An đã chủ động tạo môi trường kinh doanh hợp lý giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

2.1.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của chi nhánh NHN O & PTNT Hòa An

2.1.2.1 Quyền tổ chức quản lý, kinh doanh

- Chi nhánh có quyền chủ động tổ chức quản lý, kinh doanh nhằm sử dụng vốn

có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn, tài sản và các nguồn lực khác được giao để thực hiện mục tiêu kinh doanh và nhiềm vụ do NHNO & PTNT Cao Bằng giao hoặc được uỷ nhiệm phù hợp với quy định của pháp luật

- Hợp tác với khách hàng trong quan hệ kinh tế, dân sự theo quy định của pháp luật Khởi kiện các tranh chấp kinh tế dân sự liên quan tới hoạt động của chi nhánh

- Ký kết các văn bản thoả thuận, các hợp đồng kinh tế, dân sự phục vụ mục đích kinh doanh trong phạm vi hoạt động của chi nhánh

Trang 28

- Yêu cầu khách hàng vay vốn cung cấp tài liệu thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính để xem xét cấp tín dụng, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng.

- Từ chối các quan hệ tín dụng, các quan hệ kinh doanh khác với khách hàng nếu thấy các quan hệ này trái với các quy định của pháp luật hoặc không đem lại hiệu quả kinh tế cho chi nhánh hoặc không có khả năng thu hồi vốn

- Trích lập và sử dụng các quỹ để phục vụ các yêu cầu kinh doanh theo quy định của NHNO & PTNT Việt Nam

- Phối hợp, hợp tác với các đơn vị thành viên của NHNO & PTNT Việt Nam trong hoạt động huy động vốn, cho vay, thanh toán và các hoạt động khác

2.1.2.2 Nghĩa vụ tổ chức quản lý, kinh doanh

- Thực hiện nghiêm túc các kế hoạch kinh doanh được giao và chiến lược định hướng phát triển chi nhánh Hòa An

- Triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chế độ do NHNO &PTNT Việt Nam ban hành trong các hoạt động nghiệp vụ

- Chịu sự kiểm tra, giám sát toàn diện của NHNO & PTNT Cao Bằng và NHNO

& PTNT Việt Nam

- Tổ chức bộ máy của Chi nhánh Hòa An và quản lý lao động theo đúng quy định của NHNO & PTNT Việt Nam

- Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực khác được giao

để thực hiện các mục tiêu kinh doanh

- Chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An có nghĩa vụ thực hiện đúng chế độ và quy định về quản lý vốn, tài sản chế độ hạch toán kế toán, kiểm toán và các chế độ khác do Nhà Nước quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhân sự

Tổng số cán bộ của chi nhánh NHNo&PTNT Hoà An, đến thời điểm 31/12/2009

là 57 người

Ban giám đốc gồm: 3 người, trong đó:

• 01Giám đốc

• 01 Phó Giám đốc thường trực

• 01 phó Giám đốc Ngân hàng huyện

Các phòng, tổ của chi nhánh NHNo&PTNT Hoà An gồm có :

- Tại trung tâm Ngân hàng huyện gồm có: 38 người, chiếm tỷ lệ 66,8%/Tổng số biên chế

Trang 29

- Tại Phòng Giao dịch Cao bình gồm 19 người chiếm tỷ lệ 33,2%/tổng biên chế.

Tổ chức bộ máy của NHNo&PTNT được thể hiện qua sơ đồ:

• Phòng KT – NQ: Phòng kế toán – Ngân quỹ

• Phòng TD: Phòng tín dụng

• PGD: Phòng giao dịch

Trong đó chức năng của các phòng là:

- Phòng tín dụng: Có chức năng trực tiếp cho vay đối với các tổ chức kinh tế trong

và ngoài quốc doanh có nhu cầu vay vốn ngân hàng và đáp ứng được những điều kiện của ngân hàng đặt ra, xây dựng kế hoạch cân đối về nguồn vốn và sử dụng vốn Thực hiện chế độ thông tin báo cáo tổng hợp, phân tích kế hoạch tài chính, lỗ lãi của ngân hàng Trực tiếp thẩm định các dự án đầu tư, cho vay, bảo lãnh, thu nợ,

- Phòng kế toán – ngân quỹ: Chức năng chính của phòng kế toán là quản lý tài sản, tiền gửi, tiền vay của các cá nhân, đơn vị Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán bù trừ, thanh toán liên ngân hàng trong hệ thống và ngoài hệ thống Thực hiện cơ chế tài chính của ngành theo các văn bản chế độ hiện hành (thanh toán giao dịch với khách hàng khi khách hàng đến mở tài khoản, bộ phận chi tiêu, theo dõi các tài khoản khi đến hạn thì báo cho các phòng ban liên quan, thu lãi định kỳ đối với khách hàng)

- Phòng giao dịch Cao Bình: phòng thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của một chi nhánh NHTM như: tín dụng, nhận tiền gửi, bảo lãnh, kế toán giao dịch và các nghiệp

vụ khác của ngân hàng như thanh toán hộ, chuyển tiền,…

2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHN O & PTNT Hòa An

PGD CAO BÌNH(tổ TD& tổ KT – NQ) PHÒNG TDPHÒNG KT - NQ

BAN GIÁM ĐỐCGiám đốc

2 phó giám đốc

Trang 30

Để giải quyết những khó khăn còn vướng mắc và tiếp tục phát huy những điều kiện thuận lợi, chi nhánh NHNo & PTNT Hoà An với nỗ lực và quyết tâm cao đã đạt được một số kết quả sau:

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn

Đối với bất kì doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn, bởi

vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính

mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM Có thể nói, vốn là điểm đầu tiên trong quá trình kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, vốn tự có của NHTM lại rất ít do

đó các NHTM phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình Ngay từ khi thành lập, Ban lãnh đạo chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An đã chỉ đạo xây dựng và triển khai có hiệu quả việc thực hiện đề án huy động vốn, xác định rõ huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt và có ý nghĩa quyết định để mở rộng kinh doanh và hoàn thành kế hoạch

Mặc dù nằm ở địa bàn không mấy thuận lợi, dân cư chủ yếu là công nhân, nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ nên thu nhập tích luỹ ít, nhưng nhờ vào việc bố trí sắp xếp lao động, đổi mới phong cách thái độ phục vụ và gắn với các hình thức huy động vốn phong phú nên đã tạo được sức hút khá lớn lượng khách hàng đến giao dịch

Cụ thể hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHNO & PTNH Hòa An qua các năm 2007, 2008, 2009 như sau:

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ 2007-2009

Trang 31

Như vậy, nguồn vốn huy động tiếp tục được tăng trưởng vững chắc Để đạt được

kết quả như vậy, trong thời gian qua chi nhánh NHNO & PTNH Hòa An đã chủ động triển khai có hiệu quả các chiến dịch huy động vốn, các đợt huy động tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn như: tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tiết kiệm gửi góp… Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền sản phẩm, dịch vụ mới, lãi suất, quảng bá thương hiệu và các cán bộ công nhân viên luôn có tinh thần cải tiến lề lối phục vụ, thực sự đổi mới tác phong, thái độ phục

vụ, giữ chữ tín đối với khách hàng nên số lượng khách hàng cũ ổn định, khách hàng mới ngày càng tăng thêm một cách vững chắc

Đối với những chi nhánh NHNO ở những địa bàn khó khăn thì nguồn nhận điều hòa là rất quan trọng khi nguồn huy động không đủ để cho vay, với chi nhánh Hòa An thì nguồn này cũng rất quan trọng Đồng thời với việc tích cực khai thác và huy động nguồn vốn tại chỗ, ngân hàng cũng đã tranh thủ được sự hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn trong nội bộ NHNo & PTNT Việt Nam đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu hợp lý

về vốn của khách hàng

2.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn

Cũng như mọi ngân hàng khác, chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An cũng thực hiện đúng chức năng chính của mình là huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế để cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất

Trong bối cảnh môi trường đầu tư hết sức khó khăn như hiện nay, chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An đã triển khai nhiều biện pháp chủ động tiếp cận tìm kiếm

Trang 32

khách hàng, nâng cao chất lượng thẩm định và kết quả là chi nhánh đã đạt được mức tăng trưởng dư nợ một cách lành mạnh, vững chắc Thể hiện như sau:

Tổng dư nợ cho vay và đầu tư kinh doanh đến ngày 31/12/2008 đạt 397.015 triệu đồng tăng gần 6% so với năm 2007

- Dư nợ ngắn hạn năm 2008 đạt 255.281 triệu đồng chiếm 64,3% tổng dư nợ

- Dư nợ trung, dài hạn đạt 119.619 triệu đồng, chiếm trên 36% tổng dư nợ

Với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể ngân hàng thì tổng dư nợ các khoản cho vay đến 31/12/2009 đạt 533.617 triệu đồng Trong đó:

- Dư nợ ngắn hạn là 362.859 triệu đồng

- Dư nợ cho vay trung dài hạn là 128.523 triệu đồng chiếm gần 32% trong tổng dư nợ

Cụ thể tình hình dư nợ của chi nhánh được thể hiện qua bảng:

Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2007-2009

Đơn vị: triệu đồng

Năm

Tốc độ tăng trưởng (%)

Trang 33

(Nguồn: Báo cáo tổng kết 2007-2009)Qua bảng có thể thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ qua cả giai đoạn đều tăng trong

đó dư nợ ngắn hạn và cho vay đối với thành phần quốc doanh chiếm tỷ lớn

Khi xem xét tình hình cho vay không thể bỏ qua tình trạng nợ quá hạn của ngân hàng Nếu coi cho vay là mặt tích cực thì nợ quá hạn là mặt trái của kết quả tín dụng, qua bảng số liệu trên cho thấy nợ quá hạn của chi nhánh có xu hướng tăng và tăng khá nhanh trong năm 2008 Năm 2008 nợ quá hạn của cả chi nhánh khoảng 4.797 triệu đồng, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 1,2% Nguyên nhân làm nợ quá hạn tăng đột biến vào năm 2008 như vậy là do trong năm chỉ số giá tiêu dùng tăng cao so với nhiều năm trước đây đã tác động không tốt đến nhiều ngành sản xuất và cộng thêm với việc một số ngành sản xuất gặp thiên tai, dịch bệnh nên trong năm đã có một số khách hàng vay vốn của chi nhánh đã làm ăn thua lỗ không trả được nợ vay đến hạn cho ngân hàng

Mặc dù vậy nhưng đến năm 2009 thì nợ quá hạn đã giảm và nằm trong hạn mức quy định Điều đó thể hiện chất lượng cho vay của chi nhánh

NHNO & PTNH Hòa An là khá tốt

2.1.4.3 Hoạt động kinh doanh khác

Bên cạnh hai hoạt động chính là huy động và cho vay, chi nhánh NHNO & PTNT Hòa An cũng thực hiện các hoạt động kinh doanh khác và thực hiện tốt các công tác như kế toán – kho quỹ, công tác kế hoạch, báo cáo, …

- Hoạt động dịch vụ

NHNO & PTNT Hòa An thực hiện các hoạt động dịch vụ như: thanh toán trong nước, các dịch vụ khác như A Transfer, SMS banking, VnTopup Các dịch vụ này không những đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng mà còn làm gia tăng thu nhập cho chi nhánh: Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ của chi nhánh chiếm 14,6% trong tổng lợi nhuận trước thuế của năm 2009

- Công tác Kế toán – Kho quỹ

+ Chấp hành nghiêm túc chế độ thể lệ kế toán của ngành, hạch toán đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong ngày

Trang 34

+ Tổ chức thực hiện tốt công tác chuyển tiền điện tử, đáp ứng đâỳ đủ, kịp thời nhu cầu thanh toán và luân chuyển vốn của khách hàng, nâng cao uy tín của đơn vị.

+ Thực hành tiết kiệm các khoản chi tiêu, chi phí quản lý thấp hơn so với định mức chi phí của NHNO & PTNT Cao Bằng quy định Quản lý tốt tài sản của đơn vị

+ Thực hiện tốt công tác quyết toán các năm, đầu năm 2008 công tác chỉnh sửa

số liệu và chuyển đổi từ chương trình giao dịch FoxPro sang chương trình giao dịch IPCAS đạt được kết quả cao, đúng tiến độ thời gian chuyển đổi của NHNo Việt nam quy định

+ Thực hiện công tác thu, chi tiền mặt đảm bảo chính xác, kịp thời, đúng quy trình nghiệp vụ thu, chi tiền mặt của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định, giải phóng khách hàng nhanh tại quầy quỹ, đảm bảo an toàn tuyệt đối tài sản trong kho quỹ, hàng trên đường vận chuyển

+ Tổng thu tiền mặt là : 1.338.887 triệu đồng

+ Trả tiền thừa cho khách hàng: Phát huy truyền thống đạo đức nghề nghiệp, trong năm 2008 Cán bộ làm công tác thủ quỹ, kiểm ngân đã trả tiền thừa cho khách hàng: 92 món,số tiền 72.326.400,00đồng, món có số tiền thừa trả cho khách hàng cao nhất là 20.000.000,00 đồng của chị Sầm Thị Nơm - thủ quỹ quầy thu Trung tâm Ngân hàng huyện Hòa An, trả cho khách hàng Nông Thị Hảo – Cán bộ Ngân hàng chính sách

Ngày đăng: 18/04/2013, 08:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Cơ cấu nguồn vốn huy động từ 2007-2009       36 Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2007-2009      38 Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh của chi nhánh NHN O  &amp; PTNT Hòa An 42 Bảng 2.4: Tổng nguồn vốn huy động chi nhánh giai đoạn 2007-2009 44  - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động từ 2007-2009 36 Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2007-2009 38 Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh của chi nhánh NHN O &amp; PTNT Hòa An 42 Bảng 2.4: Tổng nguồn vốn huy động chi nhánh giai đoạn 2007-2009 44 (Trang 2)
Bảng 2.2: Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2007-2009 - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2007-2009 (Trang 32)
Bảng 2.5: Kết cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh NHNo&amp;PTNT  Hoà An giai đoạn  2007-2009 - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.5 Kết cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh NHNo&amp;PTNT Hoà An giai đoạn 2007-2009 (Trang 39)
Bảng 2.6: Tình hình huy động vốn ngắn hạn - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.6 Tình hình huy động vốn ngắn hạn (Trang 41)
Bảng 2.7: Tình hình huy động vốn trung- dài hạn - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.7 Tình hình huy động vốn trung- dài hạn (Trang 42)
Bảng 2.8: cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng - Đẩy mạnh huy động vốn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Hòa An – Cao Bằng
Bảng 2.8 cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w